Theo đường lối chiến lược đó các làng nghề là một thực thể kinh tế ở nông thôn, là cầu nối giữa nông nghiệp và công nghiệp, giữa nông thôn và thành thị, giữa truyền thống và hiện đại, là
Trang 2phần mở đầu
1- Tính cấp thiết của đề tài
Trong quá trình thực hiện đường lối đổi mới kinh tế do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo Nhiệm vụ trọng tâm nhằm xây dựng một nền kinh tế độc lập tự chủ, xây dựng cơ sở vật chất cho chủ nghĩa xã hội, giúp chúng ta đi tắt, đón đầu, tránh được nguy cơ tụt hậu xa hơn về kinh tế so với các nước khác, đó là đẩy mạnh công nghiệp hoá và hiện đậi hoá đất nước Một trong những nội dung quan trọng của công cuộc công nghiệp hoá và hiện đại hoá đất nước là công nghiệp hoá và hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn
Lịch sử nông thôn Việt Nam gắn liền với phát triển nông nghiệp và các làng nghề Đây là một trong những nét đặc trưng về truyền thống kinh tế, văn hoá của xã hội của nông thôn Việt Nam Sự phát triển kinh tế làng nghề gắn liền với ngành nghề truyền thống, với trung tâm cụm, xã có các hoạt động công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ phi nông nghiêp Theo đường lối chiến lược đó các làng nghề là một thực thể kinh tế ở nông thôn, là cầu nối giữa nông nghiệp và công nghiệp, giữa nông thôn và thành thị, giữa truyền thống
và hiện đại, là một bộ phận, là một nấc thang phát triển quan trọng trong quá trình công nghiệp hoá nông thôn
Việc đẩy mạnh các phát triển các làng nghề nói riêng và ngành nghề nông thôn nói chung có ý nghĩa rất quan trọng đối với việc tạo việc làm, tăng thu nhập, thu hẹp và tiến tới xoá bỏ đói nghèo, chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông thôn theo hướng giảm dần tỷ trọng nông nghiệp, tăng dần tỷ trọng công nghiệp, dịch vụ
Tuy nhiên sự phát triển của các làng nghề, ngành nghề nông thôn đã trải qua những bước thăng trầm, có nhiều làng nghề đã tồn tại và phát triển khá mạnh, đồng thời còn lan toả sang các khu vực lân cận, tạo nên các cụm làng nghề, dần dần xuất hiện sự phân công chuyên môn hoá
Ngược lại có những làng nghề phát triển cầm chừng, không ổn định, gặp nhiều khó khăn, thậm chí đã và đang bị mai một Chính vì thế việc thúc đẩy và khôi phục phát triển kinh tế làng nghề trong giai đoạn hiện nay là hết sức cần thiết Đây là việc làm phù hợp với đường lối, chủ trương phát triển kinh tế - xã hội của Đảng và Nhà nước ta
Trang 3Thái Bình là một tỉnh nông nghiệp, diện tích chật hẹp, dân số đông, tỷ lệ lao động nông thôn lớn Để tiến hành công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn, một trong số những trọng tâm cần tập trung đầu tư để tạo ra bước đột phá về tăng trưởng kinh
tế là phát triển mạnh mẽ nghề và làng nghề Đây cũng là một thế mạnh của tỉnh cần phải duy trì và phát triển, đúng theo tinh thần Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh Thái Bình lần thứ XVI đã đề ra
Thời gian vừa qua đã có một số đề tài nghiên cứu về kinh tế làng nghề ở các phạm vi khác nhau, từng vùng hay từng tỉnh và nghiên cứu trên những khía cạnh, giác độ khác nhau Song việc vận dụng các vấn đề lý luận về xây dựng chiến lược kinh doanh trong nền kinh
tế thị trường, việc áp dụng các mô hình phân tích chiến lược vào việc định hướng và phát triển kinh tế làng nghề thì chưa có đề tài nào nghiên cứu một cách hệ thống Mặt khác trong bối cảnh hiện nay chúng ta đang tăng tốc để thu hẹp khoảng cách về phát triển kinh tế so với các nước, chủ động hội nhập khu vực và toàn cầu Việc nghiên cứu các giải pháp để phát triển công nghiệp nông thôn nói chung và kinh tế làng nghề nói riêng cần được tiếp tục
Xuất phát từ thực tế đó tôi đã chọn đề tài nghiên cứu : “Phân tích chiến lược và một số giải pháp nhằm phát triển kinh tế làng nghề ở tỉnh Thái Bình”
2- Mục đích nghiên cứu của đề tài
- Hệ thống hoá một số vấn đề lý luận về làng nghề, một số vấn đề về xây dựng chiến lược kinh doanh
- áp dụng một số mô hình phân tích chiến lược vào việc định hướng phát triển và tìm giải pháp cho khu vực kinh tế làng nghề
- Tổng quan kinh nghiệm về xây dựng chiến lược của một số đơn vị, tổ chức nhằm rút ra những kết luận đối với việc phát triển làng nghề ở tỉnh Thái Bình
- Qua việc khảo sát, phân tích đánh giá thực trạng làng nghề ở tỉnh Thái Bình và các nhân
tố tác động đến nó để qua đó thấy được những vấn đề cần giải quyết
- Nghiên cứu, đề xuất một số quan điểm, phương hướng và giải pháp chủ yếu nhằm thúc đẩy phát triển và khôi phục kinh tế làng nghề ở Thái Bình trong thời gian tới
Trang 43- Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu của đề tài là những vấn đề lý luận và thực tiễn về kinh tế làng
nghề của tỉnh Thái Bình Làng nghề ở đây bao gồm cả làng nghề truyền thống và làng nghề
mới
