... RÈN LUYỆN NĂNG LỰC TẠO LẬP VĂN BẢN KHI DẠY HỌC HỌC BÀI THAO TÁC LẬP LUẬN BÌNH LUẬN” 30 3.1 Định hướng dạy học Thao tác lập luận bình luận: 30 3.1.1 Xác định lực cần rèn luyện dạy. .. luyện lực tạo lập văn cho học sinh dạy học Thao tác lập luận bình luận 38 3.2.1 Hệ thống tập 38 3.2.2 Quy trình rèn luyện lực tạo lập văn trình dạy học Thao tác lập luận bình luận ... chứa thao tác lập luận bình luận Để rèn luyện lực tạo lập văn cho học sinh dạy học Thao tác lập luận bình luận , giáo viên phải tổ chức cho học sinh làm 35 tập thường xuyên Bài tập cách rèn luyện
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA NGỮ VĂN
**********
LÊ THỊ TUYẾT NHUNG
RÈN LUYỆN NĂNG LỰC TẠO LẬP VĂN BẢN CHO HỌC SINH TRONG DẠY HỌC BÀI: “THAO TÁC LẬP LUẬN BÌNH LUẬN” (SGK NGỮ VĂN
LỚP 11)
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Phương pháp dạy học Ngữ văn
Người hướng dẫn khoa học:
ThS Dương Thị Mỹ Hằng
HÀ NỘI - 2015
Trang 2Hà Nội, ngày 10 tháng 5 năm 2015
Sinh viên
Lê Thị Tuyết Nhung
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan: Luận văn này là công trình nghiên cứu thực sự của
cá nhân, được thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của Thạc sĩ Dương Thị
Mỹ Hằng
Các số liệu, những kết luận nghiên cứu được trình bày trong luận văn này trung thực và chưa từng được công bố dưới bất cứ hình thức nào
Tôi xin chịu trách nhiệm về nghiên cứu của mình
Hà Nội, ngày 10 tháng 5 năm 2015
Sinh viên
Lê Thị Tuyết Nhung
Trang 4DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
GV : Giáo viên
HS : Học sinh NXB : Nhà xuất bản THPT : Trung học phổ thông SGK : Sách giáo khoa
Trang 5MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề 3
3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu : 8
4 Đối tượng, Phạm vi nghiên cứu 8
5 Phương pháp nghiên cứu 9
6 Đóng góp của khóa luận 9
7 Bố cục khóa luận 9
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC DẠY HỌC THEO ĐỊNH HƯỚNG TIẾP CẬN NĂNG LỰC 10
1.1 Năng lực 10
1.1.1 Khái niệm năng lực 10
1.1.2 Phân loại năng lực 12
1.2 Năng lực tạo lập văn bản 14
1.3 Dạy làm văn theo hướng tiếp cận năng lực 14
1.4 Bình luận, thao tác và thao tác lập luận bình luận trong văn nghị luận 16
1.4.1 Một số khái niệm cơ bản 16
1.4.2 Thao tác lập luận bình luận trong văn nghị luận 18
Chương 2 THỰC TRẠNG DẠY HỌC BÀI “THAO TÁC LẬP LUẬN BÌNH LUẬN” TRONG TRƯỜNG THPT HIỆN NAY 22
2.1 Về phía người dạy 22
2.1.1 Cách thức khảo sát 22
2.1.2 Kết quả khảo sát 23
2.1.3 Nhận xét chung 24
2.2 Về phía người học 25
Trang 62.2.1 Cách thức khảo sát 25
2.2.2 Kết quả điều tra : 26
2.2.3 Nhận xét chung 26
2.3 Về nội dung dạy học 27
Chương 3 : ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP RÈN LUYỆN NĂNG LỰC TẠO LẬP VĂN BẢN KHI DẠY HỌC HỌC BÀI “THAO TÁC LẬP LUẬN BÌNH LUẬN” 30
3.1 Định hướng về dạy học bài Thao tác lập luận bình luận: 30
3.1.1 Xác định năng lực cần rèn luyện khi dạy học bài “Thao tác lập luận bình luận” 30
3.1.2 Xây dựng mục tiêu kiến thức khi dạy bài “Thao tác lập luận bình luận” theo hướng phát triển năng lực tạo lập văn bản 33
3.1.3 Lựa chọn nội dung dạy học theo định hướng tiếp cận năng lực 34
3.1.4 Lựa chọn phương pháp dạy học bài “Thao tác lập luận bình luận” để rèn luyện năng lực tạo lập văn bản cho học sinh 36
3.2 Xây dựng hệ thống bài tập rèn luyện năng lực tạo lập văn bản cho học sinh khi dạy học bài “Thao tác lập luận bình luận” 38
3.2.1 Hệ thống bài tập 38
3.2.2 Quy trình rèn luyện năng lực tạo lập văn bản trong quá trình dạy học bài “Thao tác lập luận bình luận” 47
KẾT LUẬN 52 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 7PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
1.1.Việt Nam là một đất nước đang trên đà phát triển Đất nước luôn tích cực đổi mới trên tất cả các mặt trận: chính trị, kinh tế, văn hóa… Và đặc biệt giáo dục đã có những bước đổi mới tích cực Mới đây, theo NQ 29 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, toàn bộ chương trình học của học sinh THPT sẽ được đổi mới theo hướng tiếp cận năng lực Trước yêu cầu phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước, trước sự phát triển nhanh chóng của khoa học - công nghệ và khoa học giáo dục ; trước những đòi hỏi hội nhập quốc tế, đòi hỏi người giáo viên cần phải có hiểu biết đúng đắn để thực thi nhiệm
vụ của mình
1.2 Chương trình SGK hiện hành đã bộc lộ một số hạn chế bất cập, đặc biệt là trong vấn đề rèn luyện năng lực tạo lập văn bản cho mỗi học học sinh Nghị quyết 29 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khẳng định : Phải chuyển đổi và căn bản toàn bộ nền giáo dục từ chủ yếu nhằm trang bị kiến thức sang phát triển phẩm chất và năng lực người học, biết vận dụng tri thức vào giải quyết vấn đề thực tiễn; chuyển nền giáo dục nặng về chữ nghĩa, ứng thí sang nền giáo dục tự học, thực nghiệm Từ đó đòi hỏi phải xây dựng chương trình với những đổi mới căn bản, toàn diện về mục tiêu, nội dung, phương hướng và hình thức dạy học, thi, kiểm tra, đánh giá chất lượng giáo dục và quản lý, thực hiện chương trình
Triển khai kiến thức theo hướng năng lực, nghĩa là chú ý tới đầu ra cần đạt Kết quả đầu ra cần đạt là điểm bắt đầu để xác định, lựa chọn,tổ chức các kinh nghiệm học tập có ý nghĩa.Từ đó,chương trình phát triển năng lực xác định năng lực cần cho cuộc sống và tham gia có hiệu quả trong xã hội mà
Trang 8người học cần đạt,các nguyên tắc để xác định các kiểu kinh nghiệm mà sẽ giúp học sinh đạt được các năng lực này
Theo khảo sát thực tế, với phương pháp giảng dạy tiếp cận theo hướng nội dung như hiện nay chỉ giúp học sinh biết gì, nhớ gì chứ chưa thực sự chạm tới vấn đề biết phải làm gì? Học sinh chỉ nhớ lý thuyết chứ trong thực tiễn lập luận bình luận thì học sinh lúng túng chưa biết làm Cho một đề mới
mẻ, các em không biết lập luận bình luận như thế nào dẫn đến kết quả chưa cao Với chương trình tiếp cận nội dung, kĩ năng học sinh còn hạn hẹp trong một vấn đề quen thuộc chứ chưa thành thạo trong một vấn đề mới Trên thực
tế hiện nay, các em học sinh hoàn toàn thụ động trước một tình huống cần bình luận Các em chưa tạo lập được cho mình cuộc hội thoại bình luận đúng,
