ĐẶC ĐIỂM NGÀNH CHĂN NUÔI VIỆT NAM Chăn nuôi là một trong hai ngành sản xuất chủ yếu của nông nghiệp, với đối tượng sản xuất là các loại động vật nuôi nhằm cung cấp các sản phẩm đáp ứng n
Trang 1NHỮNG CAM KẾT MỞ CỬA CỦA VIỆT NAM ĐỐI VỚI NGÀNH CHĂN NUÔI CỦA NGÀNH CHĂN NUÔI
I. ĐẶC ĐIỂM NGÀNH CHĂN NUÔI VIỆT NAM
Chăn nuôi là một trong hai ngành sản xuất chủ yếu của nông nghiệp, với đối tượng sản xuất là các loại động vật nuôi nhằm cung cấp các sản phẩm đáp ứng nhu cầu của con người Ngành chăn nuôi cung cấp các sản phẩm có giá trị kinh tế cao như thịt, trứng, sữa, mật ong nhằm đáp ứng các nhu cầu tiêu dùng thiết yếu hàng ngày của người dân Một
xu hướng tiêu dùng có tính qui luật chung là khi xã hội phát triển thì nhu cầu tiêu dùng về các sản phẩm chăn nuôi ngày càng tăng lên một cách tuyệt đối so với các sản phẩm nông nghiệp nói chung Chăn nuôi là ngành cung cấp nhiều sản phẩm làm nguyên liệu quí giá cho các ngành công nghiệp chế biến thực phẩm và dược liệu Chăn nuôi là ngành ngày càng có vai trò quan trọng trong việc cung cấp các sản phẩm đặc sản tươi sống và sản phẩm chế biến có giá trị cho xuất khẩu
Sau đây là 1 số đặc điểm tiêu biểu của ngành chăn nuôi tại Việt Nam:
1. Cơ cấu ngành chăn nuôi chưa đồng đều.
Ngành chăn nuôi đóng góp trên 21% tổng GDP từ nông nghiệp ( tương đương 6% tổng GDP quốc gia Các thành phần chính của ngành chăn nuôi là chăn nuôi gia súc, gia cầm và các sản phẩm không qua giết thịt ( vd: ong … )
Giá trị ( tỷ đồng) Tổng số Gia súc Gia cầm Sản phẩm không qua giết thịt
2007 106.454,8 84.157,6 10.440,8 11.347,0
2008 114.543,8 87.962,9 13.362,8 12.095,2
2009 126.614,4 96.192,2 15.972,4 13.223,1
2010 135.137,2 97.685,4 19.884,2 15.280,1
2011 141.204,2 99.494,9 25.760,7 13.606,6
2012 144.863,0 101.377,7 26.921,7 14.141,1
Sơ bộ 2013 147.979,5 102.589,8 27.596,5 15.295,8
Giá trị sản xuất ngành chăn nuôi phân theo nhóm vật nuôi và loại sản phẩm
Theo: Tổng cục thống kê
Trang 2Trâu Bò Ngựa Dê, cừu Lợn Gia cầm (Triệu con)
Số lượng (Nghìn con )
2007 2.996,4 6.724,7 103,5 1.777,7 26.560,7 226,0
2008 2.897,7 6.337,7 121,2 1.483,4 26.701,6 248,3
2009 2.886,6 6.103,3 102,2 1.375,1 27.627,7 280,2
2010 2.877,0 5.808,3 93,1 1.288,4 27.373,1 300,5
2011 2.712,0 5.436,6 88,1 1.267,8 27.056,0 322,6
2012 2.627,8 5.194,2 1.343,6 26.494,0 308,5
Sơ bộ 2013 2.559,6 5.156,0 1.345,4 26.261,4 314,8
Số lượng gia súc gia cầm Việt Nam giai đoạn 2007-2013
Theo: Tổng cục thống kê
Có thể thấy, ngành chăn nuôi nước ta chủ yếu phát triển chăn nuôi gia súc nhưng trâu, bò, lợn Trong đó chăn nuôi lợn chiếm tỉ trọng lớn nhất, chiếm ¾ tổng giá trị chăn nuôi gia súc Nước ta cũng tập trung nuôi trâu, bò nhưng chủ yếu để lấy sức kéo cho sản xuất nông nghiệp Do vậy quy mô đàn trâu bò tăng chậm Những năm gần đây chăn nuôi trâu
bò ở nước ta chuyển mạnh sang chăn nuôi với mục đích lấy thịt và sữa trong đó cơ cấu đàn bò là chủ yếu
2. Các trại chăn nuôi quy mô nhỏ và phân tán.
Ngành chăn nuôi của Việt Nam đặc trưng bởi các trại chăn nuôi quy mô nhỏ và thiếu tập trung Quy mô điển hình của các trại chăn nuôi lơn là từ 1- 5 con Các trang trại thường phân bố nhiều hơn ở các vùng ngoại ô các thành phố nhưng các vùng nông thôn cũng có các trang trại chủ yếu cung cấp cho thị trường địa phương thay vì cung cấp sản phẩm cho đô thị lớn Những năm gần đây, trang trại chăn nuôi phát triển nhanh cả về số lượng, chủng loại và quy mô Tuy nhiên, theo số liệu chưa đầy đủ, hiện toàn quốc có 23.000 trang trại (TT) chăn nuôi, trong đó miền Bắc chiếm khoảng 40%; miền Nam là chiếm 60 %
Trang 33. Ngành chăn nuôi phụ thuộc vào cơ sở nguồn thức ăn.
Trong chăn nuôi, thức ăn được coi như “nguyên liệu” cho sản xuất “công nghiệp” Điều quan trọng hơn là cỗ máy “công nghiệp” chăn nuôi lại vận hành liên tục không được phép dừng hoạt động sản xuất, dù chỉ một ngày, nên nguồn nguyên liệu thức ăn chăn nuôi đòi hỏi phải được đảm bảo một cách đầy đủ kịp thời thường xuyên liên tục Tính chất sản xuất và cung cấp thức ăn, đặc điểm và tính hữu hiệu của thức ăn chăn nuôi
sẽ quyết định tính chất, đặc điểm và năng suất sản phẩm ngành chăn nuôi Do vậy phát triển sản xuất đảm bảo cung cấp đầy đủ nguồn thức ăn là một nội dung và là cơ sở quan trọng của phát triển ngành chăn nuôi
Hiện tại ở nước ta có 3 nguồn thức ăn chăn nuôi chính:
- thức ăn tự nhiên
- thức ăn từ sản xuất trồng trọt
- thức ăn được chế biến, sản xuất
Do chăn nuôi còn mang tính nhỏ lẻ và phân tán, chủ yếu là chăn nuôi hộ gia đình nên nguồn thức ăn được ng chăn nuôi Việt Nam sử dụng chính là thức ăn tự nhiên và thức ăn
từ sản xuất trồng trọt Điều này không có lợi cho việc phát triển, ngành chăn nuôi cần đi đôi, song hành với chế biến sản xuất thức ăn chăn nuôi để đạt được sản lượng và chất lượng tốt hơn
Tuy nhiên ngành sản xuất thức ăn chăn nuôi ở Việt Nam còn gặp rất nhiều khó khăn Sản xuất thức ăn chăn nuôi ở Việt Nam phụ thuộc nhiều vào nguyên liệu dùng trong chế biến phải nhập khẩu từ nước ngoài, trung bình khoảng 8 triệu tấn/ năm Trong các nguyên liệu sản xuất thức ăn chăn nuôi thì Việt Nam mới chủ động được cám gạo còn các nguyện liệu khác phần lớn phụ thuộc vào nhập khẩu Trong đó, các loại nguyên liệu giàu đạm như
Trang 4khô dầu đậu tương, bột xương thịt, bột cá nhập tới 90% và khoáng chất, vitamin, phụ gia phải nhập khẩu 100% Tính đến 12/2013 Việt Nam nhập khẩu thức ăn gia súc và nguyên liệu từ 26 thị trường trên thế giới, trong đó Achentina là thị trường cung cấp chính, đạt kim ngạch 62,4 triệu USD, tăng 72,30% so với cùng kỳ năm trước Đứng thứ hai là thị trường Hoa Kỳ với kim ngạch 31 triệu USD, tăng 97,64% Việc phụ thuộc vào nguồn nguyên liệu và thức ăn nhập khẩu là một khó khăn lớn đối với ngành chăn nuôi Việt Nam
4. Ngành chăn nuôi chuyển hướng chuyên môn hóa.
Để tiếp tục phát triển, ngành chăn nuôi nước ta đang dần chuyển hướng chuyên môn hóa Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn với đề án tái cơ cấu lại ngành nông nhiệp trong đó có ngành chăn nuôi
Mô hình chăn nuôi đang được chuyển hướng quản lý theo chuỗi sản phẩm Những hộ chăn nuôi nhỏ lẻ sẽ được sắp xếp và tập hợp lại thành chuỗi liên kết thông qua hợp tác xã hoặc câu lạc bộ chăn nuôi nhằm nâng quy mô lượng hàng hóa sản xuất
Cải thiện chất lượng sản phẩm bằng nhiều biện pháp trong đó có sang lọc lựa chọn, tạo ra giống vật nuôi mới cho năng suất cao, hạn chế lây nhiễm các dịch bệnh
Đẩy mạnh nghiện cứu và chuyển giao khoa học công nghệ, thục đẩy ngành chăn nuôi theo hướngc huyện môn hóa Các đơn vị chăn nuôt bắt đầu áp dụng khoa học kĩ thuật vào chăn nuô để nâng cao chất lượng thành phẩm
II. NHỮNG CAM KẾT MỞ CỬA CỦA VIỆT NAM ĐỐI VỚI NGÀNH
CHĂN NUÔI.
Hiện tại, liên quan đến thị trường sản phẩm chăn nuôi, Việt Nam đã có cam kết mở cửa trong khuôn khổ các Hiệp định thương mại khác nhau, quan trọng nhất là:
Cam kết gia nhập WTO; và Cam kết trong khuôn khổ khu vực ASEAN và các đối tác của ASEAN
Mức độ cam kết mở cửa đối với các mặt hàng này chủ yếu thể hiện ở cam kết giảm thuế nhập khẩu (để hàng hóa nước ngoài tiếp cận thị trường Việt Nam dễ dàng hơn) Ngoài ra
có thể có một số cam kết chung khác về việc hạn chế sử dụng các biện pháp phi thuế (ví
dụ hạn ngạch nhập khẩu…)
Cam kết về thuế nhập khẩu đối với các sản phẩm chăn nuôi được thể hiện trong Bảng dưới đây
Giải thích Bảng:
Trang 5- Thuế suất ban đầu: là mức thuế áp dụng năm đầu tiên khi gia nhập WTO
- Thuế suất cuối cùng: là mức thuế phải giảm xuống sau một số năm nhất định (trường
hợp để trống “ - ” là không cam kết mức thuế suất cuối cùng/năm thực hiện)
- Năm thực hiện: là số năm thực hiện giảm thuế từ mức ban đầu xuống mức cuối cùng
- AFTA: Cam kết trong khuôn khổ “Khu vực mậu dịch tự do ASEAN” (mức thuế suất
cam kết sẽ áp dụng cho hàng nông sản từ các nước ASEAN vào Việt Nam);
- AC-FTA: Cam kết trong khuôn khổ Hiệp định khu vực mậu dịch tự do ASEAN - Trung
Quốc (mức thuế suất cam kết sẽ áp dụng cho hàng hóa từ các nước ASEAN hoặc Trung
Quốc vào Việt Nam);
- AK-FTA: Cam kết trong khuôn khổ Hiệp định khu vưự mậu dịch tự do ASEAN - Hàn
Quốc (mức thuế suất cam kết sẽ áp dụng cho hàng hóa từ các nước ASEAN hoặc Hàn
Quốc vào Việt Nam)
Bảng 5 – Biểu cam kết WTO về một số loại sản phẩm chăn nuôi
Mã
số HS
Sản phẩm TS hiện
hành (2007)
TS ban đầu
TS cuối cùng
Năm thực hiện
2006 2010 2008 2010 2008 2010
SP chăn nuôi
Gia súc, gia cầm
sống
01 Nhóm gia súc sống
(trâu, bò, lợn)
01 Nhóm gia cầm sống
(gà, vịt, ngan,
ngỗng…)
Trang 6- Riêng gà thương
Các loại thịt (1)*
0201-0202
Thịt trâu, bò ướp lạnh,
cấp đông
0203 Thịt lợn ướp lạnh, cấp
đông
0206 Phụ phẩm trâu bò, lợn
(lòng, lưỡi, gan…)
0207 Thịt gia cầm
- Loại cả con (ướp
0210 Thịt muối, sấy khô,
1601-1602 SP chế biến từ thịt (Xúc xích, thịt hộp…)40 40 22 2012 50 30 30 30 35 25
Sữa, trứng, mật ong
Trang 70402 Sữa bột nguyên liệu
hoặc thành phẩm
15- 20- 30
15-20-30
10-15-25
10-15-25
8-10-20
0404 Whey (váng sữa) 20-30 20-30 10 2012 5 5 0 0 15-25 15-20
0407 Trứng gia cầm
- Trứng thương phẩm 40 40 40 40 20
Thức ăn chăn nuôi
TA hỗn hợp thành phẩm
III TÁC ĐỘNG ĐẾN NGÀNH CHĂN NUÔI KHI MỞ CỬA.
1. Về sản lượng.
Sau hơn 8 năm gia nhập WTO, ngành chăn nuôi của Việt Nam phát triển chậm hơn trước
do không được đầu tư tương xứng Cụ thể về kết quả phát triển nhóm sản phẩm chăn nuôi
được phản ánh qua biểu sốliệu sau:
Kết quả phát triển chăn nuôi 2006-2014
vị
-2.Tỷtrọng giá trị sản
xuất trong nông nghiệp
con
2.921,1 2.996,4 2.897,7 2.950 2.627,8 2.511,9
Trang 85 số Bò Nghìn
con
6.510,8 6.724,7 6.337,7 6.836 5.194,1 5.234,2
con
26.855 26.561 26.702 28.000 26.943,9 26.761,5
con
8 Thịt hơi các loại Ngàn
tấn
3.073 3.295 3.487 3.801 4.271,9 4.583,5
quả
tấn
-Nguồn: BộNN và PTNT; Báo cáo KH NN 2011-2015
Kết quả biểu trên cho thấy:
- Tăng trưởng phân ngành chăn nuôi năm 2006 là 6,9%, năm 2007 giảm còn 4,6%, tăng lên 8% năm 2009 và gần đây giảm chỉ còn 4,5% năm 2012;
- Tỷtrọng chăn nuôi trong giá trịSXNN tăng từ24,5% (2006) lên 31,5% (2014);
- Số đầu con gia súc có sự giảm
+Trâu 2006 là 2921,1 nghìn con đến 2014 là 2511,9nghìn con
+Bò 2006 là 6510,8 nghìn con đến 2014 là 5234,2nghìn con
+Lợn 2006 là 26.855nghìn con đến 2014 là 26.761,5nghìn con
-Gia cầm tăng 2006 là 214,6 triệu con, 2014 là 327,6 triệu con
-Các sản phẩm trứng, sữa tăng nhẹ
2 Về giá trị xuất- nhập khẩu.
Kim ngạch xuất khẩu thịt các tháng, năm 2012 – 2014 (USD)
Trang 9Nguồn: TCHQ
Tính chung 5 tháng đầu năm 2014, trị giá xuất khẩu thịt đạt 20,92 triệu USD, giảm, chỉ giảm nhẹ gần 2,4% so với cùng kỳ năm 2013
Thịt lợn (dạng tươi, ướp lạnh, đông lạnh) vẫn là mặt hàng xuất khẩu chủ yếu: 5 tháng đầu năm 2014 đạt trị giá 14,46 triệu USD, giảm 17,2% so với cùng kỳ năm ngoái và chiếm 69,1% tổng trị giá xuất khẩu thịt các loại
Nếu như trong những năm qua, thịt lợn là mặt hàng xuất khẩu chiếm tỷ trọng chi phối trong khi xuất khẩu các loại thịt khác rất hạn chế thì đến 2014 đã xuất hiện một điểm sáng trong hoạt động xuất khẩu thịt gia cầm (chủ yếu là thịt gà) Theo thống kê, trong 5 tháng đầu năm 2014 xuất khẩu thịt gà đều tăng mạnh gấp nhiều lần so với các tháng cùng
kỳ năm 2013 Tính chung 5 tháng đầu năm 2014, trị giá xuất khẩu thịt gà đạt 2,22 triệu USD, tăng 576% so với cùng kỳ năm ngoái, chiếm 10,6% tổng trị giá xuất khẩu thịt các loại
Trị giá nhập khẩu thịt các tháng năm 2012 – 2014 (USD)
Trang 10Nguồn: TCHQ
Nhập khẩu
Tính chung 5 tháng đầu năm 2014, trị giá nhập khẩu thịt đạt 89,25 triệu USD, tăng 28,6%
so với cùng kỳ năm 2013
Về chủng loại, thịt gia cầm là mặt hàng được nhập khẩu nhiều nhất trong 5 tháng đầu năm 2014, đạt 36,26 triệu USD, tăng 11,3% so với cùng kỳ năm 2013 và chiếm 45,2% tổng kim ngạch xuất khẩu thịt các loại Tiếp đến là thịt trâu bò, với trị giá đạt 35,84 triệu USD, tăng mạnh 51% so với cùng kỳ năm 2013 và chiếm tỷ trọng kim ngạch 40,2% Trong đó, nhập khẩu thịt bò dạng đông lạnh chiếm khoảng 92% và nhập khẩu dạng tươi sống chỉ chiếm 8% Nhập khẩu thịt lợn đạt 2,63 triệu USD, tăng nhẹ 6,2% so với cùng
kỳ, chiếm tỷ trọng chỉ khoảng 3% Nhập khẩu thịt chế biến các loại đạt trị giá 1,14 triệu USD, tăng gần gấp hai lần so với mức 0,62 triệu USD của cùng kỳ năm 2013
http://agro.gov.vn
Như vậy ta có thể thấy rằng sản lượng nhập khẩu lớn hơn rất nhiều so với sản lượng xuất khẩu cho thấy sự xuất hiện của thịt ngoại vào thị trường Việt Nam Lượng xuất khẩu thịt ngành ngày càng giảm dogiá của các yếu tố sản xuất tăng do tăng cầu đi cùng với tăng thu nhập đồng thời thịt chăn nuôi ở Việt Nam vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu VSAT của một số nước
Nhập khẩu con giống và sản phẩm thịt: (cập nhật 12/12/2014)
TT Chủng loại
T11/2014 So T10/2014
So 11T/2013 (%)
Lượng Trị giá Lượng Trị
giá Lượng Trị giá Lượng Trị giá
Trang 111 Heo giống (con, usd) 203 296,675 -1.0 44.2 2,146 2,160,887 90.6 36.0
2 Gia cầm giống (con,
usd)
76,443 421,811 -64.8 -54.6 1,540,797 6,134,289 -9.7 -4.9
3 Thịt heo (tấn, usd) 578 1,379,583 138.0 98.5 3,172 6,670,682 7.3 13.8
4 Thịt gà (tấn, usd) 7,466 8,082,581 13.8 13.9 82,782 87,988,937 19.3 18.8
5
Trâu bò
sống (con,
usd) 5,782 5,699,151 -78.0 -77.7 208,723 186,965,743 46.2 164.8
6
Thịt trâu bò
không
xương (tấn,
usd)
71 827,525 13.2 8.1 559 6,257,899
7 Thịt trâu bò có xương
(tấn, usd) 1,516 4,209,265 -22.5 -28.2 24,246 67,575,015
8 Thịt dê cừu (tấn, usd) 45 360,221 -47.3 -38.1 861 5,950,665
Nguồn: Tổng hợp từ TCHQ, tháng 12/2014
Tómlại
Khi Việt Nam trở thành thành viên của WTO, ngành chăn nuôi đa có những chuyển biến tích cực cả về năng suất, sản lượng, cơ cấu, chủng loại vật nuôi theo hướng tích cực Tuy nhiên, những thay đổi đó vẫn chưa tương xứng, khi những thách thức mà ngành chăn nuôi phải đối mặt nhiều hơn cơ hội có được rất nhiều Nếu không có sự tái cơ cấu ngành chăn nuôi thì Việt Nam sẽ mất dần thị trường và rất khó cạnh tranh
3. Tác động đến tư duy của người nông dân
Với những chính sách thương mại rộng mở, ngành chăn nuôi có cơ hội tiếp cận với công nghệ hiện đại Người chăn nuôi phải thay đổi những thói quen, tập quán chăn nuôi truyền
Trang 12thống hoặc thiếu tính bền vững như trước đó Không chỉ phải quan tâm tới năng suất, sản lượng mà còn phải đặc biệt quan tâm tới chất lượng và vệ sinh an toàn thực phẩm
Từ chỗ chỉ cung cấp cho nhu cầu người tiêu dùng trong nước, đã mở rộng ra xuất khẩu Những đòi hỏi về tiêu chuẩn xuất khẩu đã tác động đến các chủ thể của ngành chăn nuôi, buộc họ phải thay đổi cách thức sản xuất, kinh doanh Nhiều nông dân từ chỗ chỉ biết áp dụng những phương tiện và phương pháp thủ công nay đã biết tiếp cận với khoa học công nghệ, nhất là những công nghệ mới, làm cho năng suất tăng lên, chủng loại phong phú, đa dạng và đáp ứng được nhu cầu của người tiêu dùng ở nhiều quốc gia trên thế giới
Từ chỗ chủ yếu là những đơn vị sản xuất nhỏ lẻ, sử dụng sức lao động thủ công là chủ yếu sang mô hình các trang trại chăn nuôi với quy mô lớn Khi chăn nuôi tập trung sẽ thuận lợi hơn trong chăm sóc vật nuôi và phòng chống dịch bệnh cũng như thuận tiện trong tiêu thụ sản phẩm Nhờ chăn nuôi tập trung nhiều hộ gia đình đã có điều kiện liên kết với các viện nghiên cứu để có được những giống vật nuôi cho năng suất cao, chất lượng tốt, có khả năng cạnh tranh cao và kháng bệnh tốt
IV NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA NGÀNH SAU KHI MỞ CỬA
1. Năng lực cạnh tranh tại thời điểm gia nhập WTO
Trong điều kiện mức sống của người Việt Nam được cải thiện, nhu cầu đối với các thực phẩm giàu đạm của Việt Nam cũng tăng lên (thịt, trứng, sữa) Cầu đối với ngành chăn nuôi vì vậy ngày càng tăng
Vào thời điểm 2006, trước khi Việt Nam gia nhập WTO, ngành chăn nuôi chiếm 23% trong tổng giá trị sản phẩm nông nghiệp Việt Nam với sản lượng thịt các loại đạt khoảng 3,4 triệu tấn Vật nuôi chủ yếu bao gồm lợn, gia cầm, trâu bò và ong
Năng lực cạnh tranh của hầu hết các sản phẩm chăn nuôi Việt Nam thấp do quy mô sản xuất nhỏ, năng suất thấp, tỷ lệ hao hụt đàn do dịch bệnh cao Trong số các sản phẩm chăn nuôi, mỗi năm, Việt Nam mới chỉ xuất khẩu được 20-30 ngàn tấn thịt lợn (chiếm khoảng 2-3% sản lượng thịt lợn của cả nước), mật ong 10-15 ngàn tấn Các sản phẩm còn lại đều
để tiêu dùng trong nước Sữa tươi mới chỉ đáp ứng được khoảng 20% nhu cầu tiêu dùng sữa tươi trong nước, số còn lại phải nhập khẩu hoàn toàn
Năm 2007, ra nhập WTO, với một nền nông nghiệp yếu kém lại không được đầu tư tương xứng, vậy nên ngành chăn nuôi Việt Nam gặp rất nhiều trở ngại Một trong những thách thức đó là mức độ cạnh tranh trong ngành chăn nuôi hiện tại rất là thấp, cụ thể như là năng suất sản xuất, chất lượng sản phẩm, giá cả sản phẩm chăn nuôi thị trường nội địa đều có mức cạnh tranh thấp hơn so với cạnh tranh quốc tế