- Phạm vi nghiên cứu : Đề tài tập trung nghiên cứu phương hướng và các biện pháp
chiến lược từ đó đưa ra những giải pháp cụ thể về kinh tế, tổ chức, cơ chế chính sách nhằm
phát triển làng nghề của tỉnh Thái Bình
Phạm vi số liệu khảo sát điều tra chủ yếu là trên địa bàn tỉnh Thái Bình, thời gian từ 1995 đến nay
4- Phương pháp nghiên cứu
Luận án sử dụng phương pháp duy vật biện chứng, duy vật lịch sử, các phương pháp
phân tích hệ thống, tổng hợp, tư duy lôgic Việc điều tra khảo sát thực tế được tiến hành
bằng phương pháp chuyên gia (Delfi),kết hợp với việc kế thừa các kết quả nghiên cứu khảo
sát của các cơ quan, ban ngành, các cấp quản lý trực tiếp…
5- Những đóng góp của luận án
- Đưa ra quan điểm về kinh tế làng nghề và vai trò của nó đối với công cuộc công
nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn
- Phân tích đánh giá thực trạng làng nghề ở tỉnh Thái Bình bằng việc áp dụng một số
mô hình lý thuyết phân tích và hoạch định chiến lược vào công tác quản lý và định hướng,
đồng thời đánh giá công tác kế hoạch hoá, định hướng chiến lược đã hình thành trong quá
trình quản lý khu vực kinh tế làng nghề ở Thái Bình
- Đề xuất một số phương hướng và giải pháp nhằm phát triển, khôi phục làng nghề
góp phần thực hiện công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn ở tỉnh
Thái Bình
6- Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung luận án gồm 4 chương chính :
Trang 5Chương I : Một số vấn đề chung về làng nghề ở Việt Nam
Chương này khái quát một số quan niệm về kinh tế làng nghề nói chung, đặc điểm, vai trò của khu vực kinh tế này đối với quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn
Chương II : Cơ sở lý luận về việc xây dựng chiến lược kinh doanh trong nền kinh tế thị
trường
Chương này giới thiệu một số nội dung lý thuết về xây dựng và hoạch định chiến lược kinh doanh có thể áp dụng đối với khu vực kinh tế làng nghề
Chương III : Phân tích thực trạng khu vực kinh tế làng nghề tỉnh Thái Bình
Đây là phần đánh giá những đặc điểm, điều kiện kinh tế nói chung, kinh tế làng nghề nói riêng ở tỉnh Thái Bình, phân tích nguyên nhân, đưa ra những thuận lợi và khó khăn trong một vài năm gần đây Chương này cũng đánh giá thực trạng công tác quản lý, xây dựng kế hoạch, định hướng chiến lược đối với khu vực kinh tế này ở Thái Bình
Chương IV : Phân tích chiến lược và một số giải pháp nhằm phát triển khu vực kinh tế
làng nghề Thái Bình
Nội dung chương này là vận dụng lý thuyết về phân tích chiến lược vào khu vực kinh
tế làng nghề tỉnh Thái Bình từ đó xác định được các cơ hội, nguy cơ và những điểm mạnh, điểm yếu hiện tại và trong tương lai để xây dựng các kết hợp chiến lược, nhằm đưa ra các giải pháp đối với khu vực kinh tế này
Trang 6
Chương I : Một số vấn đề chung về làng nghề ở Việt nam
1- Quan niệm về làng nghề
Lịch sử kinh tế nước ta từ xưa đến nay cơ bản là kinh tế nông nghiệp với nghề trồng lúa, trồng màu (ngô, khoai, sắn ), trồng rau quả và chăn nuôi Sự hình thành và phát triển kinh tế nông nghiệp gắn liền với xã hội nông thôn và làng quê ở Việt Nam Làng ở Việt Nam có lịch sử lâu đời, qua nghiên cứu của các nhà sử học thì nó đã xuất hiện từ thời Hùng Vương dựng nước Do đặc điểm kinh tế - xã hội lúc đó nên sự hình thành làng ở nước ta không phải là do sự phân hoá của các thị tộc, bộ lạc như ở Đức, nó cũng không phải là sự tập hợp của dân cư dưới sự bảo hộ của những thủ lĩnh quân sự như ở Pháp thời trung cổ mà dựa trên cơ sở những công xã nông thôn[9] Mỗi công xã nông thôn gồm một số gia đình,
có một tinh thần cộng đồng, cộng cảm, sống quây quần trong một khu vực nhất định Các làng ở nước ta có thể bao gồm 4 nhóm chính bao gồm : Thứ nhất là làng thuần nông nghiệp, thứ 2 làng nông có thêm nghề buôn với một lớp thương nhân chuyên hoặc bán chuyên nghiệp - đây là làng buôn, thứ 3 là làng nông có thêm một hay nhiều nghề thủ công truyền thống - đây là làng nghề, thứ 4 là làng chài, hay vạn chài, kẻ chài
Trang 7ở nông thôn nước ta trong các hộ tiểu nông ngoài việc xản xuất nông nghiệp là chính, trong những lúc nông nhàn người nông dân còn tham gia những công việc mang tính phụ trợ như đan lát, trồng dâu nuôi tằm, dệt vải và đi chợ đây có thể coi là sự kết hợp hữu cơ giữa nông nghiệp - thủ công nghiệp - thương nghiệp và nó nằm trong cơ cấu mà Các Mác
gọi là “Phương thức xản xuất Châu á” Một điều đáng lưu ý là những người thợ thủ công,
những thương nhân vẫn là những nông dân Một đặc điểm của nghề thủ công rất đúng với
nhận xét mà Lênin đã nêu ra : “Công nghiệp gia đình là cái phụ thuộc tất nhiên của kinh tế
tự nhiên mà những tàn dư hầu như luôn luôn vẫn rớt lại ở những nơi nào có tiểu nông” và
“Đứng về mặt là một nghề nghiệp thì công nghiệp vẫn chưa tồn tại dưới các hình thức đó :
ở đây nghề thủ công với nông nghiệp chỉ là một mà thôi”[8]
Do sự phát triển của kinh tế, nghề thủ công dần dần tách khỏi nông nghiệp nhưng lại phục vụ cho nông nghiệp và khi đó một số thợ thủ công không còn làm nông nghiệp (nhưng
họ vẫn gắn chặt với làng quê) Càng về sau trong làng càng có nhiều người tách khỏi ruộng đồng để chuyển hẳn sang làm nghề thủ công, sống bằng chính nghề đó (như làng gốm Bát Tràng, làng dệt lụa Vạn Phúc) Số lượng người làm nghề thủ công tăng dần lên và làng đó được gọi là làng nghề
Như vậy làng nghề có thể được quan niệm là làng ở nông thôn có một hay một số nghề thủ công hầu như được tách hẳn ra khỏi nông nghiệp và kinh doanh độc lập
ở nông thôn những ngành nghề thủ công được truyền từ đời này sang đời khác, được gọi là nghề thủ công truyền thống Các nghề này tồn tại và phát triển trong các làng nghề, gắn chặt với làng nghề được gọi là làng nghề truyền thống
Làng nghề là một thực thể vật chất và tinh thần, tồn tại cố định của một hoặc một số nghề thủ công truyền thống Mỗi nghề truyền thống được bảo tồn, hoạt động, phát triển ở một làng nghề, cụm làng nghề hay ở nhiều làng nghề, vùng nghề trong cả nước do tính lan toả và sức sống mãnh liệt của nghề thủ công lâu đời của chúng ta
Trong làng nghề không nhất thiết tất cả dân làng đều làm nghề thủ công, qua khảo sát thực tế của Bộ Lao động Thương binh và Xã hội năm 1995 về các làng nghề cho thấy các làng nghề này thường có tỷ lệ lao động hay hộ làm nghề thấp nhất là từ 30 đến 35% so với toàn làng
Trang 8Khi nói đến một làng nghề ta không chỉ chú ý đến các mặt đơn lẻ, mà phải chú ý đến nhiều mặt, trong cả không gian và thời gian, nghĩa là phải quan tâm tới tính hệ thống, toàn diện của làng nghề đó, trong đó yếu tố quyết định là nghệ nhân, sản phẩm, kỹ thuật sản xuất
và thủ pháp nghệ thuật Làng nghề thủ công là trung tâm sản xuất hàng thủ công, nơi quy
tụ các nghệ nhân và nhiều hộ gia đình chuyên làm nghề mang tính truyền thống lâu đời, có
sự liên kết, hỗ trợ trong sản xuất, bán sản phẩm theo kiểu phường hội, kiểu hệ thống doanh nghiệp vừa và nhỏ, có cùng tổ nghề và các thành viên luôn có những ước chế xã hội và gia tộc Sự liên kết hỗ trợ nhau về nghề, kinh tế, kỹ thuật, đào tạo giữa các gia đình, các tổ nghề đã tạo nên làng nghề ngay trên đơn vị cư trú của họ Sản phẩm của làng nghề làm ra chẳng những thiết dụng mà hơn nữa còn là hàng cao cấp, tinh xảo, độc đáo mang tính nghệ thuật Do tính chất kinh tế, hàng hoá, thị trường của quá trình sản xuất và tiêu thụ sản phẩm làng nghề thực sự được coi là đơn vị kinh tế tiểu thủ công nghiệp Vai trò, tác dụng của làng nghề đối với đời sống kinh tế - văn hoá - xã hội là rất tích cực, đặc biệt đối với khu vực nông thôn
Làng nghề thường xuất hiện theo những con đường chủ yếu sau :
- Có nghệ nhân từ nơi khác đến truyền nghề, nghệ nhân này được suy tôn là tổ nghề
- Từ một số cá nhân hay gia đình dòng họ có những kỹ năng và có sự sáng tạo nhất định
- Do những người đi nơi khác học sau đó dạy lại, truyền lại
- Một số làng nghề gần đây mới hình thành do chủ trương của địa phương phát triển nghề phụ
- Một số làng nghề hình thành trên cơ sở sự lan toả dần từ một số làng nghề truyền thống, tạo ra một cụm làng nghề, xã nghề ở vùng lân cận
2- Đặc điểm của làng nghề
- Sự ra đời và phát triển của các làng nghề gắn liền với xã hội nông thôn, các nghề thủ công dần tách khỏi nông nghiệp nhưng không rời khỏi nông thôn Các nghề trong các làng nghề đều có sự ra đời từ ít nhất mấy chục năm (vài ba thế hệ) ở đó có các nghệ nhân kỹ thuật cao được mang tính gia truyền
Trang 9- Về hình thức tổ chức sản xuất lao động : Nói chung ở các làng nghề hình thức tổ chức kinh tế hộ gia đình vẫn là chủ yếu, một số đã có sự phát triển thành hợp tác xã và bắt đầu có sự xuất hiện xí nghiệp tư nhân Trong hình thức tổ chức sản xuất hộ gia đình, người chủ gia đình thường là thợ cả, trong đó không ít người là những nghệ nhân, còn các thành viên khác được huy động vào làm những công việc khác nhau trong quá trình sản xuất - kinh doanh phụ thuộc vào kỹ thuật và khả năng của từng người, vào giới tính hay lứa tuổi Các hộ kinh tế gia đình cũng như các cơ sở sản xuất có thể thuê mướn lao động theo kiểu thường xuyên hay thời vụ Hình thức này bảo đảm gắn bó quyền lợi và trách nhiệm, tận dụng được lao động và thời gian, nhu cầu đầu tư không lớn Nó thích hợp với quy mô nhỏ
Lực lượng lao động nông thôn ở nước ta hiện nay rất lớn Theo báo cáo của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn hiện nay có khoảng 10 triệu lao động hoạt động ngành nghề phi nông nghiệp ở nông thôn Trong đó 89,8% hoạt động trong các hình thức hộ kinh tế gia đình và 10,2% là thuộc các cơ sở
Các hộ và các cơ cở trong các làng nghề có quy mô lao động nhỏ : ở các hộ bình quân