đủ và sâu sắc Có thể thấy, trong tình huống cụ thể có sự hướng dẫn, giải đáp của giáo viên, các em hoàn toàn có thể bình luận tốt nhưng trong những trường hợp thực tế cụ thể, các em còn lung túng, chưa biết bình luận Ngược lại với đó, cũng có một số giáo viên chưa thực sự truyền được hứng thú học cách bình luận cũng như truyền được kiến thức, kĩ năng bình luận cho học sinh để học sinh vận dụng từ lý thuyết vào thực tiễn.Với việc lựa chọn đề tài này, chúng tôi mong muốn sẽ góp một phần nghiên cứu nhỏ cho ứng dụng thực tiễn đổi mới giáo dục, làm cho việc dạy và học ở chương trình THPT được hiệu quả hơn
1.3 Mặt khác, với cương vị là một sinh viên sư phạm, là một giáo viên dạy văn trong tương lai, thực tế, cũng đã,đang và sẽ tiếp thu, đón nhận chương trình đổi mới giáo dục năm 2015 đã thôi thúc tôi lựa chọn và nghiên cứu đề tài Qua việc nghiên cứu đề tài, chúng tôi sẽ được trang bị kiến thức vững chắc để đảm đương công việc dạy học sau này
Xuất phát từ những lý do nêu trên, chúng tôi quyết định lựa chọn đề tài
“Rèn luyện năng lực tạo lập văn bản cho học sinh trong dạy học bài
Trang 9"Thao tác lập luận bình luận" (SGK Ngữ văn lớp 11)” với mong muốn
được góp một tiếng nói vào quá trình đổi mới phương pháp dạy học Làm văn, hướng đến mục tiêu nâng cao chất lượng dạy học Làm văn ở cấp Trung học phổ thông
2 Lịch sử vấn đề
Chương trình dạy học theo hướng tiếp cận năng lực đã được quan tâm
và đề cập tới ở các nước Châu Âu nhiều năm qua
Những năm đầu của thế kỉ XXI, các nước trong khối EU đã bàn luận
rất sôi nổi về năng lực cơ bản và tuyên bố : “ Để chuẩn bị cho thế hệ trẻ thành công khi đối mặt với những thử thách của xã hội thông tin và nhận được tối
đa từ lợi ích từ những cơ hội mà xã hội đó đã tạo ra, đã trở thành mục tiêu quan trọng của hệ thống giáo dục Châu Âu Nó định hướng cho sự thay đổi chính sách giáo dục, xem xét lại nội dung chương trình và phương pháp dạy- học Điều đó càng làm gia tăng sự chú ý đến năng lực cơ bản, cụ thể là những năng lực hướng vào cuộc sống, với mục đích suốt đời tham gia xã hội một cách tích cực”
Ở nước ta,thuật ngữ quan điểm năng lực là một thuật ngữ mới được biết đến và sử dụng rộng rãi do yêu cầu của sự đổi mới giáo dục Việt Nam năm 2015 Do là một quan điểm mới mẻ nên nó được nhiều nhà nghiên cứu, nhà soạn sách quan tâm tới Cùng với đó là nhiều cuộc hội thảo, họp bàn được
mở ra để bàn về vấn đề này
Trong cuốn “Tâm lý học đại cương” do Đinh Thị Kim Thoa chủ biên,
có nhận định về năng lực như sau : “Năng lực là tổ hợp các thuộc tính độc đáo của cá nhân, phù hợp với yêu cầu của một hoạt động nhất định, đảm bảo cho hoạt động đó có hiệu quả”
Ở giác độ giáo dục học, tác giả DeseCo nhận định về năng lực như sau:
“Năng lực là một hệ thống các cấu trúc tinh thần bên trong và khả năng huy
Trang 10động các kiến thức,kỹ năng nhận thức, kỹ năng thực hành thái độ, cảm xúc,giá trị,đạo đức, động lực của một người để thực hiện thành công các hoạt động trong bối cảnh cụ thể.” Như vậy ở giác độ này,năng lực là sự tích hợp
và kết nối nhu cầu bên ngoài(yêu cầu bối cảnh, tình huống cụ thể) với các đặc điểm cá nhân (kiến thức, kĩ năng, thái độ) để thực hiện thành công các nhiệm
vụ thực tiễn
PGS.TS Đỗ Việt Hùng, trường Đại học Sư phạm Hà Nội, có bài viết “ Dạy- học Tiếng Việt trong nhà trường theo hướng phát triển năng lực”đăng tải trên trang chủ của trường Đại học Sư phạm Hà Nội đã khẳng định: “Giáo dục phải hướng tới việc người học làm được gì ? mà không hướng tới mục tiêu Người học biết gì ?Đây phải là quan điểm xuyên suốt CT và nội dung dạy
- học Tiếng Việt và Ngữ văn Đối với phần Tiếng Việt, quan điểm này càng phải đề cao và tuân thủ triệt để, vì mục tiêu cuối cùng của môn học này là làm cho người học sử dụng được và sử dụng hiệu quả tiếng Việt như một công cụ giao tiếp quan trọng nhất trong đời sống … Hướng tới việc hình thành và phát triển năng lực cho học sinh không chỉ tạo ra được tính thực tiễn cao của việc dạy - học Tiếng Việt trong nhà trường mà chính là một “lối thoát” quan trọng, khắc phục tính “hàn lâm” của nội dung dạy học môn Tiếng Việt” Trong bài,tác giả nhấn mạnh việc đổi mới chương trình theo
hướng tiếp cận năng lực là đúng đắn, đồng thời cũng nhấn mạnh vai trò và mối quan hệ giữa giữa năng lực chung và năng lực đặc thù
PGS.TS Đỗ Ngọc Thống, với bài viết : “ Xây dựng chương trình giáo dục phổ thông theo định hướng tiếp cận năng lực”, đăng tải ngày 15-5-2012
trên báo Tia Sáng cũng có quan điểm về chương trình tieps cận năng lực của
đổi mới giáo dục : “CT tiếp cận năng lực thực chất vẫn là cách tiếp cận kết quả đầu ra đầu ra của cách tiếp cận này tập trung vào hệ thống năng lực cần
có ở mỗi người học CT tiếp cận theo hướng này chủ trương giúp HS không
Trang 11chỉ biết học thuộc, ghi nhớ mà còn phải biết làm thông qua các hoạt động cụ thể, sử dụng những tri thức học được để giải quyết các tình huống do cuộc sống đặt ra Nói cách khác phải gắn với thực tiễn đời sống CT truyền thống chủ yếu yêu cầu HS trả lời câu hỏi: Biết cái gì? CT tiếp cận theo năng lực luôn đặt ra câu hỏi: Biết làm gì từ những điều đã biết?” Như vậy, có thể
thấy, nhận định của PGS.Ts Đỗ Ngọc Thống có nét tương đồng với quan điểm của PGS.TS Đỗ Việt Hùng
Trong bài viết: “Ứng dụng cách tiếp cận năng lực chung - một phương pháp mới xác định danh mục năng lực cần thiết đối với chuyên viên ngân hàng”, hai tác giả Lê Kim Long và Phạm Minh Trí, giảng viên đại học Nha Trang đã nhận định : “Dẫu có sự khác nhau nhưng hầu hết các khái niệm đều
có chung một số quan điểm như: Năng lực bao gồm một loạt các kiến thức,
kỹ năng, thái độ hay các đặc tính cá nhân khác cần thiết để thực hiện công việc thành công Bên cạnh đó, những yếu tố này phải được quan sát hay đo lường và có sự phân biệt giữa những người biểu hiện tốt nhất so với những người khác
Tóm lại, năng lực được xem như là những phẩm chất tiềm tàng của một cá nhân và đòi hỏi của công việc để thực hiện công việc thành công Năng lực được hiểu là một tập hợp các kiến thức, kỹ năng và thái độ hay các phẩm chất cá nhân khác (động cơ, nét tiêu biểu, ý niệm về bản thân, mong muốn thực hiện…) mà tập hợp này là thiết yếu và quan trọng của việc hình thành những sản phẩm đầu ra.”
