vai tò quan ttọng của côn trùng nước ttong các hệ sinh thái, do đó phạm vinghiên cứu côn trùng nước ngày càng được mở rộng, các hướng nghiên cứukhông chỉ dừng lại ở việc mô tả, phân loại
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC sư PHẠM HÀ NỘI 2
• • • • KHOA SINH - KTNN
ĐỖ THU HƯƠNG
NGHIÊN CỨU ĐA DẠNG SINH HỌC CÔN
TRÙNG NƯỚC TAI ĐIA PHÂN
XÃ NGỌC THANH, THỊ XÃ PHÚC YÊN TỈNH VĨNH PHÚC
• • •
Chuyên ngành: Động vật học
Trang 2HÀ NỘI, 2015 TRƯỜNG ĐẠI HỌC sư PHẠM HÀ NỘI 2
• • • • KHOA SINH - KTNN
ĐỖ THU HƯƠNG
NGHIÊN CỨU ĐA DẠNG SINH HỌC CÔN
TRÙNG NƯỚC TẠI ĐỊA PHẬN
Trang 3Th.s NGUYỄN VĂN HIẾU
HÀ NỘI, 2015
Trước hết tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến ThS Nguyễn Văn Hiếu
- Cán bộ giảng dạy tổ Động vật, khoa Sinh - KTNN, trường Đại học Sư phạm
Hà Nội 2 Thầy là người đã định hướng và tận tình chỉ bảo , giúp đỡ tôi trongsuốt quá trình học tập, nghiên cứu khoa học và hoàn thiện luận văn tốt nghiệpcủa mình
Đồng thời, qua đây tôi cũng xin gửi lời cảm ơn đến Ban chủ nhiệm Khoacùng các thầy, cô giáo Khoa Sinh - KTNN, Trường Đại học Sư Phạm Hà Nội
2, những người đã truyền đạt kiến thức và tạo điều kiện thuận lợi giúp đỡ tôitrong suốt quá trình hoàn thành khoá luận tốt nghiệp của mình Đặc biệt, tôi xinchân thành cảm ơn TS Đỗ Thị Lan Hương - Trưởng phòng thí nghiệm Thực vậthọc, Thày giáo Khuất Văn Quyết và các cán bộ giảng dạy tổ Thực vật - Vi sinh
đã tạo điều kiện cho tôi sử dụng một số thiết bị tại phòng thí nghiệm Thực yậthọc góp phần giúp tôi hoàn thành khóa luận đúng thời gian
Cuối cùng, tôi xin được gửi lời cảm ơn tới gia đình và bạn bè đã độngviên và là chỗ dựa vững chắc cho tôi trong quá trình học tập và nghiên cứukhoa học
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 05 tháng 05 năm 2015 Sinh viên
Trang 4Đỗ Thu Hưoug
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quảnghiên cứu, các số liệu trình bày trong luận văn là do nghiên cứu, thực tiễn đảmbảo tính trung thực và chưa được công bố trong bất cứ công trình khoa học,trong các tạp chí chuyên ngành và các hội thảo khoa học, sách chuyên khảo, nào khác
Hà Nội, ngày 05tháng 05 năm 2015 Sinh viên
Đỗ Thu Hương
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Côn trùng nước giữ vai trò hết sức quan trọng trong hệ sinh thái cácthủy vực cả nước đứng cũng như nước chảy Mỗi một môi trường thủy vực,nhóm sinh vật này đều có những đặc tính thích nghi phù họp So với nhiềunhóm sinh yật khác, côn trùng nước có nhiều đặc tính nổi trội như số lượngloài, số lượng cá thể lớn đặc biệt chúng là những mắt xích không thể thiếutrong chuỗi và lưới thức ăn Các loài côn trùng nước là những sinh vật tiêu thụbậc 1, bậc 2 đồng thời lại là nguồn thức ăn của nhiều loài động vật có xươngsống Nhiều loài côn trùng nước có quan hệ mật thiết đối với con người Một
số loài côn trùng nước gây hại là tác nhân truyền bệnh, tác nhân gây bệnh, tácnhân phá hoại sản phẩm công nghiệp, nông nghiệp Đáng chú ý trong nhómnày là những loài giữ vai trò quan trọng trong dịch tễ học như các loài thuộc
giống Anopheles, Ảedes thuộc bộ Hai cánh (Diptera) Giai đoạn trưởng thành
của các loài côn trùng này là những vector truyền bệnh sốt rét, sốt vàng da chongưòi Khác với nhóm côn trùng trên cạn, phàn lớn các loài thuộc côn trùngnước tồn tại cả trong môi trường nước và trong môi trường cạn Do yậy, chúng
là đối tượng lý tưởng dùng trong các nghiên cứu về sinh thái học và sinh họctiến hóa Trong giai đoạn hiện nay, hướng nghiên cứu về nhóm côn trùng nước
là dùng đối tượng này để chỉ thị chất lượng môi trường do có nhiều loài rấtnhạy cảm vói sự biến đổi của môi trường nước Trên thế giới đã có rất nhiềuthành tựu to lớn khi nghiên cứu trên đối tượng côn trùng nước, từ việc phânloại cho đến những nghiên cứu về tập tính, sinh thái, sinh sản, di truyền, tiếnhóa Ở Việt Nam, trong những năm gần đây côn trùng nước cũng đã đượcquan tâm nghiên cứu Ở các Vườn quốc gia và các Khu bảo tồn thiên nhiên
6
Trang 7của Việt Nam có hệ thống sông, suối phong phú, tiềm ẩn tính đa dạng côntrùng nước.
Xã Ngọc Thanh, thị xã Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc nơi có hệ thống sông,suối phong phú, tiềm ẩn tính đa dạng côn trùng nước, tuy nhiên việc nghiêncứu về nhóm sinh vật này vẫn chưa được quan tâm nghiên cứu, vì vậy chúngtôi tiến hành thực hiện đề tài: “Đa dạng sinh học côn trùng nước thuộc địaphận xã Ngọc Thanh, thị xã PhúcYên, tinh Vĩnh Phúc”
2 Mục đích
Mục đích nghiên cứu của đề tài là nghiên cứu đa dạng sinh học về loàicôn trùng nước và sự phân bố của côn trùng nước theo túứi chất của thủy vựcthuộc địa phận xã Ngọc Thanh, thị xã Phúc Yên, tỉnh VTnh Phúc
3 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn
3.1 Ỷ nghĩa khoa học
Đề tài cung cấp những dẫn liệu khoa học về thành phần loài thuộc nhómcôn trùng nước ở xã Ngọc Thanh là cơ sở khoa học cho việc nghiên cứuchuyên sâu về nhóm sinh vật này ở khu vực nghiên cứu
3.2 Ỷ nghĩa thực tiễn
Kết quả của đề tài góp phàn cung cấp những tư liệu phục
vụ cho việc nghiên cứu, giảng dạy về côn trùng nước tại
xã Ngọc Thanh, thị xã Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Tình hình nghiên cứu côn trùng nước trên thế giới
Côn trùng nước được quan tâm nghiên cứu từ rất lâu trên thế giới, đặcbiệt ở các nước phát triển đã có nhiều công trình nghiên cứu đến từng bộ củanhóm côn trùng này Sang những năm 1970, 1980 côn trùng nước trở thànhvấn đề trung tâm trong các nghiên cứu về sinh thái học ở các thủy vực nước
Trang 8vai tò quan ttọng của côn trùng nước ttong các hệ sinh thái, do đó phạm vinghiên cứu côn trùng nước ngày càng được mở rộng, các hướng nghiên cứukhông chỉ dừng lại ở việc mô tả, phân loại mà còn đi sâu vào các cơ chế bêntrong như: biến động quần thể côn trùng, các mối quan hệ dinh dưỡng, đápứng yêu cầu của sinh thái học (Resh và Rosenberg, 1984; Cummins, 1994)[14].
Đến cuối thế kỷ XX và đầu thế kỷ XXI, nhiều nhà khoa học đã công bốhàng loạt các công trình nghiên cứu về côn trùng nước như: McCafferty W.P.,1983; Kawai T., 1985; John C.M., Yang Lianfang và Tian Lixin, 1994; Yoon,
I.B., 1995; Merritt R w và Cummins K w., 1996; Các nghiên cứu này đã
bổ sung và cung cấp nhiều kiến thức về côn trùng nước bao gồm cả phân loạihọc, sinh thái học, tiến hóa, ứng dụng
Qua các công trình nghiên cứu, đến nay có thể xác định 9 bộ thuộcnhóm Côn trùng ở nước: Phù du (Ephemeroptera), Chuồn chuồn (Odonata),Cánh lông (Tricoptera), Cánh úp (Plecoptera), Cánh nửa (Hemiptera), Cánhcứng (Coleoptera), Hai cánh (Diptera), Cánh rộng (Megaloptera), Cánh vảy(Lepidoptera)
Nghiên cứu về bộ Phù du (Ephemeroptera)
Bộ Phù du (Ephemeroptera) được xếp vào nhóm côn trùng có cánh cổsinh, những bằng chứng về hóa thạch của chúng được tìm thấy đàu tiên thuộc
kỷ Cacbon và kỷ Pecmơ trong đại cổ sinh (cách đây khoảng 250 triệu năm).Các loài thuộc bộ Phù du được mô tả từ rất sớm Nhà tự nhiên học nổi tiếngLineaus (1758), đã mô tả 6 loài Phù du tìm thấy ở châu Âu và xếp chúng vào
một nhóm, ông đặt tên là Ephemera Có thể xem đây là công trình đàu tiên đặt
nền móng cho các nghiên cứu về Phù du sau này [19]
8
Trang 9Vào thế kỷ XIX, Eaton (1871, 1881, 1883-1888, 1892) [19], đã công bốhàng loạt các công trình nghiên cứu về Phù du của mình, đặc biệt là công trình
“A monograph on the Ephemeridae” được công bố năm 1871 Công trình đãcung cấp những kiến thức cơ bản về bộ Phù du Nghiên cứu đã mô tả các đặcđiểm về mặt hình thái của giai đoạn ấu trùng và trưởng thành, những kiến thứcnày rất hữu ích cho việc xây dựng khóa định loại đến các họ và giống của bộPhù du
Nghiên cứu về Phù du thực sự phát triển mạnh mẽ vào thế kỷ XX, điểnhình là các công trình nghiên cứu của Ulmer (1920, 1924, 1925, 1932, 1933),Navás (1920, 1930), Lestage (1921, 1924, 1927, 1930), Needham và cộng sự(1935) [19] Edmunds (1962), đã xây dựng hệ thống phân loại đến họ thuộc bộPhù du trên toàn thế giới Ông đã đưa ra một bức tranh tổng thể về khóa phânloại bậc cao cũng như nguồn gốc phát sinh của Phù du Sau này, do sự pháttriển mạnh mẽ trong các lĩnh vực nghiên cứu về Phù du cả về chiều rộng lẫnchiều sâu nên hệ thống phân loại của ông càng ngày càng bị hạn chế McCafferty và Edmunds (1973) [14], đã bổ sung những dẫn liệu mới và chỉnh lýkhóa phân loại cho phù họp vói thực tế nghiên cứu đòi hỏi Trong khóa địnhloại này, ngoài việc mô tả đặc điểm hình thái thì mối quan hệ họ hàng giữa cácloài trong quá trình tiến hóa cũng được các tác giả đề cập đến Cho đến nay, hệthống phân loại này vẫn được áp dụng trên thế giới khi nghiên cứu về Phù du.Đến năm 1990, toàn thế giới đã xác định được khoảng 2.000 loài Phù duthuộc 317 giống (trong đó có 61 giống đã hoá thạch) của 26 họ khác nhau [19].Thành phần loài hay nói cách khác sự đa dạng về mức độ loài của Phù du ởcác họ thể hiện rất khác nhau, có những họ chỉ có một vài loài nhưTeloganellidae, Teloganodidae hay có những họ có tới hàng ừăm loài nhưHeptageniidae, Leptophlebiidae Tuy nhiên, những con số này chưa phản ánh
Trang 10hết mức độ đa dạng của Phù du vì còn nhiều khu vực trên thế giới vẫn chưađược khám phá hết, nhất là các khu vực nhiệt đới.
Nghiên cứu về bộ Phù du đã được tiến hành rất sớm ở châu Âu và châu
Mỹ Đối với khu vực châu Á, những nghiên cứu đầu tiên về Phù du được thựchiện bởi các nhà côn trùng học đến từ châu Ầu như: Navás (1922, 1925),Lestage (1921, 1924) [19] Những nghiên cứu này là cơ sở và nền tảng thúcđẩy việc nghiên cứu về Phù du ở khu vực đông dân nhất thế giới Trong thế kỷ
XX, đã có nhiều quốc gia trong khu yực quan tâm nghiên cứu về Phù du
Hsu (1931, 1932, 1935, 1936, 1937) tiến hành nghiên cứu Phù du ởTrung Quốc và xây dựng khóa định loại tới loài Nhưng các kết quả nghiêncứu chỉ dừng lại trên đối tượng thu được ở giai đoạn trưởng thành Cùng thờigian này, Ưlmer (1932, 1933) cũng tiến hành nghiên cứu khu hệ Phù du ởTrung Quốc Ông đã thực hiện những nghiên cứu của mình trên đối tượng Phù
du ở giai đoạn ấu trùng Tiếp sau đó, hàng loạt các công trình nghiên cứu vềPhù du ở Trung Quốc được thực hiện bỏi Wu (1986, 1987), You (1982, 1987),Zhang (1995), Zhou (1995) [19]
Ulmer (1939), đã mô tả một số lượng lớn các loài Phù du ở đảo Sudan(Indonesia), tài liệu này rất cần thiết cho việc nghiên cứu khu hệ Phù du ởvùng Đông Nam Á Tiếp sau đó, Gose (1985) tiến hành xây dựng khóa địnhloại ấu trùng Phù du ở Nhật Bản Trong những thập niên 90 của thế kỷ XX,Bae và cộng sự (1994), Bae & Yoon (1997) đã hoàn thành danh lục Phù du ởHàn Quốc [19]
Các kết quả nghiên cứu cho thấy, ở châu Á có khoảng 128 giống thuộc
18 họ của bộ Phù du (Hubbard, 1990; McCaffity, 1991; McCaffity & Wang,
1997, 2000; Dudgeon, 1999) [19] Cho đến nay, những nghiên cứu liên quanđến phân loại và hệ thống học Phù du khá tỉ mỉ, các nhà khoa học đã xây dựng
10
Trang 11khoá phân loại chi tiết tới loài kể cả giai đoạn ấu trùng và trưởng thành Hiệnnay, hướng nghiên cứu tập trung vào các vấn đề sinh thái, phục hồi và bảo tồncác loài cũng như các nghiên cứu ứng dụng của Phù du vào thực tiễn.
Ngoài các công trình nghiên cứu về đặc điểm phân loại của Phù du,nhiều nhà khoa học còn quan tâm nghiên cứu đến các khía cạnh khác nhau liênquan đến nhóm côn trùng nước này như: Sinh thái học, Địa động vật Điểnhình là Neddham và cộng sự (1935), đã công bố các số liệu về vòng đòi, quátrình lột xác chuyển từ đời sống dưới nước lên cạn, tập tính dinh dưỡng, tậptính sinh sản, biến động số lượng theo mùa của nhiều loài Phù du Các kếtquả nghiên cứu về Địa động vật cho thấy các loài thuộc bộ Phù du ưa sống ởnhững nơi nước chảy với hàm lượng oxy hòa tan ừong nước cao, cấu trúc nềnđáy của các thủy vực giữ vai trò quan trọng, quyết định đến thành phần loàiPhù du Mặt khác, sự phân bố của Phù du còn phụ thuộc vào độ cao, độ chephủ của rừng
Gần đây, các công trình nghiên cứu đề cập đến khả năng sử dụng Phù
du là sinh vật chỉ thị chất lượng môi trường nước vì nhiều loài thuộc bộ Phù
du rất nhạy cảm với sự biến đổi của môi trường như một số công trình củaLanda và Soldan (1991), Bufagni (1997) [19]
Nghiên cứu về bộ Chuồn chuồn (Odonata)
Bộ Chuồn chuồn (Odonata) là bộ côn trùng có kích thước cơ thể lớn,vòng đòi của chúng trải qua 3 giai đoạn: trứng, thiếu trùng, con trưởng thành.Thiếu trùng thường sống ừong nước, chủ yếu ở vùng nhiệt đói hoặc vùng khíhậu ấm, con trưởng thành sống trên cạn Cả giai đoạn thiếu trùng và trưởngthành đều ăn thịt Bộ Chuồn chuồn được chia thành 3 phân bộ là: phân bộAnisozygoptera, phân bộ Zygoptera (Chuồn chuồn kim) và phân bộAnisoptera (Chuồn chuồn ngô) Phân bộ Anisozygoptera chỉ có 1 giống là
Trang 12Epiophỉebia, giống này có một số loài chỉ phân bố ở độ cao khoảng 2.000m ở
những con suối thuộc Nhật Bản và vùng núi cao Himalaya (Tani & Miyatake,1979; Kumar & Khanna, 1983) Hai phân bộ còn lại phân bố rộng cả ở nơinước đứng cũng như nước chảy với số lượng loài vô cùng phong phú [15]
Trước kia, các công trình nghiên cứu về Chuồn chuồn chủ yếu tập trung
mô tả hình dạng và đặc điểm ngoài các loài Chuồn chuồn thu thập được ởchâu Á và châu Âu nhằm xây dựng khóa định loại Điển hình cho các côngtrình nghiên cứu này là: Needham (1930), Fraser (1933, 1934, 1936), Askew(1988), Zhao (1990), Hisore & Itoh (1993), Wilson (1955) [1] Watson (1991),nghiên cứu khu hệ chuồn chuồn ở úc Ngoài các công trình nghiên cứu vềphân loại học còn có những công trình nghiên cứu về Địa động vật học như:Prinratana (1988), Tsuda (1991) Các công trình nghiên cứu về Sinh học vàSinh thái học của Corbet (1980), Hutchinson (1993) Các công trình nghiêncứu này chủ yếu dựa vào giai đoạn trưởng thành Đối với giai đoạn ấu trùng,Ishida & Ishida (1985) đã xây dựng khóa định loại có kèm theo hình vẽ rõràng tới giống ở vùng châu Á [1] Merritt và Cummins (1996), xây dựng khóađịnh loại tới giống ở cả giai đoạn thiếu trùng và trưởng thành bộ Chuồn chuồnthuộc khu vực Bắc Mỹ
Nghiên cứu về bộ Cánh úp (Plecoptera)
Hiện nay, trên thế giới bộ Cánh úp (Plecoptera) biết khoảng 2.000 loài
và là một trong những nhóm côn trùng có các đặc điểm nguyên thủy với nhóm
có cánh hiện nay Hóa thạch của chúng được tìm thấy đầu tiên thuộc kỷ Pecmi,
nó có những đặc điểm khác biệt với Cánh úp hiện đại về số đốt bàn và cánh ởphàn ngực (Hynes, 1976) [12]
Để nhận dạng bộ Cánh úp, người ta dựa vào một số đặc điểm: chúng có
3 đốt bàn nhưng chân sau không biến đổi để thích họp theo kiểu nhảy như một
12
Trang 13số loài thuộc bộ Cánh thẳng (như dế và châu chấu) Chúng có angten dài dạngchỉ, tơ đuôi khá dài đặc biệt là các ấu trùng ở nước Hầu hết, cánh của các loàithuộc bộ Cánh úp rất phát triển nhưng đôi khi lại ngắn Các đặc điểm đó dùng
để phân biệt chúng với bộ Cánh màng Ấu trùng bộ Cánh úp trải qua thời giandài sống ở nước [12]
Các ấu trùng Cánh úp giống con trưởng thành ở nhiều đặc điểm Ấutrùng luôn có tơ đuôi dài và không bao giờ có tơ đuôi ở giữa Mang nếu có, chỉtìm thấy ở phần ngực và phần bụng được tạo thành giữa các tơ đuôi Âu trùngsống chủ yếu ở nước, có một vài loài sống trong đất ẩm (Harpers và Stewart,1996) [12] Nơi sống lý tưởng của chúng là những suối đá chảy thành dòng,nhưng có một vài loài sống trong cát, các hồ ấm áp cũng là nơi cư trú củachúng
Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng: đại diện của các họ được tìm thấy ởnhững nơi cư trú khác nhau như Perlidae được tìm thấy ở dưới những tảng đálớn, Chloroperlidae lại được phát hiện ở nền đáy của suối có đá nhỏ, trong khi
đó Nemouridae và Pteronarcyidae lại được phát hiện ở nơi có nhiều lá rụng ởnền đáy
Khu hệ Cánh úp ở châu Á được nghiên cứu bởi những người châu Á vàchâu Âu Trong suốt những thập niên 30 của thế kỷ XX, Wu và Claassen(1934, 1935, 1937, 1938) [12] đã mô tả khóa định loại Cánh úp ở miền NamTrung Quốc Kawai (1961 - 1975) nghiên cứu một vài loài ở Ấn Độ,Bangladesh đến phía Nam châu Á Zwick và Sivec (1980) mô tả một số loàiCánh úp ở Himalaya Vào thập niên 80 của thế kỷ XX, Zwick (1980, 1983,
1985, 1988) cũng đưa ra những nghiên cứu về khu hệ Cánh úp ở Đông Nam Á.Uchida và cộng sự (1988, 1989) mô tả một vài loài thuộc Perlinae (Perlidae) ở
Malaysia, Thái Lan và mô tả 2 giống thuộc Peltoperlidae (Cryptoperla và
Trang 14Yoraperla) ở Nhật Bản và Đài Loan Stark (1979, 1987, 1983, 1991, 1999) đã
ghi nhận nhiều loài mới trong họ Peltoperlidae và Perlidae ở châu Á Gần đây,
Du (1998, 1999, 2000) đã công bố những tài liệu liên quan đến Perlidae ởmiền Nam Trung Quốc [12]
Morse J C., Yang Lianfang & Tian Lixin (1994); Merritt & Cummins (1996) khi nghiên cứu khu hệ Cánh úp ở Trung Quốc và Bắc Mỹ, các tác giả
đã xây dựng khóa định loại tói giống ấu trùng của bộ này, đó là cơ sở cho việc
định loại các loài thuộc bộ Cánh úp ở Trung Quốc và Bắc Mỹ sau này Nghiên cứu về bộ Cánh nửa (Hemiptera)
Các công trình nghiên cứu về bộ Cánh nửa ở châu Á được bắt đầu khásớm bằng các nghiên cứu của Lundblad (1933), La Rivers (1970), Lansbury(1972, 1973) [15] Các họ trong bộ này cũng được nghiên cứu khá tỷ mỷ như:Nepidae được nghiên cứu bỏi Keffer (1990), Naucoridae là họ rất đa dạng ởvùng nhiệt đới châu Á đã được nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu như Nieser
& Chen (1991, 1992), Sites và cộng sự (1997) [16] Merritt & Cummins(1996), Morse & cộng sự (1994) đã xây dựng khóa định loại tới giống của các
họ thuộc bộ Cánh nửa ở khu vực Bắc Mỹ và Trung Quốc
Bộ Cánh nửa bao gồm 3 phân bộ: Gerromorpha, Nepomorpha vàLeptopodomorpha Phân bộ Gerromorpha gồm hầu hết những cơ thể côn trùngsống trên bề mặt của nước Trong phân bộ này, có hai họ lớn là
Velliidae (trên thế giới có khoảng 850 loài) và họ Gerridae (khoảng 700 loài)(Chen và cộng sự, 2005) Theo Bendell (1988), Damgaard & Andersen (1996)các loài trong họ Gerridae được xem như những sinh vật chỉ thị cho chất lượngmôi trường nước [22]
Ở Đông Nam Á, nghiên cứu khu hệ bộ Cánh nửa đã được tiến hànhkhoảng 50 năm trước Đặc biệt, trong giai đoạn gần đây các công trình của
14
Trang 15Zettel & Chen ở Việt Nam (1996) và Thái Lan (1998) [22] Các nghiên cứu tậptrang vào việc mô tả, xây dựng khóa định loại Năm 2001, Cheng và cộng sựnghiên cứu các loài thuộc họ Gerridae ở Singapore và bán đảo Malaysia Chen
và đồng nghiệp (2005) nghiên cứu ở Malesia [22] Vùng Malesia bao gồm:
bán đảo Malaysia, Indonesia, Philippines và NewGuinea Nghiên cứu về bộ Cánh lông (Trichoptera)
Cánh lông là một trong những bộ có số lượng loài phong phú Cánhlông là một trong những bộ có số lượng loài phong phú Những nghiên cứu về
hệ thống phân loại bậc cao của bộ Cánh lông được thực hiện bởi Ross (1956,1967) và sau đó tiếp tục được bổ sung và hoàn thiện bởi Morse (1997).[13]
Bộ cánh lông có nhiều công trình nghiên cứu ở các nước Đông NamÁ,bên cạnh đó cũng được sự quan tâm nghiên cứu ở các quốc gia khác như:
Ấn Độ, Srilanka được nghiên cứu bởi Martynov (1935, 1936), Trung Quốc(Martynov, 1931; Wang, 1963), Nhật Bản (Iwata, 1927; Tanida, 1987) [13].Trong giai đoạn hiện nay, hướng nghiên cứu đánh giá chất lượng nước dựatrên đối tượng là các loài thuộc nhóm côn trùng này được nhiều nhà khoa họcquan tâm tìm hiểu Do đó, các công trình liên quan đến giai đoạn ấu trùng xuấthiện ngày càng đồ sộ như nghiên cứu của Wiggins (1996) [13] Ở khu vực Bắc
Mỹ, Merritt R w & Cummins K w (1996), đã xây dựng khóa định loại tới
giống của bộ Cánh lông ở cả giai đoạn ấu trùng và trưởng thành
Nghiên cứu về bộ Cánh cứng (Coleoptera)
Bộ Cánh cứng (Coleoptera) là bộ lớn nhất trong giới Động vật Hiệnnay, số loài thuộc bộ côn trùng này vào khoảng 277.000 đến 350.000 loài vàkhoảng 10.000 thuộc nhóm côn trùng nước [15] Theo các kết quả nghiên cứunhóm sống dưới nước được xem là đa dạng nhất ở khu hệ suối vùng nhiệt đói.Hiện nay, các công trình nghiên cứu về bộ Cánh cứng tập trung vào phân loại
Trang 16học, sinh thái học, tiến hóa như: các nghiên cứu của Feng (1932, 1933),Gschwendtner (1932), Fernando (1962, 1969), Nertrand (1973), Jach (1984).Heinrich & Balke (1997), Gentuli (1995), Jach & Ji (1995, 1998, 2003) [16] đãcung cấp khá đầy đủ những dẫn liệu về phân loại học của bộ Cánh cứng ở châuÁ.
Wu và cộng sự đã xác định ở Trung Quốc có 601 loài, Sato (1988) đãđịnh loại được 311 loài ở Nhật Bản, Britton (1970) xác định ở úc có khoảng
510 loài và White (1984) đã phân loại được 1.143 loài ở khu vực Bắc Mỹthuộc bộ Cánh cứng [15]
Nghiên cứu về bộ Hai cánh (Diptera)
Bộ Hai cánh là một trong những bộ côn trùng có số lượng loài nhiềunhất trong giới Động vật vói khoảng 120.000 loài sống ở nước được biết trênthế giới Đây là bộ có nhiều họ rất phổ biến và được nghiên cứu rất kỹ, dochúng có quan hệ chặt chẽ với đời sống con người như họ Muỗi (Culicidae),
họ Ruồi đen (Simuliidae) Các nghiên cứu về bộ Hai cánh đã được rất nhiềucác nhà khoa học công bố, đặc biệt là các công trình nghiên cứu của Alexander(1931), Mayer (1934), Zwich & Hortle (1989) [14] Đối với khu vực châu Á,Delfïnado & Hardy (1973, 1975, 1977) đã tổng hợp một danh lục khá đầy đủ
về thành phần loài của bộ Hai cánh ở miền Ấn Độ - Mã Lai Khóa định loại tới
họ và giống hiện nay chủ yếu thực hiện theo khóa định loại được xây dựng bởiHarris (1990) [15]
Nghiên cứu về bộ Cánh rộng (Megaloptera)
Bộ Cánh rộng được xem là nhóm côn trùng nguyên thủy trong nhómcôn trùng biến thái hoàn toàn Hiện nay, bộ Cánh rộng có khoảng 300 loàiđược biết trên thế giới và chia thành hai họ là: Corydalidae và Sialidae Giai
16
Trang 17đoạn trưởng thành ở cạn và ăn thịt, thường hoạt động vào ban đêm Tuy nhiên,giai đoạn ấu trùng lại sống dưới nước và ăn thịt các loài động yật [15].
Số lượng loài thuộc họ Sialidae rất phong phú ở các thủy vực nước ngọtnhư: sông, suối, hồ nơi có nhiều mùn, các mảnh vụn, cát hoặc sỏi nhỏ Chúngtrải qua 5 lần lột xác và sống được khoảng 1 năm trong vòng đời của mình Ấutrùng rời khỏi các thủy vực nước ngọt và hóa nhộng Các loài thuộc họ này lạiphân bố rất hẹp Ở châu Á, họ này mới chỉ phân bố ở vùng ôn đới thuộc Hàn
Quốc, Nhật Bản và một số nơi ở Trung Quốc (Bank, 1940) [15] Nghiên cứu
về bộ Cánh vảy (Lepỉdoptera)
Trong bộ Cánh vảy chỉ có một số loài thuộc họ Pyralidae, Pyraustidae
và Crambidae sống ở nước Ở châu Á, các nghiên cứu về Lepidoptera chủ yếu
là về phân loại học trong đó có các nghiên cứu của Rose & Pajni (1987),Habeck & Solis (1994) và Munroe (1995) [14] Trong các nghiên cứu này, cáctác giả cũng đã thành lập khóa định loại cụ thể tói loài
1.2 Tình hình nghiên cứu tại Việt Nam
Vấn đề nghiên cứu côn trùng nước ở Việt Nam đã được một số tác giả
đề cập đến, những nghiên cứu tập trung vào lĩnh vực phân loại học đối với các
bộ phổ biến của côn trùng nước cũng như những nghiên cứu sử dụng côn trùngnước làm sinh vật chỉ thị Dưới đây là một số kết quả nghiên cứu chính về côntrùng nước ở Việt Nam cho đến giai đoạn hiện nay
Nghiên cứu về bộ Phù du (Ephemeroptera)
Tác giả đàu tiên mô tả các loài thuộc bộ Phù du ở Việt Nam là Lestage(1921, 1924) Ông đã công bố 3 loài mới của bộ Phù du dựa vào mẫu yật đượclưu giữ ở bảo tàng Pari (mẫu thu được ở miền Bắc Việt Nam) Ngay sau đó,
Navás (1922) [19] mô tả 2 loài thuộc giống Ephemera.
Trang 18Đặng Ngọc Thanh (1967), mô tả một loài mới thuộc họ Heptageniidaekhi nghiên cứu về khu hệ Động vật Không xương sống ở miền Bắc Việt Nam.Đặng Ngọc Thanh (1980) xác định khu hệ Phù du ở Việt Nam có 54 loài, 29giống thuộc 13 họ khác nhau Đặc biệt trong nghiên cứu này ông đã mô tả hai
loài mới cho khoa học đó là Thalerosphyrus vietnamensis Dang và
Neoephemeropsis cuaraoensis Dang [19].
Tshemova (1972), mô tả giống Vieừiamella dựa vào loài chuẩn
Vieừiamella thani Sau này, giống Vieừiamelỉa tiếp tục được tìm hiểu và bổ
sung bởi Alien (1980), McCafferty & Wang (1997, 2000) Một vài loài thuộc
họ Potamanthidae, Neoephemeridae và Ephemerellidae được nghiên cứu bởiBae và McCafferty (1991, 1998); Aleen (1971) [19]
Braacsh & Soldan (1979, 1984, 1986, 1988) đã mô tả 10 loài mói thuộc
họ Heptagenidae thu được từ một số suối ở Việt Nam
Nguyễn Xuân Quýnh và cộng sự (2001), khi xây dựng khoá định loạicác nhóm động vật không xương sống nước ngọt thường gặp ở Việt Nam đãxây dựng khoá định loại tới họ ấu trùng Phù du Ket quả của công trình này là
cơ sở khoa học cho các nghiên cứu phân loại về Phù du cững như việc sử dụngđối tượng này là sinh yật chỉ thị cho các thuỷ vực nước ngọt ở Việt Nam
Nguyễn Văn Vịnh & Yeon Jae Bae (2003, 2004, 2005, 2006, 2008) đãtiến hành nghiên cứu khu hệ phù du ở một số Vườn quốc gia của Việt Namđồng thời công bố một số loài mói cho khu hệ Phù du ở Việt Nam và cho khoahọc Nguyễn Văn Vịnh (2003), đã xây dựng khóa định loại và mô tả đặc điểmhình dạng ngoài của các loài thuộc bộ Phù du ở Việt Nam Nghiên cứu này là
cơ sở để phục vụ cho các hướng nghiên cứu tiếp theo về bộ Phù du ở nước ta
Nghiên cứu về bộ Chuồn chuồn (Odonata)
18
Trang 19Nghiên cứu về khu hệ thiếu trùng Chuồn chuồn ở Việt Nam còn tảnmạn và chưa thành hệ thống Chủ yếu các nghiên cứu tập trung vào giai đoạntrưởng thành Bộ Chuồn chuồn ở Việt Nam được nghiên cứu lần đầu tiên vàonhững năm đầu thập niên 90 của thế kỷ XX dưới thòi Pháp thuộc bỏi một sốnhà nghiên cứu người Pháp: Martin trong báo cáo được công bố năm 1902 khiđiều tra khu hệ động yật Đông Dương Trong báo cáo này, ông công bố 139loài thuộc 3 họ: Libellulidae, Aeshnidae và Agrionidae Trong 139 loài, Martin
đã mô tả 9 loài mới và một giống mới là Merogomphus [1].
Asahina - thuộc bảo tàng Tự nhiên Tokyo (Nhật Bản) là một trongnhững người tiên phong nghiên cứu khu hệ Chuồn chuồn ở Việt Nam Cho tớithời điểm hiện tại, ông là người công bố nhiều công trình về khu hệ Chuồnchuồn ở nước ta Hầu hết các mẫu vật Chuồn chuồn ở Việt Nam mà Asahinađịnh loại đều có được từ các cộng sự và đồng nghiệp thu thập, những người đãtrực tiếp đến Việt Nam để khảo sát và điều tra Asahina (1996) đã công bố 84loài thuộc 12 họ Chuồn chuồn ở miền Nam Việt Nam Trong tài liệu này, tác
giả đã công bố một loài mới: Chlogomphus vietnamensis Asahina, thuộc họ
Cordulegasteridae
Nguyễn Xuân Quýnh và cộng sự (2001), khi xây dựng khóa định loạicác nhóm động vật không xương sống nước ngọt thường gặp ở Việt Nam đãxây dựng khóa định loại tói họ của bộ Chuồn chuồn
Nguyễn Văn Vịnh và cộng sự (2001), trong nghiên cứu khu hệ côntrùng nước ở Vườn quốc gia Tam Đảo đã xác định được 26 loài thuộc 12 họcủa bộ Chuồn chuồn ở khu vực này Tuy nhiên, do những nghiên cứu về phânloại thiếu trùng chuồn chuồn ở Việt Nam còn ít Do đó, những mẫu yật thuđược mới chỉ phân loại đến bậc giống
Nghiên cứu về bộ Cánh úp (Plecoptera)
Trang 20Ở Việt Nam, những nghiên cứu về bộ Cánh úp đã được quan tâm nghiêncứu ừong thơi gian gần đây Một vài loài đã được mô tả bỏi Kawai (1968,1969), Zwick (1988), Stark và cộng sự (1999)[12], nhưng tất cả các mẫu vậtđều ở giai đoạn trưởng thành Mục đích của những nghiên cứu là nhằm xácđịnh lại và mô tả một số loài mới thuộc bộ Cánh úp dựa trên những nghiên cứutrước đó và những điều tra về sau của cả giai đoạn trưởng thành và ấu trùngđược thu thập ở Việt Nam Thêm vào đó là việc xác định khóa định loại tớiloài của bộ Cánh úp ở cả giai đoạn trưởng thành và ấu trùng ở Việt Nam cũngnhư sinh thái, nơi ở của chúng Cao Thị Kim Thu (2002), đã xây dựng khóađịnh loại tói loài Cánh úp ở Việt Nam Công trình là cơ sở khoa học cho cácnghiên cứu về bộ Cánh úp ở nước ta.
Nguyễn Xuân Quýnh, Clive Pinder, Steve Tilling (2001), khi định loạicác nhóm động yật không xương sống nước ngọt thường gặp ở Việt Nam cũng
đã xây dựng khóa định loại tới họ của bộ Cánh úp Đồng thời, ông cũng đánhgiá chất lượng nước dựa vào họ Perlidae thuộc bộ này
Nghiên cứu về bộ Cánh lông (Trichoptera)
Ở Việt Nam, bộ Cánh lông được nghiên cứu từ rất sớm Những tài liệu
về Cánh lông đã được xuất bản bởi các nhà phân loại học đến từ các nước châu
Âu như: Đức (Ulmer, 1907), Tây Ban Nha (Navás, 1913) Sau những nghiên
cứu đầu tiên của Ulmer về 2 loài Hydromanicus buennỉngi và
Paraphlegopteryx tonkinensis, ông đã đặt nền móng cho việc nghiên cứu về
Cánh lông ở Việt Nam Tiếp theo, Navás (1913, 1917, 1921, 1922, 1930, 1932,1933) [13] đã IĨ1Ô tả một số loài thuộc các tổng họ của Hydropsychoidae,Philopotamoidae (Stenopsychidae), Leptoceroidae, Limnephiloidae vàRhyacophiloidae Banks (1931) và Mosely (1934) [13] nghiên cứu vềHydropsychoidae, Limnephiloidae và Rhyacopphiloidae Oláh (1987 - 1989)
20
Trang 21mô tả các loài thuộc Glossosomatoidae, Hydroptiloidae và Rhyacophiloidae[13].
May (1995-1998) và Malicky (1994, 1995, 1998), ĨĨ1Ô tả các loài thuộccác họ Hydropsychoidae, Glossosomatoidae, Rhyacopphiloidae,Phiolopotamoidae, Limnephiloidae, Hydroptiloidae, Sericostomatoidae vàLeptoceroidae từ các mẫu vật thu được ở một số vùng của Việt Nam Malicky
và Mey (2001), mô tả 2 loài mới thuộc giống Ceratopsyche ở miền Bắc Việt Nam Schefter và Johanson (2001), mô tả 3 loài thuộc giống Helỉcopsyche.
Nguyễn Văn Vịnh và cộng sự (2001) định loại được 23 loài thuộc 16 họ của
bộ Cánh lông ở Vườn Quốc gia Tam Đảo khi nghiên cứu về nhóm côn trùngnước tại khu yực này
Nguyễn Xuân Quýnh, Clive Pinder, Steve Tilling (2001), đã xây dựngkhóa định loại tới họ của bộ Cánh lông thường gặp ở nước ta Hoàng Đức Huy(2005) mô tả đặc điểm hình dạng, cấu tạo ngoài của các loài Cánh lông ở ViệtNam dựa vào giai đoạn ấu trùng
Nghiên cứu về các bộ Cánh cứng, bộ Hai cánh, bộ Cánh nửa, bộ Cánh vảy
và bộ Cánh rộng
Ở nước ta, các công trình nghiên cứu về bộ Cánh cứng (Coleoptera),Hai cánh (Diptera), bộ Cánh vảy (Lepidoptera) và bộ Cánh rộng(Megaloptera) còn tản mạn Các nghiên cứu thường không tập trung vào một
bộ cụ thể mà thường đi cùng với các công trình nghiên cứu về khu hệ côntrùng nước nói chung như: Nguyễn Văn Vịnh (2001) nghiên cứu ở Vườn Quốcgia Tam Đảo; Cao Thị Kim Thu, Nguyễn Văn Vịnh và Yeon Jae Bae (2008)nghiên cứu ở Vườn Quốc gia Bạch Mã, Nguyễn Xuân Quýnh và cộng sự(2001) khi định loại các nhóm động yật không xương sống nước ngọt thườnggặp ở Việt Nam
Trang 22Những nghiên cứu đầu tiên về khu hệ Cánh nửa ở Việt Nam được bắtđầu vào những năm đầu của thế kỷ XX Loài đầu tiên thuộc họ Gerridae
(Hemiptera) được mô tả ở Việt Nam là Ptilomera hylactor Breddin, 1903
thuộc Bắc Việt Nam Tiếp theo, khu hệ Genidae ở Việt Nam tiếp tục được mô
tả bởi Andersen (1975, 1980, 1993); Andersen & Cheng (2004); Polhemus(2001); Chen & Zettel (1999), Polhemus & Andersen (1994); Polhemus &Karunaratne (1993) [22]
Trần Anh Đức (2008), mô tả khá đầy đủ và chi tiết hình dạng ngoài củacác loài thuộc họ Gerridae ở Việt Nam Đây là cơ sở khoa học cho các nghiêncứu về bộ Cánh nửa ở nước ta
1.3 Khái quát điều kiện tự nhiên, tình hình kinh tế, xã hội ở xã Ngọc Thanh, thị xã Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc
\ 3.1 Điều kiên tư nhiên•
•
1.3.1.1 Vị trí địa lí
Vị trí : Khu vực nghiên cứu chính thuộc địa bàn xã Ngọc Thanh, thị xãPhúc Yên , tỉnh Vĩnh Phúc là xã miền núi duy nhất của thị xã Phúc Yên, tỉnhVĩnh Phúc cách Hà Nội 50km về phía Tây Bắc nằm ở vị trí Phía Bắc và ĐôngBắc của xã giáp huyện Phổ Yên( tinh Thái Nguyên); phía Nam giáp xã CaoMinh, thị xã Phúc Yên; phía tây giáp huyện Bình Xuyên; phía Đông Nam giáphuyện Sóc Sơn( TP Hà Nội)
Toạ độ địa lý: Từ 21° 20' - 21°25' vĩ độ Bắc Từ 105° 25’ - 105°50' kinh
Trang 23Khu vực nghiên cứu thuộc vùng đồi núi thấp, độ cao so với mực nướcbiển trung bình từ 25m - 300m, cao nhất là đỉnh Tam Tương 396m, ở các đỉnhnúi cao, sườn dốc 20 - 300m, còn lại là độ dốc dưới 200m Địa hình nhìnchung chịu sự chi phối của 4 dãy núi chạy dọc theo hướng Đông Bắc và TâyNam, bị chia cắt thành thung lũng hẹp.
Theo tài liệu thu thập của trạm khí tượng thuộc Trung tâm Khoa học sảnxuất lâm nghiệp Đông Bắc Bộ (đặt tại văn phòng Trung tâm) cách hiện trườngnghiên cứu dưới 200m thì khu vực nghiên cứu nằm trong vùng khí hậu nhiệtđới mưa mùa (mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10, mùa khô từ tháng 11 đếntháng 4 năm sau), chịu ảnh hưởng của hai loại gió chính là gió mùa Đông
- Bắc và gió Đông - Nam
Nhiệt độ không khí trung bình năm là 23,60C, nhiệt độ tối cao trungbình là 31,50(tháng 6) Lượng mưa trung bình quân năm 1456,6mm, phân bốkhông đều trong năm
Gió mùa Đông Bắc là gió chính hoạt động từ tháng 11 đến tháng 3 nămsau, gió mùa Đông Nam thường thổi từ tháng 4 đến tháng 10 mang theo hơinước, ẩm Thời gian này cũng chính là mùa mưa nóng ảnh hưởng thuận lợicho cây trồng sinh trưởng phát triển
Nền địa chất bao gồm các đá mẹ phiến thạch, phấn sa, sa thạch cónhững tảng thạch anh xen kẽ nhau tạo thành 1 lớp phủ phong hóa không đều.Chủ yếu là đất feralit vàng đỏ hoặc đỏ vàng phát triển trên đá mẹ phiến thạchsét, sa thạch Tầng đất từ mỏng đến trung bình, ít nơi có tầng dày trên lm.Thành phần cơ giói tò thịt nhẹ đến sét, đất bị xói mòn mạnh, thường có kếtvon từ 20 - 70%
Trang 24CHƯƠNG 2ĐỐI TƯỢNG, THỜI GIAN, ĐỊA ĐIỂM, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN cứu
2.1 Đổi tượng nghiên cứu
Mau vật được sử dụng trong nghiên cứu là các loài côn trùng nước tạimột sô thủy yực thuộc địa phận xã Ngọc Thanh, thị xã Phúc Yên, tỉnh VĩnhPhúc
2.2 Thòi gian nghiên cứu
- Thời gian: từ tháng 5 năm 2014 đến tháng 5 năm 2015
- Thời gian thu mẫu ngoài thực địa từ ngày 12 đến ngày 15/09/2014
2.3 Địa điểm nghiên cứu
Địa điểm nghiên cứu: xã Ngọc Thanh, thị xã Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc
24
Trang 25Chúng tôi tiến hành thu mẫu tại 12 điểm nghiên cứu thuộc các hệ thống suối
tỉnh Vĩnh Phúc và các điểm thu mẫu được đánh số thứ tự tò NT1 đến NT12 Sơ đồ thu
-Hình 2.1 Sơ đồ các điểm thu mẫu trong khu vực nghiên cứu Ghi chú: ^
điểm thu mẫu (Nguồn: Uỷ ban nhân dân xã Ngọc Thanh, 2014)
u
í
Trang 26Dưới đây là một số đặc điểm chính của các điểm thu mẫu:
• Điểm 1(NT1 ) Điểm thu mẫu là suối thuộc hang dơi.
Chiều rộng của suối là 6-7m, độ sâu 80-100 cm Nền đáy chủ yếu là đá, đôikhi có tảng lớn và sỏi
Xung quanh suối có rừng cây bóng mát và cây cỏ
Suối là một điểm du lịch Dòng nước chảy bình thường, chịu tác động của con người nhưng ít
Độ che phủ khoảng 50%,có chỗ 5-10%
• Điểm 2(NT2): Điểm thu mẫu cách hang dơi 50m.
Suối có chiều rộng 4-5m, có chỗ chỉ hơn lm, sâu khoảng 15-30cm
Độ che phủ 0-5% Xung quanh suối là rừng cây
Nước chảy bình thường, nền đáy chủ yếu là tảng đá bình thường, có nhiều
đá nhỏ, giữa suối có nhiều cỏ mọc
• Điểm 3 ịNT3'): Điểm thu mẫu là suối thuộc thôn Đồng Chằm.
Độ rộng của suối 2-3m, độ sâu 50-60cm, có chỗ 10-30cm
Xung quanh suối có nhiều cây bóng mát, độ che phủ 80-95%
Nước chảy bình thường, nền đáy chủ yếu là đá nhỏ,có chỗ có đá tảng lớn
và sỏi
Suối ở cạnh nhà dân, có nuôi vịt
• Điểm 4(NT4): Điểm thu mẫu gần đập tràn 1.
Độ che phủ gần như là 0%
Suối có dòng nước chảy mạnh, nền đáy chủ yếu là bùn, cát
Chiều rộng của suối 5-6m
• Điểm 5(NT5): Điểm thu mẫu là suối thuộc thôn Tân An, là hệ thống
mương dẫn nước phục vụ cho tưới tiêu.
Nen đáy chủ yếu là sỏi và cát Hai bên bờ là cỏ dại
Trang 27• Điểm 6 (NT6): Điểm thu mẫu là suối thuộc thôn Tân An.
Suối có chiều rộng hơn lm, độ sâu 20-50cm
Nền đáy chủ yếu là đá nhỏ, đá có nhiều rêu bám vào,có cả sỏi và bùn Xung quanh suối là cỏ dại, độ che phủ 0-5%, có chỗ 85-95%
• Điểm 7(NT7): Điểm thu mẫu ở suối thuộc thôn Tân An.
Suối có chiều rộng l,5-2m, sâu 40-60cm Nen đáy chủ yếu là đá nhỏ, cũng có lẫn ít đá to, sỏi và bùn
Xung quanh là cỏ dại, độ che phủ khoảng 70-85%
Chịu tác động của nhà dân,vịt nuôi
• Điểm 8(NT8): Điểm thu mẫu là suối thuộc thôn Bình Khê.
Suối có độ rộng 70cm, độ sâu 20-30cm Nền đáy chủ yếu là đá, sỏi Xung quanh có cây cỏ và cây bóng mát, độ che phủ là 90%
• Điểm 9(NT9): Điểm thu mẫu là suối thuộc thôn Thanh Cao.
Suối có chiều rộng 80cm, chiều sâu 20-30cm
Nền đáy chủ yếu là đá và bùn
Xung quanh có cây cỏ,rác và một số tảng đá lớn Độ che phủ 15-20%,
có chỗ 80-90%
• Điểm 10 (NT10): Điểm thu mẫu là con suối nhỏ thuộc thôn Thanh Cao.
Suối có chiều rộng 50cm-lm, độ sâu 10-20cm
Dòng nước chảy bình thường
Nền đáy chủ yếu là đá và ít bùn
Xung quanh có khoai, cỏ dại và cây tre Độ che phủ khoảng 85-95%
• Điểm 11 (NT 11): Điểm thu mẫu là con suối nhỏ thuộc thôn Thanh Cao.
Suối có chiều rộng 3-4m,có chỗ l,55-2m, sâu lm, có chỗ 10-30cm
Nen đáy chủ yếu là bùn, một ít sỏi và đá nhỏ
Xung quanh suối là cỏ dại,độ che phủ là 10-20%, có chỗ 80-90%
Trang 28• Điểm 12 (NT12): Điểm thu mẫu là con số nhỏ thuộc thôn Thanh Cao.
Chiều rộng của suối là l,5-2m, có chỗ 80cm, độ sâu 15-20cm, có chỗ30cm Nước chảy nhẹ
Xung quanh có cây cỏ
2.4. Nội dung nghiên cứu
- Đa dạng sinh học về loài của nhóm côn trùng nước tại xã Ngọc Thanh, thị
xã Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc
- Sự phân bố của côn trùng nước theo tính chất thủy vực
- Loài ưu thế, chỉ số đa dạng sinh học Shannon - Weiner và chỉ số tươngđồng Sorensen tại khu vực nghiên cứu
2.5 Phương pháp nghiền cứu
2.5.1 Phương pháp thu mẫu ngoài tự nhiên
Quá trình thu mẫu cần thu mẫu định tính và mẫu định lượng ở các điểmđiều tra dọc theo hệ thống suối trong khu vực nghiên cứu Chọn điểm có thể thuđược mẫu định lượng để thu trước sau đó mới tiến hành thu mẫu định tính đểtránh làm ảnh hưởng đến chất lượng mẫu định lượng Mau được thu theo phươngpháp của Edmunds et al (1976) và McCafferty (1983), Nguyễn Văn Vịnh(2003)
Trang 29đứng Ở nhiều nơi có cây bụi thủy sinh dùng vợt sục vào các cây bụi đó và các rễcây ven bờ suối, ở những vùng nước nhỏ hoặc dòng chảy hẹp việc thu mẫu đượctiến hành bằng vợt cầm tay.
Thu mẫu định lượng
Sử dụng lưới Surber (50cm X 50cm, kích thước mắt lưới 0,2mm) lấy 2mẫu:một mẫu ở nơi nước đứng và một mẫu ở nơi nước chảy
Mau sau khi thu được loại bỏ rác, làm sạch bùn đất Do các cá thể côntrùng nước có cơ thể mềm, dễ nát nên thu mẫu phải nhẹ nhàng và nhặt qua mẫungay tại thực địa Mau thu ngoài thực địa được bảo quản trong cồn 70°, ghi etiketđầy đủ và đem về lưu trữ, bảo quản, phân tích và định loại tại phòng thí nghiệm
2.5.2 Phương pháp nghiên cứu trong phòng thí nghiệm
- Phương pháp nhặt mẫu: mẫu được rửa sạch cho ra khay Dùng panh nhặtcác đại diện côn trùng nước đã thu được, mẫu sau khi nhặt cho vào lọ vàbảo quản trong cồn 80°
- Phương pháp phân tích mẫu:
Dụng cụ phân tích gồm: kính hiển vi, kính lúp, đĩa petri, lam kính, lamen,kim nhọn, panh
Phân loại mẫu vật: mẫu vật được phân loại theo các khóa định loại đượccông bố trong và ngoài nước của Nguyễn Văn Vịnh (2003), Cao Thị Kim Thu(2002), Hoàng Đức Huy (2005), Nguyễn Xuân Quýnh và cộng sự (2001), Meritt
R w và Cummins K w (1996), Morse J c., Yang L & Tian L (1994)
2.5.3 Phương pháp xử lý số liệu
Số liệu thu thập được xử lý qua bảng biểu, sơ đồ, đồ thị biểu diễn số lượng
và biến động số lượng Các số liệu được xử lý bằng phần mềm Microsoft officeexel 2007 và phần mềm Primer 6
Trang 302.6 Chỉ sổ ỉoàỉ ưu thế, chỉ sổ đa dạng Shannon - Weiner (IT) và chỉ
tổng số cá thể trong điểm thu mẫu
+ Chỉ số Shannon - Weiner (chỉ số H’) nhằm xác định lượng thông tin hay tổng lượng trật tự (hay bất trật tự) có trong một hệ thống Công thức để tính chỉ
số này là:
H=-^—log2 — fn'xr 02 M
Í^N N VớiH’: chỉ số đa dạng loài s: sốlượng loài
N: số lượng cá thể trong toàn bộ mẫu ni! số lượng cá thể của loài i
Hai thành phàn của sự đa dạng được kết hợp trong hàm Shannon - Weiner
là số lượng loài và tính bình quân của sự phân bố các cá thể giữa cácloài Do vậy, số lượng loài càng cao thì chỉ số H’ càng lớn và sự phân bố
Trang 31- Neu chỉ số đa dạng < 1 : ĐDSH kém và rất kém + Chỉ sổ tương đồng (chỉ số
Jacca - Sorensen) được chúng tôi sử dụng để đánh giá mức độ giống nhau về thành phàn loài của các điểm nghiên cứu Chỉ số này được tính theo công thức:
K = 2c a + b
Trong đó: a: số loài trong điểm thu mẫu thứ nhất
b: số loài ừong điểm thu mẫu thứ hai c: số
loài chung cho cả hai điểm thu mẫu
К nhận giá tri từ 0 đến 1 Giá trị к càng gần 1 thì mức độ giống nhau vềthành phần loài của các điểm nghiên cứu càng lớn Các giá trị của к tương ứngvới mức tương đồng như sau [4]:
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1 Đa dạng sinh học về loài của nhóm côn trùng nước tại xã
Ngọc Thanh, thị xã Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc
Kết quả phân tích mẫu vật thu được tại khu vực nghiên cứu đã xácđịnh được 69 loài của 60 giống thuộc 38 họ của 8 bộ côn trùng nước Ket quảnghiên cứu được trình bày trong bảng 3.1 và hình 3.1
Bảng 3.1 Cấu trúc thành phần loài côn trùng nước tại khu vực nghiên cứu
Trang 32Hình 3.1 Tỷ lệ % số loài theo bộ tại khu vực nghiên cứu
Kết quả nghiên cứu cho thấy, số lượng loài thu được tại khu yực nghiêncứu giữa các bộ khác nhau rõ rệt Trong 8 bộ côn trùng nước thu được, bộ Phù du