1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đánh giá rủi ro thiên tai có sự tham gia của cộng đồng trong bối cảnh biến đổi khí hậu tại xã quảng nham, huyện quảng xương, tỉnh thanh hóa

107 592 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 107
Dung lượng 3,91 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tôi hy vọng kết quả nghiên cứu có sự tham gia của cộng đồng và những kiến nghị trong báo cáo này sẽ góp phần đưa ra các hoạt động can thiệp phù hợp để giảm nhẹ tình trạng dễ bị tổn thươn

Trang 1

i

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRUNG TÂM NGHIÊN CỨU TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG

PHAN VĂN KIÊN

ĐÁNH GIÁ RỦI RO THIÊN TAI CÓ SỰ THAM

GIA CỦA CỘNG ĐỒNG TRONG BỐI CẢNH BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU TẠI XÃ QUẢNG NHAM, HUYỆN QUẢNG XƯƠNG, TỈNH THANH HÓA

LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC MÔI TRƯỜNG

HÀ NỘI - Năm 2015

Trang 2

ii

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRUNG TÂM NGHIÊN CỨU TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG

PHAN VĂN KIÊN

ĐÁNH GIÁ RỦI RO THIÊN TAI CÓ SỰ

THAM GIA CỦA CỘNG ĐỒNG TRONG BỐI CẢNH BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU TẠI XÃ QUẢNG NHAM, HUYỆN QUẢNG XƯƠNG, TỈNH

THANH HÓA

Chuyên ngành: Môi trường trong phát triển bền vững

(Chương trình đào tạo thí điểm)

LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC MÔI TRƯỜNG NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS VÕ THANH SƠN

HÀ NỘI - Năm 2015

Trang 3

iii

LỜI CẢM ƠN

Để thực hiện tốt đề tài trước hết tác giả xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới các

thành viên Ban PCLB xã và 13 thôn thuộc xã Quảng Nham, Ban PCLB huyện Quảng

Xương, Sở NN&PTNT, Sở TNMT tỉnh Thanh Hóa và các bên liên quan đã nhiệt tình

hỗ trợ nguồn lực và đóng góp các ý kiến quý báu để giúp người nghiên cứu hoàn

thành công việc tại khu vực nghiên cứu

Tác giả cũng bày tỏ lòng biết ơn tới các thành viên trong Nhóm nghiên cứu đã

nỗ lực và tâm huyết để giúp tác giả nắm bắt và hiểu rõ bối cảnh địa phương, không

quản ngại khó khăn để thu thập các số liệu, thông tin có độ tin cậy cao tại cộng đồng

Và không thể thiếu được đó là sự hỗ trợ về mọi mặt của Dự án CATREND

trong suốt quá trình tác nghiệp Với sự hỗ trợ chu đáo này, Nhóm nghiên cứu đã

hoàn thành nhiệm vụ và đã đạt được kết quả tốt nhất trong khả năng chúng tôi có thể

Cuối cùng, tác giả xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới Thầy giáo TS Võ Thanh Sơn

và PGS, TS Bùi Công Quang đã hướng dẫn chúng tôi trong suốt quá trình trước,

trong và sau khi thực hiện đợt điều tra cũng như phân tích số liệu và viết báo cáo

Tôi hy vọng kết quả nghiên cứu có sự tham gia của cộng đồng và những kiến

nghị trong báo cáo này sẽ góp phần đưa ra các hoạt động can thiệp phù hợp để giảm

nhẹ tình trạng dễ bị tổn thương và tăng cường năng lực phòng tránh và giảm nhẹ rủi

ro thiên tai tại vùng nghiên cứu

Xin chân thành cảm ơn!

Trang 4

iv

LỜI CAM ĐOAN

Tác giả làm luận văn cam đoan công trình nghiên cứu là của riêng cá nhân tác giả, các số liệu là trung thực, không sử dụng số liệu của các tác giả

khác chưa được công bố, các kết quả nghiên cứu của tác giả chưa từng được

công bố Nếu sai tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm

Trang 5

v

MỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN i

LỜI CAM ĐOAN iv

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT viii

DANH MỤC CÁC BẢNG viii

DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ ix

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG I TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 5

1.1 Tình hình thiên tai và biến đổi khí hậu tại Việt Nam 5

1.2 Tình hình thiên tai và biến đổi khí hậu tại tỉnh Thanh Hoá 7

1.3 Công tác phòng tránh, giảm nhẹ thiên tai tại Việt Nam và Thanh Hóa 10

1.3.1 Về chính sách phòng tránh giảm nhẹ thiên tai trong bối cảnh biến đổi khí hậu 10

1.3.2 Phương châm 4 tại chỗ trong Phòng tránh, giảm nhẹ thiên tai 12

1.4 Tình hình thiên tai và biến đổi khí hậu tại Quảng Xương 14

1.4.1 Nhiệt độ 15

1.4.2 Lượng mưa 15

1.4.3 Độ mặn 16

1.5 Tình hình đánh giá rủi ro thiên tai trên thế giới và ở Việt Nam 17

1.5.1 Cơ sở lý luận 17

1.5.2 Thực tiễn đánh giá rủi ro thiên tai trên thế giới 19

1.5.3 Đánh giá rủi ro thiên tai dựa vào cộng đồng tại Viêt Nam 21

1.5.4 Đối tượng dễ bị tổn thương trong thiên tai 22

CHƯƠNG 2 ĐỊA ĐIỂM, THỜI GIAN, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 24

2.1 Địa điểm, thời gian, đối tượng, nội dung nghiên cứu 24

2.1.1 Địa điểm nghiên cứu 24

2.1.2 Một số thông tin về kinh tế - xã hội của khu vực nghiên cứu 25

2.1.3 Thời gian nghiên cứu 25

Trang 6

vi

2.1.4 Đối tượng nghiên cứu 25

2.2 Nội dung nghiên cứu 26

2.3 Phương pháp luận nghiên cứu 26

2.4 Phương pháp nghiên cứu

2.4.1 Phương pháp thu thập tài liệu thứ cấp 29

2.4.2 Phương pháp đánh giá nông thôn có sự tham gia của cộng đồng 29

2.4.3 Nội dung và tiến trình đánh giá rủi ro thiên tai dựa vào cộng đồng 35

CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 39

3.1 Đánh giá hiểm họa 39

3.1.1 Sơ lược lịch sử thiên tai đã xảy ra tại địa phương 39

3.1.2 Phân tích các loại hiểm họa tại vùng nghiên cứu 41

3.1.3 Xếp hạng mức độ nguy hiểm của hiểm họa 43

3.1.4 Lịch thiên tai - mùa vụ 44

3.1.5 Sơ đồ Rủi ro thiên tai xã Quảng Nham 46

3.2 Đánh giá tình trạng dễ bị tổn thương 47

3.2.1 Về sinh kế 48

3.2.2.Các điều kiện sống cơ bản 50

3.2.3.Sự tự bảo vệ của cá nhân, gia đình 51

3.2.4 Sự bảo vệ của cộng đồng 56

3.2.5 Tổ chức xã hội, chính quyền 59

3.3 Đánh giá năng lực phòng tránh giảm nhẹ rủi ro thiên tai 61

3.3.1 Chuẩn bị về vật tư, phương tiện tại chỗ 61

3.3.2 Chuẩn bị về hậu cần tại chỗ 62

3.3.3 Chuẩn bị về lực lượng tại chỗ 63

3.3.4 Chuẩn bị về chỉ huy tại chỗ 65

3.4 Tóm tắt kết quả và thảo luận 64

Trang 7

vii

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 72

Kết luận 69

Kiến nghị 69

TÀI LIỆU THAM KHẢO 74

PHỤ LỤC 79

Phụ lục 1 Phân tích đặc điểm của các đối tượng dễ bị tổn thương 79

Phụ lục 2: Bảng câu hỏi phỏng vấn hộ gia đình 83

Phụ lục 3: Bảng kiểm tra kiến thức về khả năng ứng cứu của đội PCLB cấp xã/thôn 89

Phụ lục 4: Bảng kiểm dành cho Ban giám hiệu nhà trường 91

Phụ lục 5: Bảng câu hỏi phỏng vấn học sinh tiểu học và trung học cơ sở 93

Phụ lục 6 Danh sách các thành viên Đoàn đánh giá 95

Trang 8

viii

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

ATNĐ Áp thấp nhiệt đới

ADB Ngân hàng Phát triển Châu Á

BCH PCLB Ban chỉ huy Phòng chống lụt bão

BĐKH Biến đổi khí hậu

CBDRM Quản lý Rủi ro thiên tai dựa vào cộng đồng

DONRE Sở Tài nguyên và Môi trường

HVCA Đánh giá hiểm họa, tình trạng dễ bị tổn thương và năng lực

phòng tránh giảm nhẹ thiên tai (còn gọi là Đánh giá rủi ro thiên tai)

IPCC Ủy ban Liên chính phủ về Biến đổi khí hậu

INGO Tổ chức Phi chính phủ Quốc tế

KTTV Khí tượng thủy văn

NN – PTNT Nông nghiệp - Phát triển nông thôn

PCLB Phòng chống lụt bão

PTBV Phát triển bền vững

QĐ – TTg Quyết định Thủ tướng

TKCN Tìm kiếm cứu nạn

UNDP Chương trình Phát triển Liên hợp Quốc

UBND Ủy ban nhân dân

VCA Đánh giá tình trạng dễ bị tổn thương và năng lực

Trang 9

ix

Bảng 3.5 Mức độ nhận thức của người dân về biến đổi khí hậu 51 Bảng 3.6 Thang điểm đánh giá kết quả phỏng vấn học sinh 52 Bảng 3.7 Hiện trạng chuẩn bị về vật tư, phương tiện tại chỗ 59 Bảng 3.8 Hiện trạng chuẩn bị về hậu cần tại chỗ 60 Bảng 3.9 Hiện trạng chuẩn bị về lực lượng tại chỗ 61 Bảng 3.10 Hiện trạng chuẩn bị về chỉ huy tại chỗ 63

châm bốn tại chỗ

51

Hình 3.5 Biểu đồ mức độ hiểu biết của hộ gia đình về nguyên

nhân biến đổi khí hậu

51

Hình 3.6 Mức độ hiểu biết về các loại hình thiên tai của học sinh 53

Trang 10

x

Trang 11

MỞ ĐẦU

Việt Nam là nước có khí hậu nhiệt đới gió mùa, là một trong năm ổ bão của khu vực châu Á - Thái Bình Dương, thường xuyên phải đối mặt với nhiều loại hình thiên tai khốc liệt Trong nhiều thập kỷ qua, thiên tai đã xảy ra ở hầu khắp các khu vực trên cả nước, gây nhiều tổn thất to lớn về người, tài sản, cơ sở hạ tầng và tác động xấu đến môi trường Trong 10 năm trở lại đây, trung bình hàng năm có tới 750 người chết và mất tích, thiệt hại về tài sản ước tính tương đương khoảng 1-1,5% GDP [DMC – BNN&PTNT, 2011] Thêm vào đó, biến đổi khí hậu toàn cầu đã và đang làm thiên tai ở nước ta có chiều hướng ngày càng phức tạp, gia tăng nhiều hơn

so với những thập kỷ trước về cả quy mô cũng như chu kỳ lặp lại kèm theo những đột biến khó lường