Trên đây là những nhận định về năng lực và chương trình phát triển năng lực của một số tác giả, một số nhà nghiên cứu
Bên cạnh đó, chứng tôi cũng xem xét các tài liệu bàn về thao tác lập luận bình luận Bình luận là một kĩ năng quan trọng của làm văn nghị luận
ở nhà trường và rèn luyện kĩ năng bình luận cho học sinh là một vấn đề các nhà nghiên cứu quan tâm
Trang 12Cuốn sách thứ nhất tiêu biểu viết về kĩ năng bình luận là “Lí luận văn học” do Phương Lựu chủ biên Trong cuốn sách này, tác giả Phương
Lựu cùng một số tác giả khác đã nói đến bình luận với tư cách là một dạng
thức của lập luận Theo đó các tác giả cho rằng : “Bình luận là đánh giá, xem xét cái đúng, cái sai, mặt hay, mặt dở (tức là bình) của một hiện tượng, một sự vật, một quan niệm Đồng thời đào sâu, mở rộng thêm (luận) nhằm phát huy những mặt tích cực ngăn ngừa những mặt tiêu cực, sai trái” [9,444] Không chỉ vậy,các tác giả còn chỉ ra rằng bình luận còn
liên đới với cả chứng minh, giải thích và phân tích
Trong cuốn “Làm văn nghị luận như thế nào” của nhà xuất bản Nghệ
Tĩnh cũng nói đến bình luận là một trong ba kiểu bài nghị luận cơ bản cũng
giống quan điểm của các tác giả trong cuốn “Lý luận văn học”, các tác giả trong cuốn “Làm văn nghị luậnnhư thế nào” cũng nêu lên bản chất của
bình luận nhưng đã có sự mở rộng và yêu cầu sự cụ thể hơn đối với bài văn
bình luận : “ Bình luận là kiểu bài nghị luận đòi hỏi người viết phải xác định công khai luận đề đúng hay sai, đúng sai ở chỗ nào, vì sao lại đúng sai như thế…Kiểu bài bình luận luôn luôn nêu yêu cầu nâng cao vấn đề,
mở rộng vấn đề,từ vấn đề này bàn sang vấn đề khác có liên quan Phải lật xuôi lật ngược vấn đề, rào đón những thắc mắc của người đọc, người nghe kiên quyết đấu tranh, gạt bỏ những nhận thức sai trái,có hạn; khẳng định những nhận thức đúng đắn” [20,22]
Các tác giả Lê A, Nguyễn Trí trong cuốn “Làm văn” mặc dù không
trực tiếp nói về thao tác lập luận bình luận nhưng đã có nói đến bình luận trên phương diện là một kiểu bài văn nghị luận cụ thể Theo đó, Lê A, Nguyễn Trí đã chỉ ra những đặc điểm cơ bản của văn nghị luận và đưa ra phương pháp làm bài bình luận đối với cả bài bình luận xã hội và bình luận
Trang 13văn học Điều này đã giúp ích rât lớn cho giáo viên và học sinh trong quá trình dạy học văn
Trong SGK Ngữ văn 11 tập 2, bộ cơ bản, các tác giả Phan Trọng Luận, Trần Đăng Suyền, Lê A đã thống nhất đưa ra khái niệm bình luận
như sau : “Bình luận nhằm đề xuất và thuyết phục người đọc (người nghe) tán đồng với nhận xét, đánh giá, bàn luận của mình về một hiện tượng (vấn đề) trong đời sống hoặc trong văn học” [12,73] Từ khái niệm đó, các tác
giả đã đưa ra cách bình luận thường gặp nhất để giáo viên và các em học sinh tham khảo Thao tác lập luận bình luận không chỉ có mặt trong các kiểu bài mà thao tác này còn có mối liên hệ mật thiết với các thao tác khác: phân tích, so sánh, bác bỏ quan điểm này hoàn toàn phù hợp với thực tế viết văn lại vừa tạo điều kiện để luyện tập cho học sinh biết cách sử dụng thao tác lập luận trong suốt quá trình học văn nghị luận từ THCS đến THPT và ứng dụng vào việc học tập cũng như trong cuộc sống
Tựu chung lại, các chuyên gia, các nhà nghiên cứu đều đồng ý với việc đổi mới chương trình, đổi mới SGK, đổi mới cách dạy, cách học, cách kiểm tra, đánh giá… Tuy nhiên, để thực hiện được thì nó còn đòi hỏi phải có sự phù hợp với đặc điểm tình hình của quốc gia hiện nay Có thể khẳng định đổi mới chương trình theo hướng tiếp cận năng lực chính là chìa khóa để mở ra một thời đại mới cho nền giáo dục nước nhà.Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu chưa đưa ra một bài dạy lý thuyết cụ thể nào theo định hướng phát triển
năng lực Vì thế, chúng tôi thấy cần thiết đi sâu nghiên cứu đề tài : “Rèn
luyện năng lực tạo lập văn bản cho học sinh trong dạy học bài "Thao tác lập luận bình luận (Ngữ văn 11)" với hy vọng góp một phần tiếng nói, đưa
ra giải pháp hữu ích cho hướng dạy-học mới này để nâng cao chất lượng dạy Làm văn ở cấp THPT
Trang 143 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu :
3.1.Người viết thực hiện đề tài này với mục đích:
- Rèn luyện năng lực tạo lập văn bản cho học sinh cụ thể là việc sử dụng thao tác lập luận bình luận để tạo lập văn bản nghị luận
- Đề xuất định hướng cụ thể khi dạy bài “ Thao tác lập luận bác bỏ” SGK lớp 11 theo hướng tiếp cận năng lực để nâng cao năng lực vận dụng kĩ năng đưa lí thuyết vào thực tế của học sinh, nâng cao hiệu quả giờ làm văn
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu:
Để đạt được mục đích nghiên cứu của đề tài, khóa luận cần có những nhiệm
vụ sau :
- Trình bày hệ thống kiến thức về thao tác lập luận bình luận
- Vận dụng những tri thức đó vào việc thực hiện dạy học “Thao tác lập luận bình luận” trong SGK Ngữ văn lớp 11
- Đánh giá hiệu quả của việc vận dụng các tri thức đó vào dạy học
4 Đối tượng, Phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng
- Đối tượng nghiên cứu của đề tài là những vấn đề lý luận về dạy học Làm văn theo định hướng phát triển năng lực học sinh và việc triển khai rèn luyện năng lực tạo lập văn bản trong dạy học bài “Thao tác lập luận bình luận” theo hướng phát triển năng lực
Trang 155 Phương pháp nghiên cứu
-Phương pháp nghiên cứu lý luận
- Phương pháp thực tiễn
- Phương pháp thống kê
- Phương pháp thống kê, khảo sát
6 Đóng góp của khóa luận
* Về mặt lý luận :
Khóa luận tập trung trình bày cơ sở lý luận về thao tác lập luận bình luận ở các phương diện khái niệm, đặc điểm, vai trò, cách thức thực hiện thao tác lập luận bình luận trong văn bản nghị luận
* Về mặt thực tiễn :
Khóa luận này góp một phần vào việc tìm ra những hướng dạy học nội dung này đạt hiệu quả, đồng thời cũng giúp cho học sinh có đủ kiến thức và tự tin khi sử dụng thao tác lập luận bình luận cũng như khi vận dụng kết hợp thao tác lập luận này với các thao tác lập luận khác trong quá trình tạo lập văn bản nghị luận
7 Bố cục khóa luận
- Mở đầu
- Nội dung
+ Chương 1 : Cơ sở lí luận
+ Chương 2 : Thực trạng dạy học bài “Thao tác lập luận bình luận”
trong trường THPT hiện nay
+Chương 3 : Giải pháp rèn luyện năng lực tạo lập văn bản cho học sinh trong dạy học bài “Thao tác lập luận bình luận” ( SGK Ngữ văn lớp 11 )
- Kết luận
Trang 16Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC DẠY HỌC THEO ĐỊNH
HƯỚNG TIẾP CẬN NĂNG LỰC
1.1 Năng lực
1.1.1 Khái niệm năng lực
Bước sang thế kỉ XXI, thế giới với những biến đổi liên tục và khôn lường Để thế hệ trẻ có thể sẵn sàng đối mặt với cuộc sống hiện đại đòi hỏi
“cốt nhiều hơn căn” thì vấn đề năng lực lại được chú trọng hơn bao giờ hết Trên thực tế vẫn còn tồn tại khá nhiều trường hợp học sinh, sinh viên thiếu năng lực hay chưa biết vận dụng những kiến thức được học trong trường lớp vào thực tế cuộc sống Điều này gây nguy hại rất lớn cho tương lai hội nhập
và phát triển của một đất nước đang trong đà công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước như ở Việt Nam Chính vì thế, giáo dục Việt Nam đã có bước đổi mới khi hướng đến cách dạy-học theo định hướng phát triển năng lực học sinh Đây là vấn đề khá mới mẻ và mang tính thời sự cao trong khoa học giáo dục, được các nhà tâm lý học,giáo dục học nghiên cứu,tìm hiểu
Năng lực được hiểu ở nhiều phương diện với những cấp độ khác nhau Riêng định nghĩa về năng lực đã có rất nhiều cách hiểu, quan niệm khác nhau tùy thuộc vào từng lĩnh vực (tâm lí, giáo dục, xã hội học…)
Theo từ điển Tiếng Việt, năng lực được định nghĩa: “Năng lực là khả năng làm việc tốt nhờ có đạo đức và trình độ chuyên môn”
Tại Hội nghị chuyên đề về những năng lực cơ bản của Hội đồng châu
Âu, sau khi phân tích nhiều định nghĩa về năng lực, F.E Weinert (OECD,
2001b, p.45) kết luận: Xuyên suốt các môn học “năng lực được thể hiện như một hệ thống khả năng, sự thành thạo hoặc những kĩ năng thiết yếu, có thể giúp con người đủ điều kiện vươn tới một mục đích cụ thể” Cũng tại diễn đàn này, J Coolahan (UB châu Âu 1996, p 26) cho rằng: “năng lực được xem như
Trang 17là “những khả năng cơ bản dựa trên cơ sở tri thức, kinh nghiệm, các giá trị
và thiên hướng của một con người được phát triển thông qua thực hành GD”
Theo quan niệm của chương trình giáo dục phổ thông của Quecbec
(Canada) thì: “Năng lực là sự kết hợp một cách linh hoạt và có tổ chức kiến thức, kĩ năng với thái độ tình cảm, giá trị, động cơ cá nhân…nhằm đáp ứng hiệu quả một yêu cầu phức hơp của hoạt động trong bối cảnh nhất định” Với
cách hiểu này thì việc học sinh chỉ có kiến thức, kĩ năng và thái độ không được xem như là có năng lực mà cả ba yếu tố này phải được người học vận dụng trong một tình huống nhất định thì mới phát triển hình thành năng lực
Ở góc độ tâm lý học, nhiều tác giả có quan niệm chung về năng lực
như sau: “Năng lực là tổ hợp các thuộc tính độc đáo của cá nhân, phù hợp với yêu cầu của một hoạt động nhất định, đảm bảo cho hoạt động đó có hiệu quả”
Ở góc độ tâm lý học, nhiều tác giả có quan niệm chung về năng lực
như sau: “Năng lực là tổ hợp các thuộc tính độc đáo của cá nhân, phù hợp với yêu cầu của một hoạt động nhất định, đảm bảo cho hoạt động đó có hiệu quả”
Như vậy, theo như góc độ này, năng lực bao gồm các thuộc tính tâm lý
và sinh lý tương ứng với những đòi hỏi của một hoạt động nhất định, trong một bối cảnh, tình huống nhất định chứ nó không phải là tất cả thuộc về tâm,sinh lý của con người Năng lực không phải là khả năng sinh ra đã có, nó
là kết quả tích cực của quá trình lĩnh hội và rèn luyện tri thức trong quá trình hoạt động và giao tiếp
Ở giác độ giáo dục học, năng lực được quan niệm:“Năng lực là một hệ thống các cấu trúc tinh thần bên trong và khả năng huy động các kiến thức,kỹ năng nhận thức, kỹ năng thực hành thái độ, cảm xúc,giá trị,đạo đức, động lực của một người để thực hiện thành công các hoạt động trong bối cảnh cụ thể.”
Trang 18Như vậy, giác độ này, năng lực là sự tích hợp và kết nối nhu cầu bên ngoài (yêu cầu của bối cảnh, tình huống cụ thể) với các đặc điểm cá nhân (kiến thức, kĩ năng nhận thức, thực hành và t hái độ, cảm xúc, đạo đức) để thực hiện thành công các nhiệm vụ thực tiễn Và từ đó khẳng định, các đặc điểm cá nhân có thể hình thành và phát triển thông qua quá trình giáo dục, hoạt động và giao tiếp xã hội
Dù là ở lĩnh vực nào, ta đều thấy quan niệm về năng lực của các nhà nghiên cứu là hội tụ đủ ba yếu tố: kiến thức, kĩ năng và thái độ Nói đến năng lực là nói đến khả năng thực hiện biết và làm chứ không phải biết và hiểu
Đã có không ít trường hợp nhầm lẫn giữa năng lực với trí thức,kĩ năng
và kĩ xảo Cần phải có cái nhìn đúng đắn giữa các khái niệm này
Năng lực,tri thức, kĩ năng, kĩ xảo đều là kết quả của quá trình luyện tập, rèn luyện, lĩnh hội tri thức Tuy nhiên chúng có những nét khác nhau
Tri thức là những hiểu biết thu nhận được từ sách vở, từ học hỏi và từ kinh nghiệm cuộc sống của mình
Kĩ năng là khả năng chuyển kiến thức thành hành động mà kết quả đạt được như mong muốn.Kỹ năng là sự vận dụng bước đầu những kiến thức thu lượm vào thức tế để tiến hành một hoạt động nào đó
Kỹ xảo là những kỹ năng được lặp đi lặp lại nhiều lần đến mức thuần thục cho phép con người không phải tập trung nhiều ý thức và việc mình đang làm
Còn năng lực là một tổ hợp phầm chất tương đối ổn đinh, tương đối cơ bản của cá nhân, cho phép nó thực hiện có kết quả một hoạt động, do đó người có trình độ học vấn cao Năng lực và tri thức, kĩ năng, kĩ xảo có mối quan hệ mật thiết và gắn bó với nhau Năng lực tư duy sẽ không được hình thành nếu tri thức, kĩ năng kĩ xảo không có hoặc hình thành ở bậc thấp
1.1.2 Phân loại năng lực
Do cách định nghĩa, quan niệm khác nhau còn tùy thuộc vào từng lĩnh vực nên việc phân loại năng lực còn nhiều phức tạp Dựa vào chương trình
Trang 19tiếp cận theo hướng năng lực của mỗi các nước, có thể thấy năng lực được phân chia thành hai loại: Năng lực chung (general competence) và năng lực chuyên biệt (subject- specific competencies)
Năng lực chung là năng lực cơ bản và thiết yếu giúp cá nhân có thể sống, làm việc và tham gia hiệu quả trong nhiều hoạt động và bối cảnh khác nhau của đời sống xã hội như năng lực nhận thức, năng lực trí tuệ, năng lực giao tiếp, năng lực về ngôn ngữ và tính toán.Các năng lực này được hình thành và phát triển dựa trên bản năng di truyền của con người, quá trình giáo dục và trải nghiệm trong cuộc sống, đáp ứng yêu cầu của nhiều loại hình hoạt động khác nhau
Năng lực chung gồm 9 năng lực sau:
và sâu hơn của một môn học/hoạt động nào đó
Năng lực chung và năng lực chuyên biệt tuy có sự phân biệt rạch ròi nhưng lại có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, có sự bổ sung cho nhau
Trang 20Trong môn Tiếng Việt và Làm văn đảm nhận, có năng lực chung là sáng tạo và năng lực riêng là năng lực tiếp nhận và năng lực tạo lập văn bản… Trong đề tài này, chúng tôi đi sâu vào năng lực chuyên biệt cần rèn luyện cho học sinh khi dạy học bài “Thao tác lập luận bình luận” đó là năng lực tạo lập văn bản
1.2 Năng lực tạo lập văn bản
Văn bản là một chỉnh thể trên câu, gồm một chuỗi các câu, đoạn được nói bằng miệng (ngôn bản) hay được ghi lại bằng chữ viết (ngôn bản viết), có tính thống nhất về đề tài, tư tưởng, tình cảm, mục đích, có tính hoàn chỉnh về hình thức,tính liên kết mạch lac và vận dụng phương thức biểu đạt phù hợp để thực hiện mục đích giao tiếp
Năng lực tạo lập văn bản chính là khả năng tự tạo nên một chỉnh thể văn bản đạt được mục đích giao tiếp, nội dung giao tiếp rõ ràng và có thái độ của người giao tiếp
1.3 Dạy làm văn theo hướng tiếp cận năng lực
Tiếp cận nội dung (content-based approach) là cách học truyền thống của nền giáo dục nước nhà, là cách nêu ra danh mục chủ đề của tác phẩm nào
đó Cách tiếp cận này chủ yếu xác định và trả lời câu hỏi : Chúng ta muốn người học cần biết cái gì ? Cách tiếp cận này thường mang tính “hàn lâm” nặng về nội dung lý thuyết, ít mang tính ứng dụng thực tế
Tiếp cận năng lực (outcome-based approach) là cách tiếp cận nêu rõ kết quả - những khả năng mà người học mong muốn đạt được vào cuối mỗi giai đoạn học tập trong nhà trường ở một môn học cụ thể Cách học này nhằm trả lời câu hỏi: Chúng ta muốn người học biết và có thể làm được những gì?