có 3-4 lao động thường xuyên, 2-3 lao động thời vụ ở các cơ sở có 27 lao động thường xuyên và 8-10 lao động thời vụ Người lao động ở trong các làng nghề có văn hoá khá, nhưng
ít được đào tạo về chuyên môn một cách cơ bản Qua phân tích và điều tra khảo sát cho thấy quy mô lao động có ảnh hưởng khá lớn đến thu nhập và doanh thu của các cơ sở và các hộ kinh tế gia đình tại các làng nghề, thường là cơ sở và hộ có quy mô lớn thì thu nhập cao hơn
- Về nhà xưởng và thiết bị công nghệ : Tình trạng phổ biến hiện nay trong các làng nghề là sử dụng ngay nhà ở, diện tích ở, làm nơi sản xuất Khi quy mô sản xuất tăng lên hoặc việc sử dụng thiết bị hoá chất làm cho môi trường sống bị ảnh hưởng
Hầu hết các làng nghề về kỹ thuật, công nghệ sản xuất sản phẩm thường là rất thô sơ, chủ yếu là sử dụng các loại công cụ thủ công truyền thống hoặc có cải tiến một phần Hiện nay đã có một số cơ sở đã có khả năng cơ giới hoá được một số công đoạn trong quá trình sản xuất
ở các hộ kinh tế gia đình là biểu hiện rõ nét : Công nghệ lạc hậu, trình độ cơ khí hoá còn thấp (khoảng 37-40%), thiết bị phần lớn là cũ, thải loại từ công nghiệp thành thị
Trang 10- Về vốn và quan hệ tín dụng : Trong các làng nghề do kinh tế nông nghiệp nước ta phần lớn mang tính tự cấp tự túc nên nhìn chung vốn đầu tư vào sản xuất của các hộ và các
cơ sở còn nhỏ bé, làm hạn chế khả năng đầu tư nâng cao chất lượng sản phẩm và mở rộng sản xuất
Bên cạnh đó cũng xuất phát từ trình độ sản xuất nông nghiệp còn thấp kém nên các quan hệ tín dụng còn phát triển chậm nhìn chung các cơ sở có quan hệ tín dụng mở rộng hơn các hộ gia đình
Các nguồn vốn vay tại các làng nghề hiện nay bao gồm từ ngân hàng, từ các chương trình hỗ trợ của Nhà nước và các tổ chức, vay tư nhân, nhưng tỉ lệ số cơ sở và hộ được vay còn rất thấp
Theo báo cáo của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn tháng 8 năm 2000 vốn sản xuất bình quân trong một cơ sở tại làng nghề là 700,31 triệu trong đó vốn cố định là 61,8%
Vốn sản xuất bình quân trong một hộ ở làng nghề là 25,73 triệu trong đó vốn cố định chiếm 57,2%
Quy mô vốn cũng rất khác nhau, chủ yếu là quy mô vốn nhỏ bé, bình quân vốn đầu tư cho một lao động thường xuyên của hộ là 7,75 triệu trong khi đó ở hộ thuần nông là 3,17 triệu
Cũng theo báo cáo trên nguồn vốn đi vay chỉ có 32,45% số cơ sở và 15,6% số hộ được vay từ ngân hàng; 4,76% số cơ sở và 1,83% số hộ được vay từ các chương trình hỗ trợ; 12,15% số cơ sở và 5,43% số hộ đi vay tư nhân
- Về sản phẩm, nguyên liệu và thị trường:
Sản phẩm của khu vực kinh tế làng nghề thường là các loại sản phẩm tiêu biểu, độc đáo, vừa là hàng hoá vừa mang tính văn hoá nghệ thuật, mỹ thuật, thậm chí trở thành các di sản mang bản sắc của vùng, của dân tộc Sản phẩm tại các làng nghề chủ yếu không phải
là sản xuất hàng loạt mà là sản xuất mang tính đơn chiếc; nhỏ lẻ, sản phẩm mang tính khác biệt khá cao Tuy nhiên sản phẩm ở một số làng nghề còn mang tính đơn điệu chất lượng chưa cao, chưa theo kịp được sự phát triển của đời sống xã hội trong nước và thị hiếu của người nước ngoài
Trang 11Nguyên liệu dùng cho sản xuất ở khu vực kinh tế làng nghề chủ yếu là khai thác tại địa phương và trong nước, đặc biệt là tài nguyên thiên nhiên, các nguồn nông lâm hải sản ở địa phương Việc cung ứng nguyên liệu cho sản xuất ở đây được thông qua nhiều nguồn khác nhau, chủ yếu là nguồn cung ứng gián tiếp, thậm chí có nơi từ nguồn bất hợp pháp, làm cho chi phí sản xuất tăng, giá thành sản phẩm cao
Việc sơ chế nguyên liệu thông thường do các hộ, các cơ sở tự làm với kỹ thuật thủ công hoặc máy móc thiết bị tự chế, lạc hậu Do đó không thực hiện được việc tiêu chuẩn hoá chất lượng nguyên liệu, không chủ động được chất lượng sản phẩm
Thị trường tiêu thụ sản phẩm của khu vực làng nghề là ở cả trong nước và xuất khẩu
ra nước ngoài Sản phẩm xuất khẩu chủ yếu là ở các làng nghề thủ công mỹ nghệ Một số làng nghề, vùng nghề đã khai thác được thị trường du lịch tại chỗ
Như vậy làng nghề không chỉ là một trong những đơn vị kinh tế góp phần thực hiện mục tiêu sản xuất hàng tiêu dùng trong nước thay thế hàng nhập khẩu, đồng thời hướng mạnh ra xuất khẩu, nó còn là nét đặc sắc, là sự kết tinh và bảo lưu các giá trị văn hoá, văn minh của cộng đồng làng xã, của dân tộc Việt Nam
3- Vai trò của khu vực kinh tế làng nghề đối với qúa trình công nghiệp hoá nông nghiệp nông thôn
Công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước là con đường tất yếu khách quan trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội ở nước ta công nghiệp hoá nông nghiệp nông thôn là một nội dung rất quan trọng, là vấn đề luôn được Đảng và Nhà nước quan tâm
Thông qua các văn kiện của Đảng, nhất là Văn kiện Đại hội Đảng VIII ta có thể hiểu công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn thực chất là quá trình phát triển nông thôn theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá mà nội dung cụ thể là :
- Phát triển nền nông nghiệp sản xuất hàng hoá có năng suất cao trên cơ sở trang bị thiết
bị, công nghệ và vật tư tiên tiến để thay thế nền nông nghiệp thủ công lạc hậu
- Phát triển các hoạt động kinh tế ngoài nông nghiệp với tỷ trọng ngày càng lớn nhằm chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn theo hướng công - nông nghiệp - dịch vụ
Trang 12- Tăng cường cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội nông thôn để thực hiện yêu cầu từng bước đô thị hoá nông thôn
Như vậy khu vực kinh tế làng nghề có vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội nông thôn Sản xuất phi nông nghiệp và dịch vụ ở các làng nghề đã giải quyết thêm nhiều việc làm, tăng thu nhập cho người lao động ở nông thôn, thực hiện có hiệu quả công cuộc xoá đói giảm nghèo, tạo ra tích luỹ nội bộ cho phát triển kinh tế ở khu vực nông thôn, tăng cường và nâng cao sức cạnh tranh, giảm sức ép bất lợi về đô thị hoá “ly nông bất ly hương”, tăng cường phúc lợi xã hội cho người dân ở thôn, xã có nghề Làng nghề chính là hạt nhân của quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế và công nghiệp hoá nông nghiệp nông thôn Cụ thể là :
Thứ nhất, phát triển làng nghề góp phần giải quyết việc làm, phân công lao động, thu hút
lực lượng lao động dư thừa ở nông thôn :
Nông thôn Việt Nam chiếm 80% dân số và 73% lực lượng lao động của cả nước Tuy nhiên một trong những thách thức, khó khăn hiên nay ở nông thôn là bình quân diện tích canh tác trên đầu người thấp, việc làm thiếu, lao động dư thừa Theo số liệu điều tra của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội tỉ lệ lao động thiếu việc làm ở nông thôn chiếm 25,47% có nơi 30% trong khi hàng năm có tới khoảng một triệu người bổ sung vào lực lượng lao động xã hội
Việc phát triển kinh tế làng nghề sẽ tạo điều kiện chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp mạnh mẽ hơn, phân công lao động hợp lý hơn Lao động tham gia vào làng nghề không chỉ
là những lao động hoàn toàn không có việc làm mà còn cả những lao động thời vụ, không thường xuyên
Bình quân một cơ sở trong làng nghề tạo điều kiện cho 27 lao động, mỗi hộ giải quyêt 3-5 lao động Ngoài lao động thường xuyên còn thu hút lao động nhàn rỗi trong nông thôn Nhiều làng nghề thu hút trên 60% số lao động vào các hoạt động ngành nghề Hiện nay cả nước có hơn 1000 làng nghề thu hút 10-11 triệu lao động nông thôn
Các ngành nghề, làng nghề phát triển kéo theo và mở ra nhiều nghề khác nhau, nhiều hoạt động dịch vụ liên quan, tạo thêm việc làm mới, thu hút thêm lao động Do đó ngành
Trang 13nghề, làng nghề ở nông thôn được coi là động lực trực tiếp giải quyết việc làm cho lao động
ở nông thôn
Thứ hai, phát triển làng nghề tạo điều kiện tăng thu nhập cho người lao động đóng góp
cho sự phát triển của địa phương, thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thu hẹp khoảng cách đời sống giữa nông thôn và thành thị, góp phần xây dựng nông thôn mới
Hiện nay năng xuất lao động trong nông nghiệp thấp, thu nhập từ hoạt động sản xuất nông nghiệp không cao Phát triển kinh tế làng nghề sẽ tạo điều kiện làm tăng thu nhập của
cư dân ở nông thôn bằng hai cách : thu nhập do chính ngành nghề đó mang lại và thu nhập
do việc phát triển các nghề dịch vụ khác liên quan đến nó như : dịch vụ cung ứng nguyên liệu, sản xuất và sửa chữa công cụ, dịch vụ cơ khí, dịch vụ lao động, dịch vụ thu nhập bình quân của một lao động làm nghề ở cơ sở là 430.000đ/tháng, ở hộ làm nghề là 236.000đ/tháng cao gấp 1,7-3,9 lần so với lao động làm nông nghiệp thuần Thu nhập từ các hoạt động ngành nghề phi nông nghiệp ngày càng đóng vai trò chủ yếu trong thu nhập của các hộ ở các làng nghề ở các làng nghề hiện nay tỉ lệ những hộ đói nghèo là rất nhỏ
Các ngành nghề tiểu thủ công nghiệp đã sản suất ra một khối lượng hàng hoá lớn đáp ứng nhu cầu trong nước và cả xuất khẩu Năm 1996 giá trị sản xuất ngành nghề nông thôn khoảng 27.500 tỷ đồng Tại các làng nghề giá trị sản lượng tiểu thủ công nghiệp chiếm 60%
- 80%, có những điển hình gần như 100% số hộ trong xã đều làm nghề Các làng nghề tạo
ra thu nhập lớn trong dân cư và đóng góp nghĩa vụ với Nhà nước
Tỷ trọng GDP trong tiểu thủ công nghiệp dịch vụ tăng lên trong tổng GDP được tạo
ra ở nông thôn Theo tài liệu điều tra năm 1997, GDP của tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ tăng từ 26,8% năm 1990 lên 35,5% năm 1996 Trên cơ sở tạo ra việc làm, tăng thu nhập ở nông thôn, giá trị sản lượng từ hoạt động phi nông nghiệp tăng lên, nông thôn có tích luỹ
và có điều kiện để nâng cấp và xây dựng mới cơ sở hạ tầng Ngành nghề ở nông thôn đóng vai trò là động lực trong việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tăng hộ giàu, giảm hộ nghèo, tăng phúc lợi xã hội cho người dân, góp phần xây dựng nông thôn mới Trong tương lai nhiều làng nghề, ngành nghề còn là vệ tinh cho các doanh nghiệp lớn, hiện đại ở nông thôn
Thứ ba, phát triển kinh tế làng nghề tạo điều kiện thu hút vốn và tay nghề cao từ nhân dân
tạo ra sức mạnh tổng hợp của toàn dân
Trang 14Đầu tư cho một chỗ làm việc của doanh nghiệp tư doanh khoảng 5-10 triệu đồng Quy
mô đầu tư bình quân cho mỗi doanh nghiệp từ 100-500 triệu đồng có xí nghiệp từ vài tỷ đến chục tỷ đồng Đối với kinh tế làng nghề suất đầu tư cho một chỗ làm việc từ 1-5 triệu đồng, quy mô đầu tư mỗi hộ chỉ vài chục triệu Kinh tế làng nghề ở đó kinh tế cá thể, hộ gia đình
là chủ yếu cho nên thế mạnh của nó là số đông, do vậy tổng lượng vốn đầu tư không phải
là nhỏ
Ngoài ra kinh tế làng nghề có điều kiện để tiết kiệm được những chi phí đầu tư cho xây dựng nhà cửa và kho tàng vì họ lợi dụng diện tích nhà ở làm nơi sản xuất, quản lý và
cả kho Như vậy do đã tiết kiệm được khoảng 30-40% vốn đầu tư xây dựng cơ bản Về giác
độ huy động và sử dụng vốn đầu tư khu vực kinh tế làng nghề có lợi thế hơn Mặt khác làng nghề phát triển còn tập trung thu hút được nhiều những thợ thủ công có tay nghề cao, kinh nghiệm lâu năm Bởi vì phương pháp truyền nghề được sử dụng rộng rãi thay vì dạy nghề, việc vừa học đi đôi với vừa làm, học đến đâu làm đến đó, thời hạn học nghề không có giới hạn như các khoá học khác, hơn nữa ở khu vực làng nghề nhiều khi việc Nhà nước đào tạo nghề còn chưa phát triển và điều kiện để tham gia đào tạo do Nhà nước tổ chức chưa đầy
đủ
Thứ tư, phát triển làng nghề góp phần hạn chế di dân tự do, nâng cao đời sống văn hoá
tinh thần, giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc
Trên cơ sở việc tạo ra việc làm và tăng thu nhập cho cư dân ở nông thôn mặt khác các làng nghề, ngành nghề ở nông thôn phân bố rộng khắp do đó sẽ hạn chế được việc di dân
tự do trong vùng Tâm lý những người sống ở nông thôn khi đã có việc làm ổn định tại chỗ
họ không thích xa quê hương, làng xóm nơi có những người thân, tinh thần cộng đồng và cộng cảm
Việc phát triển kinh tế làng nghề còn góp phần nâng cao đời sống văn hoá tinh thần cho dân cư bởi vì khi nghề nghiệp ở đây đã phát triển tới một mức độ cao, người thợ lấy nghề làm nguồn sống thì nghề nghiệp chính là gốc của đời sống, cũng là cội nguồn của những giá trị văn hoá tinh thần - văn hoá nghề nghiệp ở các làng nghề, các nghề có ảnh hưởng trực tiếp đến văn hoá tinh thần, tác động đến tâm lý tình cảm, phong tục tập quán lề lối làm việc, làm cho đặc trưng văn hoá nghề nghiệp cũng mang đậm nét ở những nơi đó Các sản phẩm ở làng nghề do các nghệ nhân làm ra cũng mang tính nghệ thuật nhất định
Họ làm ra nhiều sản phẩm khác nhau mang đậm nét văn hoá làm phong phú thêm đời sống
Trang 15văn hoá xã hội cho người sử dụng Trong các làng nghề đều có tục lệ thờ ông tổ nghề và có ngày hội làng - đây là một nét văn hoá “uống nước nhớ nguồn” của người Việt Nam Qua làng nghề chúng ta hiểu thêm văn hoá của nghề, sắc thái văn hoá của con người và quê hương, đất nước
Các sản phẩm từ làng nghề đều mang tính nghệ thuật độc đáo, vượt qua giá trị hàng hoá đơn thuần trở thành di sản hay biểu tượng truyền thống văn hoá của làng, xã hay vùng Nghề truyền thống được duy trì từ thế hệ này sang thế hệ khác đây là di sản quý giá mà cha ông chúng ta đã để lại đó chính là giữ gìn bản sắc văn hoá của dân tộc ta
Việc giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc là rất cần thiết Tuy nhiên cần phải gắn với việc hiện đại hoá một số khâu, công đoạn để tăng năng xuất lao động, hạ giá thành sản phẩm, nâng cao chất lượng sản phẩm tức là hiện đại hoá truyền thống nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh của sản phẩm trên thị trường
Tóm lại, việc phát triển và khôi phục làng nghề có những tác động tích cực đến quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn, tạo thêm điều kiện cho công nghiệp hoá nông nghiệp nông thôn như phát triển cơ sở hạ tầng, văn hoá, y tế, giáo dục, nâng cao đời sống cư dân nông thôn Ngược lại công nghiệp hoá nông nghiệp nông thôn tạo điều kiện để làng nghề có cơ hội phát triển nhanh hơn, có khả năng để cơ giới hoá và hiện đại hoá
4- Quan điểm và chủ trương của Đảng và Nhà nước trong việc phát triển nghề
và làng nghề ở nông thôn
Có thể nói các chủ trương phát triển làng nghề và các ngành nghề có liên quan với làng nghề đã được Đảng và Nhà nước quan tâm ngay từ những năm còn kháng chiến và ngay sau khi hoà bình lập lại ở Miền Bắc Vấn đề này cũng đã có những quá trình nhận thức ngày càng sâu sắc hơn gắn với quá trình phát triển kinh tế - xã hội nói chung
Ngay sau khi hoà bình lập lại ở Miền bắc, Quốc hội nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà đã có những chính sách phát triển khuyến khích sản xuất, trong đó có việc khuyến khích khôi phục phát triển nghề phụ gia đình, nghề thủ công theo đó người làm thủ công nông thôn được tính nhân khẩu nông nghiệp, Nhà nước giúp hướng dẫn kỹ thuật, cung cấp nguyên liệu, tiêu thụ sản phẩm (Chỉ thị 110/TTg của Chính phủ ngày 6-9-1957) Qua các kỳ Đại hội đại biểu toàn quốc của Đảng vấn đề phát triển tiểu thủ công nghiệp ở nông thôn ngày càng được nhấn mạnh và quan tâm hơn Vai trò của tiểu thủ công nghiệp được khẳng định
Trang 16là quan trọng lâu dài trong nền kinh tế quốc dân, nhận thức về vị trí, vai trò của kinh tế hộ gia đình có những bước biến chuyển
Từ sau Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ VI và sau Nghị quyết 10 của Bộ Chính trị kinh tế nông thôn phát triển mạnh, mở ra khả năng giải phóng mọi năng lực sản xuất
Tại Đại hội Đảng lần thứ VII, Đảng ta chú trọng tới việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp nông thôn, công nghiệp hoá nông nghiệp trong đó coi trọng sự phát triển ngành nghề truyền thống, công nghiệp và dịch vụ ở nông thôn, hàng loạt các luật được ra đời như : Luật đất đai, luật thuế sử dụng đất nông nghiệp, luật doanh nghiệp nhà nước, luật
doanh nghiệp tư nhân, luật đầu tư,
Đặc biệt tại Đại hội Đảng lần VIII vai trò và hướng phát triển của làng nghề nông thôn với tư cách là một đơn vị kinh doanh độc lập được nêu ra trực tiếp và cụ thể Trong báo cáo
chính trị tại Đại hội VIII có đoạn : “Phát triển các ngành nghề, làng nghề truyền thống và các ngành nghề mới bao gồm tiểu, thủ công nghiệp, công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng, hàng xuất khẩu, công nghiệp khai thác và chế biến các nguồn nguyên liệu phi nông nghiệp, các loại hình dịch vụ phục vụ sản xuất và phục vụ nhân dân ”
Nghị quyết IV Ban Chấp hành Trung ương (khoá VIII) cũng chỉ rõ “Phát triển mạnh các ngành công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ ở nông thôn” Trong chiến lược
phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam đến năm 2020, công nghiệp hoá hiện đại hoá nông nghiệp và nông thôn được đặc biệt quan tâm, trong đó phát triển nghề và làng nghề bao gồm tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ là một bộ phận quan trọng
Xã Luận báo Nhân dân ngày 13-11-2000 có tiêu đề “Phát triển ngành nghề nông thôn” Sau đó đến ngày 12-1-2001 báo Nhân dân lại có xã luận “Phát triển ngành nghề đúng hướng”
Tại Hội nghị phát triển ngành nghề nông thôn các tỉnh phía Nam đến 2010 (tháng 9
năm 2000) Phó thủ tướng Nguyễn Công Tạn đã nói “Bất cứ ai có kiến nghị phát triển làng nghề, hãy gửi cho Chính phủ chúng tôi sẽ hết sức lắng nghe”
Như vậy những chủ trương của Đảng, Nhà nước ta về khôi phục và phát triển ngành nghề, làng nghề ở nông thôn đã được cụ thể hoá, được tuyên truyền và phổ biến trong đời sống kinh tế - xã hội Các bộ ngành, các cơ quan Trung ương và địa phương đều có những
Trang 17đóng góp to lớn Ngày 24-11-2000 Chính phủ đã có Quyết định số 132/2000/QĐTTg về một số chính sách khuyến khích phát triển ngành nghề nông thôn với 12 điều đã thể hiện cụ thể hoá các chính sách của Nhà nước với các nghệ nhân, các cơ sở sản xuất và các tổ chức liên quan
Tiếp theo đó ngày 30-12-2000 Trung tâm Hỗ trợ và Phát triển làng nghề truyền thống Việt nam đã ra đời với một chương trình hành động cụ thể và phong phú
Gần đây nhất Đại hội Đảng lần thứ IX đã thành công tốt đẹp, khẳng định đường lối phát triển kinh tế - xã hội của đất nước trong những năm đầu thế kỷ Sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá vẫn được xác định là nhiệm vụ trọng tâm vai trò, vị trí cũng như định
hướng phát triển khu vực kinh tế làng nghề một lần nữa được đề cập và nhấn mạnh : “Phát triển công nghiệp, dịch vụ các ngành nghề đa dạng, chú trọng công nghiệp chế biến, cơ khí phục vụ nông nghiệp, các làng nghề, chuyển một bộ phận quan trọng lao động nông nghiệp sang khu vực cộng nghiệp và dịch vụ ”
Trong định hướng phát triển các ngành kinh tế và các vùng Đảng ta khẳng định : “Phát triển mạnh công nghiệp và dịch vụ ở nông thôn, hình thành các khu vực tập trung công nghiệp, các điểm công nghiệp ở nông thôn, các làng nghề gắn với thị trường trong nước và xuất khẩu”,“Mở mang các làng nghề, phát triển các điểm công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ ”
Một dấu hiệu đáng quan tâm đối với khu vực kinh tế làng nghề là ngay trong quá trình diễn ra Đại hội Đảng IX một trong những hoạt động chào mừng Đại hội đó là Hội chợ triển lãm “Ngành nghề thủ công và đặc trưng văn hoá nông thôn Việt Nam” được tổ chức lần đầu tiên tại Hà Nội từ 17-4 đến 26-4-2001
Qua việc nghiên cứu các chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước về phát triển kinh tế làng nghề, ta có thể thấy rằng vai trò vị trí và những định hướng phát triển của khu vực này cùng những vấn đề liên quan đến sự tồn tại và phát triển làng nghề đã được đề cập không phải trong những mấy năm gần đây Cùng với sự phát triển kinh tế xã hội nói chung vấn đề ngày nay ngày càng được nhấn mạnh và khẳng định như một khu vực kinh tế độc lập, là động lực góp phần thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá, xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ, thu hẹp khoảng cách so với khu vực và thế giới
Trang 18Để phát huy vai trò của khu vực kinh tế làng nghề hiện tại cũng như trong tương lai cần phải có những hướng đi và giải pháp phù hợp Đó chính là những yêu cầu, đòi hỏi của công tác định hướng chiến lược giành cho các nhà lãnh đạo và quản lý Sau đây xin giới thiệu những vấn đề cơ bản về lý thuyết xây dựng và hoạch định chiến lược kinh doanh có thể áp dụng trong việc định hướng phát triển đối với khu vực kinh tế này
Chương II : Cơ sở lý luận về xây dựng chiến lược kinh
Doanh trong nền kinh tế thị trường
Trang 19
1- Những vấn đề chung về chiến lược kinh doanh
1.1- Khái niệm về chiến lược kinh doanh
a) Sự ra đời và phát triển lý thuyết về chiến lược kinh doanh
Thuật ngữ chiến lược có nguồn gốc từ nghệ thuật quân sự thời xa xưa, với ý nghĩa là phương pháp, cách thức điều khiển và chỉ huy các trận đánh Trong quân sự cũng có nhiều quan niệm về chiến lược Một xuất bản cũ của từ điển Larouse coi : “Chiến lược là nghệ thuật chỉ huy các phương tiện để chiến thắng” Theo thời gian tính ưu việt của chiến lược
đã được phát triển sang các lĩnh vực khoa học khác như : Chính trị, văn hoá, kinh tế, xã hội, công nghệ môi trường
Trong lĩnh vực quản lý doanh nghiệp chiến lược phát triển muộn hơn vào thế kỷ XX Đến những năm 1950 xuất hiện một số các chủ trương, ý tưởng hoạch định chiến lược trong các doanh nghiệp chủ yếu dựa trên cơ sở phân tích các tiềm lực tài nguyên Sang các năm
1960 đến năm 1970 là giai đoạn hình và phát triển của lý thuyết về phân tích chiến lược, hoạch định chiến lược Lúc này môi trường của các doanh nghiệp có sự biến động lớn do:
xu thế quốc tế hoá các giao dịch kinh tế, cách mạng khoa học - kỹ thuật phát triển; sự thay đổi trong xã hội tiêu dùng và nguồn tài nguyên khan hiếm Việc thực hiện thành công các chức năng quản lý nội bộ trong doanh nghiệp không còn quyết định đến việc thành công của doanh nghiệp như trước nữa, đó mới chỉ là điều kiện cần mà chưa đủ bảo đảm cho sự thành công Chìa khoá cho sự thành công lúc này chính là việc thích ứng với sự thay đổi của môi trường Lý thuyết về quản lý chiến lược ra đời theo sát với yêu cầu cạnh tranh ngày càng ngay ngắt của các công ty, các hãng lớn trên thế giới
Quản lý chiến lược chính là quá trình quản lý hành vi ứng xử của tổ chức với môi trường
Một cách tiếp cận khác : quản lý chiến lược là tập hợp các quyết định và hành động quản
lý quyết định sự thành công lâu dài của tổ chức
Quản lý chiến lược là tập hợp các quyết định và biện pháp hành động dẫn đến việc hoạch định và thực hiện các chiến lược nhằm đạt được mục tiêu của tổ chức
Nói tóm lại, quản lý chiến lược là quá trình nghiên cứu các môi trường hiện tại cũng như tương lai, hoạch định các mục tiêu của tổ chức, đề ra, thực hiện các kiểm tra việc thực
Trang 20hiện các quyết định nhằm đạt được các mục tiêu đó trong môi trường hiện tại cũng như tương lai
Các tổ chức hay đơn vị được đề cập trong luận án này có thể là : 1 ngành, 1 khu vực kinh tế, 1 doanh nghiệp hay hợp tác xã… ở nước ta khi chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch hoá sang kinh tế thị trường các doanh nghiệp và các cơ quan đã bắt đầu có hoạt động quản
lý chiến lược và đến nay quản lý chiến lược là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của nhà quản
lý nói chung và quản lý doanh nghiệp nói riêng
b) Các khái niệm về chiến lược kinh doanh
Tuỳ theo từng cách tiếp cận mà xuất hiện các quan điểm khác nhau về chiến lược kinh doanh
- Theo Micheal Porter : “Chiến lược kinh doanh là nghệ thuật xây dựng lợi thế cạnh tranh”
- Theo Alfred Chandker : “Chiến lược kinh doanh đó là việc xác định các mục tiêu cơ bản và dài hạn của doanh nghiệp lựa chọn các chính sách, chương trình hành động nhằm phân bổ các nguồn lực để đạt được các mục tiêu cơ bản”
Hai định nghĩa trên là hai định nghĩa truyền thống được phổ biến nhất hiện nay, ngoài ra còn có nhiều quan điểm khác
- Theo James B.Quinn : Chiến lược kinh doanh đó là một dạng thức hay là một kế hoