1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

HOẠT ĐỘNG XÚC TIẾN XUẤT KHẨU CỦA HIỆP HỘI NGÀNH HÀNG DA GIẦY XUẤT KHẨU VIỆT NAM THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP

102 591 2
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Hoạt động xúc tiến xuất khẩu của hiệp hội ngành hàng da giầy xuất khẩu Việt Nam thực trạng và giải pháp
Tác giả Nguyễn Thị Vân Khánh
Người hướng dẫn Ts. Tạ Lợi
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Kinh tế quốc tế
Thể loại Chuyên đề tốt nghiệp
Năm xuất bản 2009
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 102
Dung lượng 0,96 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hiệp hội Da – Giầy Việt Nam là một Hiệp hội rất điển hỡnh, và hiện đang có nhiều vấn đề nổi cộm cần tỡm hiểu. Trong những năm qua, Hiệp hội đó phỏt triển khụng ngừng, đạt được nhiều thành tích đáng kể, phỏt triển khá nhanh chóng và đó đóng góp một phần khụng nhỏ trong sự phỏt triển chung của cỏc Hiệp hội ngành hàng Việt Nam. Tuy vậy, trước xu thế hội nhập kinh tế quốc tế mạnh mẽ, hoạt động Hiệp hội Da – Giầy Việt Nam đó gặp nhiều khó khăn và bộc lộ những mặt hạn chế cần được khắc phục.

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN

KHOA th¬ng m¹i & kinh tÕ quèc tÕ

Sinh viên thực hiện : NGUYÔN THÞ V¢N KH¸NH

Gi¶ng viên hướng dẫn : Ts T¹ LîI

HÀ NỘI, 5 - 2009

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN

KHOA th¬ng m¹i & kinh tÕ quèc tÕ

HÀ NỘI, 5 - 2009

Trang 3

MỤC LỤC

LỜI MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG I : LÝ LUẬN CHUNG VỀ HOẠT ĐỘNG XÚC TIẾN XUẤT KHẨU HÀNG HÓA VÀ HOẠT ĐỘNG HIỆP HỘI NGÀNH HÀNG XUẤT KHẨU 3

1.1 Lý luận chung về xúc tiến xuất khẩu 3

1.1.1 Khái niệm về xúc tiến xuất khẩu 3

1.1.2 Chức năng và vai trò của xúc tiến xuất khẩu 4

1.1.2.1 Chức năng của XTXK 4

1.1.2.2 Vai trò của XTXK 7

1.1.2.3 Các loại hình hoạt động XTXK và tổ chức XTXK 11

1.1.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động XTXK 14

1.1.3.3 Các yếu tố khách quan 14

1.1.3.4 Các yếu tố chủ quan 16

1.1.4 Yêu cầu của hoạt động XTXK hàng hóa của Việt Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế 17

1.2 Hoạt động hiệp hội ngành hàng xuất khẩu và phát triển hiệp hội ngành hàng .18

1.2.1 Khái niệm 18

1.2.1.1 Khái niệm Hiệp hội 18

1.2.1.2 Khái niệm hiệp hội ngành hàng 19

1.2.2 Vai trò của hiệp hội ngành hàng xuất khẩu 19

1.2.2.1 Tập hợp, liên kết các doanh nghiệp ngành hàng thuộc các thành phần kinh tế khác nhau, tạo ra sức mạnh xuất khẩu của ngành 19

1.2.2.2 Hỗ trợ doanh nghiệp về thông tin và xúc tiến xuất khẩu 20

1.2.2.3 Đào tạo và phát triển nguồn nhân lực cho doanh nghiệp 21

1.2.2.4 Hiệp hội ngành hàng là cầu nối giữa cộng đồng doanh nghiệp với cơ quan quản lý nhà nước và các tổ chức kinh tế khác 22

1.2.2.5 Hiệp hội ngành hàng trong mối quan hệ giữa cộng đồng doanh nghiệp nước ta với các tổ chức quốc tế 23

Trang 4

1.2.3 Phương thức hoạt động của hiệp hội ngành hàng 24

1.2.3.1 Về phương thức hoạt động 24

1.2.3.2 Về hình thức tổ chức 25

1.2.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệp hội ngành hàng 26

1.2.3.1 Nhận thức và tiềm lực kinh tế của cộng đồng doanh nghiệp 26

1.3 Kinh nghiệm quốc tế về thúc đẩy hoạt động hiệp hội ngành hàng xuất khẩu và bài học rút ra cho Việt Nam 29

1.3.1 Hoạt động của một số hiệp hội các nước châu Á (Trung Quốc, Đài Loan, Thái Lan) 29

1.3.1.1 Hiệp hội giầy dép Đài Loan 29

1.3.1.2 Hiệp hội cao su Thái Lan 30

1.3.1.3 Hiệp hội da Trung Quốc 32

1.3.2 Một số bài học kinh nghiệm rút ra cho Việt Nam 33

1.4 Sự cần thiết thúc đẩy hoạt động hiệp hội ngành hàng xuất khẩu da - giầy Việt Nam .37

1.4.1 Hội nhập kinh tế quốc tế và vai trò của hiệp hội ngành hàng trong thương mại quốc tế 37

1.4.2 Hiệp hội ngành hàng là tổ chức tư vấn cho Chính phủ về những vấn đề liên quan đến hội nhập kinh tế quốc tế 39

1.4.3.Hiệp hội ngành hàng hỗ trợ, nâng cao khả năng cạnh tranh và bảo vệ lợi ích của doanh nghiệp trong quá trình hội nhập 40

1.4.3.1 Đối với việc nâng cao khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế 40

1.4.3.2 Bảo vệ lợi ích của doanh nghiệp trong nước trước những rủi ro kinh doanh trên thị trường trong quá trình hội nhập quốc tế 41

CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG HIỆP HỘI NGÀNH HÀNG DA – GIẦY XUẤT KHẨU VIỆT NAM 43

2.1 Tình hình hoạt động ngành da giầy xuất khẩu Việt Nam 43

2.1.1 Tình hình chung 43

Trang 5

2.1.1.1 Đánh giá chung: 43

2.1.1.2 Số lượng doanh nghiệp và lực lượng lao động 43

2.1.1.3 Kim ngạch xuất khẩu 44

2.1.1.4 Định hướng phát triển năm 2009 đến 2015 44

2.1.2 Năng lực sản xuất kinh doanh 45

2.1.3 Thị trường 48

2.1.3.1 Thị trường xuất khẩu 48

2.1.3.2 Thị trường nội địa 50

2.2 Thực trạng hoạt động của Hiệp hội Da – Giầy Việt Nam từ năm 2003 đến năm 2008 52

2.2.1 Về hoạt động xây dựng kế hoạch xúc tiến xuất khẩu 52

2.2.2 Về công tác trực tiếp thực hiện hoạt động xúc tiến xuất khẩu, tổ chức hội chợ triển lãm, hỗ trợ xây dựng thương hiệu cho các mặt hàng xuất khẩu Việt Nam và tiếp xúc gặp gỡ các đối tác nước ngoài, tham tán kinh tế và tìm kiếm đối tác cho ngành da – giầy xuất khẩu Việt Nam 53

2.2.3 Về cung cấp thông tin cho doanh nghiệp ngành da – giầy Việt Nam 57

2.2.4 Về giải quyết tranh chấp thương mại quốc tế cho các doanh nghiệp 59

2.2.4.1 Thiệt hại của việc áp dụng biện pháp chống bán phá giá 59

2.2.4.2 Tác động của vụ kiện đối với việc làm – đời sống kinh tế xã hội của người lao động 62

2.3 Đánh giá hoạt động hiệp hội ngành hàng da giầy xuất khẩu Việt Nam 66

2.3.1 Thành tựu 66

2.3.1.1 Tập hợp những ý kiến đóng góp và những kiến nghị của hội viên lên Đảng, Nhà nước, các Bộ, thực hiện tốt vai trò cầu nối giữa doanh nghiệp với nhà nước 66

2.3.1.2 Hỗ trợ các hội viên chú trọng phát triển cả thị trường trong nước lẫn thị trường nước ngoài và đẩy mạnh xuất khẩu 66

Trang 6

2.3.1.3 Khuyến khích các hội viên ứng dụng tiến bộ khoa học kĩ thuật vào sản xuất, đầu tư cho việc xây dựng thương hiệu, nhãn hiệu và quảng bá

nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh của hàng Việt Nam 67

2.3.1.4 Hiệp hội có trang web riêng để cung cấp thông tin và quảng bá sản phẩm. 68

2.3.2 Tồn tại 69

2.3.2.1 Chưa thực hiện tốt chức năng đại diện cho cộng đồng doanh nghiệp hội viên

69 2.3.2.2 Hội viên các hiệp hội chủ yếu vẫn là các doanh nghiệp nhà nước, các doanh nghiệp tư nhân chiếm tỉ trọng nhỏ, và có rất ít doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tham gia hiệp hội 69

2.3.2.3 Bị động, lúng túng, không đưa ra được những dịch vụ mang lại lợi ích thiết thực cho hội viên trong lĩnh vực xúc tiến hỗ trợ kinh doanh 70

2.3.2.4 Yếu kém về mặt tài chính và nhân sự tạo nên vòng luẩn quản, bế tắc của hiệp hội 70

2.3.3 Nguyên nhân của những tồn tại 70

2.3.3.1 Do hoạt động tìm kiếm thông tin của nước ta còn yếu Hệ thống máy móc thiết bị nghèo nàn lạc hậu 70

2.3.3.2 Các hiệp hội mới thành lập nên chưa có nhiều kinh nghiệm 71

2.3.3.3 Nguồn tài chính của Hiệp hội còn eo hẹp 71

2.3.3.4 Hiệp hội thiếu đội ngũ chuyên gia giỏi 72

CHƯƠNG III: CÁC GIẢI PHÁP NHẰM THÚC ĐẨY HOẠT ĐỘNG XÚC TIẾN XUẤT KHẨU CỦA HIỆP HỘI DA – GIẦY XUẤT KHẨU VIỆT NAM 73

3.1 Xu thế hoạt động xúc tiến xuất khẩu của hiệp hội ngành hàng xuất khẩu của nước ta trong thời gian tới 73

3.2 Quan điểm và mục tiêu 74

3.3 Một số giải pháp phát triển hiệp hôi 76

3.3.1 Các giải pháp đối với hiệp hội 76

Trang 7

3.3.1.1 Nâng cao năng lực bộ máy lãnh đạo hiệp hội 76

3.3.1.2 Nâng cao năng lực hỗ trợ cho các doanh nghiệp 78

3.3.1.3 Quan hệ với các cơ quan nhà nước 82

3.3.1.4 Quan hệ đối ngoại 83

3.3.2 Các giải pháp về quản lý nhà nước 83

3.3.2.1 Xây dựng khung pháp lý cho việc tổ chức và quản lý hoạt động các hiệp hội làm cơ sở nâng cao năng lực tổ chức, quản lý của các Hiệp hội ngành hàng 83

3.3.2.2 Tạo điều kiện thuận lợi để Hiệp hội thực hiện các hoạt động dịch vụ, tư vấn, đào tạo 85

3.3.2.3 Một số giải pháp khác 86

3.3.2.4 Chú trọng công tác phối hợp giữa các bộ ngành, giữa Trung ương và địa phương trong công tác XTXK hàng hóa 88

3.3.3 Các giải pháp từ phía doanh nghiệp 88

3.3.3.1 Tăng cường công tác nghiên cứu và tìm hiểu thị trường, phối hợp với các cơ quan XTTM 88

3.3.3.2 Nâng cao chất lượng sản phẩm, thỏa mãn thị hiếu khách hàng và tiêu dùng của thị trường xuất khẩu 89

3.3.3.3 Tham gia vào hiệp hội da –giầy Việt Nam 90

3.3.3.4 Tìm kiếm và đào tạo đội ngũ cán bộ chuyên môn cao trong công tác XTXK 91

KẾT LUẬN 92 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 8

DANH MỤC SƠ ĐỒ BẢNG BIỂU

Bảng 1: Kim ngạch XK ngành Da – Giầy 2006-2008 và dự kiến 2009 44

Bảng 2: Năng lực sản xuất theo cơ cấu sản phẩm và theo thành phần kinh tế 46

Bảng 3: Năng lực thực tế huy động qua các năm 47

Bảng 4: Đóng góp của ngành Da – Giầy Việt Nam trong kim ngạch xuất khẩu của cả nước .48

Bảng 5: kim ngạch xuất khẩu theo chủng loại sản phẩm 49

Phụ lục 1 Số lượng giầy mũ da NK vảo EU qua các năm 2005 – 2007 61

Phụ lục 2: Bảng số lượng xuất khẩu giày vào EU của một số nước 61

Phụ lục 3 Gia tăng giá bán lẻ tại Châu Âu 62

Trang 9

LỜI MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Hội nhập kinh tế thế giới đã và đang là xu thế tất yếu trong thế giới ngày naykhi làn sóng toàn cầu hóa đang diễn ra vô cùng mãnh mẽ.Trong điều kiện này, ởViệt Nam hiện nay, hoạt động xuất nhập khẩu của các doanh nghiệp, nổi trội lên làcác doanh nghiệp thủy sản, dệt may, giầy da…có ảnh hưởng trực tiếp và quan trọngcho phát triển kinh tế đối ngoại và công tác hội nhập kinh tế quốc tế Vì vậy, chúng

ta cần tạo điều kiện, giúp đỡ về mặt thông tin, nhân lực, công nghệ,… và đảm bảoquyền lợi tốt cho các Doanh nghiệp Tuy nhiên, hiện nay Việt Nam đã gia nhậpWTO và thực hiện đúng các cam kết mà WTO đề ra, thì sự can thiệp của Chính phủkhông thể được chính đáng như trước đây Hơn bao giờ hết, vai trò của Hiệp hộingành hàng trở nên quan trọng và cần thiết Chính vì vậy, việc tổng kết thực tiễn vàtìm ra các giải pháp hoàn thiện các hoạt động của các hiệp hội ngành hàng xuấtkhẩu là điều vô cùng cần thiết

Hiệp hội Da – Giầy Việt Nam là một Hiệp hội rất điển hình, và hiện đang cónhiều vấn đề nổi cộm cần tìm hiểu Trong những năm qua, Hiệp hội đã phát triểnkhông ngừng, đạt được nhiều thành tích đáng kể, phát triển khá nhanh chóng và đãđóng góp một phần không nhỏ trong sự phát triển chung của các Hiệp hội ngànhhàng Việt Nam Tuy vậy, trước xu thế hội nhập kinh tế quốc tế mạnh mẽ, hoạt độngHiệp hội Da – Giầy Việt Nam đã gặp nhiều khó khăn và bộc lộ những mặt hạn chếcần được khắc phục

Chính từ thực tế của hoạt động hiệp hội ngành hàng da giầy xuất khẩu tại

Việt Nam, em đã chon đề tài: “Hoạt động xúc tiến xuất khẩu của hiệp hội ngành hàng da giầy xuất khẩu Việt Nam, thực trạng và giải pháp” cho chuyên đề tốt

nghiệp của mình

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

- Mục đích nghiên cứu: Thông qua việc nghiên cứu lý thuyết và thực tiễnhoạt động hiệp hội ngành hàng da giầy xuất khẩu tại Việt Nam, đánh giá những kếtquả đạt được cũng như những hạn chế, từ đó chuyên đề tốt nghiệp đề xuất một số

Trang 10

giải pháp đẩy mạnh hoạt động xúc tiến xuất khẩu hiệp hội ngành hàng da giầy xuấtkhẩu tại Việt Nam.

- Nhiệm vụ nghiên cứu:

+ Hệ thống hoá lý luận về xuất khẩu và hoạt động hiệp hội ngành hàng xuất khẩu.

+ Phân tích thực trạng hoạt động hiệp hội ngành hàng da giầy xuất khẩu tại Việt Nam trong những năm gần đây.

+ Đề xuất một số giải pháp nhằm đẩy mạnh hoạt động của hiệp hội ngành hàng da giầy xuất khẩu Việt Nam trong thời gian tới.

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu.

- Đối tượng nghiên cứu của chuyên đề là hoạt động xúc tiến xuất khẩu hiệphội ngành hàng da giầy xuất khẩu Việt Nam

4 Phạm vi nghiên cứu đề tài

- Phạm vi thời gian: từ năm 2003 – 2008 và đề xuất giải quyết đến năm2020

- Phạm vi không gian: Chuyên đề phân tích hoạt động của hiệp hội ngànhhàng Da – Giầy xuất khẩu Việt Nam

5 Phương pháp nghiên cứu đề tài

Chuyên đề tốt nghiệp sử dụng phương pháp biện chứng và duy vật lịch sửlàm cơ sở phương pháp luận Các phương pháp được sử dụng trong việc nghiên cứugồm phương pháp phân tích thống kê, tổng hợp và so sánh…phục vụ cho nhiệm vụnghiên cứu

4 Kết cấu đề tài

Ngoài phần mở đầu và kết luận, chuyên đề của em được chia làm ba chương:

Chương 1 : Cơ sở lý luận về xúc tiến xuất khẩu hàng hóa và hoạt động

hiệp hội ngành hàng xuất khẩu.

Chương 2: Thực trạng hoạt động hiệp hội ngành hàng da - giầy xuất

khẩu tại Việt Nam.

Chương 3: Các giải pháp nhằm đẩy mạnh hoạt động xúc tiến xuất khẩu

hiệp hội da - giầy xuất khẩu Việt Nam

Trang 11

CHƯƠNG I

LÝ LUẬN CHUNG VỀ HOẠT ĐỘNG XÚC TIẾN XUẤT KHẨU HÀNG HÓA VÀ HOẠT ĐỘNG HIỆP HỘI NGÀNH HÀNG XUẤT KHẨU

1.1. Lý luận chung về xúc tiến xuất khẩu

1.1.1 Khái niệm về xúc tiến xuất khẩu

Xúc tiến xuất khẩu là một khái niệm nằm trong hệ thống các khái niệm liênquan đến các hoạt động thúc đẩy thương mại quốc tế như phát triển thương mại,thuận lợi hóa thương mại, xúc tiến thương mại:

Phát triển thương mại: các hoạt động mở rộng như sản xuất sản phẩm mà thị

trường đang có nhu cầu, bán đúng kênh/ khách hàng, đúng thời gian và địa điểm,đúng giá và bằng các biện pháp xúc tiến bán hàng phù hợp Các hoạt động này gọichung là các hoạt động phát triển thương mại Như vậy, phát triển thương mại baogồm các mảng hoạt động chính là phát triển sản phẩm, phát triển thị trường và nângcao sức cạnh tranh quốc tế

Thuận lợi hóa thương mại: các biện pháp của Chính phủ nhằm tạo điều kiện

thuận lợi và đơn giản hóa các thủ tục thương mại như tạo thuận lợi cho việc vậnchuyển và giao nhận hàng hóa, đơn giản hóa thủ tục xuất nhập khẩu và thủ tục hảiquan, tiêu chuẩn hóa quy cách sản phẩm, đơn giản hóa thủ tục thuế,v.v… Thuận lợihóa thương mại chủ yếu là các hoạt động thuộc lĩnh vực cải cách hành chính liênquan tới quản lý Nhà nước về thương mại và cở sở hạ tầng do Chính phủ tiến hành

Xúc tiến thương mại (XTTM) theo quan niệm truyền thống là hoạt động trao

đổi và hỗ trợ trao đổi thông tin giữa bên bán và bên mua, hoặc qua khâu trung gian,nhằm tác động tới thái độ và hành vi buôn bán, qua đó thúc đẩy việc mua bán vàtrao đổi hàng hóa và dịch vụ Thao quan điểm này, xúc tiến thương mại gồm cáchoạt động sau:

- Hoạt động thông tin thương mại và nghiên cứu thị trường

Hoạt động tuyên truyền, quảng cáo, triển lãm và khuyến mại hàng hóa dịch vụ

Tổ chức và tham gia các đoàn khảo sát thị trường nước ngoài

Trang 12

- Đón tiếp và tổ chức cho các đoàn thương mại và thương nhân nước ngoàivào khảo sát thị trường nội địa.

- Đại diện thương mại ở nước ngoài

Theo giáo trình “Lý thuyết và nghệ thuật ứng xử trong kinh doanh” củatrường Đại học Kinh tế quốc dân: XTXK là các biện pháp và nghệ thuật mà các nhàkinh doanh dùng để thông tin về hàng hóa, tác động tới người mua, lôi kéo họ vềphía mình và các biện pháp hỗ trợ bán hàng Theo quan điểm này, XTXK gồm banội dung chính: Quảng cáo; các hoạt động yểm trợ và xúc tiến bán hàng

Theo quan điểm của Trung tâm Thương mại quốc tế (ITC), XTXK là tất cảcác biện pháp có thể tác động, hỗ trợ, khuyến khích phát triển thương mại

Trong các quan niệm trên, quan niệm của ITC là quan niệm hiểu theo nghĩarộng và toàn diện trên cả tầm vĩ mô, vi mô với 3 chủ thể tham gia chủ yếu là: Chínhphủ, các tổ chức hoạt động XTXK và các doanh nghiệp Các quan niệm khác vẫnhiểu XTXK theo nghĩa hẹp tức là vẫn coi hoạt động XTXK là một phần củamarketing Nếu hiểu theo nghĩa hẹp thì không thể giải quyết được những vấn đề đặt

ra hiện nay của hoạt động thương mại như sự tăng trưởng bền vững của thương mạinhư sự tăng trưởng bền vững của thương mại làm đông lực cho sự phát triển kinh tế,việc thúc đẩy xuất khẩu của các nước đang phát triển trong xu thế toàn cầu hóa…

Do vậy trong điều kiện hiện nay hiểu XTXK theo quan niệm của ITC là phù hợpvới thực tế đang có nhiều biến động

Xúc tiến xuất khẩu (XTXK) là các hoạt động nhằm gián tiếp hoặc trực tiếp

thúc đẩy xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ ra thị trường nước ngoài Về lý thuyết, kháiniệm xúc tiến xuất khẩu có phạm vi hẹp hơn so với xúc tiến thương mại, nhưngtrong thực tế, các hoạt động xúc tiến thương mại chủ yếu tập trung vào thúc đẩyxuất khẩu nên người ta quan niệm xúc tiến thương mại gần với xúc tiến xuất khẩu

1.1.2.Chức năng và vai trò của xúc tiến xuất khẩu

1.1.2.1 Chức năng của XTXK

Mặc dù mỗi tổ chức XTXK tùy theo hoạt động chính của mình mà có cácchức năng riêng biệt, nhưng hoạt động XTXK nói chung vẫn thể hiện năm chứcnăng chính của mình, đó là:

Trang 13

Xác định, phát triển sản phẩm và thị trường

XTXK có chức năng xác định một cách chính xác nhất có thể về cung xuấtkhẩu có sẵn hoặc sắp có, tính chất của thị trường nước ngoài và thông tin về các nhucầu của cộng đồng xuất khẩu Các thông tin này thu nhập được thông qua nghiêncứu về cung xuất khẩu và tiềm năng thị trường Kết quả của các thông tin này đượcphổ biến thông qua các bản mô tả tóm tắt về sản phẩm và thị trường Ở các nước,khuynh hướng đang phát triển là tập trung vào các nghiên cứu vì nó được xem làngày càng quan trọng cho các quyết định về hoạt động hỗ trợ trong tương lai đối vớicộng đồng xuất khẩu

Dịch vụ thông tin thương mại

Trong lĩnh vực kinh doanh xuất khẩu, thiếu thông tin về thị trường nướcngoài vẫn luôn là rào cản được thường xuyên đề cập đến trong các diễn đàn hay hộithảo về kinh doanh xuất khẩu Có nhiều định chế về dịch vụ thông tin thương mạiđược lập ra như Phòng thương mại, tổ chức XTTM và thông tin cũng đến từ nhiềunguồn Tại một số quốc gia, việc tạo ra dịch vụ thông tin là biểu hiện của sự bắt đầucác nỗ lực xúc tiến xuất khẩu

Các dịch vụ hỗ trợ chuyên môn

Các dịch vụ này nhằm hỗ trợ cộng đồng xuất khẩu nâng cao trình độ chuyênmôn kỹ thuật ngoại thương của họ, nhằm đưa ra các dịch vụ cạnh tranh trên thịtrường quốc tế bằng việc cải tiến chất lượng sản phẩm và các đặc điểm, tính chấtkhác Các dịch vụ này gồm nhiều vấn đề như: thủ tục xuất khẩu, vận chuyển, vốn,tiếp thị, định giá thành và giá bán, kiểm định chất lượng, bao bì xuất khẩu, quảngcáo, các vấn đề pháp lý, xuất khẩu các dịch vụ…

Phạm vi các dịch vụ này rất rộng, tổ chức XTTM phải dựa trên một nghiêncứu kỹ lưỡng về các yêu cầu của nhà xuất khẩu để lựa chọn các dịch vụ thực hiện

Các hoạt động XTXK ở nước ngoài

Các dịch vụ XTXK tại nước ngoài bổ sung thêm sự hỗ trợ cho các nhà xuấtkhẩu trong nước Các hoạt động này bao gồm việc tham gia vào các hội chợ thươngmại ở nước ngoài, tổ chức các đoàn thương nhân khảo sát thị trường nước ngoài,

Trang 14

mời đối tác nước ngoài đến thăm cơ sở sản xuất trong nước và tham dự triển lãmtrong nước, v.v…

Tại nhiều quốc gia, đại diện thương mại tại nước ngoài do Bộ Ngoại giaođảm trách, trong một số ít trường hợp, trách nhiệm này do Bộ thương mại hoặctương đương Sự tồn tại mạng lưới các văn phòng đại diện thương mại dưới sự điềuhành trực tiếp của tổ chức XTTM rất hiếm có, ngoại trừ các tổ chức XTTM có quátrình hoạt động lâu dài và có nguồn tài chính dồi dào và có chiến lược mạnh hướng

về xuất khẩu Trong thực tế, khoảng một nửa các quốc gia, các văn phòng đại diệnthương mại tại nước ngoài có những liên kết trực tiếp với tổ chức XTTM Cácđại diện thương mại của tổ chức XTTM tại nước ngoài thường có chức năngriêng biệt về XTTM, trong một số ít trường hợp, họ cũng có liên quan đến cácvấn đề như xúc tiến đầu tư và tìm nguồn nhập khẩu Trái lại, đa số các viên chứccủa Bộ Ngoại giao hay Bộ thương mại lại không có nhiệm vụ riêng cho xúc tiếnxuất khẩu Tuy nhiên, tại các quốc gia phát triển, có sự tập trung rõ ràng cho cácvấn đề thương mại

Một số ít quốc gia tổ chức bộ phận thương vụ để người địa diện của các Bộ

có thể liên lạc và nhận các thông tin, hướng dẫn từ tổ chức XTXK, do đó đẩy mạnh

và làm công việc có hiệu quả hơn

Hỗ trợ các tổ chức khác

Có nhiều chức năng, do bản chất riêng của chúng, nên được thực hiện bởicác định chế chuyên môn công và từ các tổ chức XTTM Tuy nhiên, do các chứcnăng này có ảnh hưởng gián tiếp hoặc trực tiếp vào các trách nhiệm xúc tiến và pháttriển xuất khẩu của tổ chức XTTM, nên rất cần thiết phải được liên kết với tổ chứcXTTM bằng một cơ chế thích hợp cho việc phối hợp Hơn nữa, tổ chức XTTM nên

hỗ trợ các hoạt động của các định chế này do có liên quan đến hoạt động xúc tiến

Các hoạt động này gồm các chương trình huấn luyện của các định chế khác,thực hiện các chiến dịch thúc đẩy, chuẩn bị các nghiên cứu kinh tế và các báo cáo tưvấn trình Chính phủ, và hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa

Trang 15

1.1.2.2. Vai trò của XTXK

Vai trò của XTXK đối với quốc gia

XTXK có một vai trò quan trọng với nền kinh tế thị trường, nó tạo ra nhữngthuận lợi cho hoạt động xuất nhập khẩu, mang lại thu nhập cho nền kinh tế Hoạtđộng XTXK ở cấp quốc gia do Chính phủ thực hiện, có ý kiến cho rằng Chính phủchỉ nên tập trung vào việc tạo môi trường kinh doanh thuận lợi bằng cách ban hànhcác chính sách khuyến khích thương mại hoặc tiến hành các hoạt động nhằm thuậnlợi hóa thương mại, những hoạt động XTXK trực tiếp khác nên để cho khu vực tưnhân và phi chính phủ đảm nhiệm Lập luận này dựa trên cơ sở học thuyết kinh tếthị trường thuần túy cho rằng Nhà nước chỉ can thiệp vào thị trường khi có nhữngthất bại thị trường hoặc khi Nhà nước làm việc có hiệu quả hơn khu vực tư nhân.Song, trên thực tế, ở hầu hết tất cả các nước kể cả nước phát triển, Chính phủ đềntrực tiếp tiến hành một số hoạt động XTXK, đặc biệt là hoạt động thông tin Nhiềungười cho rằng Chính phủ là tổ chức thu thập, phân tích và chuyển tải thông tin vềthị trường và cơ hội kinh doanh ở nước ngoài cũng như dự đoán xu hướng và thayđổi của nó …cho cả cộng đồng doanh nghiệp với chi phí thấp hơn so với khu vực tưnhân đảm nhiệm

Mặt khác, theo qui định của WTO, Chính phủ các nước thành viên có mứcthu nhập GNP bình quân đầu người từ 1000 USD trở lên không được phép trợ cấptrực tiếp cho xuất khẩu nhưng có thể trợ cấp cho hoạt động XTTM hoặc tiến hànhmột số hoạt động XTTM để hỗ trợ cho doanh nghiệp Đây là nguyên nhân càngnhiều quốc gia thành lập tổ chức XTTM của Chính phủ, hiện nay trên thế giới cókhoảng 140 nước có tổ chức này

Tóm lại, vai trò chủ yếu của XTXK đối với quốc gia vẫn thể hiện qua nhữngchính sách của Chính phủ nhằm tạo thuận lợi cho hoạt động thương mại Đồng thời,việc xuất hiện các tổ chức XTTM của Chính phủ cũng khẳng định vai trò quantrọng không thể thiếu của XTXK đối với nền kinh tế quốc gia, đặc biệt trong điềukiện hội nhập kinh tế quốc tế

Trang 16

Vai trò của XTXK đối với doanh nghiệp

Đối với doanh nghiệp, XTXK có vai trò đặc biệt quan trọng, tác động trựctiếp đến hoạt động kinh doanh, là vấn đề sống còn của doanh nghiệp Cụ thể là:

Thứ nhất, hỗ trợ và cung cấp các thông tin nghiệp vụ cần thiết và chính xác

là một trong những yêu cầu bức thiết Hiện nay, thị trường và môi trường kinh

doanh đã có những thay đổi lớn, tác động đến hoạt động của doanh nghiệp và sựphát triển của xã hội Ngày càng có nhiều quốc gia tham gia vào Tổ chức Thươngmại Thế giới, hạn ngạch xuất nhập khẩu sẽ bị bãi bỏ cùng với các khoản thuế đánhvào hàng nhập khẩu Điều này tạo thuận lợi lớn cho việc giao thương nhưng cũngđưa các nhà kinh doanh vào môi trường cạnh tranh gay gắt trên trường quốc tế Cácthông tin về các hiệp định thương mại, thuế quan, hàng rào phi thuế quan là rất cầnthiết và hữu ích Tuy nhiên, các doanh nghiệp kinh doanh nhập khẩu thường ít đượcthông tin đầy đủ Vì thế, vai trò của xúc tiến xuất khẩu là cập nhật và nắm vữngthông tin để cung cấp cho doanh nghiệp một cách kịp thời

Thứ hai, đẩy mạnh công tác huấn luyện, đào tạo nâng cao năng lực cho doanh nghiệp, ứng dụng công nghệ thông tin một cách có hiệu quả Internet cũng là

một công cụ rất hữu ích cho doanh nghiệp, đặc biệt là đối với các nhà xuất khẩu.Đây là kênh thu nhập và phổ biến thông tin, công cụ bán hàng và marketing hữuhiệu Thông qua đó, người ta có thể chào giá, giới thiệu sản phẩm, giao dịch… vớicác công ty khác trên khắp thế giới Nhưng trên thực tế, sử dụng công cụ này nhưthế nào cho hiệu quả, mang lại lợi nhuận là điều không phải doanh nghiệp có khảnăng sử dụng công cụ này Bên cạnh đó, cần quan tâm đến đào tạo nghiệp vụchuyên môn để nâng cao hơn nữa khả năng và trình độ quản lý của doanh nghiệp

Thứ ba, tăng cường vai trò là cầu nối giúp doanh nghiệp nghiên cứu thị trường và tìm kiếm khách hàng Bên cạnh môi trường kinh doanh thay đổi, thị

trường kinh doanh hiển nhiên cũng thay đổi liên tục Các yếu tố cấu tạo nên thịtrường như nhu cầu của người tiêu dùng, nhà sản xuất, kênh phân phối, giao dịch,dịch vụ…hiện nay đã khác hẳn những năm trước đây Hoạt động trong lĩnh vực xúctiến thương mại phải nhanh nhạy với những thay đổi của thị trường, nắm bắt và dự

Trang 17

báo xu hướng thị trường để tư vấn và hỗ trợ doanh nghiệp đạt hiệu quả Doanhnghiệp cần tìm hiểu kỹ thị trường trong nước cũng như thị trường nước ngoài đểnâng cao chất lượng sản phẩm, tăng sức cạnh tranh Xúc tiến xuất nhập khẩu sẽ làmcầu nối đưa doanh nghiệp đi nghiên cứu mở rộng thị trường, giúp doanh nghiệphiểu và thận trọng hơn khi lựa chọn bạn hàng, thị trường và phương thức kinhdoanh khi ký hợp đồng.

Thứ tư, khuyến khích, hỗ trợ doanh nghiệp xây dựng thương hiệu nhằm nâng cao sức cạnh tranh của sản phẩm Vấn đề xây dựng và phát triển thương hiệu là

một yêu cầu cấp thiết, khẳng định vị thế, uy tín của hàng hóa và doanh nghiệp, giúpdoanh nghiệp nâng cao năng lực thâm nhập, duy trì và phát triển cả thị trường trongnước và nước ngoài Trong hoàn cảnh hiện nay, chúng ta không chỉ cạnh tranh giữacác doanh nghiệp trong nước mà chúng ta còn phải cạnh tranh với các tập đoànnước ngoài đầu tư và kinh doanh tại Việt Nam Một sản phẩm mang nhãn hiệu đượcbảo hộ độc quyền dưới mắt người tiêu dùng thì đó là biểu tượng xác định uy tín vềchất lượng của sản phẩm, mặt khác nó còn khẳng định về mặt trách nhiệm của nhàcung cấp đối với người tiêu dùng Vì vậy, sức mua trên thị trường đối với nhữngsản phẩm có thương hiệu thường lớn hơn, và người tiêu dùng sẵn sàng chi trả caohơn những sản phẩm cùng loại mà không có thương hiệu Tóm lại, chất lượng vàthương hiệu của sản phẩm là điều kiện tiên quyết trong môi trường cạnh tranh Tuynhiên, để doạnh nghiệp hiểu và bắt tay vào làm là cả một quá trình Do đó, vai tròcủa xúc tiến xuất khẩu là làm sao tư vấn, cung cấp thông tin và hướng dẫn để doanhnghiệp có nhận thức đúng đắn hơn về tầm quan trọng của thương hiệu và có sự đầu

tư nhất định cho việc phát triển thương hiệu Hiện nay, với chúng ta việc xây dựngthương hiệu cho các sản phẩm còn quá nhỏ so với tiềm năng, chất lượng sản phẩmcũng chưa thật đều Chúng ta cũng đã có nhiều chương trình hỗ trợ cho doanhnghiệp xây dựng và phát triển thương hiệu để nâng cao sức cạnh trạnh của doanhnghiệp

Về vấn đề Nâng cao sức cạnh tranh cho doanh nghiệp, XTXK thể hiện vaitrò của mình qua các mặt chủ yếu sau:

Trang 18

Một là, tạo môi trường kinh doanh thuận lợi cho doanh nghiệp: Hoạt độngXTXK ở tầm vĩ mô sẽ tạo ra môi trường kinh doanh thuận lợi cho các doanh nghiệpbởi lẽ việc hoàn thiện các chính sách, chế độ sẽ tạo ra động lực giúp cho doanhnghiệp từng bước vươn lên trong môi trường cạnh tranh Mặt khác, các cam kếtsong phương, đa phương của Chính phủ sẽ tạo ra điều kiện thuận lợi cho các doanhnghiệp mở rộng thị trường ngoài nước, phát huy được những lợi thế của doanhnghiệp trên thị trường thế giới.

Hai là, giúp doanh nghiệp củng cố, khẳng định vị thế so với đối thủ cạnhtranh: Hoạt động XTXK có ý nghĩa quan trọng trong việc xây dựng và phát triểnthương hiệu sản phẩm của doanh nghiệp Khi đó sẽ giúp doanh nghiệp mở rộngđược thị trường tiêu thụ, nâng cao vị thế của doanh nghiệp… Bởi vậy, uy tín thươnghiệu sản phẩm của doanh nghiệp được coi là tài sản vô hình của doanh nghiệp

Ba là, giúp doanh nghiệp mở rộng thị trường tiêu thụ: Hoạt động XTXK làcông cụ hữu hiệu để duy trì và chiếm lĩnh thị trường cho doanh nghiệp từ đó tăngnhanh dung lượng thị trường của hàng hóa bởi lẽ hoạt động XTXK sẽ giúp doanhnghiệp tiếp cận được các thị trường tiềm năng, cung cấp cho doanh nghiệp tiếp cậnđược các thị trường tiềm năng, cung cấp cho khách hàng những thông tin nổi bậtcủa hàng hóa nhằm kích thích nhu cầu của khách hàng tạo điều kiện mở rộng thịtrường tiêu thụ

Bốn là, giúp doanh nghiệp tăng năng lực cạnh tranh: Hoạt động XTXK sẽgiúp cho các doanh nghiệp vó được những thông tin đầy đủ, chính xác về thịtrường, khách hàng, đối thủ cạnh tranh…Trên cơ sỏ những thông tin đó, doanhnghiệp sẽ xử lý và đưa ra những quyết định hợp lý về lựa chọn chiến lược kinhdoanh của doanh nghiệp có hiệu quả nhất nhằm giảm giá thành sản phẩm, nâng caochất lượng sản phẩm để tạo ra năng lực cạnh tranh ngày càng mạnh hơn

Vai trò xúc tiến xuất nhập khẩu cũng chính là hỗ trợ doanh nghiệp nhằm gópphần tăng trưởng kinh tế xã hội Vậy, làm thế nào để hỗ trợ tốt cho doanh nghiệp.Điều này đòi hỏi người làm công tác XTXK phải cập nhật và bổ sung kiến thứcthường xuyên để nâng cao trình độ; nhận thức được những gì đang diễn ra; có kiến

Trang 19

thức về kinh tế vĩ mô, giao thương quốc tế, công nghệ thông tin…; có óc phán đoán,tiên liệu xu hướng thị trường để có thể tư vấn một cách hữu hiệu cho doanh nghiệp,giúp doanh nghiệp xác định được yếu tố quyết định năng lực cạnh tranh của mình

để linh hoạt và thích ứng khi điều kiện thị trường thay đổi Tuy nhiên, vấn đề chính

là doanh nghiệp phải năng động, tự nhận thức được những thay đổi trên thế giới, và

có ý thức tự vận động để tồn tại và phát triển

1.1.2.3 Các loại hình hoạt động XTXK và tổ chức XTXK

1.1.2.3.1 Các loại hình hoạt động XTXK

Các chuyến thăm và làm việc của ban lãnh đạo Chính phủ ở nước ngoài

Đây là hoạt động XTXK ở cấp quốc gia, do các cấp lãnh đạo thực hiện nhằmthúc đẩy quan hệ thương mại giữa hai nước bởi các chuyến viếng thăm và làm việctại nước ngoài Thông qua các chuyến thăm và làm việc này, nhiều hiệp địnhthương mại hoặc các cam kết tương tự có thể được ký kết, tạo điều kiện thuận lợicho quan hệ kinh tế giữa hai hay nhiều quốc gia

Hội trợ triển lãm trong và ngoài nước.

Hội chợ triển lãm là hoạt động phổ biến khi doanh nghiệp muốn giới thiệusản phẩm của mình đến người tiêu dùng Các tổ chức XTTM thường tổ chức các hộichợ triển lãm để quảng bá và giới thiệu hàng hóa Việt Nam ở thị trường nước ngoài.Đây cũng là một loại hình XTXK được các doanh nghiệp quan tâm do quy mô tổchức lớn, tập trung nhiều loại hàng hóa và dịch vụ, dễ thu hút được sự chú ý củangười tiêu dùng trong khi chi phí lại thấp hơn so với quảng cáo riêng cho loại hànghóa đó trên các phương tiện thông tin Mặt khác, hình thức triển lãm tỏ ra phù hợphơn với các sản phẩm mới đang trong giai đoạn thăm dò thị trường trước khi đưa raquyết định thâm nhập thị trường đó hay không

Các buổi hội thảo, diễn đàn hợp tác kinh tế

Một trong các mục đích của các buổi hội thảo, hợp tác kinh tế là thúc đẩyquan hệ thương mại, nâng cao quy mô và hiệu quả của hoạt động ngoại thương Tạiđây, các doanh nghiệp có cơ hội gặp gỡ, trao đổi kinh nghiệm lẫn nhau trong vấn đề

Trang 20

kinh doanh ở thị trường nước ngoài Ngoài ra, trong các buổi hội thảo,các doanhnghiệp còn có cơ hội tìm thấy đối tác kinh doanh phù hợp.

Các hoạt động khác

Ngoài nhưng hình thức đã nêu ở trên, các tổ chức XTXK cũng tiến hànhnhiều hoạt động nhằm phát triển cơ hội kinh doanh cho các doanh nghiệp như: Tổchức các lớp học giúp doanh nghiệp làm quen với các quy tắc quốc tế sắp được ápdụng; tổ chức các buổi gặp mặt tham tán thương mại tại các nước với doanh nghiệpkinh doanh tại thị trường nước đó; thành lập các tổ chức tư vấn luật pháp, cung cấpthông tin thị trường, bảo hiểm hàng hóa, các tổ chức hỗ trợ tín dụng…

Tóm lại, các loại hình hoạt động XTXK là rất đa dạng và phong phú, một tổchức XTTM thường tập trung vào một vài hoạt động phù hợp nhất với tình hìnhthực tế của doanh nghiệp nước mình để mang lại hiệu quả cao nhất cho hoạt độngXTTM, giảm chi phí cho doanh nghiệp

1.1.2.3.2 Các tổ chức XTXK

Hầu như tất cả các quốc gia trên thế giới, tổ chức XTTM đảm nhiệm chứcnăng, nhiệm vụ XTXK, vì vậy, các tổ chức XTXK thực chất chính là các tổ chứcXTTM Đặc biệt là về mặt tổ chức XTTM khác nhau giữa các quốc gia, do phụthuộc vào nhiều yếu tố đặc tính địa phương, như vai trò chủ yếu mà tổ chức XTTMđược chỉ định, các nguồn lực, các thông lệ hành chính, và sự ưu tiên cho hoạt độngXTTM Nhiều Chính phủ tại các quốc gia dường như không nhận ra rằng hoạt độngcủa tổ chức XTTM nên chủ yếu là cung cấp dịch vụ XTTM, và vai trò của nó trongviệc xây dựng chính sách và kiểm soát phải là ở mức tối thiểu Sự nhầm lẫn về cácmục tiêu thường gây ra cơ cấu điều hành và khung pháp lý phản tác dụng

Dù ở bất cứ một hình thức pháp lý nào, có một số điều kiện phải được thỏamãn cho một tổ chức XTTM hoạt động có hiệu quả:

- Vai trò và lĩnh vực hoạt động chủ yếu của tổ chức này phải được xác định

rõ ràng Việc xác định này có ảnh hưởng quan trọng đối với cơ cấu của cơ quanlãnh đạo và các cấp điều hành của tổ chức này

Trang 21

- Mục đích của tổ chức nên được trình bày rõ ràng, do đó tránh được lầm lẫn

về các mục tiêu và sự đảm đương các nhiệm vụ không liên quan đến các mục tiêucủa tổ chức

- Tổ chức này nên có một vị trí mang tính chất pháp lý nằm trong cơ cấuchung của Chính phủ, cho nó các phương tiện hoạt động và quyền hành cần thiết đểthực hiện các nhiệm vụ được giao

- Phải đảm bảo các nguồn lực đầy đủ, cả về nhân sự và tài chính

- Do được giao cho những công việc hàng này của Bộ, tổ chức XTTM có thểmất đi mục đích ban đầu và trong thời gian dài có thể hoàn toàn không có hiệu quảcủa một tổ chức XTTM

- Rất khó phân biệt giữa nhiệm vụ xúc tiến với các chức năng quản lý truyềnthống của Bộ, một tình trạng mà trong hầu hết các trường hợp sẽ dẫn đến kết quảtiêu cực

Hiện nay, bên cạnh hình thức tổ chức XTTM là cơ quan thuộc Bộ, còn cómột số định chế công – tự quản Trên lý thuyết, những định chế công – tự quản nàyvẫn thuộc sự quản lý của Bộ nhưng nó có sự tham gia của cộng đồng doanh nghiệp

và hiệp hội Do đó, ở các định chế công – tự quản này có sự độc lập hơn trong hoạt

Trang 22

động và đặc biệt là trong công tác tuyển nhân sự - một yếu tố quan trọng giúp cácđịnh chế này hoạt động có hiệu quả hơn.

Các tổ chức tư nhân

Trong một số ít các quốc gia, do không có hoặc do hoạt động kém hiệu quảcủa một tổ chức XTTM thuộc Chính phủ, cộng đồng doanh nghiệp đã có sáng kiếnthực hiện các hoạt động xúc tiến xuất khẩu thông qua một vài loại tổ chức tư nhânnhư Phòng thương mại hoặc Hiệp hội

Các tổ chức tư nhân quan tâm đặc biệt đến các hoạt động quảng bá thông tin

về thị trường nước ngoài; và trong một vài trường hợp, có thể tạo ra các cơ chế hoạtđộng nhằm thực hiện các công việc xúc tiến thương mại ở nước ngoài Tuy nhiên,

do thường bị hạn chế bởi nguồn lực tài chính, chúng không thể đáp ứng tất cả cácnhu cầu của cộng đồng thương mại Do đó các tổ chức này không phải là lý tưởng

và Chính phủ cần cố gắng cung cấp các dịch vụ để thỏa mãn, ở mức tối thiểu, cácyêu cầu xúc tiến xuất khẩu cơ bản nhất của cộng đồng doanh nghiệp

Tuy vậy, cần phải nói rõ rằng, một số quốc gia phát triển có các tổ chứcXTTM được tư nhân tài trợ đã thực hiện đầy đủ các loại hoạt động XTTM Các tổchức XTTM hoàn toàn độc lập và không có mối liên hệ chính thức nào với Chínhphủ

Ngoài ra, do đặc thù về hàng hóa và dịch vụ, nhiều công ty đã thành lập các

bộ phận xúc tiến thương mại riêng cho công ty mình Đây là hình thức xúc tiếnthương mại chuyên biệt hóa, nhưng có hạn chế là đòi hỏi chi phí cao Vì thế, loạihình này thường chỉ thích hợp cho các tập đoàn lớn, các tập đoàn đa quốc gia và cáccông ty xuyên quốc gia kinh doanh đa ngành, đa dịch vụ

1.1.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động XTXK

1.1.3.3 Các yếu tố khách quan

Sự quản lý của Nhà nước về hoạt động XTXK

Nhóm các yếu tố thuộc về quản lý vĩ mô là các chủ trương chính sách củaNhà nước tác động vào hoạt động XTXK Trong mỗi điều kiện cụ thể của từng

Trang 23

nước, từng thị trường, từng thời kỳ mà các chủ trương, chính sách của Nhà nước sẽrạo hành lang pháp lý cho các hoạt động XTXK.

Các yếu tố về pháp luật chi phối mạnh mẽ hoạt động XTXK Trong mọi hoạtđộng xúc tiến thì luật pháp luôn đi trước một bước, sự thống nhất về mặt pháp luậtđược thể hiện dưới hình thức các hiệp định và mọi hoạt động xúc tiến được diễn rakhi các bên có sự thống nhất về mặt luật pháp

Hệ thống luật pháp có tác dụng mạnh mẽ đến hoạt động XTXK, có thểkhuyến khích và cũng có thể hạn chế hoạt động xúc tiến Ví dụ ở Việt Nam trướckia do luật pháp chỉ cho phép các tổ chức XTTM quốc doanh được hoạt động nênkhông phát huy được tính năng động, sáng tạo của các tổ chức XTTM quốc doanhđược hoạt động nên không phát huy được tính năng động, sáng tạo của các tổ chứcXTTM ngoài quốc doanh nhưng đến nay Việt Nam đã có hệ thống các tổ chứcXTTM rộng khắp do pháp luật đã cải tiến, mở đường cho việc thành lập các tổ chứcXTTM mới

Chính sách kinh tế

Các chính sách kinh tế của Chính phủ có tác động lớn tới hoạt động XTXK.Các chính sách kinh tế của Nhà nước sẽ định hướng cho các hoạt động XTXK Tùythuộc vào từng quốc gia mà các hoạt động XTXK sẽ tập trung vào mặt hàng có lợithế cạnh tranh, có điều kiện pháp lý thâm nhập vào thị trường mới Như ở ViệtNam, chính sách xuất khẩu khuyến khích các hoạt động XTXK tập trung vào cácngành nông, thủy hải sản, giày dép, thủ công mỹ nghệ…và tập trung vào một số thịtrường trọng điểm như Mỹ, Nhật , EU, ASEAN, Trung Quốc Như vậy, rõ ràngchính sách kinh tế có tính chất định hướng cho hoạt động xuất khẩu cũng như hoạtđộng XTXK

Môi trường cạnh tranh

Cạnh tranh được xác định là động lực thúc đấy sự phát triển của nền kinh tếthị trường với nguyên tắc ai hoàn thiện hơn, thỏa mãn tốt hơn nhu cầu thì người đóchiến thắng Các tổ chức XTTM cũng vậy, với hoạt động chính là XTXK, các tổchức XTTM cũng phải cạnh tranh, tổ chức nào hoạt động tốt hơn thì tổ chức đó sẽ

Trang 24

tồn tại Sự cạnh tranh sẽ thúc đẩy hoạt động XTXK, các doanh nghiệp sẽ nhận đượccác cơ hội xuất khẩu dễ dàng hơn, thuận lợi hơn.

Chính phủ luôn tìm cách duy trì sự cạnh tranh này bởi các tổ chức XTTMquốc doanh luôn nhận được nhiều sự ưu đãi của Chính phủ nên có thể hoạt độngchưa hiệu quả nhưng các tổ chức xúc tiến ngoài quốc doanh phải hạch toán độc lập

vì vậy tiêu chí hiệu quả luôn được đưa lên hàng đầu

Với việc phát triển mạnh mẽ của hệ thống các doanh nghiệp làm cho nhân tốcạnh tranh trong nền kinh tế ngày càng gay gắt Điều này đòi hỏi các tổ chứcXTTM phải hoạt động tốt hơn, hỗ trợ doanh nghiệp nhiều hơn nữa nhằm đáp ứngnhu cầu thị trường

1.1.3.4 Các yếu tố chủ quan

Phương thức hoạt động của một tổ chức XTXK phụ thuộc chặt chẽ vào cácyếu tố phản ảnh tiềm lực của nó Với đặc thù của các tổ chức XTTM là không sảnxuất, các tổ chức này phụ thuộc rất nhiều vào các mối quan hệ để tiến hành các hoạtđộng xúc tiến Mối quan hệ của các tổ chức XTTM là mối quan hệ đa chiều: quan

hệ với doanh nghiệp, quan hệ với Chính phủ, quan hệ với công chúng, quan hệ vớicác tổ chức XTTM khác trong nước và quốc tế…Với đặc thù đó, tiềm lực chính củamột tổ chức XTTM là trình độ của đội ngũ cán bộ

Như vậy, hiệu quả của hoạt động XTXK phụ thuộc rất lớn vào yếu tố conngười Con người là yếu tố quan trọng để đảm bảo thành công, nó chiếm vị trí sốmột trong các nhân tố chủ quan tác động đến hoạt động XTTM, trên có khả năng tàichính và cơ sỏ vật chất của tổ chức XTTM Con người với năng lực của họ mới lựachọn đúng phương án, chiến lược XTXK và sử dụng các nguồn lực khác một cách

có hiệu quả nhất

Nhân tố con người trong XTXK được xem xét trên nhiều giác độ trong đónhận thức của doanh nghiệp, đặc biệt nhận thức của ban lãnh đạo về XTXK sẽ ảnhhưởng đến khả năng tiếp nhận, hưởng ứng các chương trình XTXK của tổ chứcXTTM Hình thức xúc tiến như thế nào, ngân sách bao nhiêu, quảng bá ra sao, trước

Trang 25

hết phụ thuộc vào ban lãnh đạo Hoạt động XTXK sẽ sôi động hay tẻ nhạt, sơ sài,phụ thuộc vào nhận thức của ban lãnh đạo về vai trò của XTTM.

Ngoài ra, XTXK đạt được mục tiêu khi công tác tổ chức được quan tâm đúngmức Khi tiến hành chương trình XTXK, phải xây dựng kế hoạch xúc tiến cũng nhưchương trình hành động một cách khoa học Trong suốt quá trình tổ chức cần có sựkiểm tra, giám sát để hoạt động XTXK đạt hiệu quả cao nhất

Cuối cùng, để hoạt động XTXK có hiệu quả thì các tổ chức XTTM phải cómạng lưới hoạt động rộng khắp đi đến từng doanh nghiệp, đảm bảo luôn đáp ứngđược nhu cầu của doanh nghiệp

1.1.4 Yêu cầu của hoạt động XTXK hàng hóa của Việt Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế

Từ tháng 11/2006, khi Việt Nam đã chính thức là thành viên của Tổ chứcThương mại Thế giới (WTO), hoạt động XTXK của chúng ta cần đáp ứng một sốyêu cầu để phù hợp với hoàn cảnh mới, đó là:

Hoạt động XTXK phải chuyên nghiệp hóa và có tính chuyên môn hóa cao.

Đối với Việt Nam, XTXK còn khá mới mẻ nên tính chuyên nghiệp vàchuyên môn hóa chưa cao Do vậy, hoạt động XTXK chưa có ý nghĩa thiết thựcđối với thúc đẩy xuất khẩu, đối với việc nâng cao năng lực cạnh tranh cho doanhnghiệp Thực tế cho thấy hoạt động XTXK ở Việt Nam hiện nay chủ yếu mangtính tình thế và tập trung vào các nội dung như: hội chợ triển lãm, quảng cáo,khuyến mại…chứ chưa có một chiến lược, kế hoạch cụ thể, cho nên hoạt độngXTXK không có mục tiêu cụ thể, chưa gắn với thị trường, chưa có các biện phápphù hợp…

Hoạt động XTXK phải được coi là một bộ phận cấu thành đồng bộ, không thể thiếu trong chính sách thương mại quốc gia.

Chính sách thương mại được hiểu là việc sử dụng các công cụ, biện phápkhác nhau để can thiệp và điều tiết hoạt động thương mại

Chính sách thương mại của quốc gia được Chính phủ sử dụng để điều tiếthoạt động thị trường nội địa hoặc để phân biệt đối xử với hàng hóa dịch vụ nước

Trang 26

ngoài, với các chủ thể nước ngoài kinh doanh trên thị trường nội địa Do sự tácđộng của xu thế tự do hóa thương mại mà việc thực hiện chính sách thương mại củamỗi quốc gia phải phù hợp với luật pháp quốc tế.

Hoạt động XTXK phải bảo đảm bảo tính đồng bộ, có ý nghĩa thiết thực đối với việc đẩy mạnh xuất khẩu, mở rộng thị trường tiêu thụ và nâng cao năng lực cạnh tranh cho các doanh nghiệp.

Sự đồng bộ của hoạt động XTXK phải đảm bảo trên cả hai góc độ sau:

Một là, đảm bảo sự đồng bộ giữa các giải pháp trong quá trình thực hiện.

Điều này có ý nghĩa là không nên chỉ tập trung vào các giải pháp dễ làm, các giảipháp không cần nhiều chất xám như tổ chức hội chợ triển lãm, quảng cáo…còn cácgiải pháp cần nhiều chất xám, khó tổ chức thực hiện như nghiên cứu thị trường,nghiên cứu phát triển sản phẩm…thì lại không làm

Hai là, đảm bảo sự phối hợp đồng bộ trong hoạt động giữa các tổ chức

XTXK, giữa các dự án XTXK bởi nếu không có sự đồng bộ trong quá trình hoạtđộng thì sẽ dẫn đến tình trạng chồng chéo, tình trạng cạnh tranh không lành mạnhgây lãng phí các nguồn lực của doanh nghiệp

1.2.Hoạt động hiệp hội ngành hàng xuất khẩu và phát triển hiệp hội ngành hàng.

1.2.1 Khái niệm

1.2.1.1 Khái niệm hiệp hội:

Hiệp hội là một tổ chức phi chính phủ, Hiệp hộp tồn tại và hoạt động trongcác lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội như kinh tế, văn hóa, tôn giáo… Trênthế giới, các Hiệp hội tồn tại với các phạm vi hoạt động theo các cấp độ khác nhưthế giới, khu vực, quốc gia và các địa phương Các thành viên (hội viên) của hội cóthể là các cá nhân hoặc cũng có thể là các tổ chức

Ở nước ta, theo Ngị định 88 của Chính phủ ban hành ngày 30 - 7 – 2003,Hiệp hội được hiểu là một tổ chức tự nguyện của công dân, hoặc các tổ chức hoạtđộng cùng ngành nghề, cùng sở thích cùng giới, có chung mục đích là tập hợp , đờnkết hộ viên hoạt động thường xuyên, không vụ lợi nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp

Trang 27

pháp của hội viên; hỗ trợ nhau hoạt động có hiệu quả, Hiệp hội phải góp phần vàophát triển kinh tế - xã hội của đất nước, được tổ chức và hoạt động theo các văn bảnquy phạm pháp luật có liên quan.

1.2.1.2 Khái niệm hiệp hội ngành hàng:

Hiêp hội kinh tế là một Hiệp hội tập hợp các cá nhân hay các tổ chức hoạtđộng kinh tế, tự ngiện tuân thủ tôn chỉ mục đích và các quy tắc chung đã thỏa thuận,phù hợp với quy định của pháp luật, hoạt động theo quy tắc tự quản và không vìmục tiêu lợi nhuận

Hiệp hội ngành hàng là một Hiệp hội doanh nghiệp mà các doanh nghiệp hộiviên cùng kinh doanh một hoặc một số loại hình sản phẩm giống nhau

Chẳng hạn Hiệp hội Da giầy hoặc Hiệp hội Dệt may là tổ chức tự nguyện củacác doanh nghiệp sản xuất và tiêu thụ các sản phẩm da giầy hoặc dệt may

1.2.2 Vai trò Hiệp hội ngành hàng xuất khẩu:

1.2.2.1 Tập hợp, liên kết các doanh nghiệp ngành hàng thuộc các thành phần kinh tế khác nhau, tạo ra sức mạnh xuất khẩu của ngành.

Để phát triển xuất khẩu trong bối cảnh hội nhập và cạnh tranh gay gắt củathương mại quốc tế hiện nay, hầu hết các danh nghiệp nước ta ở các nước trên thếgiới, đặc biệt là các doanh nghiệp vừa và nhỏ cần phải được tập hợp và liên kết lạivới nhau

Hình thức chủ đạo và hiệu quả nhất trong việc tập hợp và liên kết của cácdoanh nghiệp đang được khẳng định chính là Hiệp hội ngành hàng Các hiệp hộikhông chỉ tạo ra khung khổ chung cho các mối quan hệ liên kết tự nguyện trongnhiều nội dung và lĩnh vực hoạt động của các doanh nghiệp mà còn là cầu nối củaquan hệ giữa các cơ quan chính quyền với các doanh nghiệp – đại diện cho 1 xu thế

và yêu cầu của nền kinh tế thị trường hiện đại

- Nhũng khó khăn mà các doanh nghiệp thường gặp phải trong sản xuất vàxuất khẩu như: trình độ, kỹ năng quản lý thấp, nguồn tài chính hạn chế, khả năngtiếp cận thị trường hạn chế, công nghệ và thiết bị lạc hậu, khả năng tiếp cận thôngtin kém…do vậy, nhu cầu được hỗ trợ nhằm hạn chế, khắc phục những khó khăn

Trang 28

nêu trên của các doanh nghiệp là tất yếu

- Nếu không liên kết được các doanh nghiệp của hiệp hội dể hỗ trợ lẫn nhauthì các doanh nghiệp đơn lẻ có thể hạn chế lẫn nhau, cạnh tranh một cách thiếu lanhmạnh

- Hiêp hội ngành hàng hoàn toàn có khả năng liên kết các doanh nghiệp củamình để hỗ trợ lẫn nhau sản xuất kinh doanh cùng phát triển, vì sản phẩm đầu ra củadoanh nghiệp này có thể là sản phẩm đầu vào của doanh nghiệp kia Một hoạt độnghết sắc quan trọng của các hiệp hội đối với các doanh nghiệp là những chương trìnhxúc tiến thương mại tại các thị trường quốc tế, những chương trình về tuyên truyềnquảng bá, xây dựng thương hiệu… Những chương trình này các doanh nghiệp nếutiến hành đơn lẻ sẽ khá tốn kém và hiệu quả không cao bằng khi họ là thành viêntrong hiệp hội

- Khi tham gia vào thương trường quốc tế, các hiệp hội chính là chỗ dựatrong giải quyết tranh chấp quốc tế cho các doanh nghiệp Mặt khác, trên thị trườngthì việc đàm phán trao đổi giữa các hiệp hội các nước trong từng lĩnh vực về phânđịnh khu vực thị trường, về chính sách bảo hộ, về giá cả… có vai trò hết sức quantrọng

Trong bối cảnh mởi của, hội nhập hiện nay, do đặc điểm các doanh nghiệpViệt Nam quy mô nhỏ, lực yếu, kinh nghiệm kinh doanh quốc tế non nớt, cho nênnâng cao vai trò Hiệp hội ngành hàng là hết sức cần thiết Hiệp hội ngành hàng tậphợp lực lượng các doanh nghiệp tạo ra sức mạnh mới, tạo ra một thực thể kinh tếmạnh trong kinh doanh với các đối tác là các công ty, tập đoàn kinh tế nước ngoài

có thể ký kết những hợp đồng xuất khẩu có quy mô lớn, có tiếng nói nhất trí trongđàm phán, thương thảo Mặt khác, Hiệp hội ngành hàng giúp đỡ, hỗ trợ cho từngdoanh nghiệp lựa chọn chiến lược phát triển, hình thức kinh doanh cụ thể đẩy mạnhxuất khẩu, nâng sức cạnh tranh của mình, vươn lên mở rộng thị trường xuất khẩu

1.2.2.2 Hỗ trợ doanh nghiệp về thông tin và xúc tiến xuất khẩu:

Trang 29

Một vai trò khác của Hiệp hội ngành hàng đối với các doanh nghiệp trongphát triển xuất khẩu là hỗ trợ về việc cung cấp thông tin Để đẩy mạnh xuất khẩu,các doanh nghiệp rất cần các thông tin liên quan

Nguồn thu nhập thông tin bao gồm trong và ngoài nước Về các nguồnthông tin đầu vào từ nước ngòai có thể là các thông tin từ các tổ chức quốc tế có liênquan Chằng hạn như Hiệp hội Cà phê ca cao Việt Nam có liên hệ với Tổ chức càphê quốc tế (ICO) để thu thập thông tin về ngành hàng này Các thông tin nhậnđược từ các hãng thông tấn, báo chí hoặc có thể trực tiếp từ các phóng viên nướcngoài; Các thong tin này từ các cơ quan đại diện thương mại, đại diện ngoại giaocủa Việt Nam ở nước ngoài… Các nguồn thông tin trong nước thường được hìnhthành từ việc tổng hợp các báo cáo của các hội viên; các tin tức bài viết từ cáo báo,tạp chí, công trình nghiên cứu trong nước; các thông tin từ các cơ sở nghiên cứu,các Bộ, … Về nội dung thông tin, thông thường các thông tin của các hiệp hộithường có các nội dung cơ bản như tình hình thị trường, giá cả của ngành hàngtrong nước và quốc tế

Do nhiều hạn chế nên các doanh nghiệp không thể tự minh thu thập, xử lýcác thông tin trong nước và đặc biệt là nước ngoài Vì vậy, các Hiệp hội ngành hàng

là nguồn hỗ trợ đắc lực các doanh nghiệp hội viên về thông tin, nhằm giúp cho hộiviên nâng cao hiệu quả sản xuất và xuất khẩu hiệp hội ngành hàng là 1 tổ chức tiếnhành các hoạt động xúc tiến thương mại cùng với các cơ quan xúc tiến thương mạicủa chính phủ và các tổ chức xúc tiến thương mại khác Để đảm nhận vai trò đó,Hiệp hội ngành àng cần tập hợp các nhà sản xuất, xuất khẩu lớn theo từng ngànhhàng, cung cấp thông tin trong nước và quốc tế, dự báo cho doanh nghiệp thamkhảo chống rủi ro vì thiếu thông tin

Hiệp hội tư vấn cho các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh mạnh dạn đầu tưchiều sâu và đầu tư thiết bị đổi mới công nghệ, tìm hiểu thị trường, từ đó giúp đỡ,

hỗ trợ cho các thành viên trong đàm phán, giao dịch , ổn định và mở rộng quy môsản xuất Giúp các doanh nghiệp hội viên tham gia hội chợ, triển lãm quốc tế kếthợp khảo sát thị trường, đồng thời, chú trọng việc xây dựng Website giới thiệu về

Trang 30

ngành, quảng bá sản phẩm và tuyên truyền xuất khẩu, cũng như thành lập vănphòng đại diện và phòng giới thiêu sản phẩm tại nước ngoài.

1.2.2.3 Đào tạo và phát triển nguồn lực cho các doanh nghiệp:

Để đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của doanh nghiệp về xúc tiến xuấtkhẩu, các Hiệp hội ngành hàng phải triển khai các hoạt động đào tạo với phạm vitộng và mức độ chuyên sâu

Về nội dung đào tạo ngời việc tập trung đào tạo cho doanh nghiệp về kỹnăng quản trị, quản lý kinh doanh, phát triển thị trường, Hiệp hội ngành hàng cũngđưa thêm 1 số vấn đề mới vào nội dung đào tạo như cổ phần hóa, chuẩn mực kếtoán, tiệp cận thị trường chứng khoán,…

Về hình thức tổ chức đào tạo, Hiệp hội ngành hàng cần kết hợp trong khuônkhổ các chương trình, dự án theo các chuyên đề cụ thể Cần chú trọng phát triển độingũ giảng viên cả về chất lượng lẫn số lượng Đa dạng hóa các hình thức đào tạonhư đào tạo trực tiếp, đào tạo gián tiếp qua sóng phát thanh, tài liệu hướng dẫn Vềchương trình đào tạo, cần căn cứ vào đối tượng học viên để tiến hành các chươngtrình đào tạo cho phù hợp như chương trinh chuyên sâu nâng cao, chương trình cơbản…

Đối với những doanh nghiệp nhỏ, it kinh nghiệm thì đào tạo teheeo chươngtrình cơ bản nhằm trang bị những kiến thức cơ bản về thị trường xuât khẩu, phươngthức tiếp cận thị trường, ngoại ngữ, tin học…

Vì vậy muốn hỗ trợ cho donah nghiệp 1 cách tôt nhât, lãnh đạo hiệp hội phảiquan tâm và tìm hiểu hội viên, nắm bắt nhu cầu của hội viên để tiến hành công tácđào tạo phù hợp về nội dung chương trình, về hình thức đào tao Nhằm trang bị chohội viên những cái mà họ còn thiếu

1.2.2.4 Hiệp hội ngành hàng là cầu nối giữa cộng đồng doanh nghiệp với

vơ quan quản lý nhà nước và các tổ chức kinh tế khác:

Hiệp hội có nhiệm vụ tuyên truyền, phổ biến những đường lối, chính sáchcủa Nhà nước đến các doanh nghiệp, giúp doanh nghiệp hiểu đúng và tuân thủ luậtpháp của Nhà nước Đồng thời thông qua các hiệp hội Nhà nước sẽ thu thập được ý

Trang 31

kiến đóng góp để sửa đổi, bổ xung và hoàn thiện hệ thống pháp luật của Nhà nước,đáp ứng yêu cầu phát triển kinh doanh và hội nhập.

Nội dung chủ yếu để Hiệp hội phản ánh với các cơ quan chính quyền lànhững vấn đề đang đặt ra trong từng lĩnh vực, ngành, địa phương như thuế, hảiquan, xuất nhập khẩu, thanh tra, kiểm tra… Chẳng hạn như những vướng mắc liênqua đến việc thanh tra kiểm tra chồng chéo hay việc hình sự hóa các quan hệ kinh tếdân sự…

Bên cạnh việc xây dựng các thị trường nhân tố sản xuất như thị trường vón,thị trường lao động, thị trường khoa học công nghệ…, thì việc tạo lập quan hệ hợptác giữa chính phủ và doanh nghiệp là hết sức cần thiết Kinh nghiệm từ các nướcchiu tác động của cuộc khủng hoảng châu sẽ cho thấy để nhanh chóng vượt quakhủng hoảng, thì yếu tố tạo sự thống nhất cao trong xã hội, hạn chế sự lo lắng trongdân chúng, huy động được sự đóng góp và đồng cam cộng khổ của từng người dân

và chính quyền để vượt qua khủng hoảng có ý nghĩa quan trọng không kém các biệnpháp kinh tế vĩ mô

1.2.2.5 Hiệp hội ngành hàng trong mối quan hề giữa cộng đồng doanh nghiệp nước ta với các tổ chức quốc tế:

Hiệp hội ngành hàng mở rộng và phát triển các mối quan hệ hợp tác quốc

tế, tham gia vào các tổ chức, diễn đàn quốc tế và khu vực để đẩy mạnh tuyên truyền

về đất nước, doanh nghiệp Việt Nam với cộng đồng quốc tế nhằm tăng cường khảnăng tiếp cận thị trường của doanh nghiệp trong nước, thúc đẩy quan hệ giao lưuthương mại giữa Việt Nam và các nước

Lãnh đạo hiệp hội phải tiến hành các thủ tục cần thiết để có thể trở thànhthành viên của các tổ chức quốc tế liên quan đến hiệp hội của mình Đồng thời, phảihiểu rõ chức năng nhiệm vụ của các tổ chức đó để có thể tranh thủ các ý kiến ủng

hộ cũng như sự giúp đỡ về thông tin, tư vấn mỗi khi quyền lợi của doanh nghiệp hộiviên bị xâm phạm trên thị trường quốc tế

Hiệp hội phải đấu tranh nhằm bảo vệ thương hiệu của hội viên trên thịtrường quốc tế mỗi khi có sự xâm phạm thương hiệu xảy ra Đồng thời ủng hộ

Trang 32

doanh nghiệp không chỉ về thông tin tư vấn mà cỏ thể về tài chính, kỹ thuật trongcác vụ kiện về bản quyền khi bị xậm phạm.

Hiệp hội ngành hàng còn làm nhiệm vụ cầu nối, chắp mối cho các quan hệlàm ăn, kinh doanh của các doanh nghiệp Hoạt động chắp mối chủ yếu thực hiệnthông qua tiếp xúc trực tiếp, qua hộp thư điện tử,qua điện thoại, qua thư giớithiệu…

Tất cả những hoạt động trên đây chứng tỏ Hiệp hội ngành hàng là cầu nốigiữa doanh nghiệp trong nước với cộng đồng quốc tế

1.2.3 Phương thức hoạt động của hiệp hội ngành hàng:

1.2.3.1 Về phương thức hoạt động:

- Hiệp hội ngành hàng không chỉ hoạt động như một cơ quan quản lý kinhdoanh, không can thiệp vào các hoạt động tự chủ của các đơn vị thành viên Bảnthân Hiệp hội không tổ chức hoạt động kinh doanh lợi nhuận, mà chỉ có thể tổ chứcmột số dịch vụ phục vụ nội bộ Hiệp hội để gây quỹ hoạt đông tự trang trải kinh phíhoặc tạo thêm phúc lợi tập thể

- Các hoạt động chung đươc huy đông lực lượng từ cá đơn vị thành viên với

sự phân công hợp lý có sự điều phối của cơ quan điều hành Hiệp hội Bộ máy giúpviệc vơ quan điều hành Hiệp hội rất gọn nhẹ, chủ yếu là thuê theo hợp đồng (baogồm chuyên gia, nhân viên)

- Mọi chủ trương của Hiệp hội ngành hàng để là thông tin qua thương lượngdân chủ, bình đẳng giữa các thành viên, phục vụ quyền lợi chung của các doanhnghiệp trong Hiệp hội, có sự nhất trí cao

- Tài chính (thu, chi kinh phí hoạt động) phải cong khai, minh bạch, có chứcdanh kiểm soát và chế độ báo cáo Phần kinh phí kết dư khong được phân chia cho

cá nhân, phải để lại quỹ để chi đúng mục đích Kinh phí đóng góp của các đơn vịthành viên được quy định trong điều lệ, cũng có thể tự nguyện đóng góp thêm Khihợp nhất, chia tách hoặc giải thể chấm dứt hoạt động cần phải kiểm kê, đánh giá tàisản và thống nhất cách sử lý

-Việc gia nhập hoặc rút ra khỏi Hiệp hội là hoàn toàn tự nguyện Khi tham

Trang 33

gia, mỗi đơn vị thành viên không hoạt động riêng trái với thỏa thuận chung ảnh hưởng đến các thành viên khác;được đảm bảo quyền tự chủ và tự chịu trách nhiệm

về kết quả kinh doanh, được bình đẳng về quyền lợi và nghĩa vụ.Các biện pháp cạnh tranh với đối tác bên ngoài cần được phối hợp

- Đại diện đơn vị thành viên là giám đốc hoặc người được ủy quyền Cơ cấuthành viên Hiệp hội do điều lệ quy định

- Các nguồn thu kinh phí của Hiệp hội ngành hàng bao gồm: Đóng góp vàoQuỹ của các đơn vị thanh viên (do Đại hội quy đinh.Tài trợ của các tổ chức và cánhân (trong nước và nước ngoài) Hỗ trợ của Nhà nước do đóng góp có hiệu qur vàocác nhiệm vụ của Nhà nước Các nguồn thu khác hợp pháo như lãi gửi tiết kiệm,dịch vụ gây quỹ…

- Cơ quan quyền lực cao nhất của Hiệp hội ngành hàng là Đại hội toàn thểđại diện các đơn vị thành viên với nhiệm kỳ 2 hoạc 3 năm Tùy quy mô hiệp hội, cóthể có Chủ tịch, Phó chủ tịch, Tổng thư ký Thành viên Ban điều hành nói chung lànhững giám đốc đơn vị thành viên kiêm nhiệm, chỉ trường hợp Hiệp hội ngành hàngquy mô toàn quốc mới có người chuyên trách (Tổng tư ký) Nói chung, mô hình tổchức cơ quan điều hành thường gọn nhẹ với số cán bộ, nhân viên giúp việc tốithiểu

1.2.3.2 Về hình thức tổ chức:

Hiệp hội được thành lập và hoạt động sau khi Đại hội các hội viên nhất tríthông qua điều lệ và được Thủ tướng Chính phủ hoặc cơ quan quản lý Nhà nướcđược Thủ tướng Chính phủ ủy quyền cho phép thành lập và phê chuẩn – tổ chứccủa hiệp hội ngành hàng gồm:

(1) Đại hội toàn thể hoặc Đại hội đại biểu hội viên của hiệp hội

(2) Hiệp hội đồng quản trị

(3) Ban kiểm tra, điều phối và hòa giải

(4) Cơ quan giúp việc hội đồng quản trị

Cơ quan thường trực Hội đồng quản trị: Chủ tịch, Phó chủ tịch thường trực,Tổng thư ký và một số ủy viên

Trang 34

-Ban kiểm tra gồm một số thành viên của Hội đồng quản trị với nhiệm kỳ 3năm Ban kiểm tra có 3 Ủy viên trong đó có 1 Trưởng ban thực hiện theo quy chếđược HĐQT thông qua Ban kiểm tra có nhiệm vụ kiểm tra tư cách địa biểu tham

dự đại hội; kiểm tra việc thực hiện theo Nghị quyết của Đại hội của Hội đồng quảntrị; trước hội nghị hàng năm trước Đại hội kiểm tra về tài chính và báo cáo kết quảkiểm tra trước Hội đồng quản trị

- Để giúp việc cho Hội đồng quản trị, hiệp hội thành lập Văn phòng của Hiệphội do Tổng thư ký hiệp hội phụ trách

1.2.4.Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệp hội ngành hàng:

1.2.3.1 Nhận thức và tiền lực kinh tế của cộng đồng doanh nghiệp

Nhận thức:

Yếu tố nhận thức có vai trò rất lớn đối tới sự hình thành và phát triển của cácHiệp hội ngành hàng Tuy các Hiệp hội có điều lệ, có quy chế hoạt động và các ràngbuộc nhất định, song nhìn chung là dựa trên cơ sở tự giác nhận thức của các doanhnghiệp Vì vậy, để các Hiệp hội hình thành và phát triển, trước hết cần phải nhậnthức đúng vai trò, tính chất và chức năng của Hiệp hội Đối với doanh nghiệp lànhững người trực tiếp sản xuất, kinh doanh và tự nguyện đứng trong hàng ngũ củahiệp hội, phải hiểu rằng Hiệp hội chính bảo vệ quyền lợi cho họ, phản ánh tâm tưnguyện vọng của hộ đối với chính quyền các cấp và đứng ra đáu tranh vì quyền lợicủa họ trước cộng đồng quốc tế Để hiệp hội mạnh và đảm nhận được các chứcnăng này họ phải có tráh nhiệm xây dựng hiệp hội, chọn những người có năng lúcđứng vào hàng ngũ lãnh đạo của Hiệp hội, phải tích cực tham gia thực hiện cácquyết định của Hội, mạnh dạn đề xuất những sáng kiến củn cố và phát triển hiệp hội

và phát triển hiệp hội và phải đóng hội phí, lệ phí đầy đủ để góp phần xây dựng hộingày càng lớn mạnh Nếu doanh nghiệp không đứng trong hang ngũ của một tổchực hiệp hội của nước mình đẻ nâng cao sức cạnh tranh của cả ngành, thì rõ ràngrất bất lợi và thường bị thua thiệt

Tiềm lực kinh tế của các doanh nghiệp thành viên

Một hiệp hội có nhiều doanh nghiệp hội viên mạnh thì sẽ gặp thuận lợi lớn

Trang 35

trong việc tổ chức triển khai các chương trình hành động của mình Các doanhnghiệp lớn bao giờ cũng có các bộ phận tiến hành các hoạt động Marketing, xúc tiếnthương mại, thông tin… Đây cũng là những nhiệm vụ quan trọng của hiệp hội, vìvậy giữa ban lãnh đạo hiệp hội và các doanh nghiệp hội viên có thể hợp tác vớinhau.

Chính các doanh nghiệp lớn mới thực sự có nhu cầu thực sự về đào tạo, tưvấn và các nhu cầu khác phù hợp với chức năng của hiệp hội Do đó khi hiệp hộitiến hành tổ chức một hoạt động nào đó thì sẽ lôi kéo đông đảo các doanh nghiệphội viên tham gia và như vậy trên cơ sở đó, các hoạt động dịch vụ có thu của hiệphội mới phát triển

và các sản phẩm hàng hóa - dịch vụ, vai trò của các hiệp hội ngành hàng mới đượccủng cố và phát huy Một số văn bản pháp lý về hiệp hội ngành hàng bắt đầu đượcban hành, nhờ đó mà các hiệp hội ngành hàng có cơ sở pháp lý để tồn tại và pháttriển

Vai trò của cơ quan quản lý đối với Hiệp hội

Hiệp hội ngành hàng ra đời và hoạt động tương đối độc lập theo nhữngnguyên tắc riêng như tự chủ, tự quản, tự chịu trách nhiệm Tuy nhiên, trong quátrình hoạt động các hiệp hội vẫn có mối quan hệ với các cơ quan chính quyền, song

đó là mối quan hệ hợp tác và hỗ trợ, các hiệp hội không chịu sự áp đặt từ phía chínhquyền

Ở nước ta, vai trò của nhà nước đối với Hiệp hội còn thể hiện ở chỗ, trongmối quan hệ này nhà nước là người quản lý Đầu mối quản lý các hiệp hội là vụ tổchức phi chính phủ - Bộ Nội vụ, đó là điều cần thiết và hợp lý Quản lý Nhà nước

Trang 36

đối với hiệp hội trong nền kinh tế thị trường đang phát triển Đồng thời, cần chốngnhững mưu toan biến hiệp hội thành một tổ chức phường, hội, chỉ vun vén lợi íchcục bộ, chống âm ưu lợi dụng hội hiệp hội của những thế lực phản động trong vàngoài nước.

Vai trò của Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI)

Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam không phải là một hiệp hộingành hàng, về thực chất là một tổ chức phi chính phủ, tính chất và nguyên tắc hoạtđộng như một hiệp hội doanh nghiệp Tuy nhiên, ở nước ta Phòng Thương mại vàCông nghiệp Việt Nam có vai trò tác động rất lớn đến hoạt động của các Hiệp hộingành hàng

Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) là một trong những tổchức có vai trò hàng đầu về hỗ trợ phát triển doanh nghiệp Được thành lập năm

1963, với chức năng "xúc tiến mậu dịch giữa Việt Nam với các nước trên thế giới",VCCI trở thành tổ chức xúc tiến thương mại đầu tiên ở nước ta Cùng với quá trìnhphát triển, chức năng của VCCI ngày càng được mở rộng Từ chỗ chỉ bó hẹp trongphạm vi xúc tiến mậu dịch quốc tế (xúc tiến ngoại thương) đến xúc tiến thương mại

- đầu tư; rồi xúc tiến kinh doanh nói chung Từ 1990, trước yêu cầu của giai đoạnphát triển mới, VCCI trở thành tổ chức độc lập, phi chính phủ và được bổ sungthêm chức năng VCCI đã thực sự trở thành tổ chức của cộng đồng doanh nghiệp -một thể chế quan trọng trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ởViệt Nam

Điều lệ VCCI xác định: VCCI là tổ chức quốc gia tập hợp và đại diện chocác hiệp hội doanh nghiệp và các doanh nghiệp mọi thành phần kinh tế đồng thời là

tổ chức xúc tiến thương mại, đầu tư Chức năng hỗ trợ phát triển doanh nghiệp củaVCCI được thể hiện ở một số nội dung dưới đây

(1) Đại diện để bảo vệ quyền lợi của cộng đồng doanh nghiệp

Một là, mở rộng liên kết, tập hợp các hiệp hội doanh nghiệp, các doanhnghiệp lớn, doanh nghiệp nhỏ và vừa trong nền kinh tế, xây dựng cộng đồng doanhnghiệp Việt Nam thống nhất, tham gia tích cực vào quá trình chủ động hội nhậpkinh tế quốc tế

Trang 37

Hai là, tạo lập kênh thông tin và đối thoại trực tiếp giữa các cơ quan chínhquyền và doanh nghiệp; tham gia tích cực vào quá trình xây dựng luật pháp, chínhsách kinh tế, tạo lập môi trường kinh doanh thuận lợi ở Việt Nam.

Ba là, bảo vệ quyền lợi chính đáng của từng doanh nghiệp, từng nhóm doanhnghiệp để góp phần quan trọng xây dựng môi trường kinh doanh lành mạnh

(2) Xúc tiến hỗ trợ kinh doanh và đầu tư

Thứ nhất, cung cấp thông tin, tư vấn cho doanh nghiệp Do có mối quan hệmật thiết với các cơ quan của Chính phủ và cộng đồng doanh nghiệp

Thứ hai, tổ chức chắp mối giới thiệu bạn hàng và các hoạt động xúc tiếnkhác

Thứ ba, tổ chức đào tạo cán bộ cho doanh nghiệp, góp phần xây dựng độingũ doanh nhân Việt Nam Đào tạo, phát triển nguồn nhân lực và đội ngũ doanhnhân Việt Nam

1.3. Kinh nghiệm quốc tế về thúc đẩy hoạt động hiệp hội ngành hàng xuất khẩu và bài học rút ra cho Việt Nam.

1.3.1 Hoạt động của một số hiệp hội các nước châu Á (Trung Quốc, Đài Loan, Thái Lan)

1.3.1.1 Hiệp hội giầy dép Đài Loan.

Tiền thân của Hiệp hội là Hội những người sản xuất dép nhựa đi trong nhà,

có 300 thành viên, được thành lập vào năm 1978, bao gồm các doanh nghiệp sảnxuất cao su và giày dép Sau vài năm Hiệp hội đã có hơn 1000 hội viên, doanh sốcủa Hiệp hội cũng tăng với mức nhẩy vọt

Bộ máy tổ chức của Hiệp hội gồm nhiều bộ phận, trong đó bộ phận dịch vụ

là quan trọng nhất bao gồm các lĩnh vực đầu tư nước ngoài, thuế, marketing quốc tế,lao động, quản lý, nghiên cứu và phát triển (R&D) Để giúp triển khai kỹ thuậttrong sản xuất giầy dép, Hiệp hội đã thành lập Trung tâm đào tạo tại Đài Trung vớidiện tích 2000 pings Trung tâm này bao gồm một nhà máy được trang bị các thiết

bị máy móc mới nhất, có các khoá đào tạo chuyên môn cao, tổ chức các khoá họchiện đại để bổ túc cho các thành viên luôn có các kiến thức mới của công nghệ giầy

Chức năng của Hiệp hội là duy trì sự hài hoà giữa các hội viên, cùng chia sẻ

Trang 38

doanh lợi bình đẳng trong hợp tác kinh doanh, nâng cấp và phát triển công nghiệpgiầy dép, góp phần phát triển nền kinh tế quốc dân Ngoài ra, Hiệp hội còn giúpchính phủ trong công tác định hướng quản lý giá, tài trợ và tham gia các cuộc hộithảo quốc tế, tổ chức các đoàn ra nước ngoài tìm hiểu, học tập để tiến kịp sự pháttriển mới nhất, khuyến khích hợp tác quốc tế và trao đổi thông tin công nghệ, cùngphát triển mới nhất, cùng phát triển mối quan hệ trong cộng đồng giày dép quốc tế

Một số hoạt động của hiệp hội là:

(1) Trợ giúp và hướng dẫn việc thành lập Trung tâm đào tạo công nghệ giàydép, đào tạo các nhà kỹ thuật chuyên môn hoá cao và nâng cao trình độ công nghệgiầy dép;

(2)Thành lập Trung tâm thông tin và lưu trữ thông tin hiện có về công nghệgiầy trong nước và nước ngoài để phục vụ các hội viên và khách hàng ngoài nước;

(3) Kiểm tra, theo dõi nguyên vật liệu cho các nhà máy và các nhà kinhdoanh giầy dép trong và ngoài nước;

(4) Tổ chức các triển lãm kiểu mẫu để giới thiệu thiết bị kiểm tra chất lượng

và hệ thống quản lý cho các hội viên;

(5) Tiến hành các hoạt động cung cấp dịch vụ như: xuất bản tin tức hàngtháng, quảng cáo giày dép

(6) Tài trợ cho công việc nâng cao uy tín về chất lượng giầy dép; ban hànhgiấy chứng nhận cho các nhà kỹ thuật cấp quốc gia trong công nghiệp giầy déptrong và ngoài nước;

Với chức năng trên, Hiệp hội đã liên tục tham gia các hội thảo quốc tế, gâydựng được nhiều cơ sở sản xuất kinh doanh giầy dép ở nước ngoài; cử nhiều đoànđến các nước thích hợp để thăm dò môi trường đầu tư đã tiến hành gặp gỡ bàn bạcvới các tổ chức hội chợ giầy dép quốc tế (Shoe tech Taipei) để các hội viên vàkhách nước ngoài ký kết những đơn hàng lớn và nhờ đó các thành viên Hiệp hội cóthể nắm được các tri thức mới nhất của kỹ nghệ giầy dép

1.3.1.2 Hiệp hội cao su Thái Lan.

Thành lập vào tháng 5 năm 1951 với tên là “Hiệp hội các nhà buôn bán cao

su Thái Lan”, Hiệp hội hoạt động như một diễn đàn của các công ty sản xuất và các

Trang 39

công ty buôn bán cao su Hiệp hội là cơ quan đại diện cho các nhà sản xuất, cáccông ty buôn bán cao su trong đàm phán với chính phủ hoặc các tổ chức nước ngoài

về lợi ích chung của các bên Ban đầu Hiệp hội có 15 thành viên và hiện nay đã cóđến 58 thành viên Hiệp hội cao su Thái Lan là thành viên thường xuyên của phòngthương mại Thái Lan Mục đích ban đầu của Hiệp hội là giải quyết các vấn để vềbuôn bán cao su khi chưa có các quy định về buôn bán sản phẩm này nhằm hạn chếviệc chạy theo mục tiêu riêng ảnh hưởng xấu đến toàn bộ ngành sản xuất Thôngthường một số công ty không thực hiện hợp đồng một cách đầy đủ và xẩy ra tranhchấp kéo dài, gây ảnh hưởng đến ngành cao su

Một số hoạt động chính của Hiệp hội cao su Thái Lan như sau:

Hiệp hội tổ chức các đoàn khảo sát, các khoá đào tạo cho thành viên, mời cácchuyên gia nước ngoài để học tập kinh nghiệm

Cung cấp dịch vụ cho các thành viên: Ngoài thông tin, Hiệp hội còn cungcấp kiến thức kỹ năng về công nghệ chế biến cao su thông qua các cuộc hội thảo

Phối hợp với chính phủ: Hiệp hội cao su Thái Lan đã phối hợp với các cơquan của Chính phủ thực hiện rất nhiều hoạt động nhằm phát triển ngành côngnghiệp này Năm 1991 Viện nghiên cứu cao su đã thành lập chợ giao dịch cao su ởtỉnh Songkhala của Thái Lan, đây là chợ đấu giá chính cho những nhà buôn bánnhỏ, ngoài ra chính phủ cũng thành lập Hội đồng kiểm soát chất lượng cao su củaThái Lan, nhằm đáp ứng được yêu cầu của thế giới

Một trong những dịch vụ khác là hoạt động marketing cho sản phẩm cao sucủa các thành viên Hiệp hội mở rất nhiều các văn phòng tiêu thụ ở các nước nhằmmục đích khuyến khích tiêu thụ cao su của Thái Lan, nhờ vậy, đã làm tăng lòng tinđối với sản phẩm cao su của Thái Lan… Hàng năm, Hiệp hội còn sắp xếp cho cácthành viên của mình tham gia vào các bữa tiệc thường niên của Tổ chức cao su quốc

tế nhằm tăng cường mối quan hệ với đối tác, đặc biệt là đối với các nước lánggiềng

Hợp tác với các tổ chức cao su quốc tế: Hiệp hội là người đóng vai trò quantrọng và là đầu mối để hợp tác với các tổ chức bên ngoài Hiện nay, Hiệp hội là

Trang 40

thành viên thường trực của Hiệp hội cao su quốc tế (IRA) Năm 1968 Tổ chức quốc

tế về chất lượng và đóng gói sản phẩm cao su đã phát hành “Sách xanh” về sảnphẩm cao su và Hiệp hội cao su Thái Lan cũng là một trong những nước đầu tiên kýkết Hiệp định này Hiệp hội cao su Thái Lan còn là thành viên của câu lạc bộ buônbán cao su ASEAN Vào năm 1992 Viện nghiên cứu cao su của các nướcInđônêxia, Malaysia, Singapore và Thái Lan đã cùng thành lập câu lạc bộ buôn báncao su nhằm củng cố mối quan hệ và thống nhất quan điểm về buôn bán cao suquốc tế

(1) Không ngừng tăng cường chất lượng và đưa sản phẩm cao su của TháiLan ra thế giới

(2) Phối với khu vực chính phủ, người trồng cao su, những người tiêu dùngtrong nước nhằm quản lý chất lượng và đảm bảo thương mại công bằng

(3) Xây dựng hệ thống tiêu thụ cao su trên khắp thế giới bằng cách phối hợpvới các tổ chức cao su quốc tế cũng như những nhà tiêu dùng cao su trên thế giới đểphát triển chất lượng nhằm đáp ứng những yêu cầu ngày càng cao của thị trường

1.3.1.3 Hiệp hội da Trung Quốc.

Hiệp hội da Trung Quốc (CLIA) thành lập năm 1988, bao gồm 1300 thànhviên Các thành viên của Hiệp hội bao gồm các nhà sản xuất, các tổ chức, các công

ty thương mại, các viện nghiên cứu cũng như các cá nhân tham gia sản xuất, chếbiến đồ da, hoá chất dùng trong ngành da, lông thú, máy sản xuất đồ da, các đồdùng bằng da và vật liệu để sản xuất giầy CLIA cung cấp dịch vụ cho mọi thànhphần trong khu vực sản xuất da

(1) Về chức năng nhiệm vụ

a Đối với doanh nghiệp thành viên

- Bảo vệ quyền lợi và lợi ích hợp pháp của các thành viên, giải quyết tranhchấp giữa các thành viên, điều phối các mối quan hệ trong lĩnh vực da

- Đào tạo nhân viên cho các doanh nghiệp bằng nhiều phương pháp khácnhau nhằm nâng cao khả năng của các doanh nghiệp Hướng dẫn và giúp đỡ cácdoanh nghiệp trong sản xuất và quản trị nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế

Ngày đăng: 17/04/2013, 22:47

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Chuyên đề “QUY HOẠCH TỔNG THỂ PHÁT TRIỂN NGÀNH DA - GIẦY VIỆT NAM ĐẾN NĂM 2010, TẦM NHÌN 2020” Sách, tạp chí
Tiêu đề: QUY HOẠCH TỔNG THỂ PHÁT TRIỂN NGÀNH DA - GIẦY VIỆT NAM ĐẾN NĂM 2010, TẦM NHÌN 2020
1. Nghị định số 88/2003/NĐ – CP của Chính phủ quy định về tổ chức; hoạt động và quản lý Hội Khác
3. Thông tư Số: 37/2009/TT-BTC Hướng dẫn về việc không thu phí chứng nhận xuất xứ hàng hoá (C/O) Khác
4. Chính Phủ - tờ trình Quốc hội ngày 17/4/2006 – Dự án Luật về Hội số 38/TTr - CP Khác
6. Trần Văn Thắng, Viện nghiên cứu Thương mại, bộ Thương mại – Hà Nội, 2005 – “vai trò của các hiệp hội ngành hàng đối với hoạt động thương mại&#34 Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2: Năng lực sản xuất theo cơ cấu sản phẩm và theo thành phần  kinh tế - HOẠT ĐỘNG  XÚC TIẾN  XUẤT KHẨU CỦA HIỆP HỘI NGÀNH HÀNG DA GIẦY XUẤT KHẨU VIỆT NAM THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP
Bảng 2 Năng lực sản xuất theo cơ cấu sản phẩm và theo thành phần kinh tế (Trang 49)
Bảng 3: Năng lực thực tế huy động qua các năm - HOẠT ĐỘNG  XÚC TIẾN  XUẤT KHẨU CỦA HIỆP HỘI NGÀNH HÀNG DA GIẦY XUẤT KHẨU VIỆT NAM THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP
Bảng 3 Năng lực thực tế huy động qua các năm (Trang 50)
Bảng 4: Đóng góp của ngành Da – Giầy Việt Nam trong kim ngạch xuất khẩu  của cả nước. - HOẠT ĐỘNG  XÚC TIẾN  XUẤT KHẨU CỦA HIỆP HỘI NGÀNH HÀNG DA GIẦY XUẤT KHẨU VIỆT NAM THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP
Bảng 4 Đóng góp của ngành Da – Giầy Việt Nam trong kim ngạch xuất khẩu của cả nước (Trang 51)
Phụ lục 2: Bảng số lượng xuất khẩu giày vào EU của một số nước Nước 2005 (đôi) % 2006 (đôi) %(+/_) 2007 (đôi) %(+/_) - HOẠT ĐỘNG  XÚC TIẾN  XUẤT KHẨU CỦA HIỆP HỘI NGÀNH HÀNG DA GIẦY XUẤT KHẨU VIỆT NAM THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP
h ụ lục 2: Bảng số lượng xuất khẩu giày vào EU của một số nước Nước 2005 (đôi) % 2006 (đôi) %(+/_) 2007 (đôi) %(+/_) (Trang 63)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w