Tiếp cận năng lực chủ trương giúp người học không chỉ biết học thuộc, ghi nhớ kiến thức một cách thông thường mà còn phải biết vận dụng tri thức
đó vào thực tế để giải quyết các tình huống do cuộc sống đặt ra Như vậy,việc
Trang 21thay đổi dạy - học theo hướng tiếp cận nội dung sang hướng tiếp cận năng lực
là điều hoàn toàn cần thiết ở chương trình học của tất cả bộ môn nói chung và của phần Làm văn nói riêng
Thực tế dạy học môn Làm văn trước đây là học theo hình thức chép; nhìn-chép Thường là thầy giảng, trò nghe ; thầy đọc, trò chép Với cách dạy này, học sinh thường bị động, chỉ biết nghe theo sự hướng dẫn của thầy
đọc-cô mà không có sự sáng tạo, không kích thích được toàn bộ lối tư duy của học sinh, làm học sinh không có khả năng tự học và thói quen tìm tri thức, làm việc nhóm Vì thế có thể thấy, nếu cứ dạy Làm văn theo hướng này thì không phát huy được tính cảm nhận, tạo lập văn chương của học sinh trong thực tế, làm cho môn văn càng trở nên nhàm chán, thiếu thú vị
Dạy học làm văn ở cấp trung học phổ thông mục đích giúp cho học sinh có được những kĩ năng cơ bản trong giao tiếp, trong việc sử dụng ngôn ngữ, câu văn, cú pháp hợp lý, đúng ngữ cảnh Dạy học làm văn theo hướng tiếp cận năng lực được thể hiện ở nội dung và phương pháp Về nội dung, cần đảm bảo nội dung bài dạy đầy đủ, chính xác và mang tính ứng dụng thực tế cao Về phương pháp, cần có phương pháp giảng dạy khoa học, gắn liền với thực tế Các phương pháp chính là: Phân tích lý thuyết, luyện tập theo mẫu và cuối cùng là thực hành thực tế Để học tốt Làm văn theo hướng tiếp cận năng lực cần phải có sự rèn luyện vì thế phương pháp tập luyện theo mẫu một cách lặp đi lặp lại nhiều lần sẽ tạo ra những kĩ năng và từ đó hình thành nên năng lực cho người học
Dạy học Làm văn theo hướng tiếp cận năng lực chính là cách giúp cho các em học sinh hình thành được kĩ năng để tạo lập văn bản sử dụng trong thực tế cuộc sống, trong cách ứng xử, sử dụng lời nói ngôn ngữ phù hợp với hoàn cảnh giao tiếp, hoàn thiện nhân cách bản thân
Trang 221.4 Bình luận, thao tác và thao tác lập luận bình luận trong văn nghị luận
1.4.1 Một số khái niệm cơ bản
14.1.1 Khái niệm thao tác
Trong từ điển Tiếng Việt, thao tác được định nghĩa là: “Thực hiện những động tác kĩ thuật để hoàn thành một công việc gì đó.”
Về phương diện Tâm lí học, thao tác được coi là đơn vị nhỏ nhất của hoạt động khi hoạt động, chủ thể chỉ có thể đạt được mục đích bằng các phương tiện trong điều kiện xác định Mỗi phương tiện quy định cách thức hành động Cốt lõi của phương thức ấy chính là thao tác Nó không có mục đích riêng mà thực hiện mục đích hành động đồng thời phụ thuộc chặt chẽ vào phương tiện điều kiện cụ thể
1.4.1.2 Khái niệm bình luận
Theo từ điển tiếng Việt, bình luận được định nghĩa: “Bình luận là đưa
ra ý kiến đánh giá và bàn bạc về một vấn đề, hiện tượng nào đó.” Bình chính
là bình phẩm, bàn bạc vấn đề hay- dở, tốt- xấu còn luận là đưa ra những quan điểm, lý lẽ từ đó trao đổi ý kiến với người đọc, người nghe Bình luận do đó
được giảng nghĩa là “ bàn và đánh giá, nhận định về một tình hình, một vấn
đề nào đó” Ví dụ bình luận thời sự, bình luận bóng đá, bình luận quân sự…
Bình luận đã trở thành hoạt động diễn ra thường xuyên của con người,
dù là trên lớp học, ngoài đồng ruộng hay ngay cả khi tham gia nghỉ ngơi, giải trí.Đối tượng của bình luận rất đa dạng, phong phú nhưng điều quan trọng vẫn
là người bình luận cần thể hiện được quan điểm, đánh giá của mình về sự vật,
sự việc, hiện tượng được nói tới
Bình luận khác với giải thích và chứng minh
Bình luận là đề xuất và thuyết phục người đọc (người nghe) tán đồng với một nhận xét, đánh giá, bàn luận của mình về một vấn đề nào đó trong đời sống hoặc văn học
Trang 23Giải thích là dung lí lẽ (chủ yếu) và dẫn chứng (hỗ trợ) để giúp người đọc, người nghe hiểu một vấn đề nào đó trong đời sống hoặc trong văn học
Chứng minh là dung dẫn chứng (chủ yếu) và lí lẽ (hỗ trợ) để khiến cho người đọc, người nghe tin một vấn đề nào đó trong đời sống hoặc trong văn học
Bình luận ngày càng có vị trí quan trọng khi công nghệ thông tin ồ ạt lấn chiếm dần trong cuộc sống thường nhật của con người, tạo nên một kết nối cộng đồng mạng lớn như facebook, youtube, các kênh báo mạng 24h.com, tinn.vn… Hòa nhập với công nghệ,việc bình luận mọi vấn đề của cuộc sống,
xã hội càng trở nên quen thuộc và quan trọng với mỗi con người Với mức độ quan trọng ấy,việc xây dựng văn bản bình luận,bàn bạc,đánh giá vấn đề sao cho khoa học và có văn hóa là một vấn đề thiết yếu cần được quan tâm
1.4.1.3 Khái niệm văn nghị luận
Nghị luận là dạng thức cơ bản của văn học Đó là việc bàn bạc, đánh giá một vấn đề nào đó Trong đó có các luận điểm và các dẫn chứng, lý lẽ thuyết phục người nghe về quan điểm cá nhân đối với vấn đề đó.Văn nghị luận là loại văn chương nghị sự, dùng luận cứ, luận chứng để phân tích rõ vấn
đề Nói một cách khác, đó là tên gọi chung cho một thể loại vận dụng tư duy logic như khái niệm, phán đoán, suy lí nêu sự việc trình bày lý lẽ, phân biệt đúng sai và tiến hành phân tích luận chứng khoa học đối với hiện thực khách quan,quy luật bản chất của sự vật, qua đó nhằm biểu đạt tư tưởng, chủ trương
ý kiến, quan điểm của người nói (người viết) với vấn đề nghị luận
Như vậy,nghị luận là một kiểu văn bản trong đó người viết, người nói đưa ra những lí lẽ dẫn chứng về một vấn đề để người đọc,người nghe hiểu, tin,tán đồng với những ý kiến của mình và hành động theo những điều mình
đề xuất
Trang 241.4.2 Thao tác lập luận bình luận trong văn nghị luận