Trong công tác phòng tránh và giảm nhẹ thiên tai, cộng đồng tại các địa phương là nguồn lực tại chỗ hết sức quan trọng đóng góp và đảm bảo tính hiệu quả

và bền vững của công tác này Điều này cũng được thể hiện rõ trong quan điểm của Chính phủ tại Quyết định Phê duyệt Chiến lược phòng, chống thiên tai đến năm 2020: “Công tác phòng, chống và giảm nhẹ thiên tai thực hiện theo phương châm nhà nước và nhân dân cùng làm, sử dụng hiệu quả nguồn lực của nhà nước, đồng thời huy động mọi nguồn lực của cộng đồng, của các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước” Trong thời điểm hiện nay, nâng cao kiến thức và kỹ năng trong công tác phòng tránh giảm nhẹ thiên tai là nội dung rất quan trọng đảm bảo hiệu quả công tác phòng tránh giảm nhẹ thiên tai Tuy nhiên, vì thiên tai mang tính đặc thù địa phương, tính vùng miền nên phải có bức tranh thực tế và toàn diện Để đạt được mục tiêu nâng cao nhận thức cộng đồng và quản lý rủi ro thiên tai dựa vào cộng đồng thì đánh giá rủi ro thiên tai dựa vào cộng đồng là hoạt động trước tiên và rất quan trọng Hoạt động này càng trở nên quan trọng khi biến đổi khí hậu đã tác động mạnh làm gia tăng mức độ cực đoan của các loại hình thiên tai ở Việt Nam

Hiện nay có nhiều nghiên cứu đánh giá rủi ro thiên tai trong bối cảnh biến đổi khí hậu được thực hiện khá nhiều tại Đồng bằng sông Cửu Long do IUCN tổ chức [IUCN, 2012a], [IUCN, 2012b], [IUCN, 2012c], cũng như một số địa phương

Trang 12

vùng cao ở Việt Nam do CECI tiến hành [CECI, 2011] Tuy nhiên, việc đánh giá này chưa được thực hiện nhiều tại các vùng ven biển thuộc khu vực Bắc Trung Bộ nói chung và Thanh Hóa nói riêng, nơi có nhiều thiên tai thường xuyên de dọa Hơn nữa, các đánh giá trước đó chủ yếu đặt nặng vấn đề tình trạng dễ bị tổn thương và năng lực mà chưa chú trọng đến đánh giá hiểm họa và chưa xét đến các yếu tố trên trong điều kiện biến đổi khí hậu đã tác động như thế nào tới cộng đồng đặc biệt là đối với các đối tượng dễ bị tổn thương nhất Vì vậy chúng tôi chọn Thanh Hóa là khu vực nghiên cứu và chọn Quảng Nham - điểm dễ bị tổn thương nhất thuộc ven biển tỉnh thanh Hóa, làm điểm nghiên cứu đại diện cho đề tài nghiên cứu này

Xã Quảng Nham là xã ven biển nằm ở phía nam huyện Quảng Xương tỉnh Thanh Hóa Phía Đông giáp biển Vịnh Bắc Bộ, phía Nam cửa biển Lạch Ghép, phía Tây giáp sông Yên, phía Bắc giáp xã Quảng Thạch và Quảng Lợi Xã có diện tích

tự nhiên là: 398,2 ha, dân số 15000 người trong đó có 2300 là trẻ em (chiếm 15%),

3996 phụ nữ (chiếm 26%), 900 người già (chiếm 6%), 350 người tàn tật, 500 hộ sát mép nước tập trung tại các thôn dễ bị tổn thương nhất sát biển Đông và sông Yên [UBND xã Quảng Nham, 2013]

Do đặc thù về vị trí địa lý và xã hội, nơi đây trở thành điểm dễ bị tổn thương nhất trước thiên tai so với các xã ven biển thuộc huyện Quảng Xương Thiên tai tại khu vực này đã và đang xảy ra với cường độ tác động ngày càng lớn và rất khó dự báo Biểu hiện ở số người chết và số tàu thuyền bị chìm do bão tăng lên trong những năm gần đây, quá trình xâm thực bờ biển, xâm nhập mặn diễn ra mạnh mẽ Theo báo cáo của Ban PCLB xã Quảng Nham, cơn bão số 7 năm 2005 kết hợp với triều cường đã cuốn trôi 30 ha đất phi lao trên địa bàn toàn xã, thiệt hại ước tính 7 tỷ đồng, 2 người chết; bão Lekima năm 2007 làm đắm 4 thuyền cá của ngư dân, tổng thiệt hại ước tính 3,5 tỷ đồng; năm 2010 đến 2012: bão cũng làm hư hỏng 5 tàu cá của ngư dân và nuôi ngao bị thất thu, tống thiệt hại ước tính 5 tỷ đồng [Ban PCLB Quảng Nham, 2005], [Ban PCLB Quảng Nham 2007], [Ban PCLB Quảng Nham 2012]

Tuy nhiên, công tác phòng tránh, giảm nhẹ thiên tai theo phương châm 4 tại chỗ còn nhiều hạn chế dẫn tới thiệt hại về tài sản và thu nhập từ nghề cá hàng năm

Trang 13

còn đe dọa sự phát triển bền vững của địa phương Mặc dù vậy, đến nay chưa có nghiên cứu nào liên quan đến đánh giá rủi ro thiên tai tại địa phương này

Chính vì vậy, tác giả quyết định thực hiện đề tài “Đánh giá rủi ro thiên tai

có sự tham gia của cộng đồng trong bối cảnh biến đổi khí hậu tại xã Quảng Nham, huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hóa” nhằm xem xét tác động của các hiểm họa tự

nhiên, mức độ dễ bị tổn thương và năng lực phòng tránh và giảm nhẹ thiên tai của cộng đồng trong bối cảnh biến đổi khí hậu, thấy rõ được những thuận lợi và khó khăn từ đó giúp cho người nghiên cứu đưa ra những đề xuất hoạt động để giảm nhẹ tình trạng dễ bị tổn thương và tăng cường năng lực cho cộng đồng nhằm giảm mức

độ thiệt hại gây ra từ các hiểm họa tự nhiên đồng thời thích ứng tốt hơn với biến đổi khí hậu tại địa phương

Mục tiêu nghiên cứu:

- Làm rõ tình hình hiểm họa, tình trạng dễ bị tổn thương và năng lực phòng tránh, giảm nhẹ thiên tai trong bối cảnh biến đổi khí hậu trên quan điểm, nhận thức của cộng địa phương tại vùng nghiên cứu

- Đưa ra một sô đề xuất kiến nghị để giảm nhẹ tình trạng dễ bị tổn thương và tăng cường năng lực cho cộng đồng vùng nghiên cứu trong phòng tránh và giảm nhẹ thiên tai, ứng phó với biến đổi khí hậu phù hợp nhất với nguồn lực của cộng đồng

Nội dung nghiên cứu:

Nội dung chính của nghiên cứu bao gồm:

a Xem xét những hiểm họa tự nhiên mà cộng đồng vùng nghiên cứu đang gặp phải trong bối cảnh biến đổi khí hậu

b Đánh giá những tình trạng dễ bị tổn thương, không an toàn mà cộng đồng đang gặp phải khi đối mặt với những hiểm họa tự nhiên này

c Đánh giá năng lực để cộng đồng vùng nghiên cứu có thể phòng tránh, giảm nhẹ thiên tai trong bối cảnh biến đổi khí hậu

d Đưa ra đề xuất giúp công tác phòng tránh, giảm nhẹ rủi ro thiên tai dựa vào cộng đồng trên cơ sở thích ứng với biến đổi khí hậu tại vùng nghiên cứu đạt kết quả tốt hơn

Trang 14

Sau khi tiến hành nghiên cứu đề tài và xử lý kết quả, luận văn được hoàn thành với bố cục như sau:

Phần Mở đầu

Chương 1 Tổng quan vấn đề nghiên cứu

Chương 2 Địa điểm, thời gian, đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu

Chương 3 Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Chương 4 Kết luận và kiến nghị

Nghiên cứu được tiến hành sẽ đáp ứng được đòi hỏi cấp thiết của người dân

và chính quyền địa phương, đồng thời phù hợp với bối cảnh và nhu cầu phát triển của khu vực nghiên cứu

Trang 15

CHƯƠNG I TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1 Tình hình thiên tai và biến đổi khí hậu tại Việt Nam

Việt Nam là quốc gia hàng năm phải đối mặt với nhiều loại hình thiên tai khác nhau, đặc biệt là bão và lũ lụt Trong 10 năm trở lại đây, trung bình hàng năm

có tới 750 người chết và mất tích, thiệt hại về tài sản ước tính tương đương khoảng 1-1,5% GDP [DMC – BNN&PTNT, 2011] đã tác động xấu đến nhiều mặt về phát triển kinh tế, xã hội và môi trường Trong bối cảnh biến đổi khí hậu ngày càng biệu hiện rõ ở Việt Nam, thiên tai được dự báo là sẽ ngày càng khốc liệt, khó lường, gia tăng cả về cường độ và tần suất khiến người dân, chính quyền và các thành phần xã hội khác phải gánh chịu những rủi ro thiên tai lớn hơn bao giờ hết

Theo thống kê của Ban chỉ đạo PCLBTW từ năm 1996 đến năm 2011, số người chết do lụt bão có xu hướng gia tăng (180 người năm 2003 đến 474 người năm 2008), đồng thời thiệt hại về kinh tế cũng có xu hướng tăng mạnh (từ 1589,7 tỷ năm 2003 đến 18565,661 tỷ năm 2006) [Văn phòng thường trực Ban chỉ đạo PCLB Trung ương, 2013] Điều này được lý giải là do tần suất và cường độ lụt, bão trong những năm gần đây tăng lên và diễn biến rất phức tạp, khó dự báo và việc chủ động phòng tránh còn hạn chế về nhiều mặt của nước ta

Chính phủ và nhân dân Việt Nam rất quan tâm đến giảm thiểu rủi ro thiên tai

và ứng phó với biến đổi khí hậu Chính phủ đã thể hiện một cam kết mạnh mẽ trong việc giảm nhẹ thiên tai và thích ứng với biến đổi khí hậu thông qua việc Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định 172/2007/QĐ-TTg ngày 16 tháng 11 năm 2007 về Phê duyệt Chiến lược Quốc gia phòng chống và giảm nhẹ thiên tai đến năm 2020 [Thủ tướng Chính phủ, 2007] và Quyết định số 2139/QĐ-TTg ngày 5 tháng 12 năm

2011 về Phê duyệt Chiến lược Quốc gia về Biến đổi khí hậu [Thủ tướng Chính phủ, 2011] và sau đó cụ thể hóa bằng Quyết định số 1002/QĐ-TTg ngày 13 tháng 7 năm

2009 về Phê duyệt Đề án nâng cao nhận thức cộng đồng và quản lý rủi ro thiên tai dựa vào cộng đồng [Thủ tướng Chính phủ, 2009] và Quyết định số 1183/QĐ-TTg ngày 30 tháng 8 năm 2012 về Phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia Ứng phó với biến đổi khí hậu giai đoạn 2012 – 2015 [Thủ tướng Chính phủ, 2012] Đặc biệt, Luật Phòng chống thiên tai đã được xây dựng và được Quốc hội nước Cộng hòa xã

Trang 16

hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIII, kỳ họp thứ 5 thông qua ngày 19 tháng 6 năm 2013[Quốc Hội, 2013] Hiện nay, mọi nỗ lực đang được tiến hành để triển khai rộng các chính sách nói trên tại các địa phương trên phạm vi toàn quốc

Mục tiêu chung của Chiến lược quốc gia về phòng, chống và giảm nhẹ thiên tai là huy động mọi nguồn lực để thực hiện có hiệu quả công tác phòng tránh và giảm nhẹ thiên tai từ nay đến năm 2020 nhằm giảm đến mức thấp nhất thiệt hại về người và tài sản, hạn chế sự phá hoại tài nguyên thiên nhiên, môi trường và di sản văn hóa, góp phần quan trọng bảo đảm phát triển bền vững của đất nước, bảo đảm quốc phòng, an ninh Để thực hiện thành công chiến lược quốc gia phòng tránh, giảm nhẹ thiên tai thì nhận thức và sự tham gia của người dân và chính quyền địa phương là rất quan trọng Chính vì vậy, ngoài các chương trình nâng cấp cơ sở hạ tầng, chính phủ còn thực hiện Đề án 1002 về Nâng cao nhận thức cộng đồng và quản lý rủi ro thiên tai dựa vào cộng đồng, trước mắt thực hiện cho cho 6000 xã có nguy cơ rủi ro cao ở Việt Nam

Bên cạnh đó, mục tiêu chiến lược của Chương trình mục tiêu quốc gia ứng phó với BĐKH là đánh giá được mức độ tác động của BĐKH với các lĩnh vực, ngành và địa phương trong từng giai đoạn và xây dựng được kế hoạch hành động có tính khả thi để ứng phó hiệu quả với BĐKH cho từng giai đoạn ngắn hạn và dài hạn, nhằm đảm bảo sự PTBV của đất nước, tận dụng các cơ hội phát triển nền kinh tế theo hướng các - bon thấp và tham gia cùng cộng đồng quốc tế trong nỗ lực giảm nhẹ BĐKH, bảo vệ hệ thống khí hậu Trái đất [Chính phủ, 2012]

Việt Nam đã tham gia nhiều hoạt động cấp khu vực và toàn câu về biến đổi khí hậu Đến nay nhiều bộ, ngành, địa phương đã xây dựng xong kế hoạch hành động ứng phó với biến đổi khí hậu Kịch bản Biến đổi khí hậu đã được Bộ Tài nguyên và Môi trường xây dựng năm 2009, được bổ sung, cập nhật chi tiết cho các vùng năm 2012 là cơ sở quan trọng để các bộ, ngành, địa phương xây dựng chương trình hoạt động ứng phó phù hợp Việt Nam cũng đã triển khai một số chương trình nghiên cứu về ứng phó với biến đổi khí hậu, phòng tránh, giảm nhẹ thiên tai có hiệu quả Trong đó, tăng cường tính chủ động và tích cực của cộng đồng để chủ động ứng phó với những ảnh hưởng của thiên tai và biến đổi khí hậu thông qua giảm

Trang 17

thiểu tình trạng dễ bị tổn thương và tăng cường năng lực cho cộng đồng bám sát phương châm bốn tại chỗ là vấn đề quan tâm hàng đầu trong chiến lược và hành động của Việt Nam trong giai đoạn hiện nay

Trên thực tế, Việt Nam là một trong những quốc gia chịu ảnh hưởng nặng nề

nhất bởi thiên tai và biến đổi khí hậu Theo Tổng quan Báo cáo Phát triển Con người của UNDP: Nếu nhiệt độ trái đất tăng lên 3 – 40C có thể khiến cho 330 triệu người phải di dời tạm thời hay vĩnh viễn do lũ lụt trong đó khoảng 22 triệu người Việt Nam có thể chịu ảnh hưởng bởi sự nóng lên toàn cầu và nước biển dâng [UNDP, 2007 - 2008] Theo Kịch bản biến đổi khí hậu và nước biển dâng cho Việt Nam 2012, nếu mực nước biển dâng 1m, sẽ có khoảng 39% diện tích đồng bằng sông Cửu Long, trên 10% diện tích vùng đồng bằng sông Hồng và Quảng Ninh, trên 2,5% diện tích thuộc các tỉnh ven biển miền Trung và trên 20% diện tích Thành phố

Hồ Chí Minh có nguy cơ bị ngập; Gần 35% dân số thuộc các tỉnh vùng đồng bằng sông Cửu Long, trên 9% dân số vùng đồng bằng sông Hồng, Quảng Ninh, gần 9% dân số các tỉnh ven biển miền Trung và khoảng 7% dân số Thành phố Hồ Chí Minh

bị ảnh hưởng trực tiếp; Trên 4% hệ thống đường sắt, trên 9% hệ thống quốc lộ và khoảng 12% hệ thống tỉnh lộ của Việt Nam sẽ bị ảnh hưởng [Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2012]

Nằm ở một trong 5 ổ bão của thế giới, trước diễn biến bất thường của biến đổi khí hậu nói trên, tình hình thiên tai ngày càng diễn biến phức tạp và mức độ rủi

ro thiệt hại đã và sẽ ngày càng tăng trong các năm tới đòi hỏi chúng ta phải có những hành động ứng phó kịp thời

1.2 Tình hình thiên tai và biến đổi khí hậu tại tỉnh Thanh Hoá

Thanh Hoá nằm ở phía Bắc của khu vực Bắc Trung Bộ có đặc điểm về khí hậu, thuỷ văn và địa hình phức tạp, là nơi chịu ảnh hưởng nhiều của hầu hết các loại thiên tai thường xuyên xảy ra ở Việt Nam như: bão; áp thấp nhiệt đới (ATNĐ); lũ lụt; hạn hán; lốc tố; giông sét; sạt lở đất; xói lở bờ sông, bờ biển; cháy rừng; xâm nhập mặn; triều cường… Ngoài ra, gần đây còn xuất hiện cả mưa đá và động đất với tần suất ngày càng cao và mức độ khốc liệt ngày càng lớn [VTV, 2013] Trong

đó, ảnh hưởng và gây thiệt hại nhiều nhất cho các vùng ven biển là bão, ATNĐ, lũ

Trang 18

lụt và hạn hán Giáp mặt với biển Đông nên các vùng ven biển tỉnh Thanh Hoá rất

dễ bị tổn thương bởi các cơn bão nhiệt đới, lũ lụt, hạn hán, xâm nhập mặn, v.v Theo số liệu thống kê trong 52 năm trở lại đây từ năm 1955 đến 2007 Thanh Hoá phải chịu ảnh hưởng trực tiếp của hơn 100 cơn bão và ATNĐ, trong đó có 36 năm bão đổ bộ trực tiếp vào Thanh Hoá, tính trung bình mỗi năm có khoảng 2,4 cơn bão

đổ bộ hoặc ảnh hưởng trục tiếp đến Thanh Hoá với sức mạnh gió từ cấp 8 đến cấp

11, 12 Thanh Hoá phải chịu nhiều các trận bão biển và lũ lụt hàng năm, bão mức độ trung bình 3 năm một lần, mức độ lớn khoảng 10 năm một lần và mức độ tàn khốc khoảng 40 năm một lần Mặt khác, theo số liệu thống kê của BCH PCLB tỉnh, lũ trong 42 năm trên một số sông thuộc lưu vực sông thấy rằng sông Chu có 12 năm; sông Mã có 10 năm; sông Bưởi có 20 năm xuất hiện lũ trên báo động III Thời gian một con lũ từ 7 đến 10 ngày và lũ lên nhanh, xuống cũng rất nhanh

Trong lịch sử ở Thanh Hoá đã xảy ra 45 điểm vỡ đê trên sông lớn và 13 điểm

vỡ đê sông nhỏ Lũ bão lớn đã xảy ra vào các năm 1927, 1944, 1962, 1973, 1980,

1996 và gần đây nhất là năm 2005 và 2007 Vào năm 2005, Thanh Hoá liên tiếp chịu ảnh hưởng của 4 cơn bão, 5 đợt lũ trên các triền sông và 1 đợt lũ quét tại huyện Quan Hoá đã gây thiệt hại rất nghiêm trọng cho các vùng trong tỉnh Trong đó có hai cơn bão số 6 và số 7 đã liên tiếp đổ bộ vào Thanh Hoá trong các ngày 19/9 đến 27/9/2005 với sức gió giật cấp 11, trên cấp 11 kèm theo mưa to đến rất to Vào năm

2007, do ảnh hưởng của hoàn lưu bão số 5 đã gây ra mưa lũ lớn, xảy ra tổ hợp lũ đặc biệt lớn trên tất cả các sông, làm tràn và vỡ nhiều tuyến đê sông, gây thiệt hại nặng nề ước tính khoảng 1100 tỷ đồng [Trường Đại học Thủy lợi, 2012]

Bão và lũ lụt đã gây ra rất nhiều thiệt hại nặng nề về người và tài sản cho người dân tỉnh Thanh Hoá Ngoài ra, nó còn gây ra nhiều khó khăn về điều kiện ăn

ở, vệ sinh môi trường, nguy cơ dịch bệnh cho người dân và hàng ngàn đồng ruộng

bị nhiễm mặn do nước biển tràn vào phải mất rất nhiều tiền của, công sức qua nhiều năm mới có thể khôi phục và cải tạo lại được Số liệu thống kê của Sở NN - PTNT Thanh Hóa, trong vòng 14 năm gần đây (1996 – 2009) đã có tất cả 324 người bị chết và tổng giá trị thiệt hại kinh tế ước tính 4500 tỷ đồng

Trang 19

Hình 1.1 Thống kê thiệt hại về kinh tế do thiên tai tại Thanh Hóa

Hình 1.2 Thống kê thiệt hại về người do thiên tai tại Thanh Hóa

Nguồn: [Trường Đại học Thủy lợi, 2012]

Bên cạnh đó ảnh hưởng của biển đổi khí hậu và nước biển dâng đã dẫn tới làm gia tăng hạn hán cục bộ và xâm nhập mặn cho nhiều địa phương ven biển của tỉnh Thanh Hoá [Sở Tài nguyên và Môi trường Thanh Hóa, 2012]

Trong những năm gần đây, tăng trưởng dân số kết hợp với phát triển kinh tế nhanh, phát triển đô thị hoá, sức ép lên khai thác tài nguyên và biến đổi khí hậu đã làm tăng nguy cơ bị tổn thương cho người dân tỉnh này Điều này cũng làm hạn chế những nỗ lực giảm nghèo của tỉnh Thanh Hoá

Trang 20

1.3 Công tác phòng tránh, giảm nhẹ thiên tai tại Việt Nam và Thanh Hóa

1.3.1 Về chính sách phòng tránh giảm nhẹ thiên tai trong bối cảnh biến đổi

khí hậu

Ý thức được công tác phòng tránh, giảm nhẹ thiên tai là công việc hết sức quan trọng và cần thiết nhằm đảm bảo sự phát triển bền vững của đất nước, Đảng và Chính phủ đã hết sức quan tâm đến công tác này thể hiện ở việc chỉ đạo và tăng cường năng lực thể chế cũng như nâng cao nhận thức cộng đồng theo chủ trương lấy phòng ngừa làm trọng tâm và thực hiện theo phương châm bốn tại chỗ

Ở quy mô quốc gia, đến nay, chúng ta đã có nhiều văn bản liên quan đến vấn

đề này Tuy nhiên các văn bản hiện có hiệu lực về phòng chống thiên tai hoặc quản

lý thảm họa có liên quan đến thiên tai đều chỉ có phạm vi điều chỉnh hẹp đối với một số loại thiên tai, dẫn tới cơ cấu tổ chức và cách thức điều chỉnh cũng thể hiện đặc thù của công tác phòng chống các loại thiên tai có liên quan Trong trường hợp xảy ra đồng thời nhiều loại thiên tai, thì cơ chế phối hợp chưa được quy định cụ thể

Quan trọng nhất trong lĩnh vực phòng chống thiên tai là Pháp lệnh Phòng, chống lụt, bão năm 1993, sửa đổi bổ sung năm 2000 mới chỉ điều chỉnh 11 loại thiên tai liên quan đến nước Sau đó, Nghị định 14/2010/NĐ-CP xác định nước ta có

13 loại hình thiên tai bao gồm cả hai loại thiên tai mới xuất hiện nhiều là động đất

và sóng thần Các yếu tố liên quan đến thiên tai tuy có được đề cập trong văn bản nhưng chỉ ở phạm vi hẹp đối với lĩnh vực quản lý của từng bộ, ngành như Luật Đê điều, Luật Tài nguyên nước [ Bộ Nông nghiệp và PTNT, 2012]

Như vậy, với nhiều văn bản quy định công tác phòng tránh, giảm nhẹ thiên tai tại Việt Nam nhưng nội dung còn rời rạc, chưa có một văn bản tổng thể được luật hóa để phòng tránh, giảm nhẹ tất cả các loại thiên tai một cách thống nhất và hạn chế sự chồng chéo về trách nhiệm từ đó làm tăng tính hiệu quả của công tác này Trước yêu cầu đó Quốc hội đã thảo luận và ban hành Luật Phòng chống, giảm nhẹ thiên tai ngày 19 tháng 6 năm 2013 Luật này đã có hiệu lực từ ngày 1 tháng 5 năm 2014

Trang 21

Tại tỉnh Thanh Hóa, trước tình hình thiên tai và biến đổi khí hậu diễn biến hết sức phức tạp trên địa bàn tỉnh, Chính quyền và người dân tỉnh Thanh Hoá đã có nhiều nỗ lực trong việc ứng phó với những thách thức do thiên tai và biến đổi khí hậu Năm 2008, UBND tỉnh đã thiết lập Kế hoạch hành động thực hiện Chiến lược quốc gia về ngăn ngừa, ứng phó và giảm nhẹ thiên tai đến năm 2020 Kế hoạch thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia Ứng phó với biến đổi khí hậu giai đoạn 2010 –

2015 tầm nhìn 2020 cũng đã được Sở Tài nguyên và Môi trường (DONRE) xây dựng và được UBND tỉnh phê duyệt Gần đây nhất là Kế hoạch thực hiện Chương trình Quản lý rủi ro thiên tai dựa vào cộng đồng do Sở NN và PTNT xây dựng đã được xem xét và phê duyệt năm 2012 Tất cả các chương trình trên đã bắt đầu được thực hiện

Hiên nay, tỉnh Thanh Hoá có các Ban chỉ huy phòng, chống lụt bão (PCLB), Ban tìm kiếm cứu nạn (TKCN) chịu trách nhiệm giúp Uỷ ban nhân dân Tỉnh (UBND) điều hành và phối hợp với các cơ quan hữu quan thực hiện chức năng quản

lý nhà nước về lĩnh vực này

Những chuyển biến nói trên chứng tỏ rằng Chính quyền tỉnh Thanh Hoá đã nhận thức được tầm quan trọng của giảm thiểu rủi ro thiên tai và thích ứng với biến đổi khí hậu trong chiến lược phát triển của mình Tuy nhiên, trong các cuộc phỏng vấn với cán bộ Ban Chỉ huy Phòng chống lụt bão, Sở Tài nguyên và Môi trường và Hội Chữ thập đỏ tỉnh cho thấy còn nhiều hạn chế về nguồn nhân lực và vật lực để thực hiện các hoạt động nói trên

Trước những hạn chế nói trên, một số hoạt động phòng tránh, giảm nhẹ thiên tai với sự tài trợ của WB đã được triển khai ở Thanh Hoá Tuy nhiên, các hoạt động này chủ yếu tập trung vào các giải pháp công trình như cải thiện các hệ thống đê điều và thuỷ lợi Bên cạnh đó, hiện có một số hoạt động nâng cao nhận thức cộng đồng là dự án về CBDRM tại huyện Nga Sơn và dự án thích ứng với biến đổi khí hậu tại Hậu Lộc đang được thực hiện với sự hỗ trợ của tổ chức CARE Quốc tế Tổ chức World Vision cũng đang giúp người dân 7 huyện miền núi thực hiện lồng ghép các hoạt động giảm nhẹ thiên tai và biến đổi khí hậu vào 7 Chương trình Phát triển vùng thuộc tỉnh Thanh Hóa Tuy nhiên, những kết quả đạt được so với yêu cầu còn khiêm tốn

vì có nhiều khó khăn tại 27 huyện, thị xã, thành phố chưa giải quyết hết được

Trang 22

1.3.2 Phương châm 4 tại chỗ trong Phòng tránh, giảm nhẹ thiên tai

Trong những năm gần đây, một quan điểm xuyên suốt của Chính phủ là thực hiện phòng tránh giảm nhẹ thiên tai áp dụng cho tất cả các cấp, các ngành và người dân kể cả trước, trong và sau thiên tai đều phải thực hiện theo phương châm 4 tại chỗ: vật tư, phương tiện tại chỗ; hậu cần tại chỗ; lực lượng tại chỗ và chỉ huy tại chỗ Tại cấp cơ sở phương châm này cần được đặc biệt tuân thủ vì ở cấp này ít khi thiên tai xảy ra nhận được sự hỗ trợ kịp thời từ tuyến trên Phương châm này được đúc rút từ kinh nghiệm chiến tranh nhân dân toàn dân, toàn diện và phát huy trong phòng chống thiên tai của nhân dân ta từ trước tới nay, hiện đang phát huy hiệu quả khá tốt và đang được chính quyền và người dân nhiều nơi thực hiện kể cả địa bàn nghiên cứu trong đề tài này

Cơ sở pháp lý: Phương châm bốn tại chỗ đã được Chính phủ đưa vào 3 văn

bản pháp luật có tính pháp lý cao:

- Khoản d, Mục 7, Điều 10, Chương 3 Nghị định số 08/2006/NĐ-CP ngày 16/1/2006 của Chính phủ Quy định chi tiết một số điều của Pháp lệnh Phòng chống lụt bão sửa đổi nêu rõ “Các địa phương vùng thường xuyên bị bão, áp thấp nhiệt đới, lũ lụt cần tổ chức tập huấn, diễn tập cho các lực lượng trực tiếp làm công tác phòng, chống lụt, bão, cứu hộ, cứu nạn; chủ động xây dựng phương án đối phó, huy động mọi nguồn lực trên địa bàn theo phương châm “4 tại chỗ: chỉ huy tại chỗ, lực lượng tại chỗ, vật tư tại chỗ và hậu cần tại chỗ” để đối phó và khắc phục hậu quả của lụt, bão.”

- Trong nội dung của Nguyên tắc chỉ đạo thứ 3, Quyết định 172/2007/QĐ-TTg ngày 16/11/2007 về việc Phê duyệt Chiến lược Phòng chống giảm nhẹ thiên tai đến năm 2020 nêu rõ: “Chiến lược quốc gia phòng, chống và giảm nhẹ thiên tai phải được thực hiện đồng bộ, theo giai đoạn và có trọng điểm, vừa có tính cấp bách, vừa có tính lâu dài Công tác phòng, chống và giảm nhẹ thiên tai phải thực hiện theo phương châm “4 tại chỗ” (vật tư tại chỗ, hậu cần tại chỗ, chỉ huy tại chỗ, lực lượng tại chỗ) và chủ động phòng tránh, ứng phó kịp thời, khắc phục khẩn trương

và hiệu quả Công tác khắc phục hậu quả phải kết hợp với khôi phục và nâng cấp, bảo đảm sự phát triển bền vững của từng vùng và từng lĩnh vực.”

Trang 23

- Đặc biệt Khoản 3, Điều 4, Luật Phòng chống thiên tai 2013 có ghi rõ “Phòng, chống thiên tai được thực hiện theo phương châm bốn tại chỗ: chỉ huy tại chỗ; lực lượng tại chỗ; phương tiện, vật tư tại chỗ; hậu cần tại chỗ.”

Chính vì vậy, khi đánh giá năng lực của người dân, tác giả đã chọn khả năng thực hiện phương châm 4 tại chỗ để xác định mức độ năng lực phòng tránh thiên tai

và sử dụng hiểu biết của cộng đồng về đặc điểm của các loại thiên tai, biện pháp ứng phó và hiểu biết về biến đổi khí hậu tại địa phương để xác định tình trạng dễ bị tổn thương trong bối cảnh biến đổi khí hậu của đối tượng nghiên cứu

Phương châm bốn tại chỗ trong phòng tránh, giảm nhẹ thiên tai có thể được hiểu chung là: Mỗi gia đình, mỗi địa phương cần phải chuẩn bị cho mình đầy đủ những gì cần thiết nhất để thực hiện việc phòng ngừa, ứng phó với thiên tai xảy ra

ở địa phương tại bất kỳ thời điểm nào Đồng thời phải đáp ứng được yêu cầu cứu trợ cho bản thân gia đình hoặc địa phương mình, sẵn sàng hỗ trợ các gia đình và địa phương khác trước khi lực lượng bên ngoài đến hỗ trợ [CARE, 2010]

a Vật tư, phương tiện tại chỗ bao gồm: vật tư, phương tiện, trang thiết bị

của Nhà nước; huy động của tổ chức, cá nhân trên địa bàn hoặc do tổ chức, cá nhân,

hộ gia đình tự chuẩn bị như: bao cát, cọc tre, dây thừng, đá, cát, rọ sắt, kiên cố hóa nhà cửa và hệ thống giao thông, thủy lợi trên địa bàn … Bên cạnh đó còn có hệ thống thông tin liên lạc phục vụ chỉ huy tại chỗ trong hoạt động phòng, chống thiên tai như: hệ thống thông tin công cộng và trang thiết bị chuyên dùng phục vụ cho hoạt động chỉ đạo, chỉ huy phòng, chống thiên tai; thiết bị quan trắc tự động truyền tin; hệ thống thông tin cảnh báo sớm

b Hậu cần tại chỗ bao gồm: Nhu yếu phẩm của tổ chức, cá nhân và hàng

hóa, vật tư, thiết bị dự trữ phục vụ cho hoạt động phòng, chống thiên tai bao gồm lương thực, thực phẩm dự trữ, thuốc chữa bệnh, nước uống, hóa chất, thiết bị xử lý nước, thuốc khử trùng và vật phẩm cần thiết khác để bảo đảm đời sống nhân dân khi thiên tai xảy ra trong ít nhất 7 – 10 ngày Ngoài ra cần bảo quản tiền cẩn thận và dành ra một khoản ngân quỹ để đề phòng khi thiên tai xảy ra đối với gia đình hay cộng đồng còn có vốn để chủ động trong thiên tai và gây dựng lại sau thiên tai

Trang 24

c Lực lượng tại chỗ bao gồm: thành viên từ các tổ chức, hộ gia đình và cá

nhân trên địa bàn là lực lượng tại chỗ thực hiện hoạt động phòng, chống thiên tai Dân quân tự vệ là lực lượng tại chỗ thực hiện nhiệm vụ phòng, chống thiên tai theo phương án phòng, chống thiên tai của địa phương và sự điều động của người có thẩm quyền Quân đội nhân dân, Công an nhân dân có trách nhiệm thực hiện nhiệm

vụ phòng, chống thiên tai và là lực lượng nòng cốt trong công tác sơ tán người, phương tiện, tài sản, cứu hộ, cứu nạn, bảo đảm an ninh, trật tự an toàn xã hội theo

sự điều động của người có thẩm quyền Ngoài ra còn có tổ chức, cá nhân tình nguyện tham gia hỗ trợ hoạt động phòng, chống thiên tai theo sự chỉ huy của người

có thẩm quyền tại cộng đồng

d Chỉ huy tại chỗ: Thiên tai có tính đặc thù đối với từng địa phương do đó

công tác phòng tránh giảm nhẹ thiên tai có tính chất riêng của từng địa phương cụ thể Vì vậy, việc chỉ huy tại chỗ từ trước, trong và sau thiên tai là một yêu cầu khách quan và cấp thiết Các thành phần tham gia chỉ huy tại chỗ cấp cơ sở là cán bộ Ban PCLB xã, tiểu ban PCLB thôn, đại diện các tổ chức đoàn thể tại xã, thôn kể cả lực lượng xung kích trên địa bàn tham gia hướng dẫn người dân thực hiện các biện pháp để phòng tránh giảm nhẹ thiên tai một cách chủ động thường xuyên và liên tục Riêng đối với hộ gia đình, người chỉ huy chính là chủ hộ, người thông minh, nhanh nhẹn, khỏe mạnh và chịu trách nhiệm về sự an toàn về tính mạng và tài sản của gia đình

1.4 Tình hình thiên tai và biến đổi khí hậu tại Quảng Xương

Quảng Xương có những nét đặc trưng về khí hậu, thủy văn của vùng ven biển tỉnh Thanh Hóa do đó sự thay đổi của các yếu tố thời tiết khí hậu như: nhiệt độ,

độ ẩm, lượng mưa là rất được quan tâm theo dõi Chính vì vậy, mà tại xã Quảng Thịnh, huyện Quảng Xương, Trung tâm khí tượng thủy văn tỉnh đã đặt 01 trạm khí tượng để đo đạc và cập nhật các yếu tố biến động về khí tượng, thủy văn cho các xã thuộc huyện Quảng Xương trong đó có xã Quảng Nham Theo Kế hoạch hành động ứng phó với biến đổi khí hậu tỉnh Thanh Hóa [Sở Tài nguyên và Môi trường Thanh Hóa, 2012] cho thấy sự biến động các yếu tố khí hậu, thủy văn trong 30 năm (1980 – 2010) tại Quảng Xương được ghi nhận như sau:

Trang 25

1.4.1 Nhiệt độ

Nhiệt độ trong 30 năm qua có xu thế tăng lên, nhiệt độ trung bình trong

10 năm gần đây phổ biến tăng từ 0,1 – 0,4 oC Nhiệt độ tối cao tuyệt đối tại Tĩnh Gia tháng 7/2010 là 430C (vượt số liệu lịch sử là 42,2 oC) Nhiệt độ tối thấp tuyệt đối không thấp như nhiều năm trước đây kể cả trong những ngày rét đậm rét hại đầu năm 2008 (từ 6– 7oC trở lên)

Hình 1.3 Biểu đồ theo dõi nhiệt độ trung bình năm qua các năm (1980-2010)

Nguồn: [Sở Tài nguyên và Môi trường Thanh Hóa, 2012]

Nắng nóng có xu thế xuất hiện sớm và kết thúc muộn, số đợt nhiều hơn, xảy

ra cục bộ và và diễn biến phức tạp, số ngày nắng nóng gay gắt nhiều hơn, điển hình

là đợt nắng nóng gay gắt kéo dài gần 30 ngày trong mùa hè năm 2008 với nhiệt độ tối cao tuyệt đối từ 39 – 41 oC; mùa hè năm 2010, nhiều đợt nắng nóng gay gắt, nhiệt độ tối cao tuyệt đối dao động từ 40 – 43 oC

Không khí lạnh có nhiều biểu hiện bất thường, mùa lạnh đến sớm hơn (cuối tháng tháng 8 đã xuất hiện), số đợt nhiều hơn, cường độ không mạnh như nhiều năm trước đây song lại có những năm xuất hiện rét đậm rét hại kéo dài mang tính lịch sử như năm 2008, 2010 và 2011

1.4.2 Lượng mưa

Tổng lượng mưa năm trong 30 năm trở lại đây có xu thế giảm, đồng thời có nhiều biểu hiện khác với quy luật thông thường nhiều năm, trong mùa khô ít mưa

Trang 26

Số đợt mưa có thể ít hơn nhưng mỗi đợt mưa lại lớn và kéo dài hơn, đặc biệt tính chất khi hậu địa phương thể hiện rất rõ tại Quảng Xương, lượng mưa có thể rất khác nhau giữa các xã miền biển và các xã miền đồng

Hình 1.4 Biểu đồ theo dõi lượng mưa trung bình năm qua các năm (1980-2010)

Nguồn: [Sở Tài nguyên và Môi trường Thanh Hóa, 2012]

1.4.3 Độ mặn

Trên dòng chính sông Yên tại Bến Mắm (khoảng cách tới cửa biển 25 km)

độ mặn lớn nhất từ năm 1999 đến 2009 là 2,5 ‰, năm 2010 độ mặn lớn nhất lên tới 3,3 ‰, cao nhất từ trước đến nay; theo chiều dọc sông, độ mặn đã xâm nhập vào

gần Trạm thủy văn Chuối cách cửa biển 40 km

Trang 27

Tình hình thiên tai trong bối cảnh biến đổi khí hậu đang tác động ngày càng mạnh mẽ lên các địa phương vùng nghiên cứu trong khi nhận thức và năng lực của cán bộ các cấp và người dân còn hạn chế Điều này đòi hỏi chúng ta phải có các giải pháp đúng đắn, đồng bộ và kịp thời để hạn chế tình trạng trên

Hình 1.5 Kết quả quan trắc biến thiên độ mặn trên hệ thống sông Yên (1980 – 2010)

Nguồn: [Sở Tài nguyên và Môi trường Thanh Hóa, 2012]

Ở cấp cơ sở như xã Quảng Nham, huyện Quảng Xương Hiện nay, chính quyền và người dân cũng rất lo lắng và quan tâm về vấn đề phòng tránh và giảm nhẹ thiên tai nhưng chưa có được các biện pháp ứng phó hiệu quả, nhất là trong bối cảnh thiên tai diễn biến bất thường trước ảnh hưởng của biến đổi khí hậu như hiện nay Là nơi thường xuyên bị tổn thương bởi lũ, lụt, bão, xâm nhập mặn, hạn hán và xói lở bờ sông, bờ biển Trong những năm gần đây, có dấu hiệu tăng lên về tính khốc liệt, mức độ gây hại, phạm vi và tần suất của thiên tai tại khu vực này Để có cơ sở xây dựng

và triển khai có hiệu quả các biện pháp phòng tránh và giảm nhẹ thiên tai dựa vào cộng đồng cần phải thực hiện Đánh giá rủi ro thiên tai hay còn gọi là Đánh giá HVCA và lập được Kế hoạch phòng tránh giảm nhẹ thiên tai cho địa phương

1.5 Tình hình đánh giá rủi ro thiên tai trên thế giới và ở Việt Nam

1.5.1 Cơ sở lý luận

Trong nghiên cứu này rủi ro thiên tai được hiểu là thiệt hại do thiên tai có thể gây ra về người, tài sản, môi trường sống, các hoạt động kinh tế, xã hội tại một số cộng đồng trong một khoảng thời gian nhất định [DMC – BNN&PTNT, 2011, tr.11]

Trang 28

Giảm nhẹ rủi ro thiên tai đang là một khó khăn lớn đối với Việt Nam nói chung và Thanh Hóa nói riêng trong bối cảnh biến đổi khí hậu

Trong khuôn khổ nghiên cứu này, tác giả đồng nhất khái niệm “đánh giá rủi

ro thiên tai có sự tham gia của cộng đồng” với khái niệm “đánh giá rủi ro thiên tai dựa vào cộng đồng” Theo đó, “đánh giá rủi ro thiên tai dựa vào cộng đồng là một quá trình nhờ đó tất cả các bên liên quan thu thập và phân tích thông tin rủi ro thiên tai theo sự hướng dẫn của các thành viên nhóm công tác kỹ thuật Căn cứ vào đánh giá này, tiến hành lập kế hoạch đối với các hoạt động thích hợp nhằm giảm những rủi ro thiên tai có thể có ảnh hướng bất lợi đến đời sống của người dân” [DMC – BNN&PTNT, 2011, tr.227] Đánh giá rủi ro thiên tai dựa vào cộng đồng chính là quá trình đánh giá có sự tham gia ở cấp cộng đồng về các loại hình hiểm hoạ trong quá khứ, các mối đe doạ hiện tại cũng như xu hướng thay đổi khí hậu – đánh giá hiểm họa, kết hợp với hiểu biết các nguyên nhân cơ bản: tại sao các hiểm họa trở thành thiên tai – đánh giá tình trạng dễ bị tổn thương và các nguồn lực cộng đồng bị ảnh hưởng có thể khai thác sử dụng để giảm nhẹ rủi ro – đánh giá năng lực, và xem cách người dân đánh giá rủi ro khác nhau như thế nào, tức là đánh giá nhận thức của người dân về rủi ro Đánh giá rủi ro thiên tai thường được sử sụng với tên gọi là Đánh giá HVCA

Rủi ro thiên tai (Risk) liên hệ với Hiểm họa (Hazard), Tình trạng dễ bị tổn thương (Vulnerability) và Năng lực ứng phó (Capacity) theo biểu thức sau:

Rủi ro thiên tai = (Mức độ Hiểm họa x Tình trạng dễ bị tổn thương)

Năng lực ứng phó

Nguồn: [Hội Chữ thập đỏ Việt Nam, 2010, tr 12]

Qua biểu thức ta thấy, muốn giảm nhẹ rủi ro thiên tai, ta phải giảm tình trạng

dễ bị tổn thương, giảm nguy cơ hiểm họa và tăng cường năng lực ứng phó Để đạt được điều này, trước hết cần phải đánh giá các yếu tố này, trên cơ sở đó mới đề xuất được các giải pháp cụ thể nhằm giảm nhẹ rủi ro thiên tai

Một phương pháp đặc biệt hữu ích giúp nâng cao nhận thức và góp phần đề

ra các biện pháp phòng tránh và giảm nhẹ thiên tai tốt hơn là phương pháp Đánh giá

Trang 29

Hiểm họa, Tình trạng dễ bị tổn thương và Năng lực (HVCA – Hazard Vulnerability Capacity Assessment) Phương pháp này đang được sử dụng rộng rãi ở các tổ chức làm việc với cộng đồng

HVCA bao gồm một quá trình thu thập và phân tích thông tin về: các hiểm họa ở địa phương người dân có thể gặp phải ở nơi họ đang sinh sống; mức độ tình trạng dễ bị tổn thương của người dân địa phương và năng lực của họ, để ứng phó và phục hồi khi bị thiên tai tấn công [DMC – BNN&PTNT, 2011, tr.144]

1.5.2 Thực tiễn đánh giá rủi ro thiên tai trên thế giới

Đánh giá rủi ro theo cách tiếp cận dựa vào cộng đồng đã được nhiều tổ chức,

cá nhân ứng dụng trong nghiên cứu giảm nghèo Tại Châu Âu, cuối thế kỷ 20, phương pháp phát triển cộng đồng có sự tham gia (PCD) đã được sử dụng ở Trung

Âu, nơi các Hội ngành đang phải đối mặt với những khó khăn do sự sụp đổ của chế

độ cộng sản mà không có được sự hỗ trợ cần thiết Cùng lúc đó, nghèo khó đã gia tăng ra nhiều tập đoàn Đầu những năm 2000, 9 hiệp hội đã cùng sử dụng một phương pháp luận gọi là phát triển cộng đồng có sự tham gia để lấy lại sức sống cho ngành hàng của họ PCD là cách để giải quyết các vấn đề của con người tại các địa phương Sau này chúng cũng được áp dụng để đánh giá tình trạng dễ bị tổn thương

và năng lực ứng phó với thiên tai và trở thành VCA

Tại Mỹ latinh, ban đầu phương pháp Xây dựng chương trình có sự tham gia của cộng đồng là một phương pháp làm việc ở cấp cơ sở để giải quyết các vấn đề chưa liên quan trực tiếp đến thiên tai Phương pháp này càng ngày càng lôi kéo được sự tham gia rộng rãi của cộng đồng nhằm xử lý những bất cập và giảm tình trạng dễ bị tổn thương cho người dân trong cộng đồng Nó thúc đẩy sự hợp tác giữa các bên liên quan trong và ngoài cộng đồng và thúc đẩy sự hợp tác giữa chính quyền trung ương và địa phương, các tổ chức tôn giáo và các tổ chức phi chính phủ [IFRC, 2006, tr.44]

Đến những năm cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX khi thiên tai và biến đổi khí hậu tác động ngày càng lớn đến sản xuất và sinh hoạt của người dân tại nhiều nơi

Trang 30

trên thế giới thì cách tiếp cận VCA này lại được sử dụng để nghiên cứu về những rủi ro thiên tai mà các cộng đồng gặp phải

Năm 2003, tại Rwanda, Hội Chữ thập đỏ Rwanda đã sử dụng công cụ VCA

để đánh giá tình trạng dễ bị tổn thương và năng lực ứng phó với các vấn đề địa lý và kinh tế - xã hội của cộng đồng tại các địa phương trên cả nước [IFRC, 2003]

Năm 2007, tại các nước Châu phi, IPCC đã tiến hành nghiên cứu đánh giá tác động, tính dễ bị tổn thương và năng lực thích ứng của người dân Châu Phi trong bối cảnh biến đổi khí hậu Nghiên cứu này đã chỉ ra những tác động và tính dễ bị tổn thương do biến đổi khí hậu gây ra tại các quốc gia Châu Phi trên các khía cạnh nguồn nước, năng lượng, sức khỏe, nông nghiệp, hệ sinh thái, vùng ven biển, du lịch, lắng đọng trầm tích, công nghiệp và cơ sở hạ tầng, nhất là tại Ai Cập [Boko et al., 2007]

Tại Châu Á, từ đầu thế kỷ 21, phương pháp VCA được sử dụng ngày càng phổ biến và mang lại kết quả thiết thực

Tại Philippin, từ những năm 2000, Tổ chức Oxfam đã hướng dẫn và phối hợp với người dân và chính quyền nước này đánh giá VCA tại nhiều địa phương trong cả nước với cách tiếp cận dựa vào cộng đồng trên cơ sở gắn kết giữa giảm nhẹ thiên tai và phát triển Cách làm này đã giúp các cộng đồng dễ bị tổn thương tại Philippin có được cuộc sống an toàn và ổn định hơn trước, trong và sau thiên tai [Oxfam GB, 2002].Mặc dù vậy tính hiệu quả vẫn còn hạn chế

Năm 2003, Chương trình sử dụng bền vững và bảo vệ đa dạng sinh học đất ngập nước Mê-kông (MWBP) phối hợp với tổ chức ADPC đã thực hiện nghiên cứu Đánh giá tình trạng dễ bị tổn thương từ những rủi ro khí hậu tại tỉnh Attapeu, CHDCND Lào [MWBP and ADPC, 2005] Từ đánh giá này đã chỉ ra được những rủi

ro do khí hậu tác động đến các cộng đồng dễ bị tổn thương trong khu vực và đưa ra những khuyến nghị kịp thời

Tại Ấn Độ, từ năm 2011 đến nay, đánh giá hiểm họa, tình trạng dễ bị tổn thương và năng lực phòng tránh, giảm nhẹ thiên tai đã được Cơ quan Quản lý thiên tai Quốc gia và các Dự án sử dụng ngày càng phổ biến để đánh giá cho nhiều cộng

Trang 31

đồng dễ bị tổn thương như: Bihar, Andaman, Nicobar, Islands, Kashmir, Kerala and Tamil, Nadu Từ đó xây dựng các kế hoạch ứng phó tối ưu nhất [Mihir R Bhatt, 2011]

Năm 2012, Bobenrieth và cộng sự (IUCN) đã tiến hành VCA tại tỉnh Koh Kong và Kampot, vương quốc Cambodia giúp nâng cao nhận thức cộng đồng và đề xuất các giải pháp để giảm nhẹ tình trạng dễ bị tổn thương và tăng cường năng lực cho các địa phương căn cứ vào kết quả nghiên cứu và đặc thù địa phương [Manuela

E B et al., 2012]

Đánh giá HVCA là nội dung đánh giá được bổ sung, phát triển từ VCA mà nhiều tổ chức nghiên cứu trên thế giới sử dụng để điều tra, nghiên cứu về một cộng đồng nhất định Đối với VCA, mục đích quan trọng nhất là đánh giá tình trạng dễ bị tổn thương và năng lực phòng tránh và giảm nhẹ rủi ro thiên tai Đối với HVCA, ngoài 2 nội dung đánh giá như VCA còn chú trọng việc đánh giá hiểm họa tự nhiên tại khu vực nghiên cứu Mặc dù chưa đầy đủ như HVCA nhưng VCA cũng mang lại những tiền đề quan trọng góp phần giảm nhẹ thiên tai tại nhiều nơi trên thế giới nhất

là tại các quốc gia đang phát triển thuộc Châu Phi và Châu Á

1.5.3 Đánh giá rủi ro thiên tai dựa vào cộng đồng tại Viêt Nam

Tại Việt Nam, từ những năm 1990 và đầu những năm 2000 đến nay, với sự tiên phong của Hội chữ thập đỏ Việt Nam và các tổ chức xã hội dân sự, VCA đã được áp dụng trong nhiều cuộc điều tra, nghiên cứu sao cho phù hợp với bối cảnh

và điều kiện của đất nước Trước đây các nghiên cứu VCA chủ yếu do Hội chữ thập

đỏ Việt Nam và các Hội chữ thập đỏ tỉnh triển khai và thực hiện đánh giá chỉ mới chú trọng đến thiên tai mà chưa đề cấp đến biến đổi khí hậu Mặt khác, nhiều cuộc đánh giá, mức độ triển khai đánh giá còn chưa triệt để, và chưa đánh giá đúng mức các đối tượng dễ bị tồn thương nhất là trẻ em, người khuyết tật Thí dụ, năm 2008, Tầm nhìn Thế giới đã tổ chức đánh giá HVCA tại Lang Chánh, Thanh Hóa trong khuôn khổ Dự án DIPECHO do EC tài trợ, đánh giá này tập trung về thiên tai chưa tính đến các ảnh hưởng của biến đổi khí hậu [Trần Văn Tuấn, 2008] Đến năm

2012, tác giả Lê Anh Tuấn và Trần Thị Kim Hồng đã thực hiện đề tài tại Cần Thơ

Trang 32

và tập trung vào điều tra về điều kiện sống cơ bản của hộ gia đình [Lê Anh Tuấn và Trần Thị Kim Hồng, 2012] Tác giả Trần Hữu Hào năm 2012 cũng đã thực hiện đề tài “Nghiên cứu tình trạng dễ bị tổn thương và năng lực thích ứng với biến đổi khí hậu của cộng đồng xã Tây Phong, huyện Cao Phong, tỉnh Hòa Bình” [Trần Hữu Hào, 2012] Nghiên cứu này đã đi sâu nghiên cứu hiện trạng có liên quan đến tính

dễ bị tổn thương tuy nhiên, chủ yếu phân tích khía cạnh sinh kế, trong khí đó, tình trạng dễ bị tổn thương do biến đổi khí hậu và thiên tai còn chịu sự ảnh hưởng của nhiều yếu tố quan trọng khác

Mặc dù là đã có sự chuyển biến về nội dung và phương pháp tiến hành theo thời gian Tuy nhiên, để đảm bảo việc đánh giá ngày càng khách quan, đầy đủ và chính xác đòi hỏi chúng ta không chỉ đánh giá được tình trạng dễ bị tổn thương và năng lực của người dân mà còn phải phải đánh giá cụ thể sự tác động của các loại hiểm họa tự nhiên trên địa bàn nghiên cứu dưới ảnh hưởng của biến đổi khí hậu Chúng tôi gọi đó là Đánh giá rủi ro thiên tai trong bối cảnh của biến đổi khí hậu Trong đánh giá này, các loại hiểm họa và tác hại của chúng được tập trung thảo luận sâu cùng với việc phân tích kỹ tình trạng dễ bị tổn thương và năng lực phòng tránh, giảm nhẹ thiên tai

1.5.4 Đối tượng dễ bị tổn thương trong thiên tai

Đối tượng dễ bị tổn thương là nhóm người có đặc điểm và hoàn cảnh khiến

họ có khả năng phải chịu nhiều tác động bất lợi hơn từ thiên tai so với những nhóm người khác trong cộng đồng Đối tượng dễ bị tổn thương bao gồm trẻ em, người cao tuổi, phụ nữ đang mang thai hoặc đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi, người khuyết tật, người bị bệnh hiểm nghèo và người nghèo [Quốc hội, 2013]

Phụ lục 1 [Trung tâm Live&Learn, 2012] nêu rõ đặc điểm của các đối tượng dễ bị tổn thương nhất khi thiên tai xảy ra

Trong số các xã ven biển huyện Quảng Xương, Quảng Nham là xã duy nhất tại Quảng Xương có địa hình nhô hẳn ra biển, có cửa sông Yên đổ ra biển vì vậy địa phương này vừa có nhiều hoạt động sản xuất gắn với vùng cửa sông, ven biển vừa chịu nhiều loại hình thiên tai tác động trên diện rộng Mặt khác, xã Quảng Nham là

Trang 34

CHƯƠNG 2

ĐỊA ĐIỂM, THỜI GIAN, ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

PHƯƠNG PHÁP LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Địa điểm, thời gian, đối tượng nghiên cứu

2.1.1 Địa điểm nghiên cứu

Để xác định địa điểm nghiên cứu phục vụ cho yêu cầu đánh giá rủi ro thiên

tai như trên, chúng tôi đưa ra tiêu chí như sau:

a) Là xã bãi ngang, sát biển, chịu nhiều tác động của thiên tai

b) Xã có dân số đông và mật độ dân số cao, nhiều thôn tập trung sát mép nước c) Có nhiều ngành nghề sản xuất bị ảnh hưởng lớn bởi thiên tai

Những tiêu chí trên được xây dựng dựa trên yêu cầu chọn được địa điểm đại diện cho bối cảnh ảnh hưởng của thiên tai, biến đổi khí hậu và các yếu tố rủi ro thiên tai tác động lên kinh tế - xã hội địa phương Chúng tôi đã sử dụng các tiêu chí này để xem xét 10 xã ven biển huyện Quảng Xương (Quảng Vinh, Quảng Minh, Quảng Hùng, Quảng Đại, Quảng Hải, Quảng Lưu, Quảng Thái, Quảng Lợi, Quảng Nham và Quảng Thạch) kết quả cho thấy xã Quảng Nham là xã thỏa mãn các tiêu chí trên và phù hợp cho nghiên cứu này Trên thực tế, Quảng Nham đã phải chịu nhiều cơn bão ảnh hưởng nặng nề đến tính mạng và tài sản của người dân Chính vì vậy, chúng tôi chọn Quảng Nham là xã điểm để thực hiện đề tài nghiên cứu

Hình 2.1 Bản đồ xã Quảng Nham

Trang 35

Nguồn: [UBND xã Quảng Nham, 2013]

Hình 2.1 là sơ đồ xã Quảng Nham, qua đó ta cũng thấy được vị trí địa lý và tổng quan địa hình thấp, sát biển nên có nhiều rủi ro thiên tai Trên thực tế, xã Quảng Nham là xã ven biển nằm ở phía nam huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hóa, phía Đông giáp Vịnh Bắc Bộ (biển Đông), phía Nam cửa biển Lạch Ghép, phía Tây giáp cửa sông Yên, phía Bắc giáp xã Quảng Thạch, Quảng Lợi

2.1.2 Một số thông tin về kinh tế - xã hội của khu vực nghiên cứu

Xã Quảng Nham có diện tích tự nhiên là: 398,2 ha, dân số 15000 người trong

đó có 2300 là trẻ em (chiếm 15%), 3996 phụ nữ trong độ tuổi lao động (chiếm 26%), 900 người già (chiếm 6%) 350 người tàn tật, đặc biệt có 500 hộ sát mép nước tập trung tại 10 thôn dễ bị tổn thương nhất sát biển Đông và cửa sông Yên như: Bắc, Trung, Nam, Hòa, Bình, Hải, Đông, Thắng, Đức, Tiến, Tân Tỷ lệ hộ nghèo năm

2013 tương ứng là 25% Xã cách trung tâm huyện 18 km Đây là xã nằm sát sông và biển nên thường xuyên hứng chịu ảnh hưởng của bão – áp thấp nhiệt đới, lụt - ngập úng và xâm thực tác động Mặt khác, nhận thức để khắc phục các tác động bất lợi này còn hạn chế vì trình độ dân trí thấp và chưa được nâng cao nhận thức về vấn đề này [UBND xã Quảng Nham, 2013]

2.1.3 Thời gian nghiên cứu

- Nghiên cứu được tiến hành từ Tháng 4 năm 2013 đến Tháng 9 năm 2013

- Dữ liệu nghiên cứu về chủ đề nghiên cứu có liên quan được thu thập từ

1965 đến 2013 do trong thời gian này, tác động của thiên tai và biến đổi khí hậu tác động mạnh hơn đối với Việt Nam nói chung và Quảng Nham nói riêng và những biến đổi bất thường của thời tiết hay những sự kiện thiên tai gây thiệt hại lớn (bão, lụt) xuất hiện nhiều vào khoảng thời gian nói trên Đồng thời khoảng thời gian này gần với thời điểm hiện tại nhất nên người dân cũng dễ nhớ và nhớ rõ hơn các đặc điểm, tác động và biện pháp ứng phó của những loại thiên tai trên địa bàn

2.1.4 Đối tượng nghiên cứu

Trang 36

Đối tượng nghiên cứu trong khuôn khổ đề tài này là người dân, chính quyền địa phương và diễn biến tình hình thiên tai – khí hậu trên địa bàn nghiên cứu

2.2 Nội dung nghiên cứu:

Nội dung chính của nghiên cứu bao gồm:

a) Xem xét những hiểm họa tự nhiên mà cộng đồng vùng nghiên cứu đang gặp

phải trong bối cảnh biến đổi khí hậu

b) Đánh giá những tình trạng dễ bị tổn thương, không an toàn mà cộng đồng

đang gặp phải khi đối mặt với những hiểm họa tự nhiên này

c) Đánh giá năng lực để cộng đồng vùng nghiên cứu có thể phòng tránh, giảm

nhẹ thiên tai trong bối cảnh biến đổi khí hậu

d) Đưa ra đề xuất giúp công tác phòng tránh, giảm nhẹ rủi ro thiên tai dựa vào

cộng đồng trên cơ sở thích ứng với biến đổi khí hậu tại vùng nghiên cứu đạt kết quả tốt hơn

2.3 Phương pháp luận nghiên cứu

2.3.1 Cơ sở lựa chọn các phương pháp nghiên cứu

Để lựa chọn được các phương pháp nghiên cứu phù hợp với các nội dung đề

ra, tác giả căn cứ vào những thông tin cần thu thập về thiên tai, rủi ro thiên tai và biến đổi khí hậu để lựa chọn Cụ thể, để nắm được lịch sử thiên tai, thiệt hại xảy ra tại địa phương và đối chiếu với thông tin sơ cấp đề tài cần thu thập các thông tin thứ cấp từ các báo cáo phát triển kinh tế - xã hội, báo cáo phòng chống bão lụt qua các năm, vì vậy cần sử dụng phương pháp thu thập dữ liệu thứ cấp Để thu thập được các thông tin sơ cấp có liên quan tại địa phương có sự tham gia của người dân đảm bảo tính chính xác tác giả áp dụng cách tiếp cận có sự tham gia và lựa chọn sử dụng phương pháp Đánh giá nông thôn có sự tham gia của cộng đồng (PRA) Đồng thời,

để có thể phân tích hiện trạng và đưa ra kết luận chính xác và giải pháp phù hợp cần

có một hệ thống nhập liệu, xử lý và phân tích dữ liệu phù hợp với quy mô của đề tài nên tác giá đã chọn phương pháp nhập liệu dạng nhị phân và xử lý số liệu qua phần mềm Microsoft Excel Quan trọng nhất trong nghiên cứu này là phương pháp Đánh giá nông thôn có sự tham gia - PRA

2.3.2 Bối cảnh và cách tiếp cận nghiên cứu hành động có sự tham gia

Vào những năm cuối của thế kỷ 20, sự tham gia của người dân đã trở thành một bộ phận quan trọng trong các hoạt động nghiên cứu phát triển Sự tham gia được xem như vừa là mục đích, vừa là phương tiện vì nó xây dựng kỹ năng và nâng cao năng lực hành động của người dân trong việc giải quyết các vấn đề và ổn định

Trang 37

Theo Fals – Borda, nghiên cứu hành động có sự tham gia tự nó đã là một sự sáng tạo thực tiễn và tri thức tự sinh của các nước đang phát triển Điều này có nghĩa là nhờ sự tham gia của người dân trong quá trình nghiên cứu, kiến thức, kỹ năng và sức mạnh được sản sinh và phát triển [Fals-Borda, 1991]

Tiếp đó Deshler (1995) đã đưa ra các giả định cơ bản của cách tiếp cận nói trên như sau:

Các giá trị chung: (1) Sự dân chủ hóa trọng việc sử dụng và sản sinh kiến thức; (2) Sự công bằng về các lợi ích trong quá trình sản sinh kiến thức; (3) Quan điểm sinh thái hướng tới xã hội và tự nhiên; (4) Đánh giá khả năng của con người

để phản ánh, học tập và trao đổi; (5) Đảm bảo một sự biến đổi xã hội không có bạo lực

Quyền sở hữu: Nghiên cứu hành động cùng tham gia lấy lợi ích của cộng đồng làm điểm xuất phát cho quá trình nghiên cứu hơn là bắt đầu từ lợi ích của những người nghiên cứu ngoài cộng đồng Động lực nghiên cứu có thể từ nhiều nguồn khác nhau, kể cả từ các cá nhân, tổ chức ngoài cộng đồng Song cộng đồng luôn là người chủ sở hữu của nghiên cứu

Nghĩa vụ hành động: Quá trình nghiên cứu gắn liền với năng lực hành động của cộng đồng và phản ánh nghĩa vụ của cả người nghiên cứu và người tham gia trong các hoạt động văn hóa, xã hội, kỹ thuật và các hoạt động cá nhân

Vai trò của người tham gia: Các thành viên của cộng đồng được tham gia vào tất cả các giai đoạn của quá trình nghiên cứu, từ việc quyết định nghiên cứu, lựa chọn vấn đề và phương pháp nghiên cứu, thực hiện nghiên cứu, phân tích, giải thích, tổng hợp, kết luận và ra quyết định hành động Những người thường bị gạt ra ngoài quá trình ra quyết định như phụ nữ, trẻ em, người nghèo, được tạo điều kiện thuận lợi để tham gia vào quá trình nghiên cứu Những người tham gia của cộng đồng đóng góp sức lực hoặc kiến thức (địa phương) của họ cho quá trình nghiên cứu

Trang 38

Vài trò của người nghiên cứu: Luôn theo sát cộng đồng, trao đổi và thúc đẩy

họ đưa ra các thông tin cần thiết và đầy đủ cho các vấn đề nghiên cứu, khi cần thiết

có thể đóng góp ý kiến cho cộng đồng như một người tham gia

Lợi ích: các kết quả nghiên cú mang lại lợi ích cho cộng đồng Các rủi ro và tốn kém được chia sẻ giữa người nghiên cứu và cộng đồng

Vì vậy, cách tiếp cận nghiên cứu hành động có sự tham gia được ứng dụng

và phát triển ngày càng mạnh mẽ cho đến nay

Nhờ những tính chất ưu việt của cách tiếp cận này mà trong đề tài này tác giả

đã dựa trên cách tiếp cận có sự tham gia và sử dụng phương pháp đánh giá nông thôn có sự tham gia của cộng đồng (PRA) cùng với các phương pháp có liên quan

