Vì vậy giáo viên phải thực hiện các bước tiến trình trong tiết luyện tập thật khoa học, phải làm sao tạo được hứng thú cho học sinh, đồng thời giúp học sinh phát huy tốt khả năng tư duy
Trang 1I ĐẶT VẤN ĐỀ:
1 Lý do chọn đề tài:
Dạy học không chỉ là dạy cho học sinh kiến tạo tri thức, rèn luyện kĩ năng, kỹ xảo, phát triển năng lực mà còn bao hàm cả việc hình thành thế giới quan, phẩm chất đạo đức, khả năng tư duy… giúp học sinh phát triển toàn diện Chính vì lý do đó mà ngành giáo dục chúng ta không ngừng đổi mới để đáp ứng nhu cầu phát triển của xã hội Bên cạnh đó, công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở nước ta đang phát triển với tốc độ ngày càng cao, với qui mô ngày càng lớn và đang được tiến hành trong điều kiện cách mạng khoa học kỹ thuật phát triển như vũ bão nó tác động một cách toàn diện lên mọi đối tượng, thúc đẩy sự tiến bộ của xã hội Một trong những trọng tâm của sự phát triển đất nước là đổi mới nền giáo dục, phương hướng giáo dục của Đảng, Nhà nước và của ngành giáo dục và đào tạo trong thời gian trước mắt cũng như lâu dài là đào tạo những con người “lao động, tự chủ, sáng tạo” có năng lực thích ứng với nền kinh tế thị trường, có năng lực giải quyết được những vấn đề thường gặp, tìm được việc làm, biết lập nghiệp và cải thiện đời sống ngày càng tốt hơn
Từ mục đich giáo dục của nhà trường và vai trò của toán học trong sự nghiệp cách mạng xã hội chủ nghĩa nước ta, có thể khẳng định rằng: môn toán học cần được nghiên cứu trong nhà trường phổ thông là việc hết sức cần thiết và quan trọng Việc nghiên cứu toán học giúp học sinh hiểu được một trong những phương hướng cơ bản của cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật đang diễn ra trên thế giới và là khía cạnh quan trọng của đường lối phát triển khoa học kỹ thuật Trong khi đó dạy học ngày nay không còn là “ thầy truyền thụ, học sinh tiếp thu” mà là sự phối hợp của cả thầy và trò, thầy chỉ là người cố vấn, hướng dẫn học sinh khám phá và chiếm lĩnh tri thức Tuy nhiên việc củng cố kiến thức cho học sinh giữ một vai trò rất quan trọng trong việc dạy học hiện nay Nó giúp cho học sinh có điều kiện khắc sâu kiến thức, giúp giáo viên bổ sung những kiến thức không thể mở rộng trong những tiết trước vì thời gian không cho phép Do vậy việc vận dụng kiến thức để giải bài tập của học sinh chỉ có thể thực hiện tốt, có hiệu quả ở các tiết luyện tập Vì vậy giáo viên phải thực hiện các bước tiến trình trong tiết luyện tập thật khoa học, phải làm sao tạo được hứng thú cho học sinh, đồng thời giúp học sinh phát huy tốt khả năng tư duy của mình, tích cực tham gia vào việc học tập nhằm nâng cao chất lượng bộ môn toán học đáp ứng yêu cầu của trường, của ngành
Xuất phát từ những vấn đề nêu trên và từ tình hình thực tiễn học sinh của trường với mong muốn góp phần nhỏ bé của mình vào việc tìm tòi phương pháp dạy học thích hợp với những điều kiện hiện có của học sinh, nhằm phát triển tư duy tích cực của học sinh THCS giúp các em tự lực hoạt động tìm tòi chiếm lĩnh rèn luyện tri thức, tạo tiền đề quan trọng cho việc phát triển tư duy của các em ở các cấp học cao hơn góp
phần thực hiện mục tiêu giáo dục đào tạo của ngành Nên tôi đã chọn đề tài: “ Kinh nghiệm phát huy tính tích cực của học sinh trong tiết luyện tập bộ môn số học môn Toán lớp 6” để tìm hiểu nghiên cứu nhằm phục vụ cho việc giảng dạy của bản thân.
2 Mục đích nghiên cứu:
Trang 2Nhằm tìm ra phương pháp giúp tạo cảm giác thoải mái, hứng thú học tập môn toán học đặc biệt là tiết luyện tập cho học sinh lớp 6 Tránh gò ép, có cảm giác nhàm chán dẫn đến không thích học hoặc sợ học môn toán
Nhằm tìm ra những biện pháp giúp nâng cao chất lượng bộ môn, đáp ứng yêu cầu, mục tiêu của ngành đã đề ra
3 Đối tượng nghiên cứu:
Các biện pháp để tổ chức tốt tiết “Luyện tập” ở môn Toán học lớp 6 để giúp học sinh hoạt động tích cực tạo hứng thú học tập và giúp các em tiếp thu bài tốt nhằm nâng cao chất lượng dạy và học
Học sinh vận dụng kiến thức đã học để giải bài tập toán theo sự tổ chức của giáo viên nhằm rèn cho học sinh kĩ năng vận dụng, kĩ năng giải bài tập toán và các kĩ năng khác của bộ môn
4 Phương pháp nghiên cứu:
Đọc tài liệu: Giúp chúng ta định hướng đúng đắn và hiệu quả trong quá trình nghiên cứu, vận dụng các thành quả khoa học vào thực tiễn Đọc các tài liệu để có cơ
sở chính xác cho lý luận trong quá trình nghiên cứu
Điều tra, đàm thoại
Dự giờ là để nắm bắt các thông tin từ thực tiễn và để làm cơ sở cho quá trình nghiên cứu đề tài
Kiểm tra, đối chiếu, so sánh đánh giá kết quả thực nghiệm theo từng giai đoạn
5 Giả thuyết khoa học:
Có quan niệm cho rằng đối với tiết luyện tập giáo viên chỉ cần đưa ra những dạng bài tập phù hợp để học sinh giải là tốt Tuy nhiên, riêng bản thân tôi cho rằng: Trong tiết luyện tập, giáo viên cần phải phối hợp thật tốt các phương pháp dạy học thì mới phát huy hết tác dụng của tiết luyện tập
Vì tiết luyện tập rất quan trọng trong việc phát triển tư duy của học sinh, rèn luyện cho học sinh những kĩ năng đặc thù của môn toán học Thông qua tiết luyện tập giáo viên có thể biết được lượng kiến thức mà học sinh nắm được cũng như có bao nhiêu học sinh hiểu và vận dụng các phương pháp để giải tốt các bài tập toán học Do
đó trong tiết luyện tập giáo viên cần phải:
Hướng dẫn học sinh tự học ở nhà thật kĩ ở cuối bài dạy tiết trước
Trong tiết luyện tập, giáo viên phải tổ chức, điều khiển các hoạt động của học sinh để học sinh tích cực, tự giác giải quyết các vấn đề, bài tập mà giáo viên đưa ra Qua đó giúp các em tự củng cố kiến thức và rút ra kinh nghiệm giải bài tập cho bản thân
Sau tiết luyện tập giáo viên nên cho học sinh vận dụng những kiến thức để giải những bài tập về nhà tương tự, có kiểm tra, đánh giá ở tiết sau
II NỘI DUNG:
Trang 31 Cơ sở lý luận của đề tài:
a Các văn bản cấp trên:
Điều 5 Luật Giáo dục 2005 quy định: “Phương pháp giáo dục phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, tư duy sáng tạo của người học; bồi dưỡng cho người học năng lực tự học, khả năng thực hành, lòng say mê học tập và ý chí vươn lên”
Nghị quyết số 40/2000/QH10 ngày 9/12/2000 của Quốc hội nước Cộng hòa
xã hội chủ nghĩa Việt Nam về đổi mới chương trình giáo dục phổ thông
Chương trình giáo dục phổ thông ban hành kèm theo quyết định 16/2006/QĐ-BGDĐT ngày 5/5/2006 của Bộ Giáo dục & Đào tạo cũng đã nêu: “Phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh; phù hợp với đặc trưng bộ môn, đặc điểm đối tượng học sinh, điều kiện của từng lớp học; bồi dưỡng cho học sinh phương pháp tự học, khả năng hợp tác; rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn; tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú và trách nhiệm học tập cho học sinh”
Căn cứ vào công văn số 1134/CV- SGD&ĐT của Sở giáo dục và đào tạo ngày 16/8/2001 về bồi dưỡng phương pháp dạy và học ở trường THCS
b Các quan niệm khác:
Với mục tiêu giáo dục phổ thông là: “Giúp học sinh phát triển toàn diện về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các kỹ năng cơ bản, phát triển năng lực cá nhân, tính năng động và sáng tạo, hình thành nhân cách con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa, xây dựng tư cách và trách nhiệm công dân; chuẩn bị cho học sinh tiếp tục học lên hoặc
đi vào cuộc sống lao động, tham gia xây dựng và bảo vệ tổ quốc”
Thông qua tiết luyện tập học sinh rèn luyện được nhiều kĩ năng đặc trưng của môn toán học, giáo viên có thể đánh giá được sự tiếp thu toàn diện của học sinh cũng như kiểm tra được chính mình trong quá trình giảng dạy còn có những sai sót nào để kịp thời điều chỉnh, bổ sung
Luyện tập là rèn luyện kiến thức thông qua các dạng bài tập Thông qua các bài tập học sinh củng cố, hệ thống kiến thức đã học nhằm khắc sâu kiến thức đã học
Tính tích cực của học sinh là tính nhiệt tình, đam mê học tập, tự giác học tập, tự giác tìm kiếm kiến thức theo sự hướng dẫn của giáo viên
2 Cơ sở thực tiễn của đề tài:
Trang 4a Thực trạng về việc dạy và học tiết luyện tập ở trường Trung học cơ sở Thị
Trấn:
Về học sinh:
Nhiều học sinh chưa có thái độ đúng đắn trong việc xây dựng bài, còn thụ động, ỷ lại người khác trong các tiết luyện tập
Học sinh không có kĩ năng giải bài tập toán học, không vận dụng được các kiến thức đã học vào giải bài tập
Học sinh nhận thức chưa đúng về vai trò của tiết luyện tập, cho rằng tiết luyện tập không cung cấp những kiến thức mới nên thờ ơ, không tập trung vào tiết học, tỏ ra chán nản chỉ chép bài cho qua để đối phó với giáo viên
Về giáo viên:
Khâu hướng dẫn học sinh tự học ở nhà còn sơ sài, chưa có yêu cầu cụ thể Giáo viên chưa có phương pháp hợp lí có thể tạo hứng thú thu hút những học sinh trung bình và yếu cùng tham gia hoạt động xây dựng bài trong tiết luyện tập
Trong tiết luyện tập, giáo viên còn mất nhiều thời gian cho việc hướng dẫn học sinh vì kĩ năng giải bài tập của học sinh còn yếu dẫn đến số lượng bài tập trong tiết luyện tập còn ít
b Sự cần thiết của đề tài:
Chúng ta đều thấy: Kích thích sự hứng thú để học sinh yêu thích học tập bộ môn
là một yếu tố không kém phần quan trọng trong việc dạy học, là mục tiêu mà bất kì người thầy, người cô nào cũng mong muốn đạt được Trình độ nhận thức của các em học sinh trong một lớp thực tế không bằng nhau Có những em học rất tốt, rất khá, giỏi môn toán, tiếp thu nhanh những gì giáo viên cung cấp Bên cạnh đó, cũng có những
em tiếp thu rất chậm Cho nên khi dạy tiết luyện tập, người thầy phải tìm cách lôi cuốn tất cả các em, làm cho các em thấy được cái hay, sự cần thiết và những lợi ích của môn toán trong cuộc sống cũng như đối với các môn học khác khi đề ra hệ thống bài tập hợp lí
Từ thực trạng trên, bản thân tôi nhận thấy học sinh còn quá thụ động, giáo viên
tổ chức chưa có hiệu quả, việc vận dụng phương pháp mới lấy học sinh làm trung tâm chưa được phát huy tốt trong các tiết luyện tập Do đó, bản thân tôi nhận thấy cần phải
có những biện pháp phù hợp, khoa học, có hiệu quả nhằm phát huy tính tự giác, tích cực, sáng tạo của học sinh thì mới đáp ứng yêu cầu, mục tiêu của ngành giáo dục là nâng cao chất lượng dạy và học của bộ môn toán học
3 Nội dung vấn đề:
Trang 5a Vấn đề đặt ra là:
Giáo viên và học sinh cần chuẩn bị gì trước tiết luyện tập?
Làm thế nào để phát huy tính chủ động, sáng tạo, phát huy tính tích cực của học sinh nhằm đạt kết quả cao trong tiết luyện tập
Nếu tiết luyện tập không phát huy tính tích cực của học sinh thì sẽ dẫn đến kết quả như thế nào?
Dạy tiết luyện tập như thế nào để phát huy tính tích cực của mọi đối tượng học sinh?
Khi dạy tiết luyện tập cần lưu ý những gì?
Học sinh cần làm gì để tiết luyện tập đạt hiệu quả cao nhất?
Những phương pháp nào cần sử dụng khi dạy tiết luyện tập?
b Giải pháp:
Về giáo viên và học sinh:
Để có tiết luyện tập đạt hiệu quả tốt nhất thì giáo viên phải biết phối hợp hợp lí các phương pháp dạy học, đồng thời cả giáo viên và học sinh phải đảm bảo những yêu cầu:
Về học sinh:
Tập trung, chú ý lắng nghe sự dặn dò, hướng dẫn của giáo viên ở tiết học trước
Xem lại các kiến thức đã học và làm bài tập về nhà theo sự dặn dò của giáo viên
Chuẩn bị các kiến thức, kĩ năng bộ môn
Xem trước các bài tập trong Sách giáo khoa của tiết luyện tập
Về giáo viên:
Nghiên cứu kĩ nội dung bài, chương và các dạng bài tập cơ bản đã được sử dụng trong Sách giáo khoa để đưa ra số lượng và nội dung bài tập phù hợp với trình
độ của học sinh
Cần hướng dẫn học sinh tự học ở nhà một cách cụ thể, tỉ mỉ
Xem trước nội dung của tiết luyện tập
Giáo viên phải xem xét, nghiên cứu thật kĩ tiết dạy, phải có sự đầu tư chuẩn
bị cho tiết dạy tốt Bởi vì, dạy một tiết học bình thường đạt hiệu quả là khó, dạy tiết luyện tập lại càng khó hơn nhất là đối với một lớp mà trình độ học sinh không bằng nhau
Trang 6Vậy để dạy một tiết luyện tập đạt hiệu quả cao ta cần thực hiện theo các yêu cầu sau:
Làm thế nào để phát huy tính chủ động, sáng tạo, phát huy tính tích cực của học sinh nhằm đạt kết quả cao trong tiết luyện tập.
Để phát huy tính chủ động, sáng tạo, phát huy tính tích cực của học sinh nhằm đạt kết quả cao trong tiết luyện tập cần những công việc sau:
Bước 1: Tiến hành trước tiết luyện tập:
Giáo viên nghiên cứu bài tập và nội dung của tiết luyện tập, lập ra kế hoạch của tiết dạy
Giáo viên cụ thể hóa các yêu cầu học sinh cần chuẩn bị về kiến thức, các dạng bài tập, các bài tập cụ thể trong sách giáo khoa
Học sinh cần ôn lại các kiến thức cần nhớ, lí thuyết trọng tâm và những bài tập theo sự hướng dẫn của giáo viên
Ví dụ:
Để chuẩn bị cho tiết 17: Luyện tập – Số học 6
Giáo viên yêu cầu học sinh chuẩn bị: Xem lại các nội dung trọng tâm sau: Tập hợp; số phần tử của một tập hợp; cộng, trừ, nhân, chia số tự nhiên; nhân, chia hai lũy thừa cùng cơ số; thứ tự thực hiện các phép tính
Bước 2: Tiến hành trong tiết luyện tập:
Hoạt động 1: Sửa bài tập cũ – kiến thức cần nhớ:
Giáo viên gọi học sinh lên bảng làm bài tập đã dặn ở tiết trước
Giáo viên có thể tiếp tục kiểm tra việc làm bài tập của học sinh như đã dặn ở tiết trước
Sau khi học sinh lên bảng làm xong bài tập, giáo viên gọi học sinh khác nhận xét Giáo viên đánh giá chốt lại kiến thức đúng và cho điểm
Dựa vào những bài tập học sinh vừa làm, giáo viên đặt những câu hỏi phù hợp
để học sinh trả lời và tự đúc kết những kiến thức trọng tâm cần nhớ của chương
Học sinh nêu những kiến thức trọng tâm cần nhớ một cách ngắn gọn, cô đọng nhất
Ví dụ:
Khi dạy tiết 30: luyện tập – Số học 6
Trang 7Với yêu cầu “x∈ ƯC(a,b,c) khi nào? ”, giáo viên có thể đưa ra yêu cầu như sau:
x∈ ƯC(a,b,c) nếu: … x; … x; …x Hoàn thành bài tập trên bằng cách điền vào dấu … Như vậy đối với học sinh yếu thì dễ dàng tìm được câu trả lời đúng Cũng câu hỏi tương tự đối với bội chung của hai hay nhiều số
Hoạt động 2: Luyện tập:
Giáo viên chọn những bài tập trong bài luyện tập hoặc những bài tập khác do giáo viên soạn có nội dung phù hợp với yêu cầu của tiết luyện tập và trình độ của học sinh
Giáo viên yêu cầu học sinh tóm tắt đề bài
Giáo viên hướng dẫn học sinh định hướng cách giải và xác định cách giải đúng
Gọi học sinh trình bày cách giải của mình
Giáo viên gọi học sinh khác dựa vào cách giải đã nêu, trình bày thành bài giải hoàn chỉnh
Giáo viên khẳng định lại cách giải và bài giải đúng
Ví dụ:
Tiết 17 - Số học 6.
Yêu cầu học sinh: Tìm a∈N, biết a2 = 25?
Giáo viên có thể yêu cầu học sinh hoàn thành bài tập sau :
Tìm a∈N, biết 2a = 16
Ta có 2a = 16 mà 16 = 2 4 nên 2a = 2 4
⇒ a = 4 Bằng cách tương tự: Hãy tìm a∈N, biết a2 = 25?
Tiết 33 - Số học 6.
Khi đưa bài tập: “Tìm x∈N, biết x 12; x15; x18 và 300 < x < 500”
Ở các lớp yếu có thể chia thành từng câu nhỏ:
Tìm BCNN(12,15,18)
Tìm bội 1ớn hơn 300 và bé hơn 500 của BCNN vừa tìm được
Tiết 36 – số học 6.
Giáo viên tổ chức thực hiện phần luyện tập như sau:
Số lượng bài tập: 3 bài
Nội dung bài tập:
Bài tập1: ( Bài tập 156/60/sách giáo khoa)
Tìm số tự nhiên x biết: x 12; x21; x28 và 150 < x < 300
Bài tập 2: (Bài tập 157/60/sách giáo khoa)
Trang 8Hai bạn An và Bách cùng học một trường nhưng ở hai lớp khác nhau An cứ 10 ngáy lại trực nhật, Bách cứ 12 ngày lại trực nhật Lần đầu cả hai bạn cùng trực nhật vào một ngày Hỏi sau ít nhất bao nhiêu ngày thì hai bạn lại cùng trực nhật?
Bài tập 3: (Bài tập 158/60/sách giáo khoa)
Hai đội công nhân nhận trồng một số cây như nhau Mỗi công nhân đội I phải trồng 8 cây, mỗi công nhân đội II phải trồng 9 cây Tính số cây mỗi đội phải trồng, biết rằng
số cây đó trong khoảng từ 100 đến 200
Hoạt động hướng dẫn học sinh định hướng cách giải và xác định cách giải đúng được tổ chức như sau:
Bài tập1: ( Bài tập 156/60/sách giáo khoa)
Giáo viên đặt câu hỏi:
? Đề bài cho biết điều gì?
? Đề bài hỏi điều gì?
? Để tìm được x tiến hành theo những bước nào?
Học sinh trả lời:
Đề bài cho biết x 12; x21; x28 và 150 < x < 300
Đề bài yêu cầu tìm x?
Các bước giải:
Biết x 12; x21; x28 nên x∈BC(12,21,28).
Đi tìm BC(12,21,28)
So với điều kiện 150 < x < 300 để tìm được x thỏa mãn theo yêu cầu đề bài
Bài tập 2: (Bài tập 157/60/sách giáo khoa)
Giáo viên yêu cầu học sinh:
? Phân tích đề bài
? Muốn biết hai bạn sau bao nhiêu ngày lại cùng trực nhật thì ta phải làm như thế nào Giáo viên hướng dẫn: Nếu ta gọi số ngày sau đó ít nhất hai bạn cùng trực nhật là
x thì x phải là số như thế nào?
? Vậy làm sao tìm được x
Học sinh phân tích đề bài:
An 10 ngày trực nhật, Bách 12 ngày trực nhật, lần đầu cả hai cùng trực chung 1 ngày Hỏi sau bao nhiêu ngày hai bạn cùng trực nhật?
x là BCNN(10,12)
Trang 9Đi tìm BCNN(10,12) tìm được x rồi trả lời câu hỏi của bài toán.
Bài tập 3: (Bài tập 158/60/sách giáo khoa)
Giáo viên yêu cầu học sinh:
? Phân tích đề bài
? Muốn tìm được số cây mỗi đội trồng ta làm như thế nào Giáo hướng dẫn: Nếu
ta gọi số cây mỗi đội phải trồng là x thì x là số như thế nào?
? Vậy làm sau tìm được x
Học sinh phân tích đề bài:
Mỗi công nhân đội I trồng 8 cây, mỗi công nhân đội II trồng 9 cây Tính số cây mỗi đội trồng, biết số cây trong khoảng từ 100 đến 200
x là BC(8,9) và 100 < x < 200
Đi tìm BC(8,9) rồi so với điều kiện: 100 < x < 200
Hoạt động 3: Học sinh rút ra bài học kinh nghiệm
Đây là bước khá quan trọng nhằm giúp học sinh củng cố khắc sâu các kiến thức của bài.Giáo viên có thể củng cố từng phần hoặc củng cố cho toàn bài Với mỗi bài tập mới là một dạng bài tập cơ bản Vì vậy sau mỗi dạng bài tập giáo viên có thể cho học sinh rút ra bài học kinh nghiệm về cách giải
Ví dụ:
Tiết 17 - Số học 6
Học sinh rút ra bài học kinh nghiệm:
Nếu xm = xn thì m = n
Nếu am = bm thì a = b
Tiết 33 - Số học 6
Học sinh rút ra bài học kinh nghiệm:
Nếu x a; xb; xc thì x∈BC(a,b,c)
Tiết 36 – số học 6
Học sinh rút ra bài học kinh nghiệm:
Khi giải các bài toán có lời văn, ta cần đọc kĩ đề, phân tích đề từ đó tìm được mối liên quan của các vấn đề trong bài toán và xác định được nó thuộc dạng toán tìm BC hay BCNN
Hoạt động 4: Hướng dẫn học sinh tự học ở nhà.
Trang 10Giáo viên cho học sinh về nhà làm tiếp những bài tập còn lại trong sách giáo khoa
Giáo viên đưa thêm những bài tập về nhà tương tự dạng đã giải để học sinh tự rèn luyện kĩ năng giải bài tập ở nhà
Giáo viên yêu cầu học sinh chuẩn bị bài mới
Nếu tiết luyện tập không phát huy tính tích cực của học sinh thì sẽ dẫn đến kết quả như thế nào?
Nếu một tiết luyện tập không phát huy tính tích cực của học sinh thì sẽ dẫn đến tâm lý chán nản cho học sinh Từ từ học sinh sẽ có cảm giác nặng nề khi học tiết luyện tập, thụ động, đối phó và sẽ không thích học bộ môn Toán học dẫn đến chất lượng bộ môn sẽ giảm thấp, không đáp ứng được yêu cầu, mục tiêu của ngành
Dạy tiết luyện tập như thế nào để phát huy tính tích cực của mọi đối tượng học sinh?
Trước hết, giáo viên cần phải hiểu rõ việc học không chỉ là tiếp thu kiến thức theo phương pháp cảm thụ kiến thức mà giáo viên phải tổ chức như thế nào để học sinh được khơi dậy và phát triển khả năng tự học của mình, người giáo viên chỉ là người hướng dẫn
Phải xem trong giờ học thầy đóng vai trò chủ đạo, học sinh đóng vai trò là người chủ động, người thực hiện cuối cùng Học sinh phải nắm được những kiến thức
cơ bản đòi hỏi các em phải thu nhận được trong giờ học, nghĩa là giáo viên phải biến quá trình được giáo dục thành quá trình tự giáo dục, tức là tích cực hóa các hoạt động học tập của học sinh
Giáo viên phải đặt ra cho mình nhiệm vụ chính của người chủ đạo, việc vận dụng các phương pháp trong các bài tập khác nhau Người giáo viên không nên rập khuôn máy móc một phương pháp giảng dạy mà phải biết kết hợp một cách nhuần nhuyễn các phương pháp Bởi vậy trước khi nghiên cứu một tiết dạy, giáo viên phải xác định rõ mục tiêu cần đạt, nội dung kiến thức để từ đó áp dụng những phương pháp giảng dạy cho phù hợp đạt hiệu quả cao nhất