Nguyên nhân bùng nổ phong trào cần vương Nguyên nhân trực tiếp: cuộc phản công của phái chủ chiến do Tôn Thất Thuyết đứng đầu ở kinh thành Huế đêm 4 rạng sáng 5 tháng 7 năm 1885 Cuộc
Trang 1bài thuyết trình
Nhóm thực hiện: 3Giảng viên hd:Đinh Xuân Tráng
Trang 3Nguyên nhân bùng nổ phong trào cần
vương
Nguyên nhân trực tiếp: cuộc phản công
của phái chủ chiến do Tôn Thất Thuyết
đứng đầu ở kinh thành Huế( đêm 4 rạng sáng 5 tháng 7 năm 1885)
Cuộc phản công của phái chủ chiến thất
bại , vua Hàm Nghi chạy lên Tân
Sở( quảng Trị) tại đây chiếu Cần Vương
lần 1 ra ngày 20-9-1885 tại căn cứ Ấu Sơn
Trang 4Lãnh tụ phong trào vàChiếu cần vương.
Trang 5Chiếu cần vương
Trang 6Giai đoạn phong trào Cần Vương.
gđ1 gđ2
1885 1888 1896
Trang 7Những cuộc khởi nghĩa trong phong trào cần vương diễn ra từ bắc vào nam
Trang 8Thực dân pháp bắt những người tham gia cuộc khởi nghĩa do trần xuân soạn tống duy tân lãnh đạo(1880-1887)
Trang 9Một số cuộc khởi nghĩa tiêu biểu
Khởi nghĩa Bãi Sậy(1883-1896)
Khởi nghĩa Ba Đình(1886-1887)
Khởi nghĩa Hùng Lĩnh(1887-1892)
Khởi nghĩa Hương Khê(1885-1895)
Trang 10Lãnh tụ khởi nghĩa Bãi Sậy
Nguyễn Thiện Thuật là
lãnh tụ cao nhất của
phong trào, dưới
quền ông có các
tướng chỉ huy nghĩa
quân ở nhiều địa bàn
khác nhau như
Nguyễn Thiện Kế,
Nguyễn Thiện Giang,
Phan Văn Khoát, Ba
Điều , Đốc Tít, Tuần
Văn.
Trang 11Địa bàn hoạt động
của khởi nghĩa Bãi Sậy
Bãi sậy là trung tâm của phong trào, được
mở rộng ở hai tỉnh Hưng Yên, Hải Dương
và một phần các tỉnh Bắc Ninh, , Hải
Phòng, Quảng yên Nghĩa quân có hai căn
cứ lớn là Bãi Sậy và Hai Sông
Bãi sậy là nơi địa thế hiểm trở đầm hồ, lau sậy um tùm để xây đựng căn cứ , đào hào
và đặt nhiều cạm bẫy
Trang 12 Tổ chức hoạt động: tổ chức thành những đội quân nhỏ, phân tán và hoạt động rải rác khắp nơi,
- mỗi đội quân chia thành từng toán gồm khoảng 20-25 người, phân tán vào các
làng ở lẫn với dân, nghĩa quân dựa vào các lũy tre làng ,đào hào đắp lũy, tổ chức chống giặc càn quét và bảo vệ lực lượng
Về vũ khí: tự trang bị một số loại vũ khí thô
sơ, ngoài ra còn sản xuất được một số
mẫu súng của Pháp
Trang 13 Phương thức tác chiến: đánh du kích , lấy
ít đánh nhiều, lấy yếu đánh mạnh, thường chặn các đường giao thông chặn tiếp tế
và vận tải của địch
Trang 14Hoạt động của nghĩa quânBãi Sậy
Trang 15Khởi nghĩa Ba Đình
Lãnh tụ phong trào: đứng đầu căn cứ Ba Đình là Phạm Bành,và Đinh Công Tráng Bên cạnh đó còn có sự hỗ trợ của Hà Văn Cao(người Mường) đứng đầu ở căn cứ
Mã Cao( Yên Định-Thanh Hóa)
Trang 16 Được bao bọc bởi các lũy tre dày đặc với
thành cao hào sâu.
Trang 17 Tổ chức biên chế:gồm khoảng 300 người, tuyển lựa từ 3 làng và các vùng xung
Trang 18Những hoạt động đấu tranh của nghĩa
2-2-1887 Pháp tấn công Mã Cao=>Thung Voi, Thung Khoai=> Tây Thanh Hóa rồi sát nhập vào quân Cầm Bá Thước
Trang 20Nguyên nhân thất bại và ý nghĩa lịch sử
Nguyên nhân: chiến thuật bị động phòng ngự, với việc thiết lập cứ điểm cố thủ của
Ba Đình
Ý nghĩa lịch sử:thu hút nhiều lực lượng
nhất làm cho các cấp chỉ huy lo ngại nhiều nhất và gây nhiều tổn thất cho địch
- làm chậm quá trình bình định ở nuớc ta
- cổ vũ cho các phong trào tiếp đó
Trang 21Khởi nghĩa Hùng Lĩnh(1887-1892)
Lãnh Tụ chính phong trào :là chánh sứ sơn
phòng Thanh hóa Tống Duy Tân cùng hai cộng
sự làđề đốc Cao Điển và tù trưởng nggườo thái Cầm Bá Thước
Căn cứ :Hũng Lính nằm ở thượng nguồn sông
Mã thuộc huyện Vĩnh Lộc tỉnh Thanh Hóa
- ngoài ra , nghĩa quân còn mở rộng địa bàn hoạt động lên tận hữu ngạn và tả ngạn sông Mã, phối hợp với Đốc Ngữ, Đề kiều ở hạ lưu sông
Trang 22 Tổ chức: xây dựng mỗi huyện một lính khoảng 200 người, lấy tên huyện đặt tên cho đơn vị.
Trang 23Hoạt động của tổ chức và diễn biến của cuộc khởi nghĩa.
Trong hai năm 1889-1890 nghĩa quân hoạt động có hiệu quả, đã tổ chức nhiều trận đánh lớn, gây cho giặc nhiều thiệt hại
Đầu năm 1889, nghĩa quân giành thắng lợi ở Vân Đồn Tháng 10 đánh lui hai trận càn quét của địch vào Vân Đồn
Pháp ra sức càn quét, để đảm bảo an toàn nghĩa quân phải chuyển lên vùng tây bắc
Trang 24 Trong năm 1890, nghĩa quân tập kích nhiều trận như Vạn Lại, Trận Yên Lược, thắng lớn ở Nông Cống và Yên Lãng bên tả ngạn sông Chu
Pháp quyết tâm dập tắt phong trào nên đã tăng cường càn quét, địa bàn hoạt động bị thuh hẹp, chỉ còn vùng phía tây Thanh Hóa, lực lượng
ngày càng suy yếu.
Tháng 10-1892, Tống Duy Tân bị bắt và xử tử, phong trào suy yếu nhưng vẫn tiếp tục trong
mây năm sau rồi bị rập tắt hoàn toàn.
Trang 25Sơ đồ giai đoạn phát triển của cuộc khởi nghĩa Hương Khê
gđ1 gđ2
1885 1888 1895
Trang 26 Thủ lĩnh phong trào: do Phan Đình Phùng lãnh đạo với sự trợ giúp của Cao Thắng,Ngô Quảng, Cao Đạt, Hà Văn Mĩ, Nguyễn Chanh , Nguyễn Trạch, …
Trang 27Căn cứ Hương Khê
gồm 4 tỉnh thanh hóa, Nghệ An , Hà Tĩnh, Quảng Bình, trong đó địa bàn chính là Nghệ An-Hà tĩnh
Chia làm 4 căn cứ lớn: Cồn Chùa, Thượng
Bồng-Hạ Bồng,Trùng Trí Khê, Vụ Quang.
Trang 28Kê- Tổ chức lực lượng: Phan Đình Phùng chia làm 15 quân thứ, các quân thứ này được xây dựng trên cơ sở các đơn vị hành
chính, thường là huyện, có khi là xã, và
lấy tên nơi đó để gọi
Trong 15 quân thứ trên , có 1 quân thứ
trung tâm đóng ở đại bản doanh,do Phan Đình Phùng trực tiếp chỉ huy Còn các thứ quân khác đóng ở địa phương
Trang 29 Trang bị vũ khí: tự trang bị vũ khí thô sơ như giáo mác, đại đao, tướng cao thắng ccòn tổ chúc việc cướp vũ khí giặc, rồi
nghiên cứu chế tạo súng trường theo kiểu súng trường 1874 của Pháp để trang bị
cho nghĩa quân
Trang 30 Phương thức tác chiến: dựa váo địa hình núi rừng hiểm trở và hệ thống công sự
chằng chịt để tiến hành ciến tranh du
kích Nghĩa quân luôn phân tán hoạt động đánh địch với nhiều hình thức
Trang 33Nguyên nhân thất bại và ý nghĩa lịch sử của cuộc khởi nghĩa Hương Khê
Cuộc khởi nghĩa là 1 trong những phong trào
Cần Vương chống Pháp cuối thế kỉ XIX, cuộc
khởi nghĩa đã phát huy đến mức cao nhất sự
ủng hộ và tiềm lực của nhân dân, về quân sự đã biết sử dụng phương thức tác chiến linh hoạt,
phong phú, biết phát huy tính chủ động sáng tạo trong quá trình chuẩn bị lực lượng cũng như
đánh Pháp.
Cuộc khởi nghĩa thất bại vì nhiều nguyên nhân, chủ yếu chưa kết hợp lực lượng dân tộc trên qui
Trang 34Ý nghĩa của phong trào Cần Vương
đánh đấu hoàn toàn sự sụp đổ của đường lối cứu nước hệ phong kiến, từ đó dọn
ddđường cho những khuynh hướng cứu nước tiến bộ hơn
Tuy thất bại nhhưng nó cũng đánh một
dòn vào bộ máy thống trị của Pháp.khích
lệ quần chúng nhân dân đấu tranh, tô
thắm thêm truyền thống anh hùng bất
khuất của dân tộc