để tiền hành đề tài nghiên cứu này

2.4 Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện được các nội dung nghiên cứu này, chúng tôi đã sử dụng kết hợp các phương pháp nói trên nhằm thu thập thông tin có sự tham gia của cộng đồng trong việc tiến hành Đánh giá HVCA - quá trình đã được nhiều nơi sử dụng và đảm bảo độ tin cậy, xử lý số liệu thống kê Các phương pháp này được lựa chọn và thực hiện trên cơ sở cách tiếp cận hệ thống có trình tự và khoa học Từ đó, quy trình tiến hành cụ thể được tác giả sơ đồ hóa như Hình 2.2 dưới đây

Hình 2.2 Sơ đồ trình tự các bước nghiên cứu

Trang 39

2.4.1 Phương pháp thu thập tài liệu thứ cấp

Các tài liệu liên quan đến phòng tránh giảm nhẹ thiên tai và biến đổi khí hậu được thu thập và nghiên cứu từ các nguồn tài liệu quốc tế, quốc gia và khu vực nghiên cứu bao gồm: các kết quả nghiên cứu, điều tra về thiên tai, biến đổi khí hậu của Việt Nam, các hệ thống chính sách về phòng tránh và giảm nhẹ thiên tai; ứng phó với biến đổi khí hậu của Việt Nam, các báo cáo kết quả công tác phòng chống lụt bão hoặc phát triển kinh tế - xã hội của địa phương nghiên cứu Đây là những dữ liệu từ các nguồn rõ ràng, bám sát diễn biến thiên tai, biến đổi khí hậu và đảm bảo

độ tin cậy Sau đó, tác giả sẽ chọn lựa các thông tin liên quan đến hiểm họa, tình trạng dễ bị tổn thương và năng lực phòng tránh, giảm nhẹ thiên tai và biến đổi khí hậu mà đề tài quan tâm để làm thông tin tổng quan và định hướng cho việc tiến hành nghiên cứu của đề tài

2.4.2 Phương pháp đánh giá nông thôn có sự tham gia của cộng đồng

a Lý do chọn phương pháp PRA

Hiện tại trên thế giới, để thực hiện đánh giá rủi ro thiên tai (HVCA) người ta

có thể sử dụng các cách tiếp cận khác nhau Đối với các nhà kỹ thuật, có thể sử dụng các công cụ mô hình toán, phân tích không gian, kỹ thuật GIS, lập bản đồ hoặc thống kê được sử dụng để mô phỏng, phân tích và đánh giá hiểm họa, tình trạng dễ

bi tổn thương, năng lực Tuy nhiên, các nghiên cứu này tốn kèm và thường áp dụng trên quy mô lớn Đối với các trường hợp đánh giá HVCA có sự tham gia của cộng đồng thì phương pháp Đánh giá nông thôn có sư tham gia (PRA) tỏ ra phù hợp nhất Theo Tài liệu kỹ thuật về CBDRM: “Người dân địa phương, chính quyền, các tổ chức và các bên liên quan khác trong các cộng đồng gặp rủi ro thiên tai cần tham gia vào quá trình đánh giá này Chính quyền/Hội chữ thập đỏ hay các cán bộ của tổ chức phi chính phủ và các tình nguyện viên chỉ đóng vai trò hỗ trợ cộng đồng Để đảm bảo chất lượng và tính khách quan thông tin thu thập được, chỉ những người được đào tạo về đánh giá mới hỗ trợ cho việc đánh giá rủi ro thiên tai dựa vào cộng đồng [DMC – BNN&PTNT, 2011, tr.227].”

Sự tham gia của cộng đồng là mức độ tham gia của người dân trong việc ra quyết định và các hoạt động liên quan có ảnh hưởng tới cuộc sống và các điều kiện

Trang 40

sống của họ Sự tham gia rất đa dạng, có thể dao động từ mức đơn giản là người dân tham gia vào một hoạt động nào đó, cho đến mức độ cao nhất người dân là đối tượng thực hiện chính và ra quyết định qua một quá trình phức hợp

Trong luận văn này, tác giả luận văn chọn phương pháp tiếp cận có sự tham gia của cộng động vì phương pháp này có nhiều ưu điểm, phù hợp với đối tượng và tình hình thực tế của khu vực nghiên cứu đồng thời khả thi đối với bản thân tác giả làm luận văn

Phương pháp Đánh giá nông thôn có sự tham gia giúp cho người dân nông thôn có thể chia sẻ, củng cố và phân tích kiến thức hiểu biết của họ về cuộc sống, điều kiện sống thông qua đánh giá hiện trạng, lập kế hoạch, thực hiện, giám sát và đánh giá kết quả

Như vậy, PRA là một hoạt động học hỏi kinh nghiệm được tiến hành trong cộng đồng, có tính tập trung, hệ thống, bán cơ cấu, trong một thời gian ngắn Hoạt động này được thực hiện bởi một nhóm chuyên viên liên ngành và các nhóm thành viên của cộng đồng

b Các bước tiến hành PRA

Sau khi tham khảo các bước tiến hành PRA của Vũ Thị Hải Hà [Vũ Thị Hải

Hà, 2009], đánh giá HVCA đã được xây dựng và tiến hành theo các bước như sau:

Ngày đăng: 25/09/2015, 11:25

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.1. Thống kê thiệt hại về kinh tế do thiên tai tại Thanh Hóa - Đánh giá rủi ro thiên tai có sự tham gia của cộng đồng trong bối cảnh biến đổi khí hậu tại xã quảng nham, huyện quảng xương, tỉnh thanh hóa
Hình 1.1. Thống kê thiệt hại về kinh tế do thiên tai tại Thanh Hóa (Trang 19)
Hình 1.2. Thống kê thiệt hại về người do thiên tai tại Thanh Hóa - Đánh giá rủi ro thiên tai có sự tham gia của cộng đồng trong bối cảnh biến đổi khí hậu tại xã quảng nham, huyện quảng xương, tỉnh thanh hóa
Hình 1.2. Thống kê thiệt hại về người do thiên tai tại Thanh Hóa (Trang 19)
Hình 1.3. Biểu đồ theo dõi nhiệt độ trung bình năm qua các năm (1980-2010) - Đánh giá rủi ro thiên tai có sự tham gia của cộng đồng trong bối cảnh biến đổi khí hậu tại xã quảng nham, huyện quảng xương, tỉnh thanh hóa
Hình 1.3. Biểu đồ theo dõi nhiệt độ trung bình năm qua các năm (1980-2010) (Trang 25)
Hình 1.4. Biểu đồ theo dõi lượng mưa trung bình năm qua các năm (1980-2010) - Đánh giá rủi ro thiên tai có sự tham gia của cộng đồng trong bối cảnh biến đổi khí hậu tại xã quảng nham, huyện quảng xương, tỉnh thanh hóa
Hình 1.4. Biểu đồ theo dõi lượng mưa trung bình năm qua các năm (1980-2010) (Trang 26)
Hình 2.1. Bản đồ xã Quảng Nham - Đánh giá rủi ro thiên tai có sự tham gia của cộng đồng trong bối cảnh biến đổi khí hậu tại xã quảng nham, huyện quảng xương, tỉnh thanh hóa
Hình 2.1. Bản đồ xã Quảng Nham (Trang 34)
Hình 2.2. Sơ đồ trình tự các bước nghiên cứu - Đánh giá rủi ro thiên tai có sự tham gia của cộng đồng trong bối cảnh biến đổi khí hậu tại xã quảng nham, huyện quảng xương, tỉnh thanh hóa
Hình 2.2. Sơ đồ trình tự các bước nghiên cứu (Trang 38)
Bảng 3.2. Phân tích hiểm họa xã Quảng Nham, huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hóa - Đánh giá rủi ro thiên tai có sự tham gia của cộng đồng trong bối cảnh biến đổi khí hậu tại xã quảng nham, huyện quảng xương, tỉnh thanh hóa
Bảng 3.2. Phân tích hiểm họa xã Quảng Nham, huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hóa (Trang 52)
Hình 3.1. Lịch thiên tai, mùa vụ xã Quảng Nham - Đánh giá rủi ro thiên tai có sự tham gia của cộng đồng trong bối cảnh biến đổi khí hậu tại xã quảng nham, huyện quảng xương, tỉnh thanh hóa
Hình 3.1. Lịch thiên tai, mùa vụ xã Quảng Nham (Trang 55)
3.1.5. Sơ đồ Rủi ro thiên tai xã Quảng Nham - Đánh giá rủi ro thiên tai có sự tham gia của cộng đồng trong bối cảnh biến đổi khí hậu tại xã quảng nham, huyện quảng xương, tỉnh thanh hóa
3.1.5. Sơ đồ Rủi ro thiên tai xã Quảng Nham (Trang 56)
Hình 3.3. Biểu đồ mức độ đánh giá của người dân về thiên tai - Đánh giá rủi ro thiên tai có sự tham gia của cộng đồng trong bối cảnh biến đổi khí hậu tại xã quảng nham, huyện quảng xương, tỉnh thanh hóa
Hình 3.3. Biểu đồ mức độ đánh giá của người dân về thiên tai (Trang 63)
Hình 3.6. Mức độ hiểu biết về các loại hình thiên tai của học sinh - Đánh giá rủi ro thiên tai có sự tham gia của cộng đồng trong bối cảnh biến đổi khí hậu tại xã quảng nham, huyện quảng xương, tỉnh thanh hóa
Hình 3.6. Mức độ hiểu biết về các loại hình thiên tai của học sinh (Trang 66)
PHỤ LỤC 2: BẢNG CÂU HỎI PHỎNG VẤN HỘ GIA ĐÌNH - Đánh giá rủi ro thiên tai có sự tham gia của cộng đồng trong bối cảnh biến đổi khí hậu tại xã quảng nham, huyện quảng xương, tỉnh thanh hóa
2 BẢNG CÂU HỎI PHỎNG VẤN HỘ GIA ĐÌNH (Trang 93)
PHỤ LỤC 4: BẢNG KIỂM DÀNH CHO BAN GIÁM HIỆU NHÀ - Đánh giá rủi ro thiên tai có sự tham gia của cộng đồng trong bối cảnh biến đổi khí hậu tại xã quảng nham, huyện quảng xương, tỉnh thanh hóa
4 BẢNG KIỂM DÀNH CHO BAN GIÁM HIỆU NHÀ (Trang 101)
Bảng lưu ý các khu vực có nguy cơ cao trong - Đánh giá rủi ro thiên tai có sự tham gia của cộng đồng trong bối cảnh biến đổi khí hậu tại xã quảng nham, huyện quảng xương, tỉnh thanh hóa
Bảng l ưu ý các khu vực có nguy cơ cao trong (Trang 102)
PHỤ LỤC 5: BẢNG CÂU HỎI PHỎNG VẤN HỌC SINH TIỂU HỌC VÀ - Đánh giá rủi ro thiên tai có sự tham gia của cộng đồng trong bối cảnh biến đổi khí hậu tại xã quảng nham, huyện quảng xương, tỉnh thanh hóa
5 BẢNG CÂU HỎI PHỎNG VẤN HỌC SINH TIỂU HỌC VÀ (Trang 103)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm