Tổng quan lý luận về các biến số vĩ mô Diễn biến kinh tế của một địa phương là trạng thái của các hoạt động kinh tế đang diễn ra ở đó, được phản ánh qua các chỉ tiêu kinh tế, cho biết t
Trang 1ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
BÀI BÁO CÁO
ĐỀ TÀI: DIỄN BIẾN CỦA CÁC BIẾN SỐ VĨ MÔ Ở TỈNH KON TUM
Giảng viên hướng dẫn : TS Bùi Quang Bình
Sinh viên thực hiện : Nhóm 21
1 Nguyễn Thị Quỳnh Như 38K09
2 Võ Thị Chánh 38K09
3 Ngô Thị Cẩm Bình 38k09
4 Huỳnh Thị Thanh Nga 38K09
Đà Nẵng, ngày 1 tháng 0
Trang 2I. Cơ sở lý luận để phân tích các biến số vĩ mô ở tỉnh Kon Tum
- Tốc độ tăng trưởng kinh tế tăng đều qua các năm: giai đoạn 2001 - 2005 đạt 11% (nông nghiệp: 8,6%, công nghiệp: 16,7%, dịch vụ: 12,2%), giai đoạn 2006-2010 đạt 14,71% (nông nghiệp: 7,52%, công nghiệp: 25,7%, dịch vụ: 16,49%); tuy nhiên, chất lượng tăng trưởng chưa cao, hiệu quả đầu tư còn thấp
II. Tổng quan lý luận về các biến số vĩ mô
Diễn biến kinh tế của một địa phương là trạng thái của các hoạt động kinh tế đang diễn ra ở đó, được phản ánh qua các chỉ tiêu kinh tế, cho biết trình độ, mức độ của nền kinh tế Nền kinh tế trong tình trạng khủng hoảng, ổn định hay xu hướng đi lên
Các nhà kinh tế học vĩ mô thu thập số liệu, giá cả và nhiều biến số kinh tế vĩ mô- các biến số này là những chỉ tiêu phản ánh rõ nét nền kinh tế: GDP,CPI, lạm phát, thất nghiệp, cán cân thương mại
Mối quan hệ giữa các biến số vĩ mô
Nhìn chung, các biến số kinh tế có mối quan hệ mật thiết với nhau không tách rời GDP là thước đo cơ bản đánh giá thành tựu của một nền kinh tế Liên quan đến chu kỳ kinh tế là trì trệ sản xuất, thất nghiệp và lạm phát, nghiên cứu sự thiếu hụt sản lượng nhằm tìm ra các giải pháp ổn định kinh tế chống lại các chu kỳ kinh tế
Khi một nền kinh tế tăng trưởng có nghĩa lực lượng lao động sử dụng tốt hơn và có hiệu quả hơn Tuy nhiên, kinh tế tăng trưởng đồng nghĩa với việc lạm phát tăng lên và ngược lại Trong ngắn hạn, thất nghiệp tỷ lệ nghịch với lạm phát còn trong dài hạn tỷ lệ thất nghiệp cơ bản phụ thuộc vào tỷ lệ lạm phát… Và một khi vấn đề kinh tế này xảy ra chúng sẽ kéo theo các vấn đề kinh tế khác
1. Các chỉ tiêu về tăng trưởng kinh tế
Tăng trưởng kinh tế là sự gia tăng của tổng sản phẩm quốc nội (GDP) hoặc tổng sản lượng quốc gia (GNP) hoặc quy mô sản lượng quốc gia tính bình quân trên đầu người (PCI) trong một thời gian nhất định
Trang 3Tổng sản phẩm trong nước là giá trị mới của hàng hóa và dịch vụ được tạo ra của toàn
bộ nền kinh tế trong một khoảng thời gian nhất định Tổng sản phẩm trong nước được tính theo giá thực tế và giá so sánh
Tổng sản phẩm trong nước theo giá thực tế thường được dùng để nghiên cứu cơ cấu
kinh tế, mối quan hệ tỉ lệ giữa các ngành trong sản xuất, mối quan hệ giữa kết quả sản xuất với phần huy động vào ngân sách
Tổng sản phẩm trong nước theo giá so sánh đã loại trừ biến động của yếu tố giá cả qua
các năm, dùng để tính tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế, nghiên cứu sự thay đổi về khối lượng hàng hóa và dịch vụ sản xuất
Tổng sản phẩm trong nước bình quân đầu người: là chi tiêu phản ánh một cách tổng
quan mức sống dân cư và được tính bằng tỉ lệ giữa tổng sản phẩm trong nước với tổng dân số trung bình trong năm Tổng sản phẩm trong nước bình quân đầu người có thể tính theo giá thực tế, giá so sánh, tính theo nội tệ hoặc ngoại tệ