Để trình bày một vấn đề, nội dung nào đó, người viết phải lựa chọn các dẫn chứng cụ thể,các đơn vị ngôn ngữ để trình bày vấn đề Quá trình dùng ngôn ngữ để diễn đạt ấy được gọi là lập luận Khi tổ chức lập luận, người nói người viết phải căn cứ vào mục đích lập luận, để từ đó chọn được cách trình bày phù hợp Việc chọn cách thức trình bày phải tuân theo các động tác kĩ thuật hay còn gọi là thao tác
“Thao tác lập luận bình luận” là thuật ngữ được gọi theo đặc điểm hoạt động tâm lý của con người Nghị luận là một hoạt động thường xuyên của con người, vì thế khi triển khai lập luận cho văn bản nghị luận sẽ chịu sự chi phối của hoạt động tâm lý con người Trong văn nghị luận, ngoài giải thích, chứng minh, phân tích ý kiến, vấn đề nào đó, người viết còn phải dung ngôn ngữ đưa các lý lẽ dẫn chứng để bày tỏ quan điểm thái độ để người đọc, người nghe hiểu hoặc tán đồng với ý kiến của mình Đó được gọi là lập luận bình luận
Bình luận là thao tác không thể thiếu trong văn nghị luận Đó là cách người viết, người nói dung lý lẽ, dẫn chứng để bàn bạc, đánh giá, phê bình, nhận xét, tỏ thái độ bản thân về một sự kiện, một vấn đề nào đó và qua đó đi đến những nhận định hoàn thiện,đúng đắn, sâu sắc về vấn đề đó Đồng thời, thông qua việc bình luận, con người thể hiện được thái độ, tình cảm và tư duy của cá nhân đối với bản thân sự việc Như vậy, bình luận đòi hỏi chúng ta vận dụng tối đa năng lực tư duy, chống lại thái độ xem xét, tư duy một chiều dễ dàng thoải mái với một số lập luận giản đơn
Trong quá trình tạo lập văn bản, bình luận là thao tác được sử dụng với tần suất lớn nhất trong các thao tác ở mọi lúc, mọi nơi Chúng ta có thể bình luận sau khi đã phân tích, tổng hợp nội dung của vấn đề, người ta cũng có thể dung bình luận để chốt lại các vấn đề đã được phân tích, giải thích hoặc chứng minh Vì thế, người nói, người nghe cần bình luận một cách thấu đáo, khách quan, công bằng và tránh tùy tiện
Trang 25Khi thực hiện thao tác bình luận, người viết, người nói cần tuân thủ các bước sau :
- Xác định đối tượng bình luận
- Giới thiệu đối tượng bình luận
- Đề xuất ý kiến bình luận
- Vận dụng tổng hợp các thao tác lập luận và mở rộng vấn đề bình luận Đối tượng của bình luận vốn rộng lớn: Bình luận về một hiện tượng đời sống, một nhân vật lịch sử, một ý kiến hay một tác phẩm văn học, một
bộ phim, một nhân vật Vì vậy, muốn cho người đọc biết ta bình luận cái gì thì phải gọi tên đối tượng bình luận, trình bày hiện tượng, trích dẫn ý kiến, giới thiệu tác phẩm văn học hay nhân vật văn học Khi bình luận, người bình luận cần phân tích đối tượng một cách cụ thể, nghĩa là phải hiểu được bản chất của đối tượng, chỉ ra được cái đúng - sai, tốt - xấu một cách khách quan, trung thực Người bình luận cần nhìn nhận đối tượng từ nhiều mối quan hệ, giữa đối tượng bình luận với nhiều hiện tượng, sự vật khác để không có cái nhìn áp đặt và thiên lệch.Bình luận luôn là ý kiến chủ quan của người viết, người nói Vì thế, nó phải thể hiện chính kiến riêng của người bình luận theo ba cách cụ thể sau:
Người viết đứng hẳn về một phía với vấn đề, hiện tượng bàn luận Nghĩa là lúc này, người viết (người nói) sẽ phải sử dụng lĩ lẽ, dẫn chứng thuyết phục người đọc (người nghe) điều mình tin là đúng, kiên quyết bác bỏ cái sai.Trong trường hợp vấn đề bàn luận có cả điều đúng và điều sai thì cần phải nêu ra và chứng minh những điều tích cực trong phần đúng, gọi ra và chứng minh và loại bỏ phần sai của mỗi phí để tìm được “tiếng nói chung” trong sự đánh giá Cuối cùng, nếu vấn đề chưa đúng hoặc không chính xác thì người viết phải bày tỏ được quan điểm của riêng mình, cách nhìn nhận đánh giá của bản thân đối với vấn đề Việc lựa chọn một trong ba khả năng trên
Trang 26xuất phát từ vốn tri thức, hiểu biết và trình độ, quan điểm, suy nghĩ, thái độ của người viết (người nói) Khi đã xác định được nội dung và sự đồng ý hay không đồng ý với vấn đề, người viết phải lựa chọn lí lẽ, dẫn chứng và ngôn từ
để trình bày sao cho bài lập luận có sức thuyết phục
Muốn bình luận thành công, người viết phải thực sự am hiểu vấn đề, vận dụng các thao tác lập luận như phân tích, chứng minh, giải thích, so sánh để trình bày ý kiến bàn luận của mình, có như thế vấn đề mới được sang
tỏ và có sức thuyết phục Một bài bình luận không có ý kiến rõ ràng, không có
sự kết hợp tư duy logic và lí lẽ,quan điểm đúng - sai rõ ràng cũng như sự hiểu biết về vấn đề sẽ là một bài bình luận dở và không có giá trị Vì vậy, muốn thực hiện thao tác lập luận bình luận “ có sức hút”, người bình luận cần trình bày trung thực, khách quan, rõ ràng vấn đề mà mình sẽ mang ra bàn luận cùng mọi người Người bàn luận cần luôn bảo vệ quan điểm của mình, khéo léo thuyết phục người đọc, người nghe đặt niềm tin vào sự đánh giá của mình Tuy nhiên, trong quá trình cùng bàn luận, ý kiến của cá nhân chúng ta có thể
sẽ được bác bỏ bằng những lí lẽ, quan điểm tiến bộ và thuyết phục hơn Khi
đó, cần có cái nhìn đúng đắn về vấn đề, tiếp nhận những ý kiến hay để hoàn thiện ý kiến bản thân, tránh thái độ cực đoan, bảo thủ
Để bài bình luận thêm phần thuyết phục, hấp dẫn và triệt để hơn nữa, trong quá trình bàn luận, chúng ta cũng nên mở rộng vấn đề như bàn về thái
độ, hành động, cách giải quyết cần có trước vấn đề vừa được nhận xét, đánh giá;bàn về những điều có thể rút ra khi liên hệ với hoàn cảnh sống, thời đại, lứa tuổi của mình và của những người đang tham gia bàn luận với mình;cũng
có thể bàn về những ý nghĩa xa rộng hơn, sâu sắc hơn mà vấn đề được bình luận có thể gợi ra Thao tác lập luận bình luận được sử dụng không phải để mọi người hiểu vấn đề hơn hay nhiều phải sử dụng thật nhiều dẫn chứng hấp dẫn, đáng tin cậy mà thao tác lập luận bình luận là sử dụng lý lẽ hợp lý, ngôn
Trang 27từ trôi chảy, thuyết phục giàu tính chiến đấu kiên quyết bảo vệ chính kiến, quan điểm bản thân Khi thuyết phục được người nghe, người đọc nghĩa là hoàn thành thao tác lập luận bình luận và bài bình luận hoàn toàn thành công
Tiểu kết chương 1
Xuất phát từ những cơ sở lí luận và thực tiễn trên, chúng tôi nhận thấy
dạy học Làm văn nói chung và dạy học bài “ Thao tác lập luận bình luận”
trong SGK ngữ văn lớp 11 nói riêng theo hướng phát triển năng lực học sinh
là rất cần thiết Bởi nó phát huy được tính tích cực, chủ động và sáng tạo của học sinh, nâng cao chất lượng giáo dục, chất lượng nhân lực - điều mà một nước đang trên đà phát triển và hội nhập đang rất cần thiết Bên cạnh đó, việc
dạy học bài “ Thao tác lập luận bình luận” (SGK lớp 11) với việc rèn luyện
năng lực tạo lập văn bản đáp ứng mục tiêu dạy học, đáp ứng yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học và nâng cao chất lượng dạy học làm văn ở trường THPT hiện nay
Trang 28Chương 2
THỰC TRẠNG DẠY HỌC BÀI “THAO TÁC LẬP LUẬN BÌNH LUẬN”
TRONG TRƯỜNG THPT HIỆN NAY
Giáo dục phổ thông nước ta đang thực hiện bước chuyển từ chương trình giáo dục tiếp cận nội dung sang tiếp cận năng lực của người học Để làm được điều đó,đòi hỏi tất cả giáo viên phải được bồi dưỡng để nâng cao năng lực chuyên môn, nghiệp vụ sư phạm đáp ứng yêu cầu đổi mới Đồng thời, học sinh cần có thái tích cực trong học tập và rèn luyện để nắm bắt và phát triển tri thức
Trước bối cảnh đó, chúng tôi đã cùng tìm hiểu thực trạng dạy học bài
“Thao tác lập luận bình luận” trong trường THPT hiện nay , lấy đó làm cơ sở thực tiễn cho đề tài và cùng với đó để thấy sự cần thiết của đổi mới giáo dục
2.1 Về phía người dạy
Để nắm được thực trạng dạy học bài “Thao tác lập luận bình luận” trong trường trung học phổ thông hiện nay, chúng tôi đã tiến hành các cách thức điều tra tại trường THPT Lý Thường Kiệt - Quận Long Biên,TP Hà Nội với đối tượng khảo sát là 10 giáo viên và 82 học sinh thuộc hai lớp 11a3 và
11a8 Quá trình khảo sát được tiến hành như sau :
2.1.1 Cách thức khảo sát
a) Phát phiếu điều tra thăm dò ý kiến giáo viên:
Giáo viên là người có vai trò quan trọng trong việc tổ chức, điều khiển, giúp đỡ học sinh lĩnh hội tri thức, định hướng, hình thành năng lực cho học sinh Vì vậy chúng tôi đã tiến hành phát phiếu điều tra thăm dò ý kiến của các giáo viên giảng dạy môn Ngữ văn ở trường chúng tôi thực tập Phiếu điều tra gồm 6 câu hỏi (xem phần phụ lục) Sau khi phát phiếu điều tra, chúng tôi đã thu về 10/10 phiếu và tổng hợp các câu trả lời, các ý kiến để nắm được thực trạng dạy Làm văn và bài “Thao tác lập luận bình luận” hiện nay
Trang 29Việc phát phiếu điều tra mới chỉ là một yếu tố nhỏ để chúng tôi nắm bắt được suy nghĩ và rút ra được những tính tích cực trong nhận thức của giáo viên khi dạy học Làm văn theo định hướng phát triển năng lực
b) Dự giờ giáo viên :
Bên cạnh việc phát phiếu điều tra, chúng tôi tiến hành dự giờ dạy của giáo viên ngay tại lớp học để đánh giá khách quan về viêc dạy học Làm văn nói chung và dạy bài “Thao tác lập luận bình luận” (SGK Ngữ văn lớp 11) nói riêng Dự giờ giáo viên được tiến hành ở hai lớp: Lớp 11a3 do cô Đỗ Thị Hạnh dạy và lớp 11a8 do cô Trần Thị Hải Quỳ dạy và dạy cùng một bài
“Thao tác lập luận bình luận”
Trong quá trình dự giờ, chúng tôi đã cố gắng quan sát,ghi chép lại cách dạy và nội dung dạy của từng giáo viên, từ đó đưa ra những nhận xét và kết quả cụ thể
2.1.2 Kết quả khảo sát
Qua việc phát phiếu điều tra 10 giáo viên và dự giờ 2 giáo viên giảng dạy, chúng tôi tổng hợp được kết quả như sau:
Đa số các giáo viên đều nhận thấy việc đổi mới phương pháp dạy học
là việc làm “rất cần thiết” Các giáo viên cũng đã vận dụng các phương pháp mới trong quá trình dạy học nhằm giúp cho giờ học có hiệu quả Hầu hết, các giáo viên đều nhận thấy “sự cần thiết” của việc đổi mới phương pháp học theo hướng phát triển năng lực học sinh.Tuy nhiên, bên cạnh phương pháp pháp vấn đàm thoại, phương pháp thuyết trình, phương pháp làm việc nhóm thì phương pháp tạo tình huống, phương pháp giao tiếp chưa thực sự phổ biến Nhiều giáo viên chưa đổi mới cách dạy để phát triển năng lực học sinh, vẫn dạy thao cách truyền thống, nhiều lý thuyết, ít thực tiễn, bám sát sách giáo khoa
Bên cạnh đó, giáo viên còn có một số hạn chế như sau:
Trang 30Đa số các giáo viên đều cho rằng việc đổi mới giáo dục dạy học theo hướng phát triển năng lực là “rất cần thiết” nhưng lại chưa nắm được cách tổ chức một bài dạy theo định hướng tiếp cận năng lực như thế nào.Chính vì vậy, từ việc biên soạn giáo án đến tổ chức bài dạy còn chưa có sự sáng tạo.Chỉ có một số giáo viên giỏi, tâm huyết với nghề đã chuẩn bị được những giờ học công phu, hấp dẫn và hiệu quả.Bên cạnh đó, các giáo viên còn hạn chế trong việc sử dụng công nghệ thông tin vào tiết dạy Làm văn Các giờ dạy chưa đạt hiệu quả cao trong việc phát huy tối đa tính chủ động, tích cực sáng tạo của học sinh cũng như rèn luyện năng lực tạo lập văn bản cho học sinh
2.1.3 Nhận xét chung
Trong sách Ngữ Văn hiện hành, lập luận bình luận là nội dung khá mới
mẻ Vì vậy, trong quá trình giảng dạy, giáo viên mới chỉ bám sát SGk, SGV
và sách Thiết kế bài giảng để vừa cung cấp kiến thức, vừa luyện tập thực hành cho học sinh
Đối với giờ dạy lý thuyết, giáo viên thực hiện đúng quy trình trong sách giáo khoa, thường là đặt câu hỏi và học sinh trả lời Sau đó, để rút ngắn thời gian tìm hiểu lý thuyết, giáo viên thường lồng ghép việc giảng giải lý thuyết vào việc cho học sinh làm vận dụng các bài tập trong SGK
Theo phân phối chương trình thông thường, bài thao tác lập luận bình luận thường được dạy trong ba tiết Đó là một tiết lý thuyết, một tiết thực hành và một tiết vận dụng tất cả các thao tác được học trong SGK.Một nội dung lý thuyết khá mới mẻ mà giáo viên chỉ được dạy trong ba tiết, trong đó một tiết thực hành vận dụng các thao tác lại càng có ít thời gian để củng cố và
mở rộng kiến thức cũng như luyện tập bài tập nhuần nhuyễn hơn Do giới hạn
về thời gian nên giáo viên ít có thời lượng mở rộng kiến thức và tổ chức luyện tập sử dụng thao tác lập luận bình luận một cách cẩn thận Cũng vì thế mà các
em học sinh còn chưa nắm rõ cách bình luận, chưa chủ động xây dựng được
Trang 31một bài bình luận đúng, đủ Nói cách khác, giáo viên mới chỉ cung cấp cho học sinh những lí thuyết thông thường chứ chưa rèn luyện cho học sinh được cách xây dựng một văn hoàn chỉnh khi thoát li những bài tập trong SGK và khi ở ngay cuộc sống thường nhật
2.2 Về phía người học
2.2.1 Cách thức khảo sát
Học sinh là chủ thể quan trọng của giờ học Vì thế, bên cạnh việc khảo sát, điều tra người dạy, chúng tôi tiến hành điều tra học sinh để tìm ra thực trạng học của học sinh khi học Làm văn nói chung và bài “Thao tác lập luận bình luận” SGK Ngữ văn lớp 11 nói riêng Chúng tôi đã tiến hành điều tra bằng những phương pháp sau :
a) Khảo sát thái độ, không khí học tập của học sinh :
Khi dự giờ giáo viên, bên cạnh việc ghi chép đầy đủ, chúng tôi đồng thời
đã quan sát thái độ, không khí học tập của học sinh trong lớp học Đối tượng điều tra khảo sát ở đây là các em học sinh lớp 11a3 và 11a8 trường THPT Lý Thường Kiệt - Quận Long Biên, TP Hà Nội Thái độ, không khí lớp học chính là một thước đo đánh giá giờ dạy có thành công không, học sinh có tiếp thu được kiến thức và phát huy được năng lực của mình hay không
b) Khảo sát kết quả học tập :
Chúng tôi tiến hành điều tra kết quả học tập bằng cách thu hồi lại
vở ghi của các em và cho bài kiểm tra ngắn trực tiếp trên lớp Với cách điều tra kết quả học tập này sẽ cho ngay kết quả học sinh có hiểu bài,có chăm chú
và hăng say với bài không, giáo viên đã bao quát được lớp chưa và đã tạo được giờ học hiệu quả hay chưa
Chúng tôi đã cho các em làm bài kiểm tra ngắn : “Có ý kiến cho rằng: “ Hạnh phúc là những điều đơn giản”.Em hãy bình luận ý kiến trên.”
để nắm bắt mức độ hiểu bài tại lớp của các em
Trang 322.2.2 Kết quả điều tra :
Qua dự giờ chúng tôi nhận thấy, đối với giáo viên giàu kinh nghiệm,sử dụng các phương pháp học mới, đưa ra các tình huống lý thú,các câu hỏi gắn liền với thực tiễn đời sống, học sinh mạnh dạn phát biểu, hăng say xây dựng bài Các em mạnh dạn phát biểu, đưa ra ý kiến và quan điểm của bản thân,bàn bạc,đánh giá ý kiến của người khác Bên cạnh đó, vẫn có những giờ học Làm văn, học sinh tiếp nhận với thái độ thụ động, miễn cưỡng Đặc biệt, vẫn có những học sinh chưa nghiêm túc trong giờ học,chưa chủ động đọc
và tìm hiểu bài trước khi tới lớp
Khi điều tra bằng cách thống kê vở của học sinh, có 37 vở ghi chép bài đầy đủ Trong đó có 19 vở có làm bài tập,18 vở chưa làm bài tập cô giao tại lớp Lớp có 4 vở chưa ghi bài Như vậy, ý thức làm bài tập luyện tập ngay trên lớp còn kém, học sinh còn thụ động, ý thức còn chưa tốt
Với đề kiểm tra ngắn trên lớp, sau khi thu và chấm bài,chúng tôi nhận thấy tỷ lệ những bài yếu kém còn rất nhiều,tỷ lệ các bài đạt điểm khá giỏi chưa cao Các em chưa nắm vững cách thức bình luận Vì vậy, bài viết còn sơ sài, chưa đúng,đủ ý Các em chưa biết cách tạo lập một văn bản bình luận,chưa đưa ra ý kiến và bảo vệ ý kiến đó Từ đó thấy được, học sinh chưa phát huy năng lực bản thân
2.2.3 Nhận xét chung
Nhìn chung, trong quá trình học bài “Thao tác lập luận bình luận”học sinh đã nắm được những yêu cầu chung và những vấn đề cơ bản của thao tác này Tuy nhiên,quá trình tiếp thu tri thức của học sinh còn thụ động mặc dù giáo viên đã đổi mới phương pháp dạy học khi lên lớp bằng cách lấy học sinh làm trung tâm, phát huy tính chủ động và tích cực hơn trong giờ học Vậy nhưng học sinh vẫn chưa phát huy được tính chủ động sáng tạo trong học tập
mà vẫn học theo truyền thống: thầy đọc - trò chép, nghe và ghi chép, tái hiện một cách máy móc kiến thức đã học
Trang 33Trong các bài viết nghị luận văn học,nghị luận xã hội các em cũng đã biết vận dụng thao tác lập luận bình luận vào trong bài nhưng đa phần còn chưa thuần thục,bị gò ép theo các bài tập luyện tập trong SGK mà thầy cô hướng dẫn chứ chưa hoàn toàn biết làm một đề mới mẻ, độc lập Bên cạnh đó
là vấn đề văn hóa của học sinh hiện nay Trong thời đại hội nhập, giới trẻ được tiếp thu nền văn hóa của nhiều nước trên thế giới, cuộc sống được mở rộng phong phú nhưng cũng là lúc văn hóa ngôn ngữ của giới trẻ đang có những dấu hiệu tiêu cực Thực trạng hiện nay cho thấy, học sinh phát ngôn bừa bãi, đưa cả những điều, những lời khiếm nhã vào bài văn nghị luận là nhiều Như vậy, một bộ phận học sinh còn bình luận chưa đúng chuẩn mực văn hóa, dung sai từ, hiểu sai lệch nội dung bình luận hoặc bình luận bừa bãi
Từ đó cho thấy, việc giáo viên hướng dẫn luyện tập cho học sinh và việc rèn luyện ý thức tập luyện của học sinh phải được tiến hành nhiều hơn.Trong đề tài khóa luận này, với cách dạy học được đổi mới là phát triển năng lực học sinh, chúng tôi đi sâu tìm hiểu vào việc rèn luyện kĩ năng tạo lập văn bản của học sinh để nhằm mục đích rèn luyện cả kĩ năng và ý thức thái độ bình luận
có văn hóa dù là trong văn chương hoặc đời sống thường ngày
2.3 Về nội dung dạy học
“Thao tác lập luận bình luận” là tiết học quan trọng của phần Làm văn.Theo phân phối chương trình, bài được chia làm 3 tiết: Đó là một tiết lý thuyết, một tiết thực hành và một tiết vận dụng tất cả các thao tác được học trong SGK.Một khối lượng lớn kiến thức mới mẻ nhưng lại chỉ được dạy trong 3 tiết như thế thì thực sự khó khăn cho cả người dạy và người học
Theo như SGK Ngữ văn lớp 11, bài “Thao tác lập luận bình luận” được dạy trong 3 nội dung Về yêu cầu, bài yêu cầu người học phải nắm được nắm được mục đích, yêu cầu và tầm quan trọng của tha tác lập luận bình luận Tiếp đó học sinh cần nắm được những nguyên tắc và cách thức cơ bản của