1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Giải pháp nâng cao hiệu quả huy động vốn tại Ngân hàng công thương Việt Nam - Sở GD I

60 436 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Giải pháp nâng cao hiệu quả huy động vốn tại Ngân hàng công thương Việt Nam - Sở GD I
Tác giả Nguyễn Anh Dũng
Người hướng dẫn ThS. Nguyễn Thị Bích Vượng, GS. Mai Siêu
Trường học Ngân Hàng Công Thương Việt Nam
Chuyên ngành Ngân hàng
Thể loại Chuyên đề tốt nghiệp
Định dạng
Số trang 60
Dung lượng 440,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Giải pháp nâng cao hiệu quả huy động vốn tại Ngân hàng công thương Việt Nam - Sở GD I

Trang 1

LỜI MỞ ĐẦU

Chúng ta đã bước sang thế kỷ 21, thời đại của sự phát triển công nghệ

và quá trình toàn cầu hoá Để hội nhập với nền kinh tế thế giới bất kỳ quốcgia nào cũng đòi hỏi 3 nguồn lực: nhân lực, vật lực, tài lực Hiện nay trênthế giới không chỉ những nước đang phát triển mà cả những nước phát triểnnguồn vốn đang trong tình trạng khan hiếm Theo nhận định của Ngân hàngthế giới trong 10 năm tới nhu cầu về vốn ngày càng tăng cao Việt Namđang cố gắng thúc đẩy nền kinh tế bằng chính sách công nghiệp hoá, hiệnđại hoá Để thực hiện được mục tiêu này thì vốn quyết định đến sự thànhbại thấy được nhu cầu cấp thiết của nguồn vốn Đảng ta chỉ rõ: “chính sáchtài chính quốc gia hướng vào việc tạo vốn và sử dụng vốn có hiệu quả trongtoàn xã hội, tăng nhanh sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân…” Vì vậy,tìm cách khơi mọi tiềm lực về vốn, đánh thức tiềm năng về vốn còn trôi nổingoài Ngân hàng hay còn tồn tại trong dân cư, bởi chỉ có vậy mới có thể đápứng được nhu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá

Xuất phát từ thực tế đó Em đã lựa chọn đề tài: “Giải pháp nâng cao hiệu quả huy động vốn tại Ngân hàng công thương Việt Nam - Sở GD I ”

làm chuyên đề thực tập tốt nghiệp

Nội dung chuyên đề gồm 3 chương:

Chương I: nguồn vốn và huy động nguồn vốn của Ngân hàng thương mại Chương II: thực trạng công tác huy động vốn tại Ngân hàng công

thương Việt Nam - Sở GD I

Chương III: một số giải pháp nâng cao hoạt động huy động vốn tại

Ngân hàng công thương Việt Nam - Sở GD I

Em xin chân thành cảm ơn ThS Nguyễn Thị Bích Vượng và GS Mai Siêu đã tận tình hướng dẫn em trong thời gian thực tập vừa qua Đồng thời

em xin chân thành cảm ơn các cán bộ chi nhánh Ngân hàng công thươngViệt Nam - Sở GD I đã tạo điều kiện giúp đỡ em trong suốt thời gian thựctập tại chi nhánh

Trang 2

CHƯƠNG I: NGUỒN VỐN VÀ HUY ĐỘNG NGUỒN VỐN

NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

I NGUỒN VỐN NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

1.1 Nguồn vốn trong hoạt động Ngân hàng thương mại

Đối với bất kỳ một chủ thể nào trong nền kinh tế, khi nhu cầu đầu tư để

kỳ vọng tìm kiếm lợi nhuận đều phải có nguồn tài chính nhất định Vốnphản ánh nguồn lực tài chính được đầu tư vào hoạt động sản xuất hay kinhdoanh Ngân hàng thương mại là một doanh nghiệp đặc biệt, hoạt động kinhdoanh trên lĩnh vực tiền tệ Do vậy, nguồn vốn trong hoạt động Ngân hàngthương mại có những đặc điểm khác biệt với các doanh nghiệp hoạt độngtrong lĩnh vực khác khi một Ngân hàng thương mại muốn tiến hành hoạtđộng nhất thiết phải có hai loại vốn đó là: vốn chủ sở hữu và vốn huy động.Vốn chủ sở hữu đảm bảo tính pháp lý của Ngân hàng thương mại đối vớiNgân hàng nhà nước, và vốn huy động giúp cho Ngân hàng thương mại cóthể hoạt động và sinh lời

1.1.1 Khái niệm về nguồn vốn

Nguồn vốn là tất cả những nguồn tài chính mà Ngân hàng thương mạiphải có và có được để tiến hành hoạt động kinh doanh

Nguồn vốn Ngân hàng là điều kiện ban đầu để thành lập Ngân hàng, tàitrợ cho việc xây trụ sở Ngân hàng, mua sắm trang thiết bị

1.1.2 Tầm quan trọng của nguồn vốn trong hoạt động của Ngân hàng thương mại

Nguồn vốn là điều kiện bắt buộc khi thành lập Ngân hàng và tiến hànhhoạt động kinh doanh

Khi thành lập một Ngân hàng thương mại chủ Ngân hàng phải đảm bảođầy đủ các điều kiện mang tính pháp lý, thủ tục để được phép hoạt động

Trang 3

Hiện nay theo các văn bản quy định thì tuỳ theo Ngân hàng thương mạihoạt động theo mô hình nào thì nguồn vốn ban đầu có tính chất khác nhau.Ngân hàng thương mại quốc doanh nguồn vốn do nhà nước đầu tư, Ngânhàng thương mại cổ phần do các cổ đông đóng góp vốn… tuy nhiên dù làloại hình nào thì cũng phải đáp ứng được yêu cầu tối thiểu mà Ngân hàngnhà nước đề ra và giám sát

Ngoài trang bị kỹ thuật, cơ sở hạ tầng các Ngân hàng thương mại cònphải nộp một khoản tiền dự trữ bắt buộc tại Ngân hàng nhà nước Thông qua

số lượng dự trữ này Ngân hàng nhà nước có thể điều tiết vĩ mô cho cácNgân hàng thương mại Để đáp ứng được nhu cầu đó điều không thể thiếuđược đó là vốn

Các Ngân hàng thương mại dù có hoạt động tổ chức theo mô hình nàothì cũng mang một hoạt động có tính chất tổng quát nhất đó là hoạt động: “

đi vay để cho vay” Khi Ngân hàng thương mại muốn tài trợ cho các dự án,đầu tư trong nền kinh tế thì vốn do chính Ngân hàng có là không đủ Vì vậynhu cầu vay của Ngân hàng đối với các chủ thể khác trong nền kinh tế lànhu cầu không thể thay đổi, nghĩa là Ngân hàng thương mại vay nền kinh tếvới lãi suất i và khi tài trợ với lãi suất i’ theo nguyên tắc i’> i Như vậy nếuNgân hàng thương mại không thể huy động được vốn nghĩa là không có vốnthì sẽ không thể thực hiện được việc tài trợ tìm kiếm lợi nhuận Ngân hàng

sẽ phải đóng cửa và sụp đổ Trong giai đoạn phát triển kinh tế mạnh nhưhiện nay, phong trào toàn cầu hoá đang phát triển một cách nhanh chóng thìhoạt động trao đổi kinh tế ngày càng nhiều, điều đó kéo theo sự ra đời củahàng loạt các dự án kinh tế kỹ thuật cần được các Ngân hàng thương mại tàitrợ vốn

Sự phát triển nhanh về công nghệ, đặc biệt là công nghệ tin học đãkhiến cho quá trình huy động vốn của Ngân hàng thương mại ngày càng đadạng Đó là sự ra đời của thị trường chứng khoán, dịch vụ liên Ngân hàng,

Trang 4

và thanh toán thẻ… Các Ngân hàng có thể tìm được nhiều nguồn vốn huyđộng hơn nhưng lại bị cạnh tranh gay gắt bởi các Ngân hàng thương mạikhác do vậy nhu cầu về vốn để mở rộng hoạt động, cải tiến công nghệ, cơ

sở hạ tầng… Các Ngân hàng thương mại có nguồn vốn càng lớn thì càng cólợi thế về uy tín và chính sách khuyến khích khách hàng tốt hơn

Tóm lại, nguồn vốn là điều kiện không thể thiếu được để hình thành cácNgân hàng thương mại và hoạt động một cách tích cực các Ngân hàngthương mại

1.2 Cơ cấu nguồn vốn Ngân hàng thương mại

1.2.1 Vốn tự có

Vốn tự có của Ngân hàng thương mại là những giá trị tiền tệ do Ngânhàng tạo lập được, thuộc sở hữu của Ngân hàng số này chiếm tỷ trọng nhỏtrong tổng số vốn của Ngân hàng nhưng lại là điều kiện bắt buộc mang tínhchất pháp lý để thành lập, hoạt động Ngân hàng nguồn vốn tự có của Ngânhàng bao gồm

1.2.1.1 Nguồn vốn hình thành ban đầu

Tuỳ theo tính chất của mỗi Ngân hàng mà nguồn gốc hình thành làkhác nhau Ngân hàng thương mại quốc doanh thuộc sở hữu nhà nước, donhà nước cấp vốn Ngân hàng cổ phần do các cổ đông đóng góp thông quahình thức mua cổ phần hoặc cổ phiếu Ngân hàng liên doanh do các bên liênquan đóng góp Ngân hàng tư nhân do vốn của chính người đứng ra thànhlập Ngân hàng

1.2.1.2 Nguồn vốn bổ sung trong quá trình hoạt động

Trong quá trình hoạt động kinh doanh của Ngân hàng Ngân hàng ratăng vốn của chủ theo nhiều phương pháp khác nhau tuỳ thuộc vào điều kiện

cụ thể

Trang 5

- Nguồn từ lợi nhuận: trong điều kiện thu nhập ròng lớn hơn 0, chủNgân hàng có xu hướng ra tăng vốn bằng cách chuyển một phần thu nhậpròng thành vốn đầu tư tỉ lệ tích luỹ tuỳ thuộc vào cân nhắc của chủ Ngânhàng về tích luỹ và tiêu dùng Những Ngân hàng lâu năm, thu nhập rònglớn, nguồn lợi nhuận tích luỹ sẽ rất cao so với những Ngân hàng mới hìnhthành Nguồn vốn bổ sung từ phát hành thêm cổ phiếu, nguồn vốn cấp thêm,góp thêm… Để mở rộng quy mô hoạt động trang bị thêm cơ sở hạ tầnghoặc đáp ứng nhu cầu về tỉ lệ dự trữ bắt buộc do Ngân hàng nhà nước yêucầu Các hình thức huy động này không thường xuyên nhưng lại giúp choNgân hàng có được lượng vốn chủ sở hữu lớn vào lúc cần thiết.

1.2.1.3 Các quỹ

Hoạt động của Ngân hàng thương mại bao gồm rất nhiều quỹ Mỗi quỹ

có một mục đích riêng trước tiên là quỹ dự phòng tổn thất, quỹ này đượctrích lập hàng năm, được tích luỹ lại qua các năm nhằm bù đắp những tổnthất có thể xảy ra Quỹ bảo toàn nguồn vốn nhằm bù đắp những hao mòncủa vốn dưới tác động của lạm phát quỹ thặng dư là phần đánh giá lại tàisản của Ngân hàng và chênh lệch giữa thị giá và mệnh giá cổ phiếu khi pháthành cổ phiếu mới Tuỳ theo quy định cụ thể của từng nước, các Ngân hàng

có thể có quỹ phúc lợi, quỹ khen thưởng, quỹ giám đốc…

Các quỹ Ngân hàng thuộc sở hữu của chủ Ngân hàng nguồn hình thànhcác quỹ này là từ thu nhập của Ngân hàng, tuy nhiên khả năng sử dụng cácquỹ này vào hoạt động kinh doanh còn tuỳ thuộc vào mục đích sử dụng củaquỹ

1.2.1.4 Nguồn vay nợ có thể chuyển đổi thành cổ phần

Các khoản vay trung và dài hạn của Ngân hàng thương mại có khả năngchuyển đổi vốn cổ phần có thể được coi là một bộ phận vốn sở hữu củaNgân hàng Vốn bổ sung do nguồn này có một số đặc điểm như: sử dụng lâu

Trang 6

dài, có thể đầu tư vào nhà cửa đất đai và có thể không phải hoàn trả khi đếnhạn.

1.2.2 Vốn huy động

Vốn huy động là nguồn vốn quan trọng nhất trong hoạt động của Ngânhàng thương mại Một Ngân hàng thương mại có thể huy động vốn theonhiều phương thức khác nhau như: huy động tiền gửi không kỳ hạn, có kỳhạn, phát hành cổ phiếu, trái phiếu… Tuỳ theo nhiều môi trường khác nhaunhư: trong nước, nước ngoài, các tổ chức cá nhân… bây giờ chúng ta xemxét kỹ các hoạt động huy động vốn của Ngân hàng thương mại Các Ngânhàng thương mại huy động vốn chủ yếu bằng hai phương pháp sau: huyđộng tiền gửi và huy động qua nguồn vay

Hoạt động huy động vốn của Ngân hàng thương mại bằng hình thứchuy động tiền gửi Để huy động nguồn vốn nhàn rỗi trong các tổ chức kinh

tế xã hội, các tầng lớp dân cư Ngân hàng thương mại đưa ra nhiều hình tháihuy động tiền gửi khác nhau

1.2.2.1 Tiền gửi thanh toán

Đây là tiền gửi của các cá nhân, tổ chức doanh nghiệp gửi vào Ngânhàng nhờ Ngân hàng giữ hộ và trả hộ Trong phạm vi số dư cho phép cácnhu cầu về chi trả của cá nhân doanh nghiệp đều được Ngân hàng thực hiện.Ngược lại các khoản thu nhập của cá nhân doanh nghiệp đều có thể đượcNgân hàng nhập thêm vào tài khoản tiền gửi thanh toán nói chung đều cómức lãi suất rất thấp do đặc điểm không ổn định của nguồn vốn nên cácNgân hàng thương mại không thể sử dụng nguồn tiền gửi thanh toán để chovay Tuy nhiên, một số Ngân hàng sử dụng các hình thức biến tướng củaloại hình tiền gửi này để nâng mức lãi suất nhằm cạnh tranh với các Ngânhàng thương mại khác

1.2.2.2 Tiền gửi có kỳ hạn của các tổ chức xã hội doanh nghiệp

Trang 7

Nhiều khoản thu bằng tiền của doanh nghiệp và các tổ chức xã hội sẽđược chi trả sau một thời gian xác định Tiền gửi thanh toán tuy rất thuậntiện cho hoạt động thanh toán xong lãi suất lại rất thấp Để đáp ứng nhu cầutăng thu của người gửi tiền Ngân hàng thương mại đưa ra hình thức tiền gửi

có kỳ hạn người gửi không được sử dụng các hình thức thanh toán đối vớitiền gửi tiền gửi thanh toán để áp dụng với loại tiền gửi này nếu cần chitiêu, người gửi phải đến Ngân hàng để rút tiền ra Tuy không thuận lợi chongười tiêu dùng bằng phương pháp tiền gửi không kỳ hạn song loại hình nàyđược hưởng mức lãi suất cao hơn, tuỳ theo thời gian của kỳ hạn

1.2.2.3 Tiền gửi tiết kiệm dân cư

Các tầng lớp dân cư đều có các khoản thu nhập tạm thời chưa sử dụng.Trong điều kiện có khả năng tiếp cận với các Ngân hàng, họ đều có thể gửitiết kiệm, đặc biệt là nhu cầu bảo toàn vốn Nhằm thu hút ngày càng nhiềutiền tiết kiệm, các Ngân hàng đều cố gắng khuyến khích dân cư thay đổi thóiquen giữ tiền mặt và vàng tại nhà bằng cách mở rộng mạng lưới huy động,đưa ra các hình thức huy động đa dạng và hình thức cạnh tranh hấp dẫn (ví

dụ như tiền gửi với các kỳ hạn khác nhau, tiết kiệm bằng ngoại tệ, bằngvàng….) Ngân hàng có thể chỉ mở cho mỗi người tiết kiệm nhiều chuyênmục tiết kiệm (hoặc là sổ tiết kiệm) cho mỗi kỳ hạn và cho mỗi lần gửi khácnhau Sổ tiết kiệm này không thể dùng để thanh toán tiền hàng và dịch vụsong có thể để chấp nhận để vay vốn nếu được cho phép

1.2.2.4 Tiền gửi tại các Ngân hàng khác.

Trong hoạt động của các Ngân hàng thương mại họ luôn cạnh tranh vớinhau quyết liệt nhưng lại có mối quan hệ thân thiết với nhau Vì các Ngânhàng thương mại có thể sẽ chung các khách hàng là các doanh nghiệp, tổchức kinh tế khác… do vậy Ngân hàng thương mại thường xuyên phải cócác tài khoản tại Ngân hàng khác, khi cần đến Ngân hàng thương mại chỉthực hiện thanh toán qua hệ thống liên Ngân hàng Bên cạnh các hình thức

Trang 8

huy động vốn bằng tiền gửi Ngân hàng thương mại còn thực hiện hình thứchuy động khác đó là huy động qua các nguồn vay Các Ngân hàng thươngmại thường vay của một số chủ thể sau:

1.2.2.5 Vay Ngân hàng nhà nước.

Đây là khoản vay nhằm giải quyết nhu cầu cấp bách trong chi trả củaNgân hàng thương mại trong trường hợp thiếu hụt dự trữ (thiếu dự trữ bắtbuộc, dự trữ thanh toán) các Ngân hàng thương mại thường vay Ngân hàngnhà nước Hình thức cho vay chủ yếu của Ngân hàng nhà nước là tái chiếtkhấu (tái cấp vốn) Các thương phiếu đã được các Ngân hàng thương mạichiết khấu (hoặc tái chiết khấu) trở thành tài sản của họ Khi cần tiền Ngânhàng mang những thương phiếu này để tái chiết khấu tại Ngân hàng nhànước Nghiệp vụ này làm thương phiếu của Ngân hàng giảm đi nhưng dự trữ(tiền mặt hoặc tiền gửi tại Ngân hàng nhà nước) tăng lên Ngân hàng nhànước điều hành vay mượn một cách chặt chẽ, Ngân hàng thương mại phảithực hiện các điều kiện đảm bảo và kiểm soát nhất định Thông thườngNgân hàng nhà nước chỉ tái chiết khấu cho những thương phiếu có chấtlượng (thời hạn đáo hạn ngắn) phù hợp với mục tiêu của Ngân hàng nhànước trong từng thời kỳ Trong điều kiện chưa có thương phiếu, Ngân hàngnhà nước cho Ngân hàng thương mại vay dưới hình thức tái cấp vốn theohạn mức tín dụng nhất định

1.2.2.6 Vay các tổ chức tín dụng khác

Đây là nguồn vốn các Ngân hàng thương mại vay mượn lẫn nhau vàvay của các tổ chức tín dụng khác trên thị trường liên Ngân hàng các Ngânhàng đang có dự trữ vượt yêu cầu do có kết dư gia tăng bất ngờ về cáckhoản tiền huy động hoặc giảm cho vay sẽ có thể sẵn lòng cho các Ngânhàng vay để tìm kiếm lãi suất cao hơn ngược lại Ngân hàng đang thiếu hụt

dự trữ có nhu cầu vay mượn tức thời để đảm bảo khả năng thanh khoản.Như vậy nguồn vay mượn từ các Ngân hàng khác để đáp ứng nhu cầu dự trữ

Trang 9

và chi trả cấp bách Trng nhiều trường hợp nguồn này thay thế cho nguồnvay của Ngân hàng nhà nước Quá trình vay mượn của các Ngân hàng vớinhau rất đơn giản và thuận tiện Ngân hàng vay chỉ cần liên hệ trực tiếp tớiNgân hàng cho vay hoặc thông qua Ngân hàng đại lý Khoản vay có thểkhông cần đảm bảo, hoặc phải đảm bảo bằng các chứng khoán của kho bạc.kết quả dự trữ của Ngân hàng cho vay giảm đi và Ngân hàng đi vay tăng lên.

1.2.2.7 Vay trên thị trường vốn

Giống như các doanh nghiệp khác, các Ngân hàng thương mại vaymượn bằng cách phát hành giấy nợ (kỳ phiếu, tín phiếu, trái phiếu) trên thịtrường vốn Rất nhiều Ngân hàng, thương phiếu, nguồn tiền gửi trung và dàihạn không đáp ứng nhu cầu cho vay trung va dài hạn do vậy, các khoản vaytrung và dài hạn nhằm bổ sung cho các nguồn tiền gửi, đáp ứng cho nhu cầuvay và đầu tư Thông thường đây là khoản vay không có đảm bảo NhữngNgân hàng có uy tín hoặc trả lãi suất cao sẽ vay mượn được nhiều hơn, cácNgân hàng thương mại nhỏ thường khó vay trực tiếp bằng cách này họthường phải vay vốn thông qua một Ngân hàng đại lý hoặc được đảm bảocủa các tổ chức đủ thẩm quyền Khả năng vay mượn của Ngân hàng còn phụthuộc vào trình độ phát triển của thị trường tài chính, tạo khả năng chuyểnđổi cho các công cụ nợ dài hạn của Ngân hàng nghiệp vụ vay mượn tươngđối phức tạp Ngân hàng cần nghiên cứu thị trường để quyết định quy mômệnh giá, lãi suất và thời hạn vay mượn thích hợp Các vấn đề chuyểnnhượng, điều chỉnh lãi suất, bảo quản hộ… cũng được các Ngân hàng quantâm

1.2.2.8 Các nguồn vốn khác.

Bên cạnh hai hình thức huy động vốn chính đó là huy động và tiền vay.Nguồn vốn của Ngân hàng thương mại còn có thể được bổ sung bằng một sốnguồn sau đây

Trang 10

Nguồn uỷ thác: Ngân hàng thương mại thực hiện các dịch vụ uỷ thácnhư uỷ thác cho vay, uỷ thác đầu tư, uỷ thác cấp phát… các hoạt động nàytạo nên nguồn uỷ thác khác nhau tại Ngân hàng ví dụ, Ngân hàng côngthương Việt Nam - Sở GD I cho vay uỷ thác hộ cho nhà nước đối với một

dự án trồng rừng đầu nguồn với ngân sách hoặc nguồn ODA Như vậy, vốnđược chuyển về Ngân hàng công thương Việt Nam - Sở GD I từ đó chuyểnđến địa điểm xác định từ trước Nguồn uỷ thác sẽ làm tăng nguồn vốn củaNgân hàng

Nguồn trong thanh toán: các hoạt động thanh toán không dùng tiền mặt

có thể hình thành nguồn trong thanh toán (sec trong quá trình chi trả, tiền kýquỹ để mở LC…) Những Ngân hàng này là Ngân hàng đầu mối đồng tài trợ

có kết số dư từ Ngân hàng thành viên chuyển về để thực hiện cho vay.Ngoài ra còn có thể là các khoản lương, thuế chưa trả

II CÔNG TÁC HUY ĐỘNG VỐN NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

2.1 Sự cần thiết khách quan của công tác huy động vốn

2.1.1 Khái niệm chung về huy động vốn.

Huy động vốn là một hoạt động tín dụng giữa hai bên trong đó chủthể thứ nhất là các Ngân hàng thương mại đóng vai trò là người đi vay Chủthể thứ hai là tất cả các thành phần kinh tế trong xã hội với vai trò là ngườicho vay

Như vậy hoạt động huy động vốn của các Ngân hàng thương mại làhoạt động vay mượn từ nền kinh tế thông qua chính sách lãi suất

Việc huy động vốn của Ngân hàng thương mại có thể theo nhiềuphương pháp khác nhau, thông qua nhiều kênh dẫn vốn Trong quá trình huyđộng các Ngân hàng thương mại lựa chọn những hình thức phù hợp vớiNgân hàng của mình để huy động ví dụ, Ngân hàng nằm trên địa bàn nhiềudân cư là các cán bộ công nhân viên có thể huy động thông qua tiền gửi tiết

Trang 11

kiệm và tiền gửi thanh toán Mặt khác Ngân hàng thuộc địa bàn có nhiềunhà mày doanh nghiệp thì phát huy bằng phương pháp huy động tiền gửikhông kỳ hạn Tóm lại, huy động vốn tại Ngân hàng thương mại có rất nhiềuhình thức đa dạng, thông qua nhiều kênh dẫn vốn khác nhau Nhưng đềumang cùng một bản chất là vay – mượn, đồng thời là nguyên tắc trả lãi.Tuỳ theo phương pháp huy động theo hình thức như: tiền gửi haynguồn vay Theo thời gian huy động: ngắn hạn hay dài hạn Ngân hàng sẽ cónhững mức lãi suất khác nhau Lãi suất huy động vốn ngắn hạn thường thấp,Ngân hàng phải trả lãi cao hơn cho lượng vốn trung hạn và dài hạn hiện naycác Ngân hàng thương mại Việt Nam đang hướng tới mục tiêu huy độngđược nhiều hơn lượng vốn trung hạn và dài hạn

Khi Ngân hàng thương mại huy động vốn trung hạn và dài hạn họ sẽphải trả mức lãi suất cao hơn nhưng nguồn huy động này mang tính chất ổnđịnh, đảm bảo cho các hoạt động tài trợ của Ngân hàng

2.1.2 Tầm quan trọng của huy động vốn ở các Ngân hàng thương mại

Ở mục 1 chưong 1 nghiên cứu khái niệm về nguồn vốn và tầm quantrọng của nguồn vốn trong hoạt động của các Ngân hàng thương mại thôngqua các vấn đề đã nghiên cứu chúng ta thấy công tác huy động vốn của cácNgân hàng thương mại có những vai trò hết sức quan trọng Cụ thể:

2.1.2.1 Điều kiện không thể thiếu để tiến hành hoạt động Ngân hàng

Vốn huy động là công cụ chính sách của các Ngân hàng thương mại, nó

có tỷ trọng lớn nhất trong tổng nguồn vốn của Ngân hàng, bất cứ một Ngânhàng thương mại nào khi hoạt động kinh doanh đều có mục đích chung làtìm kiếm lợi nhuận và sự tăng trưởng không ngừng của nguồn vốn Vớinguồn vốn lớn và có sự hợp lý trong chính sách Ngân hàng có thể cung cấpcác hình thức tín dụng và dịch vụ Ngân hàng tốt nhất trong khả năng củamình cho khách hàng nguồn vốn cũng là yếu tố thu hút vô hình ảnh hưởng

Trang 12

đến tâm lý khách hàng Một chức năng quan trọng cũng là nguyên tắc hoạtđộng chung của các Ngân hàng thương mại đó là đi vay để cho vay, cùngvới công tác sử dụng vốn, công tác huy động vốn là nghiệp vụ hết sức quantrọng bao phủ toàn bộ hoạt động của Ngân hàng có thể nói công tác huyđộng vốn là yếu tố hoạt động Ngân hàng đồng thời cũng có thể gây lên sự

đổ bể của Ngân hàng

Ngày nay, các Ngân hàng thương mại không ngừng mở rộng các hìnhthức huy động thông qua nhiều chiến lược và lãi suất ngày càng cao để cóthể huy động tốt hơn, các Ngân hàng thương mại luôn luôn đặt vai trò củacông tác huy động vốn lên hàng đầu

2.1.2.2 Huy động vốn làm thay đổi bộ mặt Ngân hàng thương mại

Để tiến hành hoạt động Ngân hàng thương mại điều đầu tiên là vấn đề

về vốn Không có nguồn vốn, không huy động được vốn các Ngân hàngthương mại buộc phải đóng cửa ở đây chúng ta còn xét đến một khía cạnhkhác đó là tác động thúc đẩy sự phát triển của Ngân hàng thông qua các hìnhthức huy động vốn Trong giai đoạn hiện nay nền kinh tế đất nước đang có

sự thay đổi từng ngày, hàng loạt những doanh nghiệp ra đời song song vớicác chương trình kinh tế lớn từ thành phố đến nông thôn Để đáp ứng đượcquá trình này đòi hỏi phải có nguồn tài trợ rất lớn từ phía Ngân hàng khiNgân hàng thương mại có chính sách huy động đạt hiệu quả cao thì lượngvốn dồi dào từ đó tài trợ cho các hoạt động của nền kinh tế một cách dễdàng hơn

Trong quá trình đổi mới kinh tế, những thủ tục Ngân hàng ngày cànggiảm bớt sẽ tạo điều kiện cho khách hàng và khi các khách hàng quan hệ vớiNgân hàng thấy được những tiện ích về cơ chế, lãi suất, thời gian vay vốn…

sẽ là bạn đường lâu dài cho Ngân hàng Hoạt động tài trợ của Ngân hàng thulợi nhuận thông qua tỷ lệ chênh lệch lãi suất Do vậy thu hút nhiều vốn, chovay càng nhiều Ngân hàng càng tìm kiếm được nhiều lợi nhuận Như vậy

Trang 13

lượng vốn huy động được của Ngân hàng càng nhiều thì quy mô hay bộ mặtcủa Ngân hàng càng lớn và tín nhiệm

III MỘT SỐ HÌNH THỨC HUY ĐỘNG VỐN TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM HIỆN NAY

2.1 Huy động vốn thông qua hoạt động tiền gửi

Tiền gửi của các tổ chức kinh tế, dân cư tại các Ngân hàng thương mạiđược chia làm hai loại hình đó là: tiền gửi không kỳ hạn và tiền gửi có kỳhạn

 Tiền gửi không kỳ hạn: là các khoản nằm trong tài khoản của kháchhàng dùng để thanh toán cho đối tác loại hình này thường biến động, không

ổn định Ngân hàng không thể dùng làm nguồn vốn để cho vay Lãi suất củakhoản tiền gửi này rất thấp

 Tiền gửi có kỳ hạn: được chia ra làm 3 loại hình khác nhau đó là:

- Ngắn hạn: thời hạn 3 tháng,6tháng, 9 tháng và 12 tháng nguồn vốnnày kém ổn định Ngân hàng có thể dùng để cho vay các dự án ngắn hạn lãisuất tương đối thấp

- Trung hạn và dài hạn: thời hạn lớn hơn 1 năm, có thể đến 30 năm.nguồn vốn này rất ổn định, đây là mục tiêu huy động của các Ngân hàngthương mại do có tính ổn định nên lãi suất của loại hình này thường rất cao

2.2 Huy động thông qua phát hành kỳ phiếu, trái phiếu Ngân hàng

IV CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN CÔNG TÁC HUY ĐỘNG VỐN CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

4.1 Nguyên nhân khách quan

Công tác huy động vốn nói riêng và hoạt động Ngân hàng thương mạinói chung có quan hệ gắn bó với hầu hết các thành phần kinh tế trong xãhội Do vậy, bất cứ một sự xáo động nào của nền kinh tế đều dẫn đến những

Trang 14

ảnh hưởng của Ngân hàng thương mại, cụ thể là một số nguyên nhân kháchquan sau:

 Tính ổn định của nền kinh tế: tình hình huy động vốn của các Ngânhàng thương mại phụ thuộc vào xu hướng vận động xã hội Trong giai đoạnnền kinh tế khuyến khích đầu tư thì nhu cầu về vốn là rất nhiều, tuy nhiêncông tác huy động vốn lại gặp nhiều khó khăn ngược lại trong nền kinh tế

có xu hướng gia tăng tiết kiệm, thu hẹp sản xuất thì nhu cầu huy động vốnlại trở nên dễ dàng hơn như vậy, đây là xu hướng chung của cả nền kinh tế

xã hội Trong trường hợp này các Ngân hàng thương mại huy động vốn luônluôn thông qua mức lãi suất hợp lý để khuyến khích tiền gửi tại Ngân hànghay vay vốn tại Ngân hàng

 Cơ chế chính sách xã hội: nền kinh tế đất nước ta là nền kinh tế thịtrường có sự điều tiết vĩ mô của nhà nước chính vì vậy, khi nhà nước đưa rabất kỳ một chính sách kinh tế, chính trị hay xã hội nào đều ảnh hưởng trựctiếp đến chi phí về lãi suất, tâm lý khách hàng

Ví dụ: khi nhà nước đưa ra văn bản quy định giảm mức lãi suất huy độngtại các Ngân hàng thương mại như vậy tất cả các chi nhánh Ngân hàngtrong hệ thống Ngân hàng thương mại đều đồng loạt hạ mức lãi suất, điềunày khiến tâm lý chung không muốn gửi tiền tại Ngân hàng để tìm kiếm lợinhuận Những nguồn vốn huy động ngắn hạn cũng bị ảnh hưởng, tuy nhiênnguồn vốn chung và dài hạn sẽ rất khó huy động Ngược lại khi nhà nướcđưa ra một văn bản quy định mức tăng lãi suất huy động, tìm kiếm nguồnvốn đầu tư, mở rộng sản xuất xã hội hay những chương trình kinh tế mới.Văn bản này sẽ dẫn đến quyết định thay đổi lãi suất hàng loạt tại Ngân hàngthương mại Người dân, các tổ chức kinh tế, xã hội sẽ có xu hướng gửi tiềnvào Ngân hàng nhiều hơn để tìm kiếm lợi nhuận

Trang 15

Mặt khác môi trường văn hoá, tính chất chính trị tại địa bàn Ngân hànghoạt động hay của toàn xã hội cũng ảnh hưởng lớn đến công tác huy độngvốn

Ví dụ: Ngân hàng nằm trên địa bàn miền núi dân cư thưa thớt, đặc biệt làdân tộc ít người Tại đây dân cư thường lạc hậu, cuộc sống khó khăn, nhànước luôn phải hỗ trợ về mặt kinh tế Như vậy nguồn vốn huy động từ dân

cư sẽ không đáng kể Nguồn vốn chủ yếu dựa vào các tổ chức xã hội trong

và ngoài nước hay vốn của chính phủ chuyển về để phát triển vốn cho ngườinghèo Ngược lại khi Ngân hàng nằm trên địa bàn thành phố lớn, nhiều nhàmáy xí nghiệp và dân cư đông đúc lại có những thuận lợi lớn để huy độngnguồn vốn trong dân cư

Nói chung cơ chế, chính sách xã hội có ảnh hưởng trực tiếp đến hoạtđộng của Ngân hàng thương mại nói chung và hoạt động huy động vốn nóiriêng một cơ chế thoáng về văn bản pháp lý, chính sách, chính trị ổn định,môi trường dân cư tốt là thuận lợi không nhỏ cho hoạt động của các Ngânhàng thương mại hiện nay Để đạt được tính tích cực trong công tác huyđộng vốn, đặc biệt là huy động vốn trung và dài hạn đòi hỏi nhà nước phải

có chính sách pháp lý một cách chặt chẽ và ổn định giúp cho khách hàng,Ngân hàng tiếp cận dễ dàng tin tưởng nhau

 Yếu tố thiên nhiên: trong các hoạt động của các Ngân hàng thươngmại có một nhân tố luôn được xác định trong tính chất rủi ro, đó là: yếu tốthiên nhiên Có thể nói đây là nguyên nhân bất khả kháng đối với mỗi Ngânhàng Khi Ngân hàng tiến hành tài trợ cho một chương trình kinh tế, tuynhiên do các yếu tố thiên tai như bão lũ, cháy, nổ… dẫn đến khách hàng màNgân hàng tài trợ mất khả năng thanh toán cho Ngân hàng

Ví dụ: Ngân hàng đang nằm trong vùng bão lũ, tài sản lớn của dân cư

đã mất mát Hoàn cảnh này tất cả các hoạt động huy động vốn là không thểdiễn ra Nhiệm vụ của các Ngân hàng thương mại lúc này không phải là

Trang 16

công tác huy động vốn mà là công tác tìm nguồn vốn để phát vốn cho ngườidân, tổ chức kinh tế thông qua các chương trình hỗ trợ, nhân đạo Tóm lạitất cả các nguyên nhân, tính ổn định của nền kinh tế, chính sách kinh tế xãhội, hay các yếu tố thiên nhiên khách quan, nằm ngoài mong muốn hay tínhtoán của Ngân hàng thương mại Trong hoạt động của mình Ngân hàngthương mại luôn luôn tính các hệ số rủi ro cho các hoạt động của mình, tuynhiên khi những nguyên nhân xảy ra hầu hết các Ngân hàng thương mại đềuphải có quá trình thích nghi mới để điều chỉnh phù hợp với nền kinh tế

4.2 Nguyên nhân chủ quan

 Chính sách huy động vốn của Ngân hàng: hoạt động huy động vốncủa các Ngân hàng thương mại rất đa dạng và bằng nhiều phương pháp khácnhau Có thể huy động theo thời gian như: ngắn hạn (thời gian nhỏ hơn 12tháng), trung hạn (thời gian từ 1 năm đến 5 năm) và huy động dài hạn từ 5năm trở lên Ngân hàng còn có thể sử dụng hình thức huy động như: tiền gửithanh toán, tiết kiệm dân cư hay vay thị trường vốn… Tại mỗi chi nhánhNgân hàng thương mại tuỳ theo tính chất kinh tế, xã hội mà Ngân hàng xâydựng cho mình chính sách huy đông hợp lý để mang lại hiệu quả

Ví dụ: tại địa bàn thành phố lớn, dân cư đông đúc, nhiều nhà máy, xínghiệp, Ngân hàng thương mại sử dụng huy động được đa dạng như tiếtkiệm dân cư, tiền gửi thanh toán hay vay trên thị trường vốn dễ dàng hơn.tuy nhiên lại phải cạnh tranh với các tổ chức tín dụng, ngân hàng khác Mặtkhác ngân hàng tại vùng cao sẽ khó huy động vốn hơn và nghiệp vụ huyđộng đơn giản hơn Một ví dụ khác đó là chính sách lãi xuất huy động củangân hàng và các dịch vụ tiện ích kèm theo Một ngân hàng có mức lãi xuấthuy động hợp lý, đồng thời thực hiện tốt công tác Marketing đối với kháchhàng sẽ tạo được sự hiểu biết, tin tưởng từ phía khách hàng Trong giai đoạnhiện nay, nền kinh tế ngày càng phát triển thì các dịch vụ tiện ích kèm theo

là yêú tố quan trọng trong công tác lôi kéo khách hàng Một ngân hàng luôn

Trang 17

đổi mới công nghệ, thủ tục, đồng thời phát triển các công cụ tiện ích tronghuy động vốn , chăm sóc khách hàng khi họ có nhu cầu thì ngân hàng sẽthành công trong các hoạt động nói chung và công tác huy động vốn nóiriêng.

* Quản lý và sử dụng nguồn vốn huy động

Hiện nay huy động vốn ngày càng nhiều nguồn và nhiều kênh dẫnvốn khác nhau Điều quan trọng là tìm một cơ chế huy động thích hợp Đểđẩy mạnh quá trình huy động vốn của nền kinh tế, từ đó đưa ra các hìnhthức huy động vốn và mức lãi xuất thích hợp trong từng thời kỳ Bên cạnh

đó thông qua hoạt động marketing, ngân hàng gián tiếp giới thiệu sự đa dạngcủa các dịch vụ, chất lượng, thu hút thêm khách hàng và gia tăng nguồn vốn.Song song với công tác huy động vốn là việc sử dụng vốn có hiệu quả Tuỳtheo hình thức huy động của nguồn vốn mà ngân hàng đưa ra các chình sáchcho vay thích hợp Phải cân đối giữa huy động ngắn hạn, trung hạn và dàihạn và các khoản cho vay thích hợp Để hoạt động tín dụng có hiệu quả thìđánh giá một dự án là hết sức quan trọng, một dự án khả thi không chỉ manglại lợi nhuận cho ngân hàng mà còn đảm bảo an toàn về nguồn vốn, tránhđược những rủi ro tín dụng và nâng cao hiệu quả của hoạt động này Ngượclại một dự án không hợp lý se khiến ngân hàng có nguy cơ mất vốn làm anhhưởng đến công tác cân đối nguồn vốn của ngân hàng

Ngoài ra quản lý và sử dụng vốn huy động còn phải xét đến vấn đề nợquá hạn, nếu chỉ quan tâm đến dư nợ cho vay thì có thể chỉ tiêu đó đạt yêucầu, song ngân hàng phải đối mặt với rủi ro, điều này mâu thuẫn với mụctiêu an toàn Nếu ngân hàng cho vay được nhiều và đảm bảo nguồn ngắnhạn để cho vay ngắn hạn, nguồn trung hạn và dài hạn nhưng nhiều món vaykhông thể thu hồi Điều này dẫn đến nguy cơ thua lỗ của ngân hàng

Lãi xuất cũng ảnh hưởng rất lớn đến công tác huy động vốn của ngânhàng Với chính sách linh hoạt, chủ động đáp ứng khách hàng, Ngân hàng se

Trang 18

tìm kiếm được lợi nhuận Thông thường hoạt động huy động vốn của ngânhàng được tự do quyết định lãi xuất, đối với cho vay Ngân hàng quy địnhmức giá trần, các ngân hàng được phép xê dịch lãi xuất trong khoảng mứcgiá trần.

Để quản lý tốt hơn công tác huy động vốn của ngân hàng thì cán bộphải có năng lực, trình độ để có thể định hướng kinh doanh đúng đắn, đảmbảo cho hoạt động của ngân hàng an toàn Cụ thể , đưa ra được kế hoạchhuy động vốn hợp lý và tính ổn định lâu dài từ đó khai thác sử lý có hiệuquả nguồn lực, sao cho công tác huy động vốn cung cấp đủ cho nhu cầu tíndụng về số lượng và thời gian sử dụng, góp phần nâng cao hiệu quả công táchuy động vốn cho ngân hàng

V.CÁC CHỈ TIÊU ĐÁNH GIÁ HOẠT DỘNG HUY ĐỘNG VỐN NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

5.1.Đánh giá hoạt động vốn theo loại hình tiền gửi

Theo phương pháp này thì hoạt động huy động tiền gửi có dạng sau:tiền gửi tiết kiệm, tiền gửi các tổ chức kinh tế , tiền gửi các tổ chức tín dụng

vá tiền gửi huy động kỳ phiếu Đối với mỗi loại hình trên ta có cách đànhgiá sau

Tỉ lệ tiền gửi tiết kiệm= Tiền gửi tiết kiệm/ tổng nguồn vốn

Đây là loại hình huy động vốn quan trọng của các ngân hàng thương mại

Tỉ lệ này càng cao thì càng chứng tỏ tính lỏng của nguồn vốn ngân hàngthương mại Có thể xem xét kỹ hơn với các chỉ tiêu khác nhau trong tổnglượng tiền gửi tiết kiệm Ngân hàng Thương mại nào càng có tỉ lệ tiền gửitrên 12 tháng cao thì càng an toàn trong việc sử dụng nguồn vốn huy độngđồng thời chứng tỏ phương pháp huy động phát huy được hiệu quả

Tỉ lệ tiền gửi của các tổ chức kinh tế

= Tiền gửi của các tổ chức kinh tế / Tổng nguồn vốn

Trang 19

Tỉ lệ tiền gửi của các tổ chức tín dụng

= Tiền gửi của các tổ chức tín dụng / Tổng nguồn vốn

Tỉ lệ càng cao thì mối quan hệ giữa ngân hàng thương mại với các chủthể khác trong nền kinh tế Khi tỉ lệ tiền gửi của các tổ chức kinh tế kháccáo tức là lượng vốn trong nền kinh tế đang ở mức dễ huy động hoặc quan

hệ giữa ngân hàng và các tổ chức kinh tế đang diễn ra một cách thuận lợi.Ngược lai khi tỉ lệ này thấp ngân hàng thương mại cần chủ động đi tìmnguồn vốn để tài trợ kịp thời cho khách hàng có nhu cầu

5.2.Đánh giá hoạt động huy động vốn theo kỳ hạn huy động

Tỉ lệ vốn ngắn hạn= Vốn ngắn hạn/ Tổng nguồn vốn

Vốn ngắn hạn chủ yếu là những loại tiền gửi kỳ hạn nhỏ hay tiền gửitrong thanh toán của các tổ chức cá nhân trong xã hội Như vậy chỉ tiêu nàycàng nhỏ thì lượng vốn huy động được của ngân hàng cũng nhỏ nhưng cóthể lại tạo được nguồn vốn chất lượng hơn cho các ngân hàng thương mại

Tỉ lệ vốn trung và dài hạn= Vốn trung và dài hạn/ tổng nguồn vốnVốn trung hạn và dài hạn là nguồn vốn luôn được các ngân hàng ưa thích

vì nó có tính lỏng cao, thuận lợi cho việc tài trợ dự án trung và dài hạn củangân hàng Tỉ lệ náy càng cao thì càng mang lại nhiều lợi nhuận cho Ngânhàng

Khi tỉ lệ này ít đi cũng đồng nghĩa với việc khan hiếm lượng vốn để thựchiện các dự án lớn mang tính chất lâu dài Có thể nói chỉ tiêu mày thể hiện

rõ nhất chất lượng huy động vốn tại các ngân hàng thương mại

Ngoài ra chúng ta cón có thể đánh giá tình hình huy động vốn tại cácngân hàng thương mại theo nhiều phương pháp khác như:

+ Vốn huy động/ 1 cán bộ= Tổng số vốn huy động/ Số nhân viên ngânhàng

Trang 20

+ Tỉ lệ vốn huy động/ Vốn cho vay

Nói chung các ngân hàng thương mại đều có xu hướng tăng các chỉ tiêuđồng nghĩa với việc mở rộng hoạt động vốn, song song với việc nâng caochất lượng của các loại vốn huy động, hoạt đọng huy động vốn là tính chấtsống còn của các ngân hàng thương mại trong giai đoạn hiện nay

Trang 21

CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC HUY ĐỘNG VỐN TẠI NGÂN HÀNG CÔNG THƯƠNG VIỆT NAM - SỞ GD I

I KHÁI QUÁT VỀ NGÂN HÀNG CÔNG THƯƠNG VIỆT NAM - SỞ GD I

1.1 Cơ cấu tổ chức của chi nhánh Công thương Việt Nam - Sở GD I

Ngân hàng công thương Việt Nam - Sở GD I là một chi nhánh chịu sựquản lý trực tiếp của NHNN&PTNT thành phố Hà Nội Do có lịch sử ra đờichậm hơn so với một số ngân hàng khác nên chi nhánh còn gặp nhiều khókhăn như: Quy mô hoạt động nhỏ, cơ sở vật chất còn nhiều khó khăn Songvới sự chỉ đạo đúng đắn của lãnh đạo cùng sự linh hoạt sáng tạo của các cán

bộ, chi nhánh đã từng bước hoà nhập vào hệ thống Hiện nay chi nhánh hoạtđộng với 36 nhân sự được phân bổ tại hai phòng sau:

- Phòng kinh doanh

- Phòng kế toán- Ngân quỹ

Ngân hàng công thương Việt Nam - Sở GD I được tổ chức theo môhình trực tuyến chức năng Hiện nay, hình thức tô chức theo mô hình hoạtđộng này đang được áp dụng rộng rãi trong các loại hình doanh nghiệp vàphần lớn các tổ chức tín dụng

Cơ cấu tổ chức bao gồm các bộ phận sau:

+ Ban giám đốc: Đứng đầu là giám đốc chi nhánh quản lý toàn bộ cáchoạt động cung của chi nhánh Thứ hai là các phó phòng phụ trách nhiệm vụ

cụ thể của từng phòng ban

Phòng kinh doanh:

- Chủ yếu đảm nhiện nghiệp vụ tín dụng, có chức năng quản lý, điềuhành chỉ đạo thực hiện công tác tín dụng

Trang 22

- Trực tiếp thẩm định các dự án có quy mô sản xuất vừa và lớn, thu nhập

và sử lý thông tin về nhu cầu của khách hàng, từ đó đưa ra các định hướngcho công tác tín dụng của các tháng, quý, năm

- Đề xuất ý kiến cho vay hoặc không cho vay đối với các dự án, sau đótrình ban giám đốc xét duyệt

Phòng kế toán – Ngân quỹ: Đảm nhiệm cả kế toán nội bộ và kế toángiao dịch

+ Thực hiện công tác kế toán và quản lý chi tiêu nội bộ như: Chitrả lương cho công nhân viên, chi phí cho công tác quản lý hành chính vàcác chi phí khác

+ Lập báo cáo tổng hợp thu nhập chi phí hàng tháng, quý, năm vớiban giám đốc

- Kế toán giao dịch:

+ Xử lý các nghiệp vụ như: nhận tiền gửi của khách, của các doanhnghiệp, tổ chức kinh tế và các cá nhân phát sinh hàng ngày

+ Thực hiện nghiệp vụ chuyển tiền và thanh toán cho khách hàng

+ Thực hiện các nghiệp vụ thanh toán không dùng tiền mặt như: uỷnhiệm chi, uỷ nhiệm thu, séc chuyển khoản

+ Tổ chức ghi chép, phản ánh một cách đầy đủ chính xác, kịp thời từngnghiệp vụ kinh tế phát sinh về các hoạt động huy động vốn và sử dụng vốn + Tổ chức thanh toán bù trừ và thanh toán liên Ngân hàng

+ Lập báo cáo, kế hoạch cho ngày, tuần, tháng, quý, năm

1.2 Quá trình hình hình thành chức năng và nhiệm vụ của Ngân hàng công thương Việt Nam - Sở GD I

Trang 23

Quá trình hình thành và phát triển của chi nhánh Ngân hàng công thươngViệt Nam - Sở GD I gắn liền với tình hình kinh tế – xã hội quận ThanhXuân

Là quận có vị trí địa lý rất thuận lợi nằm về phía tây thủ đô Hà Nội,giáp ranh với các quận Đống Đa, Cầu Giấy, Hai Bà Trưng, các huyện ThanhTrì, Từ Liêm và thị xã Hà Đông Diện tích tự nhiên gần 1000 ha, dân sốkhoảng 400.000 người, chủ yếu là công nhân viên chức, hưu chí, lực lượng

vũ trang và một bộ phận nhỏ nông dân

Hiện nay có gần 80 doanh nghiệp nhà nước, 4 hợp tác xã, đây là khuvực sản xuất kinh doanh của các nhà máy: nhà máy cơ khí Hà Nội, nhà máythuốc lá Thăng Long, nhà máy bóng đèn phích nước Rạng Đông, nhà máycao su Sao Vàng, nhà máy ô tô Hoà Bình, nhà máy xà phòng Hà Nội… đây

là những điều kiện hết sức thuận lợi để thúc đẩy kinh tế, dịch vụ của quậntạo điều kiện cải thiện mức sống của người dân

Tuy nhiên bên cạnh đó quận Thanh Xuân cũng còn tồn tại những khókhăn đó là:

+ Quận Thanh Xuân là quận mới được thành lập, cơ sở hạ tầng chưađược nâng cấp nhiều

+ Trong hoạt động kinh doanh không tránh khỏi sự cạnh tranh gay gắtcủa các Ngân hàng khác cùng đóng trên địa bàn: Ngân hàng công thươngViệt Nam - Sở GD I, Ngân hàng cổ phần quân đội, chi nhánh Ngân hàngnông nghiệp Hà tây, kho bạc nhà nước và rất nhiều quỹ tiết kiệm, quỹ đầu tưphát triển… Tuy vậy phương châm phục vụ “nhanh chóng, an toàn, lịch sự,bảo mật” trong vài năm trở lại đây Ngân hàng công thương Việt Nam - Sở

GD I với sự nỗ lực của toàn bộ cán bộ nhân viên đã xác định cho mình mụctiêu phát triển, góp phần đáp ứng nhu cầu càng tăng về vốn của khách hàng

Trang 24

Với chủ trương đổi mới sang nền kinh tế thị trường, có sự quản lý củanhà nước Sau đại hội VII của Đảng các hoạt động Ngân hàng đã có nhữngbước phát triển tích cực góp phần huy động vốn, phục vụ cho sự nghiệpcông nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước, từng bước đưa đất nước thoát rakhỏi tình trạng lạc hậu, đói nghèo, ngày càng hội nhập gắn bó với nền kinh

tế thế giới Đổi mới nhất trong hệ thống Ngân hàng Việt Nam là đổi mới hệthống Ngân hàng một cấp chuyển sang hai cấp, có sự phân bổ rõ ràng chứcnăng quản lý nhà nước và kinh doanh tiền tệ với sự phân cấp như trên Ngânhàng Việt Nam đã có nhiều sự thay đổi, điều này đã tạo điều kiện cho hàngloạt Ngân hàng thương mại kinh doanh, hoạt động hiệu quả và ngày cànggóp phần thúc đẩy nền kinh tế Trong số các Ngân hàng thương mại lớn rađời có Ngân hàng nông nghiệp Việt Nam Chi nhánh Ngân hàng nôngnghiệp Hà Nội ra đời theo quyết định số 59/QĐ của thống đốc Ngân hàngnhà nước vào tháng 6/1988 chuyển Ngân hàng một cấp sang hệ thống Ngânhàng hai cấp Trụ sở chính nằm ở 77 Lạc Trung Hà Nội

xuất phát từ nhu cầu mở rộng mạng lưới hoạt động, đáp ứng nhu cầu cấpvốn cho nền kinh tế ngày 1/4/1996 tổng giám đốc Ngân hàng công thươngViệt Nam - Sở GD I Việt Nam ký quý định thành lập chi nhánh Ngân hàngcông thương Việt Nam - Sở GD I Địa chỉ giao dịch là 275 - Nguyễn Trãi-Thanh Xuân-Hà Nội ngày 3/7/1996 chi nhánh Ngân hàng bắt đầu khaitrương và hoạt động với tư cách là Ngân hàng cấp 4 sau một thời gian hoạtđộng, ngày 1/1/1999 Ngân hàng công thương Việt Nam - Sở GD I đượcnâng cấp thành Ngân hàng cấp 3, trực thuộc Ngân hàng nông nghiệp Hà Nội

đồng thời thực hiện dịch vụ cho người nghèo.

II THỰC TRẠNG HUY ĐỘNG VỐN TẠI NGÂN HÀNG CÔNG THƯƠNG VIỆT NAM - SỞ GD I

2.1 Chiến lược huy động vốn những năm gần đây.

Trang 25

2.1.1 Phát huy tích cực việc sử dụng vốn – cơ sở cho việc huy động vốn

Do đặc thù hoạt động kinh doanh, là Ngân hàng nông nghiệp nên trướcđây khách hàng của chi nhánh chủ yếu là các đơn vị, cá nhân hoạt động sảnxuất trên lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn từ khi chuyển đổi cơ cấu nềnkinh tế, sự cạnh tranh quyết liệt của các Ngân hàng thương mại chi nhánhNgân hàng công thương Việt Nam - Sở GD I nói riêng và Ngân hàng ViệtNam nói chung đã ngày càng phát triển nhiều dịch vụ huy động mới, đồngthời tìm nhiều hình thức tài trợ sản xuất, kinh tế khác nhau nền kinh tế mởcửa chi nhánh không chỉ bó gọn trong ngành công nghiệp, nông thôn ngoàiviệc huy động vốn từ thị trường truyền thống đó là nông nghiệp và nôngthôn, chi nhánh còn huy động từ các tổ chức tín dụng, tổ chức kinh tế, xã hộikhông phải lĩnh vực nông nghiệp nông thôn Đồng thời việc tài trợ cho cáchoạt động hiện nay cũng không chỉ trong lĩnh vực nông nghiệp và nôngthôn việc sử dụng nguồn vốn một cách hợp lý đã giúp cho công tác huyđộng vốn của chi nhánh Ngân hàng công thương Việt Nam - Sở GD I trởnên đa dạng và dễ dàng như vậy, ta thấy chiến lược sử dụng vốn hiệu quả sẽtất yếu tác động đến công tác huy động vốn Đảm bảo sự chắc chắn trongcông tác tín dụng của chi nhánh, tuy nhiên do chi nhánh Ngân hàng côngthương Việt Nam - Sở GD I là chi nhánh cấp 3 trực thuộc Ngân hàng nôngnghiệp Hà Nội nên các hình thức huy động vốn thường bao gồm 3 chiếnlược chính

2.1.2 Tiền gửi tiết kiệm

Từ lâu, tiền gửi tiết kiệm được coi là công cụ huy động vốn truyền thống,

là một bộ phận huy động chính chủ yếu của các Ngân hàng thương mại.nguồn vốn thường chiếm tỷ trọng lớn trong các Ngân hàng và nó ảnh hưởngđến tổng nguồn huy động của các Ngân hàng sự biến động của các loại tiềngửi này phụ thuộc vào thu nhập của dân cư, yếu tố tiết kiệm trong nền kinh

Trang 26

tế, tỷ lệ lạm phát, lãi suất huy động của Ngân hàng và các yếu tố khác nhưtâm lý, tập quán, thói quen và mức độ an toàn tiền gửi… Tuy nhiên với sựphát triển của nền kinh tế, sự cạnh tranh của các Ngân hàng thương mại chinhánh đã xác định đây là nguồn vốn có lợi thế nhất đối với mình Hiện tạichi nhánh Ngân hàng công thương Việt Nam - Sở GD I thực hiện tiền gửitiết kiệm bằng hai hình thức: tiết kiệm có kì hạn và tiết kiệm không kì hạnTiền gửi tiết kiệm không kì hạn: là hình thức gửi do hai bên thoả thuận,người gửi có thể rút tất cả hay một phần bất cứ khi nào có nhu cầu Khác vớitiền gửi trng thanh toán, người gửi không được sử dụng các hình thức thanhtoán để chi trả cho người khác chính vì vậy mà Ngân hàng không thể sửdụng toàn bộ số tiền vay, chi nhánh chỉ có thể sử dụng một phần để cho vayngắn hạn

Tiền gửi tiết kiệm có kì hạn: đây là nguồn tiền do Ngân hàng và kháchhàng thoả thuận về thời gian rút tiền Nếu khách hàng có rút ra trước thờihạn thì khách hàng sẽ được hưởng lãi suất theo lãi suất không kì hạn trườnghợp đến hạn người gửi tiền không rút Ngân hàng xem như gửi một kì mớitương ứng Nếu quá thời hạn khách hàng mới đến thì Ngân hàng vẫn tính lãicho khách hàng

2.1.3 Tiên gửi của tổ chức kinh tế, tổ chức tín dụng

Tiền gửi của các tổ chức kinh tế, tổ chức tín dụng là một trong ba nguồntiền gửi chủ yếu của các Ngân hàng thương mại nói chung và Ngân hàngcông thương Việt Nam - Sở GD I nói riêng tiền gửi Ngân hàng của các tổchức kinh tế, tổ chức tín dụng phụ thuộc trực tiếp vào tình hình sản xuấtkinh doanh, nó có tính chất không đồng đều, mang tính mùa vụ cao

Tiền gửi loại này bao gồm: tiền gửi có kì hạn, chiếm tỷ trọng rất nhỏ,thông thường là các loại quỹ hay khối lượng vốn tạm thời nhàn rỗi, chưa sửdụng của các đơn vị

Trang 27

Tiền gửi không kì hạn của tổ chức kinh tế, tổ chức tín dụng: là loại tiềngửi vào Ngân hàng nhằm mục đích giao dịch, thanh toán loại tiền này luônluôn biến động theo nhu cầu thanh toán, thu chi của đơn vị Như vậy sửdụng với khối lượng lớn sẽ dẫn đến rủi ro cho Ngân hàng Ngân hàng chỉ cóthể sử dụng một phần để cho vay ngắn hạn, mua chứng khoán có tính lỏngcao để đảm bảo khả năng thanh toán tuy nhiên, tiền gửi của các tổ chứckinh tế, tổ chức tín dụng có nhiều tiềm năng và ưu thế Nếu Ngân hàngthương mại nào phát triển nghiệp vụ này không chỉ đem lại lợi ích chokhách hàng, lợi nhuận cho Ngân hàng, nó còn đem lại lợi ích cho nền kinh

tế Bởi khi khách hàng gửi tiền vào Ngân hàng nhằm mục đích thanh toán,giao dịch với Ngân hàng thì các doanh nghiệp thanh toán không dùng tiềnmặt của Ngân hàng sẽ có cơ hội phát triển, do đó giảm được chi phí vậnchuyển, bảo quản và sử dụng tiền mặt

Thời gian qua Ngân hàng công thương Việt Nam - Sở GD I đã nắm bắtđược những đặc điểm của nghiệp vụ này ban lãnh đạo Ngân hàng côngthương Việt Nam - Sở GD I luôn chỉ đạo cán bộ tín dụng tăng cường tiếpxúc với các đơn vị sản xuất kinh doanh để mở rộng mối quan hệ, tìm kiếmkhách hàng tiềm năng đi đôi với bổ sung gắn bó với những khách hàngtruyền thống Ngoài ra, ban lãnh đạo chỉ đạo các nhân viên giao dịch luônluôn thay đổi phong cách làm việc, cải thiện dịch vụ tiện ích Ngày càng đápứng tốt hơn nhu cầu của khách hàng

2.2 Báo cáo kết quả huy động vốn tại Ngân hàng công thương Việt Nam

- Sở GD I những năm gần đây.

Năm 2006, 2007 chi nhánh Ngân hàng công thương Việt Nam - Sở GD Iphải đối mặt với nhiều thách thức rất lớn nhưng nền kinh tế thủ đô nóichung và quận Thanh Xuân nói riêng luôn luôn ổn định Đây là kết quả rấtđáng phấn khởi của chi nhánh, một số doanh nghiệp đã dần khẳng địnhmình trong cơ chế thị trường các doanh nghiệp nỗ lực phát triển từng bước

Trang 28

hội nhập trong khu vực Các doanh nghiệp giao dịch với chi nhánh ThanhXuân phát triển đồng đều cả nhập khẩu và xuất khẩu Để đánh giá thực trạng

về nguồn vốn của chi nhánh năm 2006, 2007 chúng ta xem xét bảng sau:

Bảng 1: Cơ cấu nguồn vốn huy động vốn theo kì hạn năm 2006.2006 tại

chi nhánh Ngân hàng công thương Việt Nam - Sở GD I .

STT Chỉ tiêu Tổng số KH

gửi

Số dư LS bình

quân Tổng +/- so

với 2006

2006 2007 +/- so

với 2006

1 Tiền gửi tiết kiệm 1.668 + 1.003 51.199 79.871 +

Trang 29

- Tiền gửi không kỳ hạn 1 4 5 1

Đối với huy động tiền gửi tiết kiệm chi nhánh đã đạt được kết quả rấttốt Lượng khách hàng đến với chi nhánh năm 2006 tăng 1003 người

Tổng lượng vốn huy động tiền gửi tiết kiệm năm 2006 là 51.199 triệuđồng, năm 2007 là 79.871 triệu đồng tăng 28.672 triệu đồng so với năm2006

Năm 2007 chi nhánh đưa vào hoạt động huy động 9 tháng và 12 tháng,

và đạt được kết quả rất đáng khích lệ Kì hạn 9 tháng đã có 16 khách hàngđến gửi đạt tổng số huy động là 710 triệu đồng Với thời hạn 12 tháng có 2khách hàng gửi với số tiền gửi với số tiền gửi 18 triệu đồng Kết quả nàycho thấy kì hạn gửi 9 tháng và 12 tháng đã thâm nhập được niềm tin kháchhàng, trong tương lai sẽ có mức tăng trưởng cao Tuy nhiên trong các hạngmục tiền gửi tiết kiệm kì hạn 3 tháng và 12 tháng đạt được hiệu quả caonhất

Tiền huy động 3 tháng năm 2007 đạt 20.612 triệu đồng tăng 10.937 triệuđồng so với năm 2006

Tiền huy động 12 tháng năm 2007 đạt 39.058 triệu đồng tăng 11.059triệu đồng so với năm 2006 với sự tăng trưởng rất cao của hai kì hạn này

Trang 30

chứng tỏ chi nhánh đã có những bước đi đúng hướng trong thời gian tới cầnphát huy những hiệu quả đã đạt được

Tiền gửi của các tổ chức kinh tế: tổng lượng vốn huy động được năm

2007 là 17.897 triệu đồng tăng 9.823 triệu đồng so với năm 2006

Tiền gửi kì hạn 6 tháng và 12 tháng tăng đột biến Năm 2007 tiền gửikhông kì hạn đạt 10.067 triệu đồng tăng 1.898 triệu đồng so với năm 2006 Năm 2007 tiền gửi 6 tháng đạt 5.969 triệu đồng tăng 5.964 triệu so với

2006 sự tăng trưởng đột biến này chứng tỏ được sự đúng đắn trong phươngpháp tiếp cận khách hàng của chi nhánh Trong tương lai việc huy động kìhạn 6 tháng sẽ mang lại nhiều hiệu quả mong muốn

Tiền huy động kì phiếu: năm 2007 tổng lượng vốn huy động được là130.943 triệu đồng tăng 101.139 triệu đồng Đây là kết quả của niềm tinngười dân vào nền kinh tế và chính sách kinh tế của chính phủ Ta có thểnhận thấy lãi suất cho loại hình huy động này là cao nhất 0,67% Điều nàychứng tỏ việc huy động vốn trung hạn và dài hạn từ nền kinh tế hoàn toàn cóthể thực hiện khi có những cơ chế chính sách ổn định đảm bảo lợi nhuận chokhách hàng

Tiền gửi của các tổ chức tín dụng khác: đây là loại hình huy động duynhất của chi nhánh có hệ số tăng trưởng âm năm 2007 doanh số huy độngđạt 30.005 triệu đồng giảm 67.999 triệu đồng so với năm 2006 Thực trạngnày có thể do một số nguyên nhân chủ quan và khách quan sau

+ Nền kinh tế ngày càng cần nhiều vốn trong quá trình công nghiệp hoá

và hiện đại hoá chính vì vậy, các tổ chức tín dụng không có nhiều nhữngkhoản tiền nhàn rỗi để gửi tạm Ngân hàng

+ lãi suất huy động thấp, các tổ chức tín dụng khác có thể cho vay tài trợcho các dự án để kì vọng có một lãi suất cao hơn

Ngày đăng: 17/04/2013, 22:45

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1: Cơ cấu nguồn vốn huy động vốn theo kì hạn năm 2006.2006 tại - Giải pháp nâng cao hiệu quả huy động vốn tại Ngân hàng công thương Việt Nam - Sở GD I
Bảng 1 Cơ cấu nguồn vốn huy động vốn theo kì hạn năm 2006.2006 tại (Trang 28)
Bảng 2: Cơ cấu nguồn vốn theo địa bàn năm 2008 tại chi nhánh Ngân hàng Công thương  Việt Nam - Sở GD I - Giải pháp nâng cao hiệu quả huy động vốn tại Ngân hàng công thương Việt Nam - Sở GD I
Bảng 2 Cơ cấu nguồn vốn theo địa bàn năm 2008 tại chi nhánh Ngân hàng Công thương Việt Nam - Sở GD I (Trang 32)
Bảng 3: Cơ cấu nguồn vốn huy động vốn theo kì hạn năm 2006.2006 tại - Giải pháp nâng cao hiệu quả huy động vốn tại Ngân hàng công thương Việt Nam - Sở GD I
Bảng 3 Cơ cấu nguồn vốn huy động vốn theo kì hạn năm 2006.2006 tại (Trang 33)

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w