Tổng sản phẩm quốc nội (Gross Domestic Products, GDP) hay tổng sản sản phậm
trong nước là giá trị tính bằng tiền của tất cả sản phẩm và dịch vụ cuối cùng được sản xuất, tạo ra trong phạm vi một nền kinh tế trong một thời gian nhất định (thường là một năm tài chính)
2. Vốn đầu tư
3. Xuất nhập khẩu hàng hóa
Xuất khẩu hàng hoá là hoạt động kinh doanh buôn bán ở phạm vi quốc tế Nó không
phải là hành vi buôn bán riêng lẻ mà là cả một hệ thống các quan hệ mua bán trong một nền thương mại có tổ chức cả bên trong và bên ngoài nhằm bán sản phẩm, hàng hoá sản xuất trong nước ra nước ngoài thu ngoại tệ, qua đẩy mạnh sản xuất hàng hoá phát triển, chuyển đổi cơ cấu kinh tế oỏn định từng bước nâng cao mức sống nhân dân
Kinh doanh xuất nhập khẩu cũng chính là hoạt động kinh doanh quốc tế đầu tiên của một doanh nghiệp Hoạt động này được tiếp tục ngay cả khi doanh nghiệp đã đa dạng hoá hoạt động kinh doanh của mình
Trang 4Nhập khẩu là hoạt động kinh doanh buôn bán trên phạm vi quốc tế, là quá trình trao đổi
hàng hoá giữa các quốc gia dựa trên nguyên tắc trao đổi ngang giá lấy tiền tệ là môi giới
Nó không phải là hành vi buôn bán riêng lẻ mà là một hệ thống các quan hệ buôn bán trong một nền kinh tế có cả tổ chức bên trong và bên ngoài
4. Chỉ số giá tiêu dùng: là chỉ số tính bằng phần trăm để phản ánh mức độ thay đổi
tương đối của giá hàng tiêu dùng theo thời gian
Lựa chọn thời kỳ gốc: để làm cơ sở so sánh rồi tính chỉ số giá tiêu dùng bằng công
thức sau:
CPI t = 100 x (Chi phí để mua giỏ hàng hóa thời kỳ t)/ (Chi phí để mua giỏi hàng hóa kỳ cơ sở)
Thời kỳ gốc sẽ được thay đổi trong vòng 5 đến 7 năm tùy ở từng nước
1. Sơ lược về tỉnh Kon Tum
Kon Tum là một tỉnh có thế mạnh về tài nguyên đất đai, rừng, được tạo điều kiện của các chủ trương, chính sách của Trung ương đối với Tây Nguyên cộng với quan hệ hợp tác phát triển giữa tỉnh Kon Tum với thành phố Hồ Chí Minh, thành phố Đà Nẵng và các tỉnh, thành phố trong nước ngày càng mở rộng Hợp tác giữa tỉnh Kon Tum với các tỉnh trong khu vực Tam giác phát triển Campuchia - Lào - Việt Nam được củng cố, tăng cường tạo điều kiện thuận lợi cho nền kinh tế địa phương phát triển
Bên cạnh đó nhiều dự án đầu tư quan trọng có tác động rất lớn đến phát triển KT - XH đang triển khai; hoạt động xúc tiến kêu gọi đầu tư được quan tâm, tạo môi trường thông thoáng, thuận lợi hơn; chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh ngày càng được cải thiện sẽ tác động lớn đến phát triển KT - XH của tỉnh
2. Tăng trưởng kinh tế
Tốc độ tăng trưởng kinh tế của Kon Tum trong những năm trở lại đây liên tục đạt mức tăng trưởng khá cao và ổn định với tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm trong nước (GDP) bình quân của tỉnh trong giai đoạn 2009 – 2013 là 13,7%; cao hơn gấp 2 lần so với tốc độ
Trang 5tăng trưởng bình quân của cả nước (5,71%) cùng giai đoạn 2009-2013 Tổng sản phầm trên địa bàn tỉnh năm 2013 ( theo giá so sánh 2010) ước tính đạt 8784,97 tỷ đồng
Hình 1: Tăng trưởng kinh tế của tỉnh Kon Tum 2009 – 2013
Nguồn: Tính toán từ các số liệu thống kê của Cục thống kê Kon Tum
Mặc dù có sự gia tăng liên tục về qui mô, song tốc độ tăng trưởng GDP của Kon Tum trong giai đoạn 2009 - 2013 nhìn chung giảm dần Tốc độ tăng trưởng GDP giảm dần năm 2010 là 14,75% ; 2011 với tốc độ tăng trưởng là 14,02 %; năm 2012 là 13,7% và tốc
độ tăng trưởng GDP năm 2013 là 12,04%
Cùng với tăng trưởng kinh tế, GDP bình quân đầu người của Kon Tum cũng đã có sự cải thiện đáng kể (từ 11,489 triệu đồng/năm năm 2009 tăng lên 18,666 triệu đồng/năm
2011 và đến năm 2013 là 25,71 triệu đồng/năm) với tốc độ tăng mạnh từ năm 2010 đến năm 2011 là từ 18,71% lên 36,9% ; sau đó tốc độ tăng đến năm 2012 giảm dần còn 21%, năm 2013 tốc độ tăng GDP bình quân đầu người là 13,83% Tuy nhiên, con số GDP bình quân đầu người này vẫn còn ở mức rất thấp so với bình quân chung của cả nước (GDP bình quân đầu người của cả nước là 39,97 triệu đồng/năm 2013 - cao hơn gấp 1,55 lần so Kon Tum cũng năm 2013) và Kon Tum vẫn là một trong những tỉnh nghèo nhất của cả nước (tỷ lệ nghèo chung của Kon Tum năm 2013 là 22,1% trong khi đó con số này của cả nước là 7,6%)
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế của Kon Tum trong những năm qua có hai đặc trưng sau đây Một mặt chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế của Kon Tum vẫn đi theo xu thế chung của nền kinh tế đang phát triển đi lên là giảm dần tỉ trọng của Khu vực I và tăng dần tỉ trọng của các Khu vực còn lại Mặt khác, chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế của tỉnh Kon Tum cũng được quy định bởi vai trò trọng điểm của khu vực Nông, lâm nghiệp, thủy sản ( Khu vực I) và vai trò mũi nhọn của Khu vực dịch vụ và thương mại (Khu vực III) Bởi vậy cơ cấu ngành kinh tế trong những năm qua và trong nhiều năm nữa vẫn duy trì tỉ trọng cao của Khu vực I do vai trò trọng điểm của Nông nghiệp, trong khi Khu vực II đang có xu hướng bức phá lên nhờ vai trò mũi nhọn của ngành công nghiệp ( thủy điện )
Trang 6Tỉ trọng khu vực Nông, lâm, thủy sản trong GDP từ 35,44% năm 2009 đã giảm xuống còn 31,34% năm 2013 Trong khi đó tỉ trọng khu vực công nghiệp- xây dựng từ 34,71% năm 2009 tăng lên 37,15% năm 2013, khu vực dịch vụ năm 2009 là 29,86% thì đến năm
2013 là 31,51% Cơ cấu kinh tế cũng bắt đầu có sự chuyển dịch thơ hướng hình thành các vùng động lực phát triển kinh tế, vùng chuyên canh cây công nghiệp cà phê, cao su và các khu công nghiệp tập trung, khu công nghiệp Hòa Bình, Đăk La
Cơ cấu thành phần kinh tế của Kon Tum trong những năm qua được chuyển dịch theo hướng đa dạng hóa các thành phần kinh tế nhằm đảm bảo cho quan hệ sản xuất từng bước được điều chỉnh phù hợp với yêu cầu của lực lượng sản xuất trong cơ chế thị trường Nhìn chung hoạt động của thành phần kinh tế ngoài quốc doanh đã góp phần quan trọng thúc đẩy sự phát triển kinh tế đại phương, giải quyết việc làm và thu nhập cho người lao động Đối với các doanh nghiệp nhà nước, từng bước đã củng cố, sắp xếp lại phù hợp với kinh tế thị trường
Sự thay đổi cơ cấu kinh tế của tỉnh Kon Tum đang có những chuyển biến tích cực song vẫn theo hướng nông nghiệp – công nghiệp – dịch vụ Trong giai đoạn 2005 - 2009, khu vực nông nghiệp giữ vai trò quan trọng nhất đối với tăng trưởng của tỉnh, tốc độ tăng trưởng và điểm phần trăm đóng góp vào tăng trưởng chung từ ngành nông nghiệp luôn cao hơn so với các ngành còn lại; sang giai đoạn 2010 - 2013, đánh dấu sự tăng trưởng mạnh của khu vực công nghiệp và xây dựng với tốc độ tăng trưởng bình quân năm là 36,41%/năm và khu vực dịch vụ với tốc độ tăng trưởng bình quân 29,92%/năm Đáng chú ý là ngành công nghiệp với tốc độ tăng trưởng bình quân giai đoạn 2010-2013 cao gấp hơn 2 lần so với giai đoạn 2005-2009 và cao hơn nhiều so với tốc độ tăng trưởng GDP bình quân của tỉnh
Hình 2: Tỷ trọng đóng góp vào GDP của các ngành
Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Kon Tum(2005, 2013)
Trang 73 Thu chi ngân sách
Kinh tế tăng trưởng cao, cơ cấu kinh tế chuyển dịch đúng hướng, thu nhập người dân ngày càng được cải thiện, bên cạnh đó tình hình kinh tế -tài chính lành mạnh đã tạo điều kiện thuận lợi trong thu chi ngân sách nhànước trên địa bàn
………
4. Vốn đầu tư phát triển
Vốn đầu tư là một trong những yếu tố quan trọng quyết định đến sự tăng trưởng kinh tế, nâng cao mức sống nhân dân, đảm bảo an sinh và giảiquyết nhiều vấn đề xã hội Kon Tum là một tỉnh có xuất phát điểm thấp sovới các tỉnh trong khu vực và trong cả nước, do
đó nhu cầu về vốn đầu tưcho sự phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh là rất lớn và tăng dần qua cácnăm
Công tác đầu tư phát triển có nhiều tiến bộ cả về huy động, quản lý và sử dụng vốn Năm 2009, vốn đầu tư phát triển toàn xã hội trên địa bàn đạt 4451,115 tỷ đồng đã tăng lên 5957,865 tỷ đồng năm 2011 và lên đến 6938,428 tỷ đồng năm 2013 Vốn đầu tư phát triển tăng mạnh năm 2010 vốn đầu tư phát triển tăng đến 25,35% so với năm 2009 nhưng sau đó qua các năm 2011-2013 vốn đầu tư phát triển tăng bình quân mỗi năm 7,78% Tổng vốn đầu tư toàn xã hội 5 năm 2009 - 2013 trên địa bàn tỉnh lên đến 29,23 ngàn tỷ đồng
5. Xuất nhập khẩu hàng hóa
Trang 8Các hoạt động xuất nhập khẩu, xuất nhập cảnh qua cửa khẩu ngày càng phát triển Đặc biệt giai đoạn 2009 - 2013 sau khi quốc lộ 18B của CHDCND Lào và cặp cửa khẩu Quốc
tế Bờ Y - Phu Cưa đưa vào khai thác sử dụng đã nâng tổng giá trị kim ngạch xuất nhập khẩu lên 133.592.949,92 USD; trong đó kim ngạch xuất khẩu là 59.041.688,23 USD, nhập khẩu là 74.551.261,69 USD tăng 13,29 % so với năm 2012
Tuy nhiên nhìn chung giá trị xuất nhập khẩu có những biến động thất thường năm 2010 giảm 7.997% so với năm 2009 Năm 2011 tăng 58,14% so với năm 2010 Tuy nhiên đến năm 2012 lại giảm mạnh, giảm 38,69% so với năm 2011 Xảy ra những biến động bày là
do mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Kon Tum là cà phê mà trong năm 2011, giá cà phê trên thị trường thế giới biến động tăng liên tục trong giai đoạn 4 tháng đầu năm và đạt đỉnh ở mức 247,63 US cents/lb vào ngày 3/5, tăng 25,1% so với mức giá đạt được hồi đầu năm kích thích xuất khẩu Tuy nhiên, kể từ sau mức đỉnh cao này, giá cà phê thế giới đã liên tục điều chỉnh giảm Chỉ số giá cà phê tổng hợp theo ngày của ICO xuống mức thấp nhất là 183,28 US cents/lb trong ngày 16/12/2011, giảm tới 26% so với mức giá cao nhất
mà thị trường đã đạt được trong ngày 3/5/2011 Ngày 22/12/2011, chỉ số giá tổng hợp của ICO đang đứng ở mức 185,55 US cents/lb, giảm 6,3% so với mức giá đạt được hồi đầu năm 2011.Về sản xuất, theo dự báo của Tổ chức Cà phê quốc tế ICO, sản lượng cà phê Việt Nam trong niên vụ 2011/12 sẽ chỉ đạt 18,5 triệu bao (tương đương 1,11 triệu tấn), giảm 5% so với sản lượng của niên vụ trước
Hàng hoá nông sản được xuất khẩu chủ yếu đến các quốc gia như Trung Quốc, Nhật Bản, châu Âu… tuy nhiên hầu hết đều xuất ở dạng thô hoặc sơ chế Hoạt động nhập khẩu chủ yếu là nhập lâm sản từ Lào và một số hàng tiêu dùng, nguyên liệu công nghiệp từ Thái Lan, Trung Quốc phục vụ sản xuất trên địa bàn
Đẩy mạnh xuất khẩu là mục tiêu quan trọng để phát triển kinh tế của tỉnh Điều này đòi hỏi phải tạo ra nguồn hàng xuất khẩu trên cơ sở xác định cơ cấu ngành sản xuất hợp lý, theo hướng gắn liền với việc bố trí sản xuất các ngành kinh tế quốc dân cho phù hợp với yêu cầu tiêu dùng xã hội và yêu cầu của thị trường thế giới
Trang 9Đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu, mở rộng thị trường; đầu tư cho những ngành tạo ra sản phẩm có giá trị xuất khẩu lớn, giá trị gia tăng cao Hạn chế việc xuất khẩu nguyên liệu thô
và sơ chế, tăng tỷ trọng xuất khẩu các sản phẩm tinh chế, chế biến
Giá trị nhập khẩu cũng có những biến động tăng giảm thất thường Giá trị nhập khẩu năm
2013 xuống thấp nguyên nhân là trong năm 2013, do ảnh hưởng của suy thoái kinh tế nói chung và sự thay đổi chính sách kinh tế của các nước Lào, Trung Quốc (là 2 nước quyết định đầu ra và đầu vào của gỗ nguyên liệu) dẫn đến các doanh nghiệp không chủ động được trong hoạt động xuất nhập khẩu và thị trường tiêu thụ bị thu hẹp, do đó lượng gỗ nhập về năm 2013 giảm mạnh với số lượng cầm chừng
Mặt khác, lượng gỗ bên nước Lào sau một thời gian dài khai thác đến nay không còn nhiều, chất lượng gỗ giảm, có giá trị thấp (nhập khẩu chủ yếu là gỗ từ nhóm 3 đến nhóm 7), chính sách quản lý nguyên liệu gỗ xuất khẩu bên nước bạn cũng ngày càng được siết chặt Bên cạnh đó, một số doanh nghiệp trước đây nhập khẩu theo loại hình nhập kinh doanh nay chuyển sang loại hình tạm nhập tái xuất, quá cảnh, do đó dự kiến số lượng gỗ nhập về hạn chế, giá trị không cao
Với mặt hàng máy móc thiết bị nhập khẩu tạo tài sản của các dự án đầu tư thủy điện từ đầu năm 2013 đến nay không phát sinh các dự án đầu tư đăng ký danh mục miễn thuế; các dự án thủy điện tại địa bàn được triển khai từ năm 2009 đến năm 2011 và hiện nay đã
đi vào hoạt động sản xuất, một số dự án không tiếp tục nhập khẩu máy móc thiết bị mà mua lại vật tư, thiết bị trong nước để sử dụng, số thuế phát sinh đối với mặt hàng này trong 5 tháng đầu năm 2013 là 3,12 tỷ đồng, giảm gần 75% so với 5 tháng đầu năm 2012 Hàng hoá nhập khẩu chủ yếu gồm: Gỗ tròn, gỗ xẻ các loại, mủ cao su tự nhiên, cà phê nhân, dậu tương hạt, máy móc thiết bị các loại : hàng hoá xuất khẩu chủ yếu gồm: Dây điện, cáp điện, phân bón các loại, ống nhựa, sắt thép các loại, các linh kiện nối bằng nhựa,
xi măng các loại, kinh cường lực, thuốc trừ sâu, tổ máy phát điện, máy móc thiết bị các loại, lốp ô tô, cây cao su giống, gạch, khung nhôm cửa kính và hàng hoá tạm nhập tái xuất và quá cảnh: Gỗ tròn, gỗ xé khoáng sản
Mục tiêu quan trọng của hoạt động nhập khẩu là nhập thiết bị và công nghệ hiện đại để phục vụ
Trang 10công nghiệp hoá hướng về xuất khẩu, tạo ra nhiều sản phẩm đạt tiêu chuẩn, chất lượng quốc tế,
có sức cạnh tranh trên thị trường thế giới
6. Phân tích tình hình biến động chỉ số giá tiêu dùng (CPI) năm 2009 – 2013
Phân tích mức độ biến động của CPI 6 tháng đầu năm 2009 – 2013 tháng sau so với tháng trước (tháng trước = 100) tỉnh Kon Tum
Đơn vị: %