Đây là phương thức có chi phí thấp hơn so với các phương thức khác, có thể chuyên chở được những loại hàng hóa có kích thước và trọng tải lớn, do vậy hiện nay ở Việt Nam cũng như trên th
Trang 1Khoa: Quản lý Ngành: Tài chính - Ngân hàng.
*** BÁO CÁO THỰC TẬP
TỔNG HỢP
Thực tập tại đơn vị:
Cảng Khuyến Lương- Tổng Công ty Hàng hải Việt Nam
Sinh viên: Trần Thị Minh Huyền
Mã sinh viên: A11066
Hà Nội, ngày 26 tháng 02 năm 2010.
Trang 2Nhận xét của giáo viên chấm Báo cáo thực tập tổng hợp:
Trang 3MỤC LỤC
LỜI NÓI ĐẦU 3
PHẦN 1: QUÁ TRÌNHH HÌNH THÀNH, PHÁT TRIỂN VÀ CƠ CẤU TỔ CHỨC CỦA CẢNG KHUYẾN LƯƠNG 1.1 Lịch sử hình thành và phát triển 4
1.1.1 Đôi nét về Tổng công ty Hàng hải Việt Nam 4
1.1.2 Lịch sử hình thành và phát triển Cảng Khuyến Lương 5
1.2 Cơ cấu tổ chức quản lý Doanh nghiệp 7
1.3 Nhiệm vụ và chức năng của các phòng ban 7
PHẦN 2: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG SẢN XUẤT KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP 2.1 Khát quát về ngành nghề kinh doanh 10
2.2 Quy trình chung của Doanh nghiệp 9
2.2.1 Bộ phận sản xuất chính 9
2.2.2 Đối với bộ phận sản xuất phụ 9
2.3 Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh trong những năm qua 11
2.3.1 Kết quả hoạt động kinh doanh của Cảng 11
2.3.2 Tài sản và nguồn vốn của Cảng 13
2.4 Phân tích một số chỉ tiêu căn bản 14
2.5 Tình hình người lao động 15
PHẦN 3: NHẬN XÉT VÀ KẾT LUẬN 3.1 Nhận xét về môi trường kinh doanh 17
3.2 Những thuận lợi, khó khăn và biện pháp khắc phục 17
3.3 Định hướng phát triển 19
KẾT LUẬN 20
Trang 4LỜI NÓI ĐẦU
Xã hội đang ngày càng phát triển, nhu cầu trao đổi, mua bán hàng hóa giữa các vùng miền của một quốc gia, giữa các quốc gia, các khu vực cũng tăng theo Những hàng hóa dịch vụ này được mua bán, trao đổi, chuyên chở bằng các phương thức khác nhau Một trong những phương thức chuyên chở hàng hóa là đường biển Đây là phương thức có chi phí thấp hơn so với các phương thức khác,
có thể chuyên chở được những loại hàng hóa có kích thước và trọng tải lớn, do vậy hiện nay ở Việt Nam cũng như trên thế giới có rất nhiều Cảng để phục vụ hoạt động hàng hải.
Cảng Khuyến Lương thuộc Tổng Công ty Hàng hải Việt Nam, được thành lập từ năm 1985 Là một Cảng nhỏ, từ khi thành lập tới nay đã gặp không ít khó khăn, nhưng ban lãnh đạo Cảng đã có những thay đổi để duy trì hoạt động của Cảng cho phù hợp với chủ trương Chính sách của Đảng và Nhà nước, phù hợp với nền kinh tế thị trường Với những kiến thức đã tiếp thu được trên giảng đường Đại học và quá trình tìm hiểu thực tế công tác quản lý sản xuất, tổ chức công tác kế toán của Doanh nghiệp, cùng với sự giúp đỡ của các thầy cô khoa Quản lý và các cô chú, anh chị trong phòng Tài chính – Kế toán của Cảng Khuyến Lương, em đã bổ sung được rất nhiều kiến thức cho hành trang của mình trên con đường sự nghiệp sau này
Do thời gian còn hạn chế và bản thân chưa có kinh nghiệm nên báo cáo thực tập chắc chắn không tránh khỏi những sai sót Em mong thầy cô góp ý cho em để báo cáo này được hoàn thiện hơn
Trang 5PHẦN 1: QUÁ TRÌNHH HÌNH THÀNH, PHÁT TRIỂN
VÀ CƠ CẤU TỔ CHỨC CỦA CẢNG KHUYẾN LƯƠNG
1.1 Lịch sử hình thành và phát triển
1.1.1 Đôi nét về Tổng công ty Hàng hải Việt Nam
Tên gọi đầy đủ bằng Tiếng Việt: Tổng công ty Hàng hải Việt Nam
Tên giao dịch quốc tế bằng Tiếng Anh: VIETNAM NATIONAL SHIPPING LINES
Tên viết tắt bằng Tiếng Anh: VINALINES
Địa chỉ trụ sở chính: Toà nhà Ocean Park, Số 1 Đào Duy Anh, Quận Đống Đa, Hà Nội
Điện thoại: (84) 4 35770825~29 Fax: (84) 4 35770850/60/31/32
Email: vnl@vinalines.com.vn
Website: http://www.vinalines.com.vn; http://www.vinalines.vn
Tính đến thời điểm 31/12/2009, Vinalines có 17 đơn vị hạch toán phụ thuộc (bao gồm các Công ty hạch toán phụ thuộc, Chi nhánh, Văn phòng đại diện); 27 công ty con (bao gồm các Công ty hạch toán độc lập, Công ty TNHH một thành viên, Công ty cổ phần, Công ty TNHH 2 thành viên, Liên doanh); 36 Công ty liên kết Đội tàu của Tổng công ty gồm 149 chiếc, với tổng trọng tải đạt 2,7triệu tấn, chiếm 45% tổng trọng tải của đội tàu biển quốc gia
Sau hơn 10 năm hoạt động, Vinalines đã chứng tỏ năng lực quản lý hiệu quả dù gặp nhiều khó khăn sau cuộc khủng hoảng kinh tế ASEAN Trước những biến động của thị trường hàng hải và những khó khăn tài chính, đã có nhiều biện pháp thích hợp được áp dụng để duy trì sự tăng trưởng liên tục trong hoạt động kinh doanh và đầu tư của toàn Tổng công ty Với những kế hoạch đang được triển khai về cải tạo và phát triển cảng biển, đầu tư mở rộng đội tàu, và nâng cao chất lượng hệ thống dịch vụ, Vinalines cùng các thành viên tự tin, lạc quan tiến về phía trước
Được thành lập và hoạt động từ ngày 1/1/1996 theo Quyết định 250/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 29/4/1995, Vinalines lúc đầu gồm 22 công ty nhà nước, 2 công ty cổ phần và 9 công ty liên doanh, sở hữu 50 tàu với tổng trọng tải là 396.291 DWT và có 18456 lao động
Để nâng cao vị thế của Tổng công ty, kế hoạch 5 năm giai đoạn 1996-2000 đã được đưa ra và triển khai thành công Kết quả là đội tàu của Vinalines đã tăng lên thành 79 tàu (tương đương 844.521 DWT) gồm 9 tàu container với tổng trọng tải là 6.102 TEU,
Trang 6năng lực đội tàu đạt 14 tấn/DWT/năm Việc nâng cấp cảng Sài Gòn và cảng Hải Phòng cùng việc xây mới bến container tại cảng Cần Thơ đã giúp năng suất khai thác cảng đạt 2.800 tấn/m bến/năm Bên cạnh đó, Vinalines đã nâng cao năng lực các ICD tại Thủ Đức, Gia Lâm, Đồng Nai và đầu tư nhiều trang thiết bị mới để đáp ứng nhu cầu vận tải mới Trong giai đoạn này, doanh thu hàng năm tăng 8-21%/năm Năm 2000, doanh thu
đã tăng 2,16 lần so với năm 1995, đạt 4270 tỷ đồng và tổng lợi nhuận đạt khoảng 326
tỷ đồng
Nhờ thành công này, trong giai đoạn 2001-2005, đội tàu của Vinalines đã tăng lên thành 103 tàu (tương đương 1,2 triệu DWT), trong đó có 43 tàu mua lại và 10 tàu đóng mới (trong chương trình đóng mới tàu biển giữa Vinalines và Vinashin đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định 1419/QĐ-TTg ngày 1/11/2001, theo đó Vinashin cam kết đóng mới 32 tàu với tổng trọng tải là 403260 DWT cho Vinalines) Trong giai đoạn này, 3290m bến đã được cải tạo và xây dựng để tiếp nhận tàu từ 10000 DWT đến 40000 DWT Nhiều dự án nâng cấp và cải tạo đã được hoàn thành đưa tổng chiều dài bến của Vinalines lên 8603m khiến năng suất bến vào cuối năm 2005 đạt
3125 tấn/m bến Cũng trong thời gian này, Vinalines đã triển khai các dự án đầu tư vào kho bãi, ICD, phương tiện và trang thiết bị để phục vụ hoạt động hàng hải và mở rộng ngành nghề kinh doanh của mình sang các lĩnh vực khác, như dự án xây dựng toà nhà Ocean Park cao 19 tầng với 2 tầng hầm, dự án liên doanh với Tập đoàn STC Hà Lan xây dựng trung tâm đào tạo thuyền viên tại Hải Phòng, …
Năm 2005, tổng doanh thu của toàn Tổng công ty dạt 10500 tỷ đồng với tổng lợi nhuận khoảng 700 tỷ Đến năm 2006, năm đầu tiên trong kế hoạch 5 năm giai đoạn 2006-2010 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 1366/QĐ-TTg ngày 18/10/2006, Vinalines một lần nữa lại vượt mục tiêu đề ra với tổng doanh thu đạt
11241 tỷ đồng
1.1.2 Lịch sử hình thành và phát triển Cảng Khuyến Lương
Lịch sử hình thành và phát triển
Tên công ty: Cảng Khuyến Lương
Trụ sở : Thôn Khuyến Lương – xã Trần Phú - huyện Thanh Trì – HN
ĐT: 04.6440181 – 04.8612051
Fax: 04.8612050
Emai: cangkl@hn.vnn.vn
Cảng Khuyến Lương được Bộ Giao thông vận tải ra quyết định thành lập số 2003/TCCP ngày 11/10/1985 Cảng Khuyến Lương là một Doanh nghiệp Nhà nước,
Trang 7thực hiện hạch toán độc lập Là một Cảng công nghiệp năm ở phía đông nam thành phố
Hà Nội, là một trong những đầu mối giao thông quan trọng của các tỉnh phía bắc
Quá trình phát triển của Cảng Khuyến Lương được chia làm 3 giai đoạn
Giai đoạn 1: 1987 -1990
Trong khoảng thời gian này hàng hoá qua Cảng Khuyến Lương ổn định theo kế hoạch của Nhà nước và Bộ Giao thông vận tải cũng như của thành phố Hà Nội, mặt hàng được xếp dỡ chủ yếu trong giai đoạn này chủ yếu gồm: Phân bón, sắt, thép, nhôm, sillic, gỗ thông hàng nhập khẩu từ Liên xô và các nước Đông Âu chuyển tải bằng xà lan Lash từ Vịnh Hạ Long về Hà Nội qua Cảng Khuyến Lương
Giai đoạn 2: 1991 – 1993:
Giai đoạn này việc sản xuất kinh doanh của Cảng Khuyến Lương gặp không ít khó khăn, sản lượng bốc xếp giảm đáng kể, người lao động thiếu việc làm, đời sống cán bộ công nhân viên giảm sút do thu nhập thấp Nguyên nhân của khó khăn này là do liên bang Xô Viết và các nước Đông Âu tan rã, nguồn hàng xuất nhập khẩu hai chiều từ Việt Nam sang và từ các nước Đông Âu về Việt Nam bằng xà lan Lash không còn Nguồn hàng vận chuyển duy nhất của Cảng là hàng nội địa
Giai đoạn 3: Từ 1994 đến nay
Từ thực tế sản xuất kinh doanh giai đoạn 1991 – 1993 cho thấy tình hình sản xuất kinh doanh của Cảng bước vào thời kỳ khó khăn lớn gần như bế tắc hoàn toàn Trước tình hình đó, Cảng đã quyết định đầu tư chuẩn bị bốc xếp và vận tải hàng siêu trường, siêu trọng, chuẩn bị đủ điều kiện đón nhận những lô thiết bị lớn phục vụ xây dựng khu công nghiệp, xây dựng thủ đô Muốn vậy yêu cầu trước mắt đặt ra với Cảng là: Phải nhanh chóng đầu tư thiết bị khai thác cát đảm bảo cho tàu vào trả hàng, nhận hàng an toàn vì vùng nước trước bến Cảng Khuyến Lương hàng năm sau mỗi mùa mưa lũ sự bồi lắng phù sa gây nên khan cạn bến bãi, tàu thuyền ra vào Cảng nhận, trả hàng gặp khó khăn Vì vậy nhu cầu nạo vét vùng nước trước Cảng được đặt ra như một nhiệm vụ cấp bách đối với Cảng Cảng đã lập dự án đầu tư tàu và công trình nạo vét vùng sông nước trước bến Cảng với hai lợi thế :
Nguồn cát hút lên phục vụ cho công cuộc xây dựng, san lấp mặt bằng khu vực phía nam Hà Nội Vùng bến bãi đã được nạo vét liên tục là một thuận lợi lớn cho tàu có trọng tải lớn có thể ra vào mà không sợ khô cạn
Trang 8 Cảng đã đầu tư đào tạo đội ngũ cán bộ quản lý kinh doanh vận tải, đầu tư phương tiện thiết bị mới, tổ chức mạng lưới nhân viên tiếp thị sâu rộng, nhanh nhạy chú trọng đúng mức đến chất lượng dịch vụ, duy trì giá dịch vụ hợp lý
Hình thức tổ chức Doanh nghiệp: Doanh nghiệp Nhà nước.
Hình thức sở hữu vốn: 100% vốn Nhà nước
1.2 Cơ cấu tổ chức quản lý Doanh nghiệp
Cơ cấu tổ chức quản lý của Cảng được tổ chức theo trực tuyến chức năng nghĩa là giám đốc chịu trách nhiệm quản lý và điều hành cao nhất mọi hoạt động liên quan đến Cảng
Sơ đồ tổ chức bộ máy quản lý
SƠ ĐỒ TỔ CHỨC BỘ MÁY QUẢN LÝ CẢNG KHUYÊN LƯƠNG
1.3 Nhiệm vụ và chức năng của các phòng ban
Ban giám đốc: Gồm 01 giám đốc và 02 phó giám đốc
־ Giám đốc: là người quản lý điều hành mọi hoạt động của Doanh nghiệp.
־ Phó giám đốc sản xuất kinh doanh: giúp giám đốc quản lý đầu ra sản phẩm, phụ trách hoạt động kinh doanh của Cảng
GIÁM ĐỐC CẢNG
Phòng
kỹ thuật vật tư
Phòng
kỹ thuật vật tư
Phòng kế toán tài
vụ
Phòng kế toán tài
vụ
Bộ phận sản xuất phụ
Bộ phận sản xuất phụ
Phòng
kế hoạch thương
vụ
Phòng
kế hoạch thương vụ
PGĐ Nội
chính
PGĐ Nội
chính
Phòng
bảo vệ
đời sống
Phòng
bảo vệ
đời
sống
Phòng
nhân
chính
Phòng
nhân
chính
PGĐ Phụ trách kinh doanh
PGĐ Phụ trách kinh doanh
Bộ phận sản xuất chính
Bộ phận sản xuất chính
Tổ
nhà
ăn
Tổ
nhà
ăn
Tổ dịch vụ
Tổ
dịch
vụ
Tổ bảo vệ
Tổ bảo vệ
Đội
cơ giới
Đội
cơ giới
Đội kho hàng
Đội kho hàng
Xưởng s.chữa
cơ khí
Xưởng s.chữa
cơ khí
Đội khai thác cảng
Đội khai thác cảng
Trang 9־ Phó giám đốc nội chính: phụ trách quản lý hành chính trong Doanh nghiệp.
Phòng nhân chính (7người): tham mưu cho ban giám đốc về công tác quản lý
tổ chức, quản lý nhân sự nhằm hình thành và bổ sung một đội ngũ cán bộ công nhân viên có đủ trình độ năng lực, làm tham mưu về công tác quản lý hành chính ở Cảng
Phòng bảo vệ đời sống (24người): có nhiệm vụ vệ sinh an toàn lao động, y tế,
bảo vệ cơ quan an ninh khu vực, dân quân tự vệ, phòng cháy chữa cháy
Phòng kỹ thuật vật tư( 7người): có nhiệm vụ cung ứng vật tư, nhiên liệu, quản
lý thiết bị thuỷ, thống kê báo cáo tình hình thiết bị vật tư, đại lý xăng dầu
Phòng kế toán tài vụ ( 5 người): có nhiệm vụ quản lý việc sử dụng vốn, tổ
chức hạch toán kế toán theo pháp luật nhà nước quy định, tham mưu cho giám đốc trong lĩnh vực tài chính
־ Niên độ kế toán: bắt đầu từ ngày 01/01 và kết thúc vào ngày 31/12 hàng năm (năm dương lịch )
־ Đơn vị tiền tệ được sử dụng để ghi chép công tác kế toán và lập báo cáo tài chính là đồng Việt Nam (ký hiệu: VND)
־ Hình thức sổ kế toán áp dụng: Chứng từ ghi sổ
־ Phương pháp trích khấu hao TSCĐ: theo phương pháp đường thẳng
־ Nguyên tắc đánh giá TSCĐ: theo giá thực tế và theo nguyên giá TSCĐ
־ Phương pháp kế toán hàng tồn kho: Kê khai thường xuyên
־ Nguyên tắc đánh giá hàng tồn kho: theo giá thực tế
־ Phương pháp xác định trị giá hàng tồn kho: Bình quân gia quyền
־ Phương pháp xác định giá thực tế vật tư xuất kho: theo phương pháp Nhập trước – Xuất trước
Phòng kế hoạch thương vụ (6 người): định hướng kế hoạch sản xuất kinh
doanh cho Cảng về thị trường giá cả, tiêu thụ, về mặt kỹ thuật chất lượng NVL đầu vào
và sản phẩm đầu ra của Cảng
Bộ phận sản xuất chính (108 người): vận hành các máy móc, thiết bị phục vụ
sx, tổ chức sản xuất đáp ứng kịp thời nhu cầu sản phẩm của DN
Bộ phận sản xuất phụ (30 người): phục vụ cho các hoạt động trong Doanh
nghiệp
Trang 10PHẦN 2: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG SẢN XUẤT KINH DOANH
CỦA DOANH NGHIỆP 2.1 Khát quát về ngành nghề kinh doanh
Ngành nghề kinh doanh :
Khai thác Cảng, vận tải hàng hoá bằng đường thuỷ, đường bộ
Kinh doanh dịch vụ tổng hợp
Đại lý xăng, dầu và vật tư kỹ thuật
Xây dựng cơ bản, khai thác và kinh doanh vật liệu xây dựng, san lấp mặt bằng, tạo bãi nạo vét luồng lạch
Sửa chữa phương tiện vận tải, thiết bị xếp dỡ và xe, máy công trình
Giấy CNĐKKD số 10122 ngày 11/10/1985
2.2 Quy trình chung của Doanh nghiệp
2.2.1 Bộ phận sản xuất chính
־ Đội Khai thác Cảng (60 người) có nhiệm vụ:
+ Tổ chức quản lý các tổ sản xuất và những người lao động thuộc bộ phận mình
+ Nhận lệnh sản xuất, bố trí dây chuyền xếp dỡ hàng hoá
+ Theo dõi quản lý nhân lực, theo dõi thống kê lao động, khối lượng công việc hoàn thành để Xí nghiệp trả lương, giải quyết các chế độ BHXH và các chế độ khác của người lao động
־ Đội cơ giới (48 người): Gồm các tổ công nhân vận hành thiết bị, phương tiện
vận tải và được chia ra làm 4 tổ chuyên ngành khác nhau:
+ Tổ tàu công trình chủ yếu gồm các tàu hút cát dưới sông lên các bãi để bán + Tổ phương tiện thuỷ có nhiệm vụ duy tu, sửa chữa bảo dưỡng luồng lạch của Cảng, tàu để thả neo, phao tiêu dưới sông , lai dắt tàu vào cầu tàu, vào bến
+ Tổ xe ô tô làm nhiệm vụ vận tải hàng hoá ở cầu tầu vào kho bãi của cảng và kho bãi cho chủ hàng
+ Tổ xúc - ủi bao gồm các công nhân điểu khiển máy xúc, máy ủi làm nhiệm
vụ xúc hàng lên các phương tiện vận chuyển như cát, than và vật liệu xây dựng
2.2.2 Đối với bộ phận sản xuất phụ