Tiểu luận: Khả năng – hiện thực, lý luận và thực tiễn quản lý doanh nghiệp Triết học là một hình thái ý thức xã hội, là học thuyết về những nguyên tắc chung của tồn tại và nhận thức. Triết học được coi là “khoa học của mọi khoa học”, nội dung chính của nó bàn về con người và vị trí của con người trong thế giới mà họ đang sinh sống, có lẽ chính vì vậy mà triết học vừa mang tính tổng quát vừa mang tính cụ thể đối với mọi hoạt động trong xã hội cả về lý luận và thực tiễn. Cùng với sự phát triển của xã hội trong tiến trình phát triển của lịch sử loài người, các ngành khoa học nói chung và triết học nói riêng cũng có những bước phát triển mạnh mẽ và nằm trong tiến trình phát triển đó, triết học Mác Lênin ra đời như một sự tất yếu ngẫu nhiên. Không chỉ đứng trên lập trường của giai cấp công nhân (giai cấp tiến bộ nhất) để quan sát, phản ánh và lý giải về vấn đề con người và vị trí của con người trong thế giới tự nhiên cũng như mọi hiện tượng, các mối quan hệ giữa con người với con người trong đời sống kinh tế xã hội, triết học Mác – Lênin còn là sự phát triển hợp lôgíc của lịch sử tư tưởng nhân loại. Triết học Mác –Lênin là sự kế thừa có chọn lọc, là sự kết hợp thế giới quan duy vật và phép biện chứng của các nhà triết học đi trước, đồng thời phát triển nó ở một trình độ cao hơn để rồi nó không chỉ là thế giới quan của giai cấp công nhân, mà như Ăngghen khẳng định, nó còn trở thành sự cần thiết tuyệt đối, trở thành hình thức tư duy quan trọng nhất, cao nhất, thích hợp nhất với sự phát triển của khoa học. Nó đem lại cho khoa học hiện đại những chức năng có ý nghĩa phương pháp luận trong việc xem xét, luận giải bản thân sự phát triển của mình. Trong kho tàng tri thức đồ sộ của mình, xuất phát từ những vấn đề tưởng chừng là rất đơn giản như những nguyên lý, quy luật và các cặp phạm trù cơ bản … Mác, Ăngghen và Lênin đã chỉ ra con đường phát triển xã hội của nhân loại từ thấp đến cao thông qua cả lý luận và thực tiễn. Các tư tưởng đó đã được rất nhiều quốc gia trên thế giới vận dụng một cách sáng tạo trong hoạt động thực tiễn của quốc gia mình. Đối với Việt Nam chúng ta, một đất nước trải qua nhiều cuộc chiến tranh chính nghĩa để bảo vệ tổ quốc, Đảng ta luôn khẳng định lấy Chủ nghĩa Mác – Lênin nói chung, triết học Mác Lênin nói riêng làm kim chỉ nam cho mọi hành động của mình. Đảng ta đã vận dụng một cách đúng đắn, sáng tạo triết học Mác Lênin, Chủ nghĩa Mác – Lênin nên đã đưa cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. Mặc dù không đi vào các vấn đề mang tính cụ thể mà chỉ đưa ra những quan điểm, chủ trương, giải pháp một cách chung nhất về con người và các vấn đề có liên quan đến con người trên phạm vi toàn thế giới, nhưng trong lĩnh vực sản xuất nói chung triết học Mác – Lênin cũng đã chỉ ra rất nhiều vấn đề có liên quan đến công tác sản xuất và quản lý sản xuất của các doang nghiệp như: mối quan hệ giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất; các mối liên hệ phổ biến (ta cụ thể hóa trong các hoạt động sản xuất kinh doanh); chỉ ra mâu thuẫn nội tại; quy trình của sự phát triển … mà trên cơ sở đó từng doanh nghiệp có thể vận dụng một cách linh hoạt trong điều kiện cụ thể của doanh nghiệp mình. Nhận thức được vai trò cực kỳ quan trọng của triết học Mác – Lênin đối với đời sống xã hội nói chung và hoạt động cụ thể của mỗi doanh nghiệp nói riêng nên tác giả đã quyết định chọn đề tài nghiên cứu về triết học Mác – Lênin và sự vận dụng vào thực tiễn trong công tác quản lý doanh nghiệp hiện nay. Cùng với sự hiểu biết của bản thân, sự giảng dạy và hướng dẫn tận tâm của thầy giáo PGSTS. Lê Thanh Sinh, tác giả hy vọng sẽ làm rõ được những vấn đề mà hiện nay các doanh nghiệp có thể vận dụng từ lý luận của triết học Mác – Lênin nhằm nâng cao năng lực, hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh, tăng cường tính cạnh tranh trong nước và quốc tế ... Tuy nhiên do khối lượng kiến thức của triết học Mác – Lênin quá đồ sộ, pham vi nghiên cứu quá rộng trong khi điều kiện về thời gian, trình độ có hạn nên tác giả đã giới hạn đề tài nghiên cứu của mình là: “Khả năng – Hiện thực, lý luận và thực tiễn quản lý doanh nghiệp” với hy vọng sẽ có được sự hiểu biết vững chắc hơn, toàn diện hơn, đầy đủ hơn lý luận của triết học Mác – Lênin về cặp phạm trù Khả năng – Hiện thực và khả năng vận dụng vào thực tiễn quản lý của các doanh nghiệp Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.
Trang 1Môc lôc
Trang
Phần 1: Đặt Vấn đề 2
Phần 2: Lý luận chung về cặp phạm trù khả năng hiện thực 4
I Các khái niệm 4
1 Phạm trù hiện thực 4
2 Phạm trù khả năng 4
II Mối quan hệ biện chứng Khả năng – Hiện thực 5
III Một số kết luận về mặt phương pháp luận 6
Phần 3: Khả năng- Hiện thực và thực tiễn quản lý doanh nghiệp tại Việt Nam 7
Phần 4: Kết luận
13 Danh mục tài liệu tham khảo 15
Trang 2Phần 1: ĐẶT VẤN ĐỀ
Triết học là một hình thái ý thức xã hội, là học thuyết về nhữngnguyên tắc chung của tồn tại và nhận thức Triết học được coi là “khoahọc của mọi khoa học”, nội dung chính của nó bàn về con người và vịtrí của con người trong thế giới mà họ đang sinh sống, có lẽ chính vìvậy mà triết học vừa mang tính tổng quát vừa mang tính cụ thể đối vớimọi hoạt động trong xã hội cả về lý luận và thực tiễn
Cùng với sự phát triển của xã hội trong tiến trình phát triển củalịch sử loài người, các ngành khoa học nói chung và triết học nói riêngcũng có những bước phát triển mạnh mẽ và nằm trong tiến trình pháttriển đó, triết học Mác - Lênin ra đời như một sự tất yếu ngẫu nhiên.Không chỉ đứng trên lập trường của giai cấp công nhân (giai cấp tiến
bộ nhất) để quan sát, phản ánh và lý giải về vấn đề con người và vị trícủa con người trong thế giới tự nhiên cũng như mọi hiện tượng, cácmối quan hệ giữa con người với con người trong đời sống kinh tế xãhội, triết học Mác – Lênin còn là sự phát triển hợp lôgíc của lịch sử tưtưởng nhân loại Triết học Mác –Lênin là sự kế thừa có chọn lọc, là sự
Trang 3kết hợp thế giới quan duy vật và phép biện chứng của các nhà triết học
đi trước, đồng thời phát triển nó ở một trình độ cao hơn để rồi nókhông chỉ là thế giới quan của giai cấp công nhân, mà như Ăngghenkhẳng định, nó còn trở thành sự cần thiết tuyệt đối, trở thành hình thức
tư duy quan trọng nhất, cao nhất, thích hợp nhất với sự phát triển củakhoa học Nó đem lại cho khoa học hiện đại những chức năng có ýnghĩa phương pháp luận trong việc xem xét, luận giải bản thân sự pháttriển của mình
Trong kho tàng tri thức đồ sộ của mình, xuất phát từ những vấn
đề tưởng chừng là rất đơn giản như những nguyên lý, quy luật và cáccặp phạm trù cơ bản … Mác, Ăngghen và Lênin đã chỉ ra con đườngphát triển xã hội của nhân loại từ thấp đến cao thông qua cả lý luận vàthực tiễn Các tư tưởng đó đã được rất nhiều quốc gia trên thế giới vậndụng một cách sáng tạo trong hoạt động thực tiễn của quốc gia mình
Đối với Việt Nam chúng ta, một đất nước trải qua nhiều cuộcchiến tranh chính nghĩa để bảo vệ tổ quốc, Đảng ta luôn khẳng địnhlấy Chủ nghĩa Mác – Lênin nói chung, triết học Mác - Lênin nói riênglàm kim chỉ nam cho mọi hành động của mình Đảng ta đã vận dụngmột cách đúng đắn, sáng tạo triết học Mác - Lênin, Chủ nghĩa Mác –Lênin nên đã đưa cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắnglợi khác
Mặc dù không đi vào các vấn đề mang tính cụ thể mà chỉ đưa ranhững quan điểm, chủ trương, giải pháp một cách chung nhất về con
Trang 4người và các vấn đề có liên quan đến con người trên phạm vi toàn thếgiới, nhưng trong lĩnh vực sản xuất nói chung triết học Mác – Lênincũng đã chỉ ra rất nhiều vấn đề có liên quan đến công tác sản xuất vàquản lý sản xuất của các doang nghiệp như: mối quan hệ giữa lựclượng sản xuất và quan hệ sản xuất; các mối liên hệ phổ biến (ta cụ thểhóa trong các hoạt động sản xuất kinh doanh); chỉ ra mâu thuẫn nội tại;quy trình của sự phát triển … mà trên cơ sở đó từng doanh nghiệp cóthể vận dụng một cách linh hoạt trong điều kiện cụ thể của doanhnghiệp mình.
Nhận thức được vai trò cực kỳ quan trọng của triết học Mác –Lênin đối với đời sống xã hội nói chung và hoạt động cụ thể của mỗidoanh nghiệp nói riêng nên tác giả đã quyết định chọn đề tài nghiêncứu về triết học Mác – Lênin và sự vận dụng vào thực tiễn trong côngtác quản lý doanh nghiệp hiện nay Cùng với sự hiểu biết của bản thân,
sự giảng dạy và hướng dẫn tận tâm của thầy giáo PGS-TS Lê ThanhSinh, tác giả hy vọng sẽ làm rõ được những vấn đề mà hiện nay cácdoanh nghiệp có thể vận dụng từ lý luận của triết học Mác – Lêninnhằm nâng cao năng lực, hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh, tăngcường tính cạnh tranh trong nước và quốc tế Tuy nhiên do khốilượng kiến thức của triết học Mác – Lênin quá đồ sộ, pham vi nghiêncứu quá rộng trong khi điều kiện về thời gian, trình độ có hạn nên tác
giả đã giới hạn đề tài nghiên cứu của mình là: “Khả năng – Hiện thực, lý luận và thực tiễn quản lý doanh nghiệp” với hy vọng sẽ có
Trang 5được sự hiểu biết vững chắc hơn, toàn diện hơn, đầy đủ hơn lý luậncủa triết học Mác – Lênin về cặp phạm trù Khả năng – Hiện thực vàkhả năng vận dụng vào thực tiễn quản lý của các doanh nghiệp ViệtNam trong giai đoạn hiện nay.
Để hoàn thiện được đề tài nghiên cứu của mình, tác giả xin đượcgửi lời cảm ơn trân trọng tới thầy giáo PGS-TS Lê Thanh Sinh đãnhiệt tình giảng dạy, hướng dẫn, giúp đỡ cùng với sự góp ý nhiệt tìnhcủa các bạn trong lớp Cao học Khóa 17 - Đêm 5
sự xuất hiện hợp quy luật của hiện tượng này hay hiện tượng khác.Hiện thực là những cái đã có, đã ra đời, đã tồn tại
1 Phạm trù Hiện thực:
Hiện thực là phạm trù chỉ cái đã ra đời, đã xuất hiện, đã đượcthực hiện; đó là những sự vật và hiện tượng đang tồn tại một cáchkhách quan trong thực tế và cả những gì đang tồn tại một cách chủquan trong ý thức con người
Trang 6Hiện thực bao gồm cả hiện thực vật chất (hiện thực khách quan)
và hiện thực tinh thần (hiện thực chủ quan), nghĩa là cả vật chất lẫntinh thần đều tồn tại
2 Phạm trù Khả năng:
Khả năng là phạm trù dùng để chỉ cái còn là mầm mống trong sựvật và quá trình Đó là cái chỉ mới là tiền đề của khuynh hướng pháttriển và có thể ra đời khi có điều kiện thích hợp Khả năng mà tanghiên cứu là khả năng thực tế, không phải là khả năng ảo Nó khácvới: điều kiện, tiền đề, ngẫu nhiên, xác suất …
Người ta phân các khả năng thành khả năng tất nhiên và khảnăng ngẫu nhiên Bản thân các khả năng tất nhiên lại có thể phân rathành khả năng gần (hiện đã có gần đủ các điều kiện cần thiết để biếnthành hiện thực) và khả năng xa (còn phải trải qua nhiều giai đoạn tưduy) Khả năng là cái hiện đang ở trong dạng tiềm năng, nhưng sẽ biếnthành hiện thực khi cần thiết và khi có các điều kiện thích hợp; cònhiện thực là cái đang biểu hiện và đang tồn tại thực sự Khả năng là cáitồn tại khách quan, có gốc rễ ngay trong hiện thực
Ngoài ra còn nhiều cách phân loại khả năng khác như: khả năngtốt và khả năng xấu; khả năng song song tồn tại và khả năng loại trừnhau; khả năng chủ yếu và khả năng thứ yếu … Chủ nghĩa duy vậtbiện chứng xem khả năng như là tiền đề của cái mới; là xu hướng pháttriển của sự vật, quá trình Khả năng được biểu hiện trong bản thânhiện thực khách quan Trong những điều kiện thích hợp, nó sẽ trở
Trang 7thành hiện thực Hiện thực được xem như là khả năng được thực hiện.Hiện thực khách quan luôn luôn có nhiều vẻ, nhiều mặt, nhiều đặctính, thuộc tính, cho nên trong hiện thực có chứa đựng nhiều khả năngkhác nhau Mỗi khả năng lại là nhân tố biểu hiện xu hướng của sự pháttriển.
II Mối quan hệ biện chứng giữa khả năng và hiện thực
1 Khả năng và hiện thực tồn tại trong mối quan hệ chặt chẽ vớinhau, không tách rời nhau, thường xuyên chuyển hoá lẫn nhau trongquá trình phát triển của sự vật Quá trình phát triển diễn ra như sau:khả năng trở thành hiện thực, còn hiện thực đó dưới tác động củanhững nguyên nhân khác nhau lại sản sinh ra những khả năng mới.Những khả năng này trong những điều kiện thích hợp được thực hiệntrở thành hiện thực Khả năng biến thành hiện thực và hiện thực mớilại bao hàm khả năng mới của sự phát triển Đó là quá trình phát triểnliên tục của thế giới vật chất Nói một cách khác: Khả năng và Hiệnthực là hai mặt đối lập thống nhất biện chứng trong quá trình phát triểncủa sự vật
2 Trong cùng những điều kiện nhất định, ở cùng một sự vật cóthể tồn tại một số khả năng, chứ không phải chỉ có một khả năng Bởi
vì, sự vật trong cùng một lúc chứa đựng nhiều tiềm năng, nhiều mâuthuẫn khác nhau Hơn nữa, ngay bản thân mỗi khả năng cũng pháttriển và không phải là không thay đổi Nó tăng thêm hoặc giảm đi tuỳtheo trình độ phát triển của mỗi người, theo sự biến đổi của sự vật
Trang 8trong những điều kiện cụ thể Vì vậy, trong số các khả năng, khả năngnào có đầy đủ các điều kiện cần thiết thì sẽ biến thành hiện thực Đểmột khả năng nào đó biến thành hiện thực, thường cần có không chỉmột điều kiện mà là một tập hợp các điều kiện cần và đủ
3 Sự chuyển hóa Khả năng – Hiện thực:
Khả năng biến thành hiện thực là một quá trình mâu thuẫn phứctạp Không phải bao giờ khả năng cũng dễ dàng biến thành hiện thực
Sự chuyển hoá đó phải có những điều kiện nhất định Nếu có đủ điềukiện thì khả năng sẽ biến thành hiện thực, không đủ điều kiện thì khảnăng sẽ không biến thành hiện thực Khi nắm được khả năng, conngười có thể can thiệp vào tiến trình khách quan của các sự kiện và tạo
ra những điều kiện thích hợp để thúc đẩy hoặc ngăn ngừa khả năng đóbiến thành hiện thực
Điều kiện để khả năng biến thành hiện thực trong xã hội: Bêncạnh điều kiện khách quan, nhất thiết phải có nhân tố chủ quan là thựctiễn của con người Hoạt động có ý thức của con người có vai trò hếtsức to lớn trong việc biến khả năng thành hiện thực Nó có thể đẩynhanh hoặc kìm hãm quá trình biến đổi đó, có thể điều khiển cho khảnăng phát triển theo hướng này hay hướng khác bằng cách tạo ra cácđiều kiện thích ứng
Sự chuyển biến khả năng thành hiện thực diễn ra trong tự nhiênkhông giống trong xã hội Trong tự nhiên, ngoài việc con người tácđộng vào tự nhiên để biến các khả năng thành hiện thực thì cũng có
Trang 9nhiều khả năng trở thành hiện thực một cách tự phát không cần có sựtham gia của con người, mà nó hoàn toàn tuân theo các quy luật của tựnhiên.
III Một số kết luận về mặt phương pháp luận
1 Trong thực tiễn, cần dựa vào hiện thực, chứ không được dựavào khả năng (để tránh rơi vào ảo tưởng) trong việc định ra chủtrương, phương hướng hành động của mình
2 Tuy không dựa vào khả năng, nhưng cần tính đến các khảnăng (khả năng gần, xa, tất nhiên, ngẫu nhiên…) để có các phương án
dự phòng thích hợp
3 Trong lĩnh vực xã hội, cần đặc biệt chú ý phát huy nguồn lựccon người (nhân tố chủ quan) Không thấy nhân tố chủ quan (tức hoạtđộng của con người), sẽ phạm sai lầm “hữu khuynh” Nếu thổi phồngnhân tố chủ quan, bất chấp điều kiện khách quan sẽ mắc sai lầm “tảkhuynh”
Phần 3:
KHẢ NĂNG – HIỆN THỰC VÀ THỰC TIỄN QUẢN LÝ DOANH NGHIỆP TẠI VIỆT NAM
Kể từ Đại hội đảng toàn quốc lần thứ VI (năm 1986), Đảng ta đãtiến hành công cuộc đổi mới sâu rộng trong cả nước, và cho đến naysau hơn 20 năm thực hiện công cuộc đổi mới đó thì nền kinh tế ViệtNam đã có những bước tiến dài khiến cho bạn bè quốc tế phải khâm
Trang 10phục Một trong những nội dung đổi mới đó là tạo môi trường thuậnlợi để cho các doanh nghiệp được quyền tự chủ và có khả năng pháttriển đi lên vì các doanh nghiệp ngày càng có một vai trò cực kỳ quantrọng trong việc phát triển nền kinh tế nước nhà trong nỗ lực của Đảng
và Chính phủ sớm đưa nước ta ra khỏi các nước nghèo trên thế giới
Với cụ thể mỗi doanh nghiệp, mục tiêu của họ luôn là: Làm saobán được nhiều hàng do họ sản xuất ra, tăng nhanh doanh thu, tăng lợinhuận, nâng cao mức sống cho người lao động để họ có thể yên tâmphục vụ công ty, nộp đầy đủ nghĩa vụ với Nhà nước, nâng cao nănglực cạnh tranh … Để thực hiện các mục tiêu đó mỗi doanh nghiệp đều
có những biện pháp thực hiện khác nhau, có những con đường khácnhau để phát triển Và trên con đường họ chọn để đi đó thì họ cũngphải vận dụng tổng hợp nhiều khoa học khác nhau, nhiều lý luận khácnhau về phương thức quản lý doanh nghiệp; Ở trong phạm vi nghiêncứu của đề tài này chúng ta chỉ xét đến các doanh nghiệp họ đã, sẽ vànên vận dụng phạm trù Khả năng – Hiện thực như thế nào trongphương pháp quản lý doanh nghiệp để đạt được những mục tiêu mà họ
Trang 11hoạch sản xuất kinh doanh, đề ra những mục tiêu trước mắt cũng nhưlâu dài cho doanh nghiệp mình như Lênin đã chỉ ra: “Phải căn cứ vàonhững sự thật chứ không phải dựa vào những khả năng” Chẳng hạnmột công ty vốn liếng chỉ có vài chục triệu đồng thì không thể đặt ramột kế hoạch sản xuất phiêu lưu như quyết định đầu tư vào thị trườngbất động sản nhằm thu lợi nhuận khổng lồ hay tham vọng đầu tư vàonhững thị trường rộng lớn nhưng cũng đầy sức cạnh tranh như Mỹ, EU
… trong một tương lai gần Hiện thực của mỗi doanh nghiệp có vai tròrất quan trọng với chính doanh nghiệp đó trong việc tồn tại hay khôngtồn tại, phát triển hay không phát triển, vì vậy yêu cầu đặt ra là nhữngngười chủ doanh nghiệp phải thực sự nhận ra doanh nghiệp mình đang
ở đâu? Khả năng ra sao? Vị trí, vai trò của doanh nghiệp mình trong xãhội như thế nào? Tình hình các đối thủ cạnh tranh của ta ra sao? Nhucầu thị trường hiện tại và trong tương lai gần cần gì? … tránh những tưtưởng màu hồng, lúc nào cũng đánh giá cao doanh nghiệp mình hayngược lại là một tư tưởng tự ti, lúc nào cũng sợ doanh nghiệp mìnhcòn yếu và thiếu nên không dám cạnh tranh một cách sòng phẳng trênthị trường; Có như vậy doanh nghiệp đó mới có thể đề ra một kếhoạch, một mục tiêu mang tính khả thi cao, nó là môt trong nhữngnhân tố quyết định sự thành công hay thất bại của doanh nghiệp trênthương trường như Tôn Tử đã từng nói: “Biết địch, biết ta trăm trậntrăm thắng”
Trang 12Với một hiện thực như vậy: số lượng công nhân hiện có; tìnhhình trang thiết bị với số lượng và chất lượng nhất định; tình hình thịtrường đang diễn biến thực tế, … nhưng họ sẽ đối mặt với nhiều khảnăng có thể xẩy ra: tình hình không thuận lợi: giá cả đầu vào tăng cao,thị trường cạnh tranh quyết liệt bán không được hàng … dẫn đến lỗ,
nợ nần ngập đầu rồi phá sản hay các điều kiện thuận lợi hơn: giá cảđầu vào giảm, năng suất lao động tăng, chất lượng sản phẩm tốt tạođược uy tín với khách hành, sản phẩm đầu ra tiêu thụ nhanh … dẫnđến lãi lớn từ đó họ có điều kiện quan tâm chăm sóc tới đời sống củamỗi công nhân khiến họ thêm an tâm làm việc và như vậy chu kỳthành công sẽ kéo dài … Bất kỳ người chủ doanh nghiệp nào cũngmong muốn những gì thuận lợi hay những điều tốt đẹp nhất sẽ đến vớimình, vì vậy nhiệm vụ của họ là phải tìm ra lời giải thích hợp cho bàitoán mà đáp số (mục tiêu của doanh nghiệp) và các giả thiết (các yếu
tố thực tế của doanh nghiệp và môi trường kinh doanh xung quanh) đã
có sẵn để biến những khả năng tốt đẹp trở thành hiện thực trong tươnglai gần và những hiện thực trong tương lai đó sẽ lại là điều kiện, là tiền
đề để tiếp tục có những khả năng mới và những hiện thực mới tốt đẹphơn
Một trong những giải pháp của các doanh nghiệp là quản lý tốtcác yếu tố đầu vào và các yếu tố đầu ra của doanh nghiệp mình Quản
lý tốt các yếu tố đầu vào để hạ thấp giá thành, đảm bảo chất lượng sảnphẩm, đây là một yếu tố quan trọng để bảo đảm lợi nhuận và tăng tính
Trang 13cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường Quản lý tốt các yếu tốđầu ra để giảm thiểu được các chi phí bán hàng, bảo đảm nhanh thuđược tiền về để tái đầu tư phục vụ hoạt động sản xuất … Và dù ở yếu
tố nào, quy trình nào hay nội dung nào của một quá trình sản xuấttrong doanh nghiệp của họ thì hai yếu tố quan trọng bậc nhất vẫn làyếu tố con người (yếu tố quyết định) và công cụ sản xuất (yếu tố quantrọng)
Về yếu tố con người, trước hết bàn về vai trò của người lãnh đạodoanh nghiệp Trước đây kinh tế chính trị Mác – Lênin cho rằng lợinhuận (giá trị thặng dư) của mỗi doanh nghiệp là do sức lao động củanhững người công nhân trực tiếp sản xuất tạo ra, nhưng theo quanđiểm riêng của tác giả thì điều này giờ đây không còn đúng hoàn toànnữa Trong các doanh nghiệp vai trò của người lãnh đạo đang ngàymột trở nên quan trọng hơn, ông cha ta đã từng nói: “một người lobằng một kho người làm” Việc đánh giá đúng hoặc không đúng tìnhhình thực tế của doanh nghiệp mình và môi trường xung quanh cũngnhư việc dự báo chính xác hay không chính xác tình hình xã hội trongtương lai sẽ khiến cho người lãnh đạo doanh nghiệp có những quyếtđịnh hoặc đúng đắn, phù hợp với tình hình thực tế, điều đó sẽ khiếndoanh nghiệp của họ tạo ra những môi trường thuận lợi giúp cho cáckhả năng tốt có điều kiện phát triển để trở thành hiện thực và khi đódoanh nghiệp của họ có điều kiện phát triển đi lên (khi đó lợi nhuậnthu được đôi khi bắt nguồn từ những lợi thế trong kinh doanh do các