1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tích hợp hướng dẫn học sinh THPT rút ra bài học nhận thức trong giờ nghị luận về một tư tưởng, đạo lí

69 678 5

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 69
Dung lượng 619,87 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

... học sinh Nghị luận tư tưởng, đạo lí 2.3.1 Những yêu cầu cần đạt Nghị luận tư tưởng, đạo lí 2.3.1.1 Nội dung kiến thức cần đạt Nghị luận tư tưởng, đạo lí Nghị luận tư tưởng, đạo lí học lí. .. học GV chuẩn bị tích cực HS 24 CHƢƠNG HƢỚNG DẪN HỌC SINH RÚT RA BÀI HỌC NHẬN THỨC TRONG GIỜ NGHỊ LUẬN VỀ MỘT TƢ TƢỞNG, ĐẠO LÍ 2.1 Mục đích việc dạy học Nghị luận tư tưởng, đạo lí Việc dạy học. .. giáo dục ngƣời học sinh Nghị luận tư tưởng, đạo lí 26 2.3.1 Những yêu cầu cần đạt Nghị luận tư tưởng, đạo lí 26 2.3.2 Đối tư ng bàn luận kiểu Nghị luận tư tưởng, đạo lí 31 2.4

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2

KHOA NGỮ VĂN

NGUYỄN THỊ NGA

TÍCH HỢP HƯỚNG DẪN HỌC SINH THPT RÚT RA BÀI HỌC NHẬN THỨC TRONG GIỜ NGHỊ LUẬN

VỀ MỘT TƯ TƯỞNG, ĐẠO LÍ

KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Chuyên ngành: Phương pháp dạy học Ngữ văn

HÀ NỘI, 2015

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2

KHOA NGỮ VĂN

NGUYỄN THỊ NGA

TÍCH HỢP HƯỚNG DẪN HỌC SINH THPT RÚT RA BÀI HỌC NHẬN THỨC TRONG GIỜ NGHỊ LUẬN

VỀ MỘT TƯ TƯỞNG, ĐẠO LÍ

KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Chuyên ngành: Phương pháp dạy học Ngữ văn

Người hướng dẫn khoa học

TS PHẠM KIỀU ANH

HÀ NỘI, 2015

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Xin được bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc tới các thầy giáo, cô giáo

trong tổ Phương pháp dạy học Ngữ Văn, khoa Ngữ Văn, Trường Đại học Sư phạm

Hà Nội 2, đặc biệt là TS Phạm Kiều Anh đã tận tình giúp đỡ, hướng dẫn, chỉ bảo

tận tình cho em trong quá trình thực tập và hoàn thành đề tài khóa luận này

Do thời gian và khuôn khổ cho phép của đề tài còn nhiều hạn chế nên không tránh khỏi những thiếu sót Em rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến của các thầy cô và các bạn để tiếp tục xây dựng đề tài hoàn thiện hơn

Hà nội, ngày 20 tháng 04 năm 2015

Tác giả

Nguyễn Thị Nga

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Khoá luận tốt nghiệp này được hoàn thành dưới sự hướng dẫn trực tiếp của

TS Phạm Kiều Anh Tôi xin cam đoan khóa luận này là nghiên cứu của riêng tôi không trùng với kết quả nghiên cứu của những tác giả khác Nếu sai, tôi xin chịu trách nhiệm

Hà Nội, ngày 20 tháng 04 năm 2015

Sinh viên thực hiện

Nguyễn Thị Nga

Trang 6

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Lịch sử vấn đề 4

3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu 8

4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 8

5 Phương pháp nghiên cứu 8

6 Cấu trúc khóa luận 9

NỘI DUNG 10

CHƯƠNG 1 10

CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN 10

1.1 Những cơ sở lí luận của tâm lí và giáo dục học 10

1.1.1 Cơ sở giáo dục học 10

1.1.2 Cơ sở tâm lí học 13

1.2 Những cơ sở lí luận của nghị luận về một tư tưởng, đạo lí 16

1.2.1 Khái niệm nghị luận về một tư tưởng, đạo lí 16

1.2.2 Đặc điểm của kiểu bài nghị luận về một tư tưởng, đạo lí 17

1.3 Cơ sở thực tiễn 19

1.3.1 Điều tra, khảo sát thực trạng dạy học bài “Nghị luận về một tư tưởng, đạo lí” ở trường THPT 19

1.3.2 Đánh giá chung 24

CHƯƠNG 2 25

HƯỚNG DẪN HỌC SINH RÚT RA BÀI HỌC NHẬN THỨC 25

TRONG GIỜ NGHỊ LUẬN VỀ MỘT TƯ TƯỞNG, ĐẠO LÍ 25

2.1 Mục đích của việc dạy học bài “Nghị luận về một tư tưởng, đạo lí” 25

2.2 Cấu trúc bài “Nghị luận về một tư tưởng, đạo lí” 25

2.3 Cơ sở xác định nội dung giáo dục con người học sinh trong bài “Nghị luận về một tư tưởng, đạo lí” 26

Trang 7

2.3.1 Những yêu cầu cần đạt trong bài “Nghị luận về một tư tưởng, đạo lí” 26

2.3.2 Đối tượng được bàn luận trong kiểu bài “Nghị luận về một tư tưởng, đạo lí” 31

2.4 Xác định nội dung kiến thức có thể rút ra bài học nhận thức cho học sinh trong giờ “Nghị luận về một tư tưởng, đạo lí” 35

2.4.1 Rút ra bài học nhận thức cho học sinh khi phân tích ngữ liệu 35

2.4.2 Giáo dục con người học sinh khi liên hệ bản thân 37

2.4.3 Giáo dục con người học sinh khi thực hiện các bài tập luyện tập 37

2.5 Quy trình dạy bài “Nghị luận về một tư tưởng, đạo lí” gắn với mục đích giáo dục HS 40

2.5.1 Sử dụng câu hỏi để kiểm tra bài cũ 41

2.5.2 Giới thiệu bài mới 41

2.5.3 Hướng dẫn HS tham gia bài học thông qua hệ thống câu hỏi 42

2.5.4 Hướng dẫn HS rút ra kết luận 44

CHƯƠNG 3 46

THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 46

3.1 Mục đích thực nghiệm 46

3.2 Đối tượng và chủ đề thực nghiệm 46

3.3 Địa bàn thực nghiệm 47

3.4 Thời gian thực nghiệm 47

3.5 Nội dung thực nghiệm 47

3.6 Kết quả thực nghiệm 57

KẾT LUẬN 59 TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

1.1 Tích hợp một trong những quan điểm giáo dục của thế giới hiện đại Nó được đề xuất nhằm giải quyết mâu thuẫn giữa sự vô hạn của khoa học với sự hữu hạn của thời gian học tập của con người Nhận thấy lợi ích của tích hợp, nhiều nước trên thế giới đã ứng dụng vào nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội trong đó có giáo dục và nó trở thành một quan điểm lí luận dạy học phổ biến trên thế giới hiện nay

Xu hướng tích hợp còn được gọi là xu hướng liên hội đang được thực hiện trên nhiều bình diện, cấp độ trong quá trình phát triển của các chương trình giáo dục

Hiểu một cách đơn giản thì: Tích hợp là một phương hướng nhằm phối hợp một

cách tối ưu các quá trình học tập riêng rẽ các môn học khác nhau theo những hình thức mô hình, cấp độ khác nhau nhằm đáp ứng những mục tiêu, mục đích và yêu cầu cụ thể khác nhau

Với quan niệm trên, có thể nhận thấy tích hợp trong dạy học là sự hợp nhất, liên kết giữa các phân môn; giữa các bộ môn có liên quan; giữa các phân môn, bộ môn có quan hệ hỗ trợ nhau tạo thành một thể thống nhất nhằm tránh tình trạng học tách biệt, riêng rẽ giữa các phân môn trong bộ môn; qua đó rèn kĩ năng liên môn, xuyên môn để người học phát huy khả năng tư duy sáng tạo, tư duy tổng hợp để vận dụng vào thực tiễn ở mức độ, bình diện khác nhau Có rất nhiều hình thức tích hợp được đưa ra, song có ba hình thức cơ bản đó là tích hợp ngang, tích hợp dọc và tích hợp mở rộng Đối với môn Ngữ văn, tích hợp mở rộng là sự tích hợp giữa các kiến thức của bài học Ngữ văn với kiến thức đời sống Đặc biệt là những phong tục, tập quán, đạo đức, quan niệm sống mà học sinh (HS) đã tích lũy được từ xã hội, từ đó làm giàu vốn hiểu biết và góp phần hình thành nhân cách cho các em Như vậy, thông qua cách tích hợp đơn môn, đa môn, liên môn và xuyên môn, HS sẽ được trang bị một vốn tri thức toàn diện cả về kiến thức, kĩ năng cũng như thái độ một

cách tối ưu và khoa học nhất tránh được tình trạng lặp lại kiến thức

Làm văn là một trong “tam vị nhất thể” của môn Ngữ văn bậc THCS và

THPT Theo đó, các đơn vị kiến thức thuộc phần Làm văn hiện nay ở THCS, THPT

Trang 9

được triển khai tích hợp với Tiếng Việt và Đọc hiểu văn bản Dạy học Làm văn theo quan điểm tích hợp sẽ giúp ích việc dạy học, cái này được học thông qua cái kia và ngược lại Như vậy, sẽ tránh được những vướng mắc dư thừa chồng chéo nội dung trong quá trình dạy Đọc hiểu văn bản, Tiếng Việt, Làm văn như trước đây Bản chất của quá trình dạy học làm văn là trang bị cho các em những hiểu biết về các kiểu văn bản Từ đó, cung cấp những kĩ năng thiết yếu của việc tạo lập các kiểu văn bản

để các em biết sử dụng những kĩ năng đó trong suốt cuộc đời Tuy nhiên, cùng với quan niệm học văn là học những điều cơ bản về cuộc sống, để HS trở thành những công dân có ích của xã hội, những đơn vị kiến thức và kĩ năng của làm văn cũng có những phần gắn liền với thực tế cuộc sống Nghị luận xã hội - trong đó có nghị luận

về một tư tưởng, đạo lí được triển khai cũng nhằm mục đích đó

1.2 Khi bàn về con người trong xã hội, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhận định “Có

tài mà không có đức là người vô dụng, có đức mà không có tài thì làm việc gì cũng khó” Câu nói của Người nhấn mạnh đến vai trò và nhiệm vụ của giáo dục, đòi hỏi

giáo dục phải đào tạo ra những con người có tài, có đức và biết cống hiến cho xã hội Bởi vậy, phẩm chất đạo đức là một phần quan trọng, là một trong những nhiệm vụ và mục đích quá trình giáo dục Theo đó, khi tổ chức giờ học, giáo viên (GV) luôn xác định rõ một bài học trong chương trình, dù ở phân môn nào cũng hướng tới việc giáo dục HS không chỉ kiến thức, kĩ năng mà còn có cả mục đích giáo dục con người nhằm hình thành, phát triển nhân cách các em Tuy nhiên, tùy thuộc vào nội dung và những kiến thức của từng bài; tùy thuộc vào đặc trưng kiến thức, kĩ năng của từng phân môn mà mục đích giáo dục tư tưởng, nhận thức cho HS cũng có những sự khác biệt Chẳng hạn, khi hướng dẫn HS đọc hiểu văn bản, GV bên cạnh việc giúp cho HS hiểu về giá trị nội dung và nghệ thuật của văn bản Đồng thời, GV còn phải giúp các

em rút ra những bài học nhận thức về cuộc sống, về tình người, tình đời, về lẽ sống và qua đó các em biết thấu hiểu, cảm thông trước vấn đề tác giả muốn đề cập Với phân môn Làm Văn, sau khi học xong những tri thức và kĩ năng tạo lập các kiểu văn bản,

HS phải biết sử dụng các thao tác cần thiết để tạo lập các kiểu văn bản được học, biết vận dụng các kiểu văn bản được học phục vụ cho việc học tập ở nhà trường và quan

Trang 10

trọng hơn là các em biết sử dụng chúng để phục vụ cho chính cuộc sống của các em, cho gia đình, xã hội Muốn vậy, việc dạy học Làm văn ở trường phổ thông không chỉ

là trang bị tri thức, kĩ năng mà còn phải gắn liền với thực tế cuộc sống Như vậy, giữa các phân môn cũng có sự tích hợp nên trong giảng dạy từng bài cụ thể ta không chỉ chú trọng đến kiến thức và kĩ năng mà ta cần phải chú trọng đến cả mục đích giáo dục HS từ những bài học kiến thức Thế nhưng một thực tế đau lòng đang diễn ra hiện nay là tình trạng xuống cấp về mặt đạo đức, niềm tin, lí tưởng của một bộ phận

HS, đặc biệt là HS trung học phổ thông (THPT) Việc các em lừa dối cha mẹ, vô lễ với các thầy cô giáo, bỏ học la cà quán xá, gây gổ đánh nhau, sa vào các tệ nạn xã hội, thậm chí phạm tội không phải hiếm gặp Nguyên nhân của tình trạng này thì có nhiều nhưng điều dễ nhận thấy ở tuổi “tập” làm người lớn nhận thức của các em thường chịu ảnh hưởng rất lớn của môi trường xung quanh Trong khi đó, thực tế xã hội hiện nay vẫn còn một bộ phận người bị suy thoái đạo đức dưới tác động tiêu cực của mặt trái cơ chế kinh tế thị trường Điều này đã tác động tiêu cực đến việc tu dưỡng rèn luyện đạo đức của đa số HS Chương trình Làm văn hiện nay ở THCS, THPT không còn là một môn độc lập như trước nữa mà được tích hợp với Tiếng Việt

và Đọc hiểu văn bản Vì vậy, việc tăng cường giáo dục đạo đức, bồi dưỡng nhân cách

HS hiện nay là vấn đề vô cùng quan trọng, là trách nhiệm của gia đình, nhà trường và toàn xã hội Là một sinh viên chuyên ngành sư phạm Ngữ văn sẽ trực tiếp giảng dạy trong nhà trường THPT, tôi nhận thấy việc giáo dục HS cũng là một trong những mục đích quan trọng trong từng bài cụ thể

1.3 Trong thời gian gần đây, giáo dục Việt Nam đang từng bước thay đổi theo tinh thần Nghị quyết IX của Trung ương Đảng, với tinh thần “đổi mới căn bản

và toàn diện” giáo dục Bàn về định hướng đổi mới giáo dục trong giai đoạn sắp tới,

Thứ trưởng Bộ Giáo dục - Đào tạo Nguyễn Vinh Hiển cho biết: Chương trình đổi

mới tiếp cận theo hướng hình thành và phát triển năng lực cho người học; không chạy theo khối lượng tri thức mà chú ý khả năng vận dụng tổng hợp các kiến thức,

kĩ năng, thái độ, tình cảm, động cơ vào giải quyết các tình huống trong cuộc sống hàng ngày Tiếp cận theo hướng năng lực đòi hỏi HS làm, vận dụng được gì hơn là

Trang 11

HS biết những gì Tránh tình trạng biết rất nhiều nhưng làm, vận dụng không được bao nhiêu, biết những điều rất cao siêu, nhưng không làm được những việc hết sức thiết thực đơn giản trong cuộc sống thường nhật Nhận định này đã thể hiện khá rõ

vai trò của giáo dục trước đây cũng như những nhiệm vụ cần thiết trong giai đoạn sắp tới Giáo dục Việt Nam trước kia chủ yếu quan tâm tới hệ thống khối lượng kiến thức khổng lồ mà không chú trọng, quan tâm tới việc giáo dục thái độ, tình cảm cho các em HS khi tiếp cận với những kiến thức thuộc các khoa học chuyên môn mà không gắn với các tình huống thực tiễn Như vậy, trong quá trình dạy học, bên cạnh việc trang bị cho HS hệ thống kiến thức và những kĩ năng cơ bản, GV còn phải quan tâm tới việc hướng dẫn các em biết rút ra những bài học nhận thức đã học

để ứng dụng trong cuộc sống thực tiễn hàng ngày Tuy nhiên, thực tế giáo dục hiện nay còn tồn tại hạn chế khi chỉ chú trọng đến kiến thức, kĩ năng mà chưa quan tâm nhiều đến việc giáo dục nhân cách HS

Xuất phát từ những lí do trên, chúng tôi chọn nghiên cứu đề tài: Tích hợp

hướng dẫn học sinh THPT rút ra bài học nhận thức trong giờ Nghị luận về một

tư tưởng, đạo lí

2 Lịch sử vấn đề

2.1 Lịch sử nghiên cứu dạy học bài “Nghị luận về một tư tưởng, đạo lí”

Theo Từ điển Từ và ngữ Hán Việt, “nghị luận” là dùng lí luận để phân tích

bàn bạc, mở rộng ý nghĩa của các vấn đề trong thực tế khách quan Còn nhắc tới “xã hội”, trước hết chúng ta có thể hiểu là một tập thể người cùng sống, gắn bó với nhau trong quan hệ sản xuất và các quan hệ khác; hay cũng có thể hiểu là những gì thuộc

về quan hệ giữa người và người về các mặt chính trị, kinh tế triết học, lịch sử, văn học, ngôn ngữ Như vậy, chúng ta có thể cho rằng nghị luận xã hội là thể văn hướng tới phân tích, bàn bạc về các vấn đề liên quan đến các mối quan hệ của con người trong đời sống xã hội Mục đích cuối cùng của nó là tạo ra những tác động tích cực đến con người và những mối quan hệ giữa người với người trong xã hội Với ý nghĩa trên, có thể khẳng định, nghị luận xã hội là một kiểu bài của nghị luận

mà đối tượng được bàn luận trong đó khá rộng lớn Đó có thể là những câu chuyện,

Trang 12

những lời nói, những hành động, việc làm của những con người trong cuộc sống hàng ngày; đó cũng có thể là những quan điểm sống còn đang diễn ra trong xã hội Như vậy, các vấn đề tư tưởng, đạo lí được con người vận dụng và ứng xử trong cuộc sống hiện đại cũng là một phạm vi được luận bàn trong nghị luận xã hội Trong chương trình Ngữ văn, nghị luận về một tư tưởng, đạo lí được triển khai dạy

từ THCS và THPT Theo đó, đã có một số nhà khoa học nghiên cứu về việc dạy học kiểu bài này, có thể kể tới những công trình như:

Trong cuốn Làm văn do Đỗ Ngọc Thống (chủ biên) các tác giả đã chỉ rõ

Nghị luận chính trị - xã hội là loại đề yêu cầu bàn bạc về một vấn đề chính trị, đạo đức, luân lí hay một vấn đề xã hội [16, 229] Ở đây, các tác giả chỉ ra các phạm trù

của nghị luận xã hội nhưng chưa đề ra được sự thống nhất chung về kiểu văn nghị luận xã hội Bên cạnh đó, cuốn sách này các tác giả cũng lưu ý một số điểm khác nhau khi làm đề văn nghị luận xã hội với nghị luận văn học, giữa nghị luận về một hiện tượng đời sống với nghị luận về một tư tưởng, đạo lí Cơ sở để xác định kiểu

bài nghị luận xã hội là Nghị luận chính trị, xã hội là loại đề yêu cầu bàn bạc vấn đề

chính trị, đạo đức, luân lí hay một vấn đề xã hội Ở đây, các tác giả đã chỉ ra phạm

trù của nghị luận xã hội đó là: Nghị luận chính trị; nghị luận đạo đức, tư tưởng; nghị luận hiện tượng đời sống xã hội Theo đó, các tác giả Đỗ Ngọc Thống, Phạm Minh

Hiếu, Nguyễn Thành Thi trong công trình này mới tập trung bàn về cách tạo lập văn bản nghị luận Các tác giả nhấn mạnh: Đề văn này thuộc loại nào? Nghị luận văn

học hay nghị luận xã hội? Nếu là nghị luận văn học thì thuộc nhóm nào? Nếu là nghị luận xã hội thì thuộc nhóm nào? [229, 12] Như vậy, ở đây các tác giả đã bàn

đến sự khác nhau của các kiểu bài trong đề văn Việc chỉ ra sự khác nhau đó, cho chúng ta thấy mỗi kiểu bài có cách tiếp cận, cách tạo lập khác nhau Nếu là nghị luận xã hội sẽ có hướng tiếp cận của kiểu bài nghị luận xã hội và nếu là nghị luận văn học thì có hướng tiếp cận của kiểu bài nghị luận văn học Tuy nhiên, những lưu

ý đó chỉ được các tác giả nêu một cách khái quát và khi chỉ ra cách làm bài văn nghị luận các tác giả cũng trình bày cách làm của bài văn nghị luận chung chung chưa quan tâm đến cách làm cụ thể của mỗi kiểu bài

Trang 13

Trong cuốn Rèn luyện kĩ năng văn nghị luận của Bảo Quyến, tác giả cũng

bàn về văn nghị luận Theo Bảo Quyến cũng phân loại văn nghị luận thành hai loại: Nghị luận văn học và nghị luận xã hội Và trong văn nghị luận xã hội lại bao gồm nhiều dạng nghị luận khác nhau như: nghị luận về một tư tưởng, đạo lí; nghị luận về một hiện tượng đời sống… Như vậy, có thể nhận thấy cho đến nay đã có rất nhiều nhà nghiên cứu tìm hiểu và bàn về văn bản nghị luận và cách tạo lập văn bản

Trong cuốn Hướng dẫn thực hiện chương trình SGK lớp 12 môn Ngữ văn, các tác giả cũng bàn đến phương pháp dạy học kiểu văn bản nghị luận, trong đó có

Nghị luận về một tư tưởng, đạo lí Song nhìn chung các tác giả chỉ nói một cách

chung nhất về quy trình dạy học kiểu bài này gồm các bước (Bước 1: Tìm hiểu đề, xác định yêu cầu của đề bài; Bước 2: Tìm ý và lập dàn ý; Bước 3: Xây dựng dàn ý; Bước 4: Học sinh thảo luận để rút ra cách làm và sau đó đọc phần ghi nhớ; Bước 5: Luyện tập thực hành

Như vậy, ta thấy rất nhiều tác giả có những công trình nghiên cứu bàn về văn nghị luận nói chung và nghị luận về một tư tưởng, đạo lí nói riêng Đa phần các công trình nghiên cứu trước đó mới chỉ đề cập đến các bước làm bài nghị luận về một tư tưởng, đạo lí hay những cách hiểu chung chung về kiểu bài này Trong khi

đó, việc giáo dục đạo đức HS nhằm mục đích giáo dục HS cả về kiến thức, kĩ năng

và thái độ giúp các em có sự phát triển toàn diện cả về nhận thức và nhân cách dường như chưa được chú trọng Đứng trước yêu cầu phát huy tính tích hợp giữa hình thành kiến thức, kĩ năng với bài học nhận thức cho HS trong giờ học nghị luận

về một tư tưởng, đạo lí chúng tôi lựa chọn nghiên cứu đề tài này

2.2 Lịch sử nghiên cứu dạy học bài “Nghị luận về một tư tưởng, đạo lí” chú trọng tới việc giáo dục con người HS

Như chúng ta được biết, việc phát triển đạo đức của học sinh trong quá trình giáo dục vẫn chưa được chú trọng trong một giờ học cụ thể trong đó có Làm văn Bàn về vấn đề giáo dục đạo đức, con người học sinh bước đầu đã có những công trình bàn về vấn đề này:

TS Phạm Thị Kim Anh trong Tạp chí giáo dục và thời đại số 38(99) tháng 5-

2014, khi bàn về Đạo đức học sinh đang thách thức năng lực giáo dục của người

Trang 14

thầy, đã đề cập đến vấn đề giáo dục con người học sinh Trong phần mở đầu, TS

Phạm Thị Kim Anh viết: “Trong những năm gần đây nhiều câu chuyện buồn liên

tiếp xảy ra như: trò tạt cả chậu a xít vào người thầy vì không được nâng điểm thi, kiện lại thầy vì bị phạt hít đất trong giờ thể dục ( ở TP Hồ Chí Minh); rút dây nịt quất vào đầu, vào mặt thầy giáo đến khi ngất xỉu chỉ vì thầy gọi giám thị mời trò ra khỏi lớp do đánh cờ, la ó trong giờ học (ở An Giang); lao vào đánh hội đồng thầy khi bị thầy tát (ở Bình Định), để thầy bị sa thải và còn biết bao trường hợp trò chặn đánh thầy giữa đường, ngang nhiên thách thức lại thầy cô giáo, hỗn láo với thầy cô trong giờ học, đang làm dư luận xã hội dạy sóng và làm dấy lên nhiều câu hỏi: “Phải chăng đã đến thời thầy phải sợ trò” [2, 15]

Hiện nay, cùng với nhiệm vụ đổi mới toàn diện giáo dục, Bộ Giáo dục - Đào tạo đã xác định dạy học các tri thức khoa học phải hướng tới nhiệm vụ hình thành năng lực, các tri thức cũng phải gắn liền với thực tế để các em có thể có những trải nghiệm sáng tạo; hình thành con người HS toàn diện ở các phương diện trí, thể, mỹ

để các em trở thành những công dân có ích cho xã hội Với tinh thần trên, có thể thấy việc dạy và học các phân môn, trong đó có cả dạy học những tri thức Làm văn đều có thể gắn với mục đích giáo dục nhân cách HS

Ta chỉ thấy các tác giả chỉ chú trọng đến cách phân loại, các bước làm văn nghị luận xã hội, đặc điểm của văn nghị luận song chưa có tác giả nào đi sâu nghiên cứu cách dạy các bài nghị luận nói chung và bài nghị luận về một tư tưởng, đạo lí nói riêng Trong đó, có sự kết hợp giữa rèn luyện các kĩ năng, bài học nhận thức Đặc biệt, chưa thật sự chú trọng việc kết hợp giáo dục bài học đạo đức cho HS

Tuy nhiên, trên thực tế, chúng tôi nhận thấy lịch sử nghiên cứu việc dạy học

bài Nghị luận về một tư tưởng, đạo lí dường như chưa chú trọng tới giáo dục đạo

đức, nhân cách cho HS mà mới chỉ dừng lại ở việc hướng dẫn HS biết cách kết hợp kiến thức và kĩ năng để tạo lập văn bản Đây chính là những gợi dẫn để tôi triển

khai đề tài: Tích hợp hướng dẫn học sinh THPT rút ra bài học nhận thức trong

giờ Nghị luận về một tư tưởng, đạo lí

Trang 15

3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Nghiên cứu đề tài này nhằm hướng tới các mục tiêu sau:

- Tìm ra những cơ sở khoa học khi dạy học một nội dung kiến thức trong chương trình Ngữ văn THPT có hướng tới việc giáo dục HS thông qua những bài học nhận thức

- Tìm ra những hình thức giáo dục nhân cách HS ngoài việc trang bị tri thức

- Góp phần nhỏ bé vào việc tìm ra những cách tổ chức hoạt động dạy học bài

Nghị luận về một tư tưởng, đạo lí đạt hiệu quả

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Khi thực hiện đề tài này, chúng tôi thực hiện các nhiệm vụ sau:

- Tổng hợp những tri thức cơ bản về nghị luận xã hội

- Khảo sát cơ sở thực tiễn của đề tài

- Nêu ra cách vận dụng những kiến thức để giáo dục con người học sinh

trong giờ Nghị luận về một tư tưởng, đạo lí

4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Gắn với nội dung đề tài, khóa luận xác định đối tượng nghiên cứu là bài Nghị

luận về một tư tưởng, đạo lí được dạy cho HS lớp 12 - THPT

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Tuy nhiên, theo đề tài khóa luận tập trung tìm hiểu cách hướng dẫn HS rút ra

những bài học nhận thức trong giờ dạy học bài Nghị luận về một tư tưởng, đạo lí

Qua đó, cho các em có những hiểu biết và rút ra những suy nghĩ, nhận thức nhằm giáo dục nhân cách con người các em

5 Phương pháp nghiên cứu

Thực hiện đề tài Bài học nhận thức cho học sinh THPT trong giờ Nghị luận

về một tư tưởng, đạo lí khóa luận sử dụng các phương pháp sau:

5.1 Phương pháp thống kê

Phương pháp này được sử dụng để phân loại và phân tích kết quả khảo sát thực trạng của HS trước khi tiến hành thực nghiệm

Trang 16

5.2 Phương pháp hệ thống hóa

Sử dụng phương pháp này nhằm hệ thống hóa các tri thức, lí thuyết về tích

hợp, về các kĩ năng viết bài văn nghị luận xã hội trong SGK Ngữ văn 12

5.3 Phương pháp so sánh đối chiếu

Phương pháp này sử dụng khi tiến hành so sánh các dạng bài nghị luận xã

hội nhằm làm nổi bật vấn đề nghiên cứu trong đề tài

5.4 Phương pháp thực nghiệm

Phương pháp này được sử dụng khi tổ chức thực nghiệm để chứng minh tính

khả thi của thiết kế, từ đó rút ra kết luận chung, cần thiết cho những đề xuất được

giới thiệu

6 Cấu trúc khóa luận

Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục, khóa luận gồm 3

chương:

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN

CHƯƠNG 2: HƯỚNG DẪN HỌC SINH RÚT RA BÀI HỌC NHẬN THỨC TRONG GIỜ NGHỊ LUẬN VỀ MỘT TƯ TƯỞNG, ĐẠO LÍ

CHƯƠNG 3: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM

Trang 17

NỘI DUNG CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN

1.1 Những cơ sở lí luận của tâm lí và giáo dục học

1.1.1 Cơ sở giáo dục học

Nhân cách là thuật ngữ được các nhà khoa học dùng để chỉ những nét riêng biệt của mỗi cá nhân, là nội dung và tính chất bên trong của mỗi cá nhân Nói một cách khác, nhân cách biểu hiện thế giới cái tôi của mỗi cá nhân, là sự tổng hợp của các yếu tố sinh học, tâm lí, xã hội, tạo nên đặc trưng riêng về di truyền, về sinh lí thần kinh, về hoàn cảnh sống của mỗi cá nhân theo các cách riêng của mình Như vậy, nhân cách là toàn bộ năng lực và phẩm chất xã hội - sinh lí - tâm lí của cá nhân tạo thành chỉnh thể, đóng vai trò chủ thể ý thức, tự đánh giá, tự khẳng định và tự điều chỉnh mọi hoạt động của mình Nhân cách được đánh giá thông qua những hành động, lời nói, cách ứng xử, qua cách sống và làm việc trước cộng đồng, trước tập thể, trước xã hội Có thể nói như vậy là bởi con người sống và phát triển trong

hệ thống các quan hệ đa dạng với thế giới xung quanh Hai mặt quan trọng nhất trong hệ thống đó là quan hệ giữa người với tự nhiên và quan hệ giữa người với người, giữa người với thế giới vật thể - văn hóa do người tạo ra Nhờ có các quan hệ với tự nhiên, con người sẽ được tiếp nhận toàn bộ những biểu hiện của thực tế khách quan, từ đó hình thành những hiểu biết và nhận thức về thế giới, tạo ra những kết quả khoa học Còn thông qua quan hệ với người (tức là quan hệ với các cá nhân khác trong cộng đồng), mỗi cá nhân có thể gây dựng được những mối quan hệ giao lưu trong đời sống xã hội, tạo ra những mối quan hệ xã hội, thể hiện được tính tập thể trong đời sống hàng ngày Con người với tư cách là một thực thể xã hội, dù muốn hay không, luôn luôn phải giao lưu với người khác trong mọi hoạt động và phải giữ những vai trò xã hội khác nhau Khi giữ những vai trò đó, họ có thể tham gia một cách tích cực, sáng tạo vào hoạt động chung; họ có thể phục tùng một cách thụ động và hòa tan nhân cách của mình trong cộng đồng đó; họ cũng có thể đối lập với cộng đồng, thường xuyên va chạm với người khác Thông qua các mối quan hệ giao lưu muôn màu muôn vẻ đó, con người chiếm lĩnh được bản chất xã hội loài

Trang 18

người, nhân cách của mỗi người với tư cách là chủ thể hoạt động và giao lưu được hình thành và phát triển Sự hình thành nhân cách của họ tùy thuộc vào tính chất của các mối quan hệ của người đó trong cộng đồng Như vậy, nếu cá nhân là khái niệm chỉ sự khác biệt giữa từng cá thể so với các cá nhân khác trong tập thể, thì nhân cách là khái niệm chỉ sự khác biệt giữa các cá nhân Cá nhân là nhân tố biểu hiện của giống loài, còn nhân cách vừa là nội dung vừa là cách thức biểu hiện của mỗi cá nhân riêng biệt Nhân cách là thế giới quan bên trong của mỗi cá nhân Một

xã hội tiến bộ là một xã hội mà mỗi cá nhân phát triển nhân cách của mình theo hướng tích cực, phát huy vai trò động lực, chủ thể sáng tạo của mỗi cá nhân Nhân cách không phải là bẩm sinh, sẵn có mà được hình thành và phát triển phụ thuộc vào ba yếu tố sau đây:

Thứ nhất, nhân cách phải dựa trên tiền đề sinh học và tư chất di truyền học, một cá thể sống phát triển cao nhất của giới hữu sinh

Thứ hai, môi trường xã hội là yếu tố quyết định sự hình thành và phát triển nhân cách thông qua sự tác động biện chứng của gia đình, nhà trường và xã hội đối với mỗi cá nhân

Thứ ba, hạt nhân của nhân cách là thế giới quan cá nhân, bao gồm toàn bộ các yếu tố như quan điểm, lí luận, niềm tin, định hướng giá trị Yếu tố quyết định để hình thành thế giới quan cá nhân là tính chất của thời đại, lợi ích, vai trò, địa vị cá nhân trong xã hội; khả năng thẩm định giá trị đạo đức - nhân văn và kinh nghiệm của mỗi cá nhân Dựa trên nền tảng của thế giới quan cá nhân để hình thành các thuộc tính bên trong về năng lực, về phẩm chất xã hội như năng lực trí tuệ, chuyên môn, phẩm chất chính trị, đạo đức, pháp luật, thẩm mĩ Sự hình thành và phát triển của nhân cách là sự thống nhất của các yếu tố sinh học, tâm lí xã hội để xác lập “cái tôi” của cá nhân

Hiểu được nhân cách con người là gì và quá trình hình thành nhân cách diễn

ra như thế nào chính là những gợi dẫn để GV phát triển được nhân cách của HS trong một giờ học, đặc biệt là giờ học Làm văn Nhân cách được hình thành trên các

cơ sơ sinh học, di truyền và đặc biệt là yếu tố môi trường xã hội Sản phẩm của hoạt

Trang 19

động giáo dục là con người Vì vậy, việc hình thành những phẩm chất đạo đức tốt đẹp trong con người là một phần vô cùng quan trọng trong quá trình giáo dục Giáo dục đạo đức là vấn đề cốt lõi của việc hình thành nhân cách cho HS phổ thông Đó

là cả một quá trình được chuẩn bị đầy đủ về tri thức khoa học và chiến lược đào tạo

từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ cụ thể đến trừu tượng Trong quá trình đào tạo, giáo dục không chỉ dừng lại ở việc bồi dưỡng nhận thức về chuẩn mực đạo đức xã hội mà còn phải góp phần định hình và phát huy những phẩm chất cần thiết của nhân cách con người với những hành vi cao đẹp đầy tính nhân văn cho HS với

hệ thống chuẩn mực các yếu tố như: hành vi đạo đức; chuẩn mực tri thức và niềm tin; chuẩn mực về tình cảm, thái độ, hình thành những kĩ năng, hành vi phù hợp với các chuẩn mực và trên cơ sở đó rèn luyện thói quen đạo đức tích cực cho các em

Khi nói về vai trò của giáo dục, sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nói:

“Ngủ thì ai cũng như lương thiện Tỉnh dậy phân ra kẻ dữ hiền Hiền dữ phải đâu là tính sẵn Phần nhiều do giáo dục mà nên”

Trong xã hội có giáo dục, quan hệ giữa người với người dựa trên những chuẩn mực xã hội sẽ là tiền đề cho sự ổn dịnh và phát triển kinh tế xã hội, tạo nên cuộc sống vui tươi, hạnh phúc cho tất cả mọi người Trong nhà trường, giáo dục đạo đức cho HS là một trong những vấn đề trọng tâm Bởi các em chính là những chủ nhân tương lai của đất nước Nếu giáo dục tốt, các em sẽ trở thành những con người

có ích cho gia đình, xã hội Ngược lại, các em sẽ trở thành gánh nặng cho gia đình

và xã hội Vì vậy, “Tiên học Lễ, hậu học Văn” không chỉ là khẩu hiệu mà còn chính

là nhiệm vụ của thầy và trò trong suốt quá trình dạy - học

Giáo dục nhận thức và đạo đức HS có ý nghĩa không nhỏ Nó giúp cho HS từ những tri thức khoa học đã học, biết suy nghĩ, đánh giá đúng sai, phải trái, biết soi lại mình và cũng biết bày tỏ những tâm tư của mình Từ đó, các em biết tự điều chỉnh hành vi, cách cư xử sao cho đúng đắn, phù hợp trong các mối quan hệ với người khác, biết hướng cuộc sống của mình vào những mục tiêu cao cả Làm văn là

Trang 20

một phần kiến thức và kĩ năng mà HS được học từ Tiểu học đến THPT Bản chất của làm văn là giúp cho HS biết cách tạo lập những kiểu văn bản mà con người thường sử dụng trong đời sống hàng ngày Theo đó, khi trình bày những vấn đề của cuộc sống, con người cũng cần phải biết thể hiện những suy nghĩ, nhận thức, tình cảm, thái độ và chính kiến của bản thân về cuộc sống Văn bản nghị luận, trong đó

có nghị luận xã hội được giới thiệu trong chương trình cũng nhằm mục đích trên

Có thể nói, hướng dẫn HS tạo lập văn bản nghị luận xã hội trước hết là giúp cho các

em biết và có những kĩ năng thiết yếu tạo lập một kiểu văn bản được con người sử dụng khá phổ biển trong cuộc sống hàng ngày Hơn nữa, gắn với những vấn đề thuộc về đời sống xã hội, trong quá trình tạo lập văn bản, người tạo lập bao giờ cũng phải thể hiện nhận thức và chính kiến của bản thân Như vậy là khi bàn luận các vấn đề của đời sống xã hội, người tạo lập ít nhiều đều phải thể hiện bóng dáng con người mình Bởi lẽ, trước những đề bài nghị luận xã hội, HS phải suy nghĩ một cách nghiêm chỉnh các vấn đề đạo lí, nhân cách con người Từ đó phát triển ý thức

tự trao đổi, xây dựng cho mình một nhân cách tốt đẹp Đây chính là những vốn sống

vô cùng quan trọng trong hành trang mà mỗi thầy cô giáo trang bị cho các em khi bước vào đời Chính vì vậy, việc giáo dục đạo đức cho HS là một phần không thể

thiếu trong mỗi giờ học Làm văn Thông qua một giờ dạy học bài Nghị luận về một

tư tưởng, đạo lí, GV sẽ tích hợp kiến thức, kĩ năng và giáo dục nhân cách cho các

em thông qua việc phân tích ngữ liệu, liên hệ thực tế và khi thực hiện các bài luyện tập Từ đó, các em có thể hình thành cho mình những phẩm chất tốt, theo đúng những yêu cầu của xã hội hiện đại, biết tạo cho mình những cách ứng xử hợp tình, hợp lí và phù hợp với hoàn cảnh và điều kiện sống cụ thể

1.1.2 Cơ sở tâm lí học

Ở THPT, HS đang trong thời kì dậy thì điều đó tạo ra những nét riêng biệt về

sự phát triển tâm sinh lí của các em Có thể nhận thấy, đây là giai đoạn phát triển quan trọng của con người, xuất hiện những biểu hiện rất đặc trưng về tâm lí Trong thời kì này các em bắt đầu có những băn khoăn, suy nghĩ về nhiều vấn đề: học tập, gia đình, bạn bè Luôn muốn khẳng định mình, thích làm người lớn Những sự thay

Trang 21

đổi trong tâm sinh lí như vậy có ảnh hưởng không nhỏ tới hoạt động giáo dục, trong

đó có nhiệm vụ giáo dục nhân cách cho các em Dưới đây là một số đặc điểm tâm lí chủ yếu của HS THPT:

Do những thay đổi của tâm sinh lí tuổi dậy thì, HS THPT thường mộng mơ, khao khát sáng tạo, thích cái mới lạ, chuộng cái đẹp Đây là lứa tuổi đang phát triển

về tài năng tiếp thu cái mới nhanh, thông minh sáng tạo nhưng cũng rất dễ sinh ra chủ quan, nông nổi, kiêu ngạo, ít chịu học đến nơi đến chốn Thích hướng về tương lai, ít chú ý đến hiện tại và dễ quên quá khứ

Ở lứa tuổi này, các em hăng hái nhiệt tình trong công việc, lạc quan yêu đời nhưng cũng rất bi quan chán nản khi gặp thất bại

Tuy nhiên, trên thực tế, một số HS THPT tình cảm cách mạng và ý chí phấn đấu yếu, trình độ giác ngộ, nhận thức về xã hội còn thấp Một số HS có thái độ coi thường lao động chân tay, thích cuộc sống xa hoa lãng phí, ăn chơi đua đòi theo bạn

bè, tôn thờ hình thức bề ngoài, có mới nới cũ…

Với một số nét về đặc điểm tâm lí HS THPT như trên, trong quá trình giáo dục GV cần phải nắm bắt được những đặc điểm, tính chất của các mối quan hệ tạo

ra hoàn cảnh xã hội cho sự phát triển tâm lí ở từng em Thông qua đó, GV có thể hiểu được vị trí của giai đoạn lứa tuổi HS THPT, bối cảnh xã hội, các yếu tố ảnh hưởng tới diễn biến tâm lí của lứa tuổi này để từ đó có những định hướng dạy học giáo dục cả về kiến thức, kĩ năng cũng như hình thành nên những nhân cách tốt cho bản thân các em

Giáo dục là một hiện tượng xã hội, là quá trình tác động có mục đích, có kế hoạch, ảnh hưởng tự giác chủ động đến con người đưa đến sự hình thành và phát triển tâm lí, ý thức, nhân cách Hiểu theo nghĩa rộng, giáo dục là toàn bộ tác động của gia đình, nhà trường, xã hội bao gồm cả dạy học và các tác động giáo dục khác đến con người Theo nghĩa hẹp thì giáo dục có thể xem như là quá trình tác động đến tư tưởng, hành vi của con người (giáo dục đạo đức, giáo dục lao động, giáo dục lối sống, hành vi…) Trong sự hình thành và phát triển nhân cách thì giáo dục giữ vai trò chủ đạo, điều đó được thể hiện như sau:

Trang 22

Trước hết, giáo dục vạch ra phương hướng cho sự hình thành và phát triển nhân cách vì giáo dục là quá trình tác động có mục tiêu xác định, hình thành một mẫu người cụ thể cho xã hội - một mô hình nhân cách phát triển, đáp ứng những nhu cầu của cuộc sống Thông qua các mặt nội dung giáo dục, thế hệ trước truyền lại cho thế hệ sau nền văn hoá xã hội - lịch sử để tạo nên nhân cách của mình Không những vậy, giáo dục con người đưa thế hệ trẻ vào “vùng phát triển gần”, vươn tới những cái mà thế hệ trẻ sẽ có, tạo cho thế hệ trẻ một sự phát triển nhanh, mạnh, hướng về tương lai Cũng từ đó, giáo dục có thể phát huy tối đa các mặt mạnh của các yếu tố khác chi phối sự hình thành nhân cách như các yếu tố thể chất (bẩm sinh di truyền), yếu tố hoàn cảnh sống, yếu tố xã hội, đồng thời bù đắp cho những thiếu hụt, hạn chế do các yếu tố trên sinh ra (như người bị khuyết tật, bị bệnh hoặc có hoàn cảnh không thuận lợi)

Mặt khác, giáo dục có thể uốn nắn những sai lệch về một mặt nào đó so với các chuẩn mực do tác động tự phát của môi trường gây nên và làm cho nó phát triển theo hướng mong muốn của xã hội (giáo dục lại) Cho nên, giáo dục giữ vai trò chủ đạo quyết định sự hình thành và phát triển nhân cách, song không nên tuyệt đối hoá vai trò của giáo dục, giáo dục không phải là vạn năng, cần phải tiến hành giáo dục trong mối quan hệ hữu cơ với việc tổ chức hoạt động, tổ chức quan hệ giao tiếp, hoạt động cùng nhau trong các mối quan hệ xã hội, quan hệ nhóm và tập thể Giáo dục không tách rời với tự giáo dục, tự rèn luyện, tự hoàn thiện nhân cách của mỗi cá nhân [3, 181- 182]

Như vậy, có thể khẳng định, giáo dục là một trong những yếu tố quan trọng

để chi phối sự hình thành nhân cách cho HS Chính vì giáo dục là một trong những yếu tố có vai trò chủ đạo trong việc giáo dục nhân cách con người nên việc giáo dục đạo đức cho HS trong giờ học là vô cùng quan trọng Nhận thức được tầm quan trọng của việc giáo dục đạo đức cho các em nên chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài này với mong muốn góp phần nhỏ bé của mình vào quá trình dạy học Ngữ văn nói chung và phần Làm văn nói riêng để xây dựng hình thành cho các em những nhân cách tốt khi lồng các bài học từ thực tế vào trong giờ học sẽ giúp các em tự liên hệ và mỗi cá nhân sẽ tự rút cho mình những bài học đạo đức tốt đẹp

Trang 23

1.2 Những cơ sở lí luận của nghị luận về một tư tưởng, đạo lí

1.2.1 Khái niệm nghị luận về một tư tưởng, đạo lí

Khi bàn về khái niệm “tư tưởng”, tác giả Nguyễn Như Ý trong cuốn Đại từ

điển tiếng Việt, NXB Đại học Quốc gia TP Hồ Chí Minh, 2007, tr 1704) có viết:

“Quan niệm và ý nghĩ chung của con người đối với tự nhiên và xã hội” Mở rộng hơn

ý nghĩa của “tư tưởng”, một ý kiến khác cho rằng tư tưởng là “Kết quả sinh ra từ

hoạt động của tư duy con người nhằm phản ánh tồn tại khách quan vào trong ý thức” Còn nhắc tới “đạo lí” (Hán Dũ, Nguyên Đạo, dẫn theo bản dịch tiếng Việt

trong: Đường Tống bát đại gia, NXB Đồng Nai, 1996, tr 20) cho rằng: “Lòng thương

người gọi là “nhân”, giải quyết công việc hợp tình hợp lí gọi là “nghĩa”, mọi chuyện đều làm theo hai thứ đó thì gọi là “đạo”, tự mình có thể bằng lòng với chính mình, không cần ỷ lại vào người khác thì gọi là “đức” “Nhân” và “nghĩa” là những danh xưng đã được khẳng định, “đạo” và “đức” là những từ chưa được khẳng định Cho nên nói tới đạo lí thì có sự phân biệt quân tử và tiểu nhân, nói tới đức hạnh thì có sự khác nhau giữa mĩ đức và ác đức” Với những cách hiểu về “tư tưởng” và “đạo lí”

như vậy, có thể khẳng định: Nghị luận về một tư tưởng, đạo lí là bàn về một vấn đề thuộc lĩnh vực tư tưởng đạo đức, lối sống, quan niệm của con người Trước hết, có thể hiểu tư tưởng là sự kết tinh của những cảm nhận, suy nghĩ về cuộc đời Đó là những ý nghĩ, suy nghĩ sâu xa, độc đáo về một vấn đề của đời sống Còn đạo lí được hiểu là những vấn đề về đạo đức, về lí tưởng Ngoài ra, đạo lí còn gắn liền với quan niệm sống, phong tục tập quán, với lối suy nghĩ, thuần phong mĩ tục của người Việt Riêng về phạm trù đạo lí, nội dung bàn luận bao gồm nhiều ý nghĩa, nhiều phương diện như đạo làm người, lẽ phải, trong quan hệ giữa người với người, giữa cá nhân và

xã hội Vấn đề tư tưởng, đạo lí thường được nêu lên trong các ý kiến, nhận định của các bậc vĩ nhân, hay nhà thơ, nhà văn , hoặc nêu ra ở tục ngữ, ca dao Ta có thể nhận thấy một số tư tưởng, đạo lí của người Việt trong một số đề dưới đây:

Nói về chuyện học, tục ngữ có câu:“Học thầy không tày học bạn”, lại có câu: “Không thầy đố mày làm nên” Anh (chị) suy nghĩ như thế nào trước những lời

khuyên này?

Trang 24

Ngoài ra, có thể hiểu tư tưởng nói một cách đơn giản là suy nghĩ, ý nghĩ; tư tưởng là quan điểm và ý nghĩ chung của con người đối với hiện thực khách quan và

đối với xã hội Pa-xcan có câu nói nổi tiếng: “Con người là một cây sậy, nhưng là

cây sậy có tư tưởng, nhờ tư tưởng mà con người bao trùm được vũ trụ” Như vậy,

nghị luận về một tư tưởng, đạo lí là một loại văn nghị luận xã hội ngoài các loại như nghị luận về một hiện tượng đời sống; nghị luận về một vấn đề gắn với văn học

1.2.2 Đặc điểm của kiểu bài nghị luận về một tư tưởng, đạo lí

Nghị luận về tư tưởng tức là bàn luận nhằm thể hiện suy nghĩ, bộc lộ quan điểm của mình về quan niệm sống, về các phạm trù đạo đức của chính bản thân các

em Vấn đề đạo lí trong nội dung nghị luận cũng nhằm giúp HS có thái độ ứng xử đúng đắn với chính bản thân mình và với chính mọi người trong xã hội Theo đó, xem xét kiểu bài này trong chương trình Ngữ văn hiện hành, chúng tôi nhận thấy nó

có một số đặc điểm sau:

Trước hết, về mặt nội dung nghị luận về một tư tưởng, đạo lí là bàn về một vấn đề thuộc lĩnh vực tư tưởng, đạo lí, lối sống của con người Với loại nghị luận này có thể nhận thấy rằng phạm vi đề tài của nó vô cùng phong phú, đa dạng Đề bài có thể bàn luận về các vấn đề (quan niệm, suy nghĩ, những chuẩn mực xã hội…) Cần chú ý đề bài nghị luận về một tư tưởng, đạo lí (thuộc lĩnh vực xã hội)

có khi được nêu ra trong một tác phẩm, một hiện tượng văn học có bàn về vấn đề của cuộc sống; cùng là vấn đề xã hội nhưng tư tưởng, đạo lí hướng tới chuẩn mực, còn hiện tượng đời sống là những biểu hiện của đời sống đã và đang diễn ra Chẳng

hạn, có các đề bài như: Suy nghĩ về câu ca dao “Ăn quả nhớ kẻ trồng cây” hay có phải “Nơi lạnh nhất không phải là Bắc Cực mà là nơi thiếu tình thương”?

Nhận thức tư tưởng, đạo lí có ý nghĩa rất lớn đối với đời sống mỗi con người

Đó là vấn đề liên quan đến quan niệm, lẽ sống, đạo đức, tình cảm… theo những chuẩn mực xã hội nhất định Những chuẩn mực này có thể được điều chỉnh qua các thời đại

và được kiểm chứng trong thực tế với những hành vi ứng xử của con người Tuy nhiên, khi bàn luận, nhận thức về tư tưởng, đạo lí không tách rời nhận thức về các lĩnh vực khác như khoa học, nghệ thuật, văn hóa nếp sống… Tư tưởng, đạo lí được quy định

Trang 25

bởi xã hội và bao giờ cũng mang tính chất khách quan Mặc dù vậy, tư tưởng, đạo lí không xa lạ với tình cảm Những tình cảm chân chính bao giờ cũng tìm thấy mối liên

hệ với tư tưởng, đạo lí Nhận thức đó có nhiều khả năng thẩm thấu vào hoạt động của nhiều lĩnh vực và quy định chuẩn mực của những lĩnh vực này Sự liên thông kiến thức giữa các lĩnh vực đời sống xã hội là một thực tế Vì vậy, người làm văn nghị luận về vấn đề tư tưởng, đạo lí cần huy động được hiểu biết về các lĩnh vực để lập luận có sức thuyết phục Những áng văn nghị luận mẫu mực đều chứng tỏ đều này

Bài nghị luận về một tư tưởng, đạo lí còn có một mục đích khác là giáo dục đạo đức nhân cách cho HS, giúp các em rèn luyện kĩ năng lập luận, biết vận dụng linh hoạt các thao tác lập luận vào từng dạng đề cụ thể Vì vậy, kiểu bài nghị luận

về một tư tưởng, đạo lí về cơ bản vẫn mang những đặc trưng chung của một bài nghị luận xã hội Song xét ở cấp độ cụ thể thì nó cũng có những nét đặc trưng riêng

mang những dấu ấn rõ nét Trong quá trình làm bài Nghị luận về một tư tưởng, đạo

lí, người viết phải nắm vững những kiến thức liên quan đến vấn đề cần nghị luận,

không phỏng đoán và thiếu căn cứ khoa học cũng như thực tiễn Không những thế, nội dung của bài văn phải có chiều sâu về trí tuệ trong cách giải thích, lí giải, phân tích, bình luận, trong liên hệ, liên tưởng cùng với vốn hiểu biết phong phú về văn học, văn hóa xã hội; đồng thời cái quan trọng là sự chân thành của người viết khi thể hiện cảm xúc qua việc trình bày một nội dung nào đó Bài văn đã chứng tỏ được khả năng quan sát, khả năng phát hiện vấn đề, khả năng giải quyết vấn đề theo cách của riêng mình, khả năng huy động vốn sống cùng với tri thức văn hóa

Xét về cấu trúc, cũng giống như kết cấu của một bài văn nghị luận thông thường, một bài văn nghị luận về một tư tưởng, đạo lí gồm ba phần: đặt vấn đề, giải quyết vấn đề và kết thúc vấn đề Cụ thể hơn khi tiến hành thực hiện lập luận trong kiểu bài này, người tạo lập cần đảm bảo ba bước cụ thể như sau:

Bước 1: Giải thích khái niệm; Bước 2: phân tích, lí giải; Bước 3: bình luận, đánh giá

Làm văn nghị luận xã hội về một tư tưởng, đạo lí yêu cầu HS phải đọc và hiểu được yêu cầu của đề Trong đề việc trích dẫn câu nói, những câu châm ngôn

Trang 26

chỉ để làm cơ sở để yêu cầu các em bàn luận đến một vấn đề có liên quan đến nội dung câu nói đó, nhưng thể hiện từ sự nhận thức và trải nghiệm của bản thân mình Việc dùng lí lẽ và dẫn chứng ở dạng bài này không phải căn cứ vào những lí lẽ, dẫn chứng hoặc câu nói có tính kinh điển là hay mà phải là sự trung thực nói lên suy nghĩ, nhận thức của mình với những dẫn chứng có thật từ đời sống xung quanh, thậm trí ngay cả bản thân mình vừa có giá trị biểu cảm để tác động đến cả nhận thức

và tình cảm của người đọc

Văn nghị luận về một tư tưởng, đạo lí có vai trò, vị trí đặc biệt quan trọng trong nhà trường cũng như trong xã hội Đối với HS trong nhà trường phổ thông, do tâm lí, lứa tuổi, tầm nhận thức nên những vấn đề đặt ra bàn luận không phải những vấn đề quá phức tạp, lớn lao mà chỉ là những khía cạnh đạo đức, tư tưởng, tình cảm gắn liền với đời sống hàng ngày thông qua những vấn đề này không chỉ giúp các

em vận dụng một cách tối đa, tổng hợp nhất những hiểu biết của mình về tự nhiên,

xã hội rèn luyện khả năng sử dụng ngôn ngữ, tư duy logic, giúp HS có những nhận thức, đánh giá đúng và có thái độ đúng đắn trước những vấn đề của cuộc sống, qua

đó giáo dục đạo đức và phát triển nhân cách các em Ngoài ra, nó còn giúp con người có những nhận đầy đủ về các kiến thức ngoài xã hội và những kiến thức mang màu sắc chính trị - xã hội: những hiểu biết về chính trị - pháp luật, những kiến thức cơ bản về truyền thống lịch sử, văn hóa, đạo đức, tâm lí - xã hội

1.3 Cơ sở thực tiễn

1.3.1 Điều tra, khảo sát thực trạng dạy học bài “Nghị luận về một tư tưởng, đạo lí” ở trường THPT

1.3.1.1 Điều tra, thăm dò, dự giờ GV

Để đánh giá đúng thực tế dạy học bài Nghị luận về một tư tưởng, đạo lí

chúng tôi tiến hành thăm dò, điều tra các GV qua hoạt động giảng dạy Ngữ văn và

trực tiếp dự giờ của họ Cụ thể:

* Phát phiếu thăm dò ý kiến GV

Trước hết, chúng tôi tiến hành thăm dò ý kiến của GV thông qua các phiếu thăm dò Phiếu điều tra gồm 10 phiếu, được phát cho GV tổ Văn, Trường THPT

Trang 27

Nguyễn Văn Cừ - Gia Lâm - Hà Nội Nội dung phiếu như sau: Xin các đồng chí vui

lòng cho biết một số ý kiến bản thân về tầm quan trọng của việc đưa bài học nhận thức vào trong bài Nghị luận về một tư tưởng, đạo lí trong SGK Ngữ văn 12 với mục đích giáo dục HS?

Câu 1: Theo đồng chí, việc giáo dục nhân cách HS trong giờ học bài Nghị

luận về một tưởng, đạo lí có tầm quan trọng như thế nào?

Câu 2: Theo đồng chí, quan điểm tích hợp đã được sử dụng hợp lí trong việc

tích hợp các bài học kiến thức, kĩ năng và giáo dục nhân cách HS hay chưa?

Câu 3: Theo các đồng chí thời lượng tiết học bài Nghị luận về một tư tưởng,

đạo lí đã phù hợp chưa? Thuận lợi và khó khăn khi phải soạn giáo án bài Nghị luận

về một tư tưởng, đạo lí theo hướng mới tập trung vào bài học nhận thức đồng thời

qua đó giáo dục con người HS

Sau khi tiếp nhận ý kiến của đội ngũ GV, chúng tôi thống kê và nhận thấy:

Câu 1: Chúng tôi nhận được rất nhiều câu trả lời khác nhau về tầm quan

trọng của bài Nghị luận về một tư tưởng, đạo lí, song đa số các ý kiến đó vẫn có những quan điểm chung rằng: Bài học Nghị luận về một tư tưởng, đạo lí ngoài việc

truyền thụ kiến thức và rèn luyện kĩ năng còn có tầm quan trọng đặc biệt Nó hình thành cho HS có những nhận thức về thực tế cuộc sống, rút ra được những bài học cần thiết để hình thành và phát triển nhân cách, giúp các em có lối sống lành mạnh,

có được những cách ứng xử thông minh trong từng trường hợp của đời sống, xã hội

Câu 2: Ở câu hỏi thứ 2 này, chúng tôi đa số nhận được những ý kiến cho

rằng: Mặc dù GV nhận thức rõ được tầm quan trọng của việc giáo dục đạo đức, nhân cách HS nhưng trong bài học cụ thể thì việc giáo dục các em vẫn chưa được kết hợp nhuần nhuyễn với các bài học kiến thức, kĩ năng Vì vậy, quá trình dạy học vẫn chưa đạt được hiệu quả cao nhất, chưa có sự linh hoạt để phù hợp Điều đó dẫn tới thực tế là việc hình thành nhân cách HS chưa thu được nhiều kết quả

Câu 3: Thời lượng tiết học bài Nghị luận về một tư tưởng, đạo lí ngắn, chỉ có

một tiết nên việc dạy học theo quan điểm tích hợp giữa kiến thức, kĩ năng và giáo dục con người HS gặp khó khăn do thiếu thời gian

Trang 28

Đa số GV đều đưa ra được những thuận lợi và khó khăn khi soạn giáo án bài

Nghị luận về một tư tưởng, đạo lí

+ GV phải đặt nhiều CH gợi mở liên quan đến nhiều lĩnh vực của đời sống,

xã hội để giúp HS tri nhận được kiến thức của bài học một cách hiệu quả nhất

+ GV cần nhiều thời gian để soạn bài vì khi giảng bài kết hợp kiến thức, kĩ năng và giáo dục con người HS cần đặt nhiều CH

Qua việc khảo sát trên chúng tôi nhận thấy đa số GV đã có nhận thức đúng đắn bản chất của việc kết hợp bài học kiến thức và bài học kĩ năng với việc giáo dục

HS trong dạy học Ngữ văn nói chung và trong bài Nghị luận vê một tư tưởng, đạo

lí Nó có tầm quan trọng trong việc giáo dục, rèn luyện nhân cách cho các em, để

các em có những cách ứng xử tốt nhất, thông minh nhất trong mỗi trường hợp Tuy nhiên, việc áp dụng nó vào thực tiễn dạy học còn chưa phổ biến, nếu có áp dụng thì cũng chỉ là hời hợt, qua loa chưa có những phương hướng, kế hoạch cụ thể khi dạy

học bài Nghị luận về một tư tưởng, đạo lí có sự tích hợp giữa rèn luyện kĩ năng Làm

văn với việc giáo dục nhân cách cho HS

* Dự giờ của GV

Bên cạnh việc phát phiếu thăm dò ý kiến GV, chúng tôi đã tiến hành dự giờ

bài Nghị luận về một tư tưởng, đạo lí tại lớp 12A3 Trường THPT Nguyễn Văn Cừ -

Gia Lâm - Hà Nội Qua dự giờ, chúng tôi nhận thấy:

Nhìn chung, GV đã áp dụng đúng theo quy trình dạy học của Bộ GD và ĐT đồng thời cũng từng bước thay đổi các hoạt động dạy học nhằm hướng tới mục đích rèn luyện kĩ năng và phát triển năng lực cho cho HS Cũng vì thế, trong giờ học,

Trang 29

GV đã tổ chức các hình thức học tập đa dạng, ít nhiều có tạo điều kiện để HS có những hoạt động trải nghiệm và từng bước hướng dẫn HS sáng tạo khi tạo lập văn bản nghị luận Tuy nhiên, nhiều GV còn quá khô cứng trong việc áp dụng quan điểm tích hợp vào dạy học Làm văn, điều đó gây khó khăn không nhỏ trong việc giáo dục kiến thức, kĩ năng cũng như con người HS

1.3.1.2 Điều tra, khảo sát đối tượng HS

Với đối tượng HS - chủ thể trung tâm của quá trình dạy học, chúng tôi cũng tiến hành điều tra, khảo sát Đối tượng được điều tra, khảo sát là HS lớp 12, Trường THPT Nguyễn Văn Cừ - Gia Lâm - Hà Nội Chúng tôi tiến hành điều tra về thái độ,

không khí học tập, kết quả học tập trước và trong quá trình GV dạy bài Nghị luận về

một tư tưởng, đạo lí để có cơ sở đối chiếu Phiếu điều tra gồm 45 phiếu, được phát

cho HS Trường THPT Nguyễn Văn Cừ - Gia Lâm - Hà Nội Nội dung phát phiếu như sau:

Câu 1: Em có thích học phần Làm văn không? Vì sao?

Câu 2: Em có nhận xét gì khi được học bài Nghị luận về một tư tưởng, đạo lí

không? Tại sao?

Câu 3: Khi học bài Nghị luận về một tư tưởng, đạo lí em có những bài học

nhận thức gì cho mình, ngoài kiến thức và kĩ năng?

Với các CH như trên, sau khi thu phiếu thăm dò ý kiến HS, chúng tôi nhận thấy:

Câu 1: Nhìn chung, khi tiến hành điều tra chúng tôi thấy: Đa số các em có câu

trả lời rằng chưa thực sự thích học văn đặc biệt là Làm văn bởi các em cho rằng Làm văn khô khan, máy móc, phải vận dụng nhiều thao tác lập luận, phân tích, bình luận Mặc dù làm văn chỉ cần nắm vững kiến thức lí thuyết sau đó vận dụng vào bài tập nên các em không quá áp lực, căng thẳng, phân môn Làm văn có nội dung kiến thức ngắn gọn, đễ hiểu, dễ nhớ, dễ liên hệ bản thân nhưng các em cũng không thích thú

Câu 2: Đa số HS thích học bài Nghị luận về một tư tưởng, đạo lí Điều này

thể hiện trực tiếp qua việc các em rất hăng hái xây dựng bài, thái độ học tập tích

cực, chăm chú nghe giảng Ngoài ra, các em còn thích học bài Nghị luận về một tư

tưởng, đạo lí bởi lẽ dạng bài này có nội dung kiến thức gần gũi, quen thuộc, các em

Trang 30

cũng đã được học ở những lớp dưới Không chỉ vậy, đây còn là những kiến thức gắn liền với cách cảm, cách nghĩ của các em trong cuộc sống hàng ngày

Câu 3: Có rất nhiều câu trả lời khác nhau nhưng đa số các em nhận thấy

rằng khi tiến hành trình bày những nội dung cơ bản cho từng yêu cầu khi Nghị luận

về một tư tưởng, đạo lí các em phải thực hiện một hành động là liên hệ bản thân,

thực tế Như vậy, ngoài việc huy động vốn nhận thức, kĩ năng làm bài các em còn

có thể tự rút được cho mình những bài học, những lối sống, cách sống đúng, sống đẹp trong đời sống xã hội, rút ra được những bài học về cách ứng xử

Qua dự giờ, chúng tôi nhận thấy giờ học bài Nghị luận về một tư tưởng, đạo

lí nói riêng và các giờ làm văn nói chung dường như vẫn chưa thực sự có không khí

sôi nổi, hứng thú Tuy nhiên, với những yêu cầu tham gia xây dựng nội dung bài học HS đã từng bước hăng hái tham gia vào tìm hiểu nội dung bài học lí thuyết Đặc biệt, trong giờ thực hành các em rất tích cực vận dụng sáng tạo, liên hệ thực tế cho bản thân khiến các em có nhiều hứng thú học tập Điều này cho thấy sự chuẩn

bị chu đáo của các em cho bài học Đồng thời, chúng tôi còn nhận thấy các em không còn hiện tượng học vẹt, học sáo nữa mà các em đã biết vận dụng giữa lí thuyết và thực hành cũng như liên hệ với bản thân và thực tế cuộc sống Song cũng

có một số hạn chế đó là các em vận dụng kĩ năng khi làm bài chưa thành thạo, còn quên kiến thức cũ, đôi khi liên hệ quá nhiều dẫn đến lan man

Có thể nói, từ việc điều tra thực tiễn phía HS chúng tôi nhận thấy việc tích hợp bài học kiến thức, kĩ năng với việc giáo dục nhân cách HS là việc làm có thể thực hiện và rất cần thiết Nhờ đó, HS có nhận thức đầy đủ, toàn diện cả về kiến thức sách vở cũng như kiến thức, kĩ năng, thái độ trong cuộc sống Tuy nhiên, còn nhiều hạn chế, bất cập khi áp dụng cả nhiệm vụ dạy kiến thức, kĩ năng và giáo dục con người HS nhưng chúng tôi tin chắc rằng đây là mục tiêu vô cùng quan trọng mà chúng ta cần phải tiến tới Chúng tôi tin tưởng rằng với định hướng đổi mới phương pháp và sự tìm tòi cũng như sự nhiệt tình của GV thái độ học tích cực của HS thì

dạy học bài Nghị luận về một tư tưởng, đạo lí nói riêng và các bài làm văn nói

chung sẽ trở nên thú vị, hấp dẫn, lôi cuốn và bổ ích đối với HS

Trang 31

1.3.2 Đánh giá chung

Từ những tìm hiểu trên, có thể nói bài Nghị luận về một tưởng, đạo lí được

đưa vào dạy học trong nhà trường với những thời lượng hạn định, tài liệu tham khảo lại không nhiều nên việc dạy và học của GV, HS còn nhiều hạn chế Đa số các GV mới chỉ bám sát vào SGK, SGV, thiết kế bài giảng mà chưa có sự chủ động, mở rộng, vận dụng sáng tạo nhiều kiến thức mới Một số GV thì nhiệt tình nhưng phương pháp chưa tốt

Về phía HS, chúng ta có thể nhận thấy rằng các em vẫn chưa có sự chuẩn bị chủ động, tích cực trong mỗi bài học, còn thụ động Mặt khác, sự tự học và tư duy rèn luyện của các em còn hạn chế nên khi đi vào tạo lập một văn bản nghị luận về một tư tưởng, đạo lí phần lớn các em chưa vận dụng được các thao tác lập luận vào bài làm một cách linh hoạt, sáng tạo để làm nổi bật vấn đề cần nghị luận Nhiều bài viết chưa tuân theo các bước của thao tác nghị luận về một tư tưởng, đạo lí nên bài viết không rõ ràng, không có sức thuyết phục Mặc dù hiện nay GV đang cố làm theo phương pháp mới, từng bước đưa HS trở thành chủ thể trung tâm của hoạt động dạy học nhưng vẫn còn đó những lối học theo kiểu cũ như nghe, ghi chép, nhớ

và tái hiện những gì GV cung cấp chứ chưa thực sự chủ động trong mỗi hoạt động tìm hiểu kiến thức của bài học Trong quá trình dạy học, GV không chỉ giúp HS biết vận dụng thành thạo các kĩ năng cơ bản, biết được cách thức tạo lập một bài nghị luận về một tưởng, đạo lí mà còn phải quan tâm tới việc hình thành, giáo dục nhân cách cho các em Nhưng để làm được điều đó thì cần có sự tận tình, sáng tạo, thay đổi linh hoạt các phương pháp dạy học của GV và sự chuẩn bị tích cực của HS

Trang 32

CHƯƠNG 2 HƯỚNG DẪN HỌC SINH RÚT RA BÀI HỌC NHẬN THỨC

TRONG GIỜ NGHỊ LUẬN VỀ MỘT TƯ TƯỞNG, ĐẠO LÍ

2.1 Mục đích của việc dạy học bài “Nghị luận về một tư tưởng, đạo lí”

Việc dạy học bài Nghị luận về một tư tưởng, đạo lí hướng tới những mục

đích cơ bản như sau:

Giúp HS nhớ được những kiến thức, những kĩ năng cơ bản để tạo lập một văn bản về nghị luận về một tư tưởng, đạo lí Muốn vậy, HS phải hiểu được vấn đề nghị luận qua phân tích, giải thích để xác định vấn đề, biết cách phân tích, chứng minh những biểu hiện cụ thể của vấn đề, thậm chí so sánh, bác bỏ; phải biết rút ra ý nghĩa của vấn đề

Giúp HS nắm được cách viết bài nghị luận về một tư tưởng, đạo lí, trước hết

là kĩ năng tìm hiểu đề, chủ động trong việc huy động và tổ chức những thông tin liên quan đến đề tài cần nghị luận để lập dàn ý cho bài viết Qua quá trình tìm hiểu, suy nghĩ và trình bày về một số vấn đề tư tưởng liên quan thiết thực đến đời sống của tuổi trẻ trong xã hội hiện nay, HS có những định hướng đứng đắn trong tình cảm, suy nghĩ, lối sống

Giúp HS sau khi phân tích vấn đề thì cần rút ra được những bài học có ý nghĩa về tư tưởng, đạo lí cho mỗi cá nhân và cho cuộc sống

2.2 Cấu trúc bài “Nghị luận về một tư tưởng, đạo lí”

Khi triển khai nội dung bài học này, SGK Ngữ văn 12 tập 1 đã bố trí các kiến thức như sau:

Trang 33

Sau đó đưa ra gợi ý để HS thảo luận (gợi ý để học sinh tìm hiểu đề và tìm ý) với các nội dung sau:

- Câu thơ trên của Tố Hữu nêu lên vấn đề gì?

- Với thanh niên, học sinh ngày nay, sống thế nào khi được gọi là sống đẹp?

Để sống đẹp, con người cần rèn luyện những phẩm chất nào?

- Với đề bài trên, cần vận dụng những thao tác lập luận nào?

- Bài viết này cần sử dụng những tư liệu thuộc lĩnh vực nào trong cuộc sống

để làm dẫn chứng? Có thể nêu các dẫn chứng trong văn học được không? Vì sao?

Tiếp đó là các gợi ý lập dàn ý cho cả ba phần: Mở bài, Thân bài, Kết bài Đến phần thứ 2: Từ việc thảo luận một đề bài cụ thể, HS tự rút ra nhận định của mình về cách làm một bài văn nghị luận về một tư tưởng, đạo lí

Ở phần 3: HS được củng cố kiến thức thông qua phần ghi nhớ và làm bài tập phần luyện tập

2.3 Cơ sở xác định nội dung giáo dục con người học sinh trong bài “Nghị luận

về một tư tưởng, đạo lí”

2.3.1 Những yêu cầu cần đạt trong bài “Nghị luận về một tư tưởng, đạo lí”

2.3.1.1 Nội dung kiến thức cần đạt của bài “Nghị luận về một tư tưởng, đạo lí”

Nghị luận về một tư tưởng, đạo lí là bài học lí thuyết kĩ năng Theo đó, khi

triển khai dạy bài này, GV cần hướng tới những nội dung kiến thức sau:

Trước hết, HS phải nắm được những kiến thức cơ bản về nghị luận về một tư tưởng, đạo lí Theo đó, HS sẽ hiểu được vấn đề được bàn luận về tư tưởng, đạo lí trong cuộc đời gồm: lí tưởng (lẽ sống); cách sống; hoạt động sống; mối quan hệ trong cuộc đời giữa con người với con người (cha con, vợ chồng, anh em và những người thân thuộc khác) Ở ngoài xã hội có các quan hệ trên, dưới, đơn vị, tình làng

nghĩa xóm, thầy trò, bạn bè…

Nghị luận về một tư tưởng, đạo lí nằm trong văn bản nghị luận, vì vậy nó cũng

mang đầy đủ đặc điểm của văn nghị luận đó là: Nghị luận về một tư tưởng, đạo lí là kiểu văn bản gắn liến với cuộc sống con người; đặc biệt chú trọng tới vai trò của lập luận và quan tâm tới tính thuyết phục, đồng cảm Mỗi kiểu văn bản có những đặc

Trang 34

trưng riêng vì vậy chúng ta phải căn cứ vào những đặc trưng đó để có cách thức tạo

lập văn bản phù hợp Đối với kiểu bài Nghị luận về một tư tưởng, đạo lí muốn tạo

được những văn bản hay, sáng tạo thì việc trang bị kiến thức văn nghị luận về một tư tưởng, đạo lí là một điều không thể thiếu Để HS vận dụng một cách đúng đắn, sáng tạo kiểu bài nghị luận về một tư tưởng, đạo lí tạo nên những văn bản hay, sáng tạo hấp dẫn người đọc, hơn nữa còn giáo dục nhân cách HS qua quá trình phân tích ngữ liệu, liên hệ bản thân, làm bài luyện tập…thì cần phải có những cách tổ chức dạy học bài nghị luận về một tư tưởng, đạo lí một cách khoa học và có hiệu quả

Bên cạnh đó, HS còn nắm được kiến thức về bố cục của một bài văn Từ những kiến thức các em đã được học ở THCS và ở lớp 10, 11, GV có thể hướng dẫn

các em nắm được: Cấu trúc bài Nghị luận về một tư tư tưởng, đạo lí cũng giống như

cấu trúc của một bài nghị luận xã hội khác Dù dung lượng không dài cũng vẫn phải đảm bảo cấu trúc của một bài làm văn, nghĩa là phải có: Mở bài (Đặt vấn đề); Thân bài (Giải quyết vấn đề) và Kết bài (Kết thúc vấn đề)

Về hình thức ba phần này phải tương xứng với nhau để tạo nên sự cân đối, hài hòa cho bài văn Mở bài và kết bài phải ngắn gọn, súc tích

+ Về nội dung: bài văn phải đảm bảo các yêu cầu:

Phần mở bài: Cần trình bày được vấn đề đặt ra trong bài làm (nội dung đề bài) để người đọc có thể biết được bài làm của bạn đề cập tới nội dung chính nào, tránh tình trạng mở bài dài nhưng không đúng chủ đề hay làm lạc đề Cần có phần dẫn dắt nhất định để đi vào bài một cách tự nhiên, tránh gò bó, gượng ép gây cảm giác khó chịu cho người đọc Theo đánh giá chung, mở bài sáng tạo tự nhiên thường được đánh giá cao và gây ấn tượng đầu tiên đối với người chấm bài

Phần thân bài: Được xem như phần làm chính, phần xương sống của cả bài viết bởi nó làm nhiệm vụ giải quyết những vấn đề chính của đề bài đặt ra Phần này thường trả lời cho các câu hỏi: Vấn đề đó là gì? Vấn đề là đúng hay sai, tại sao? Trong thực tế cuộc sống, nó diễn ra phổ biến như thế nào? Cần làm gì để phát huy những mặt tốt và hạn chế những tiêu cực (nếu là mặt xấu) đó trong xã hội hiện nay? Bạn cần làm gì và như thế nào để góp phần hiện thực hóa nó vào trong thực tế? Đây

Ngày đăng: 28/09/2015, 10:25

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình  thức  của  văn  nghị - Tích hợp hướng dẫn học sinh THPT rút ra bài học nhận thức trong giờ nghị luận về một tư tưởng, đạo lí
nh thức của văn nghị (Trang 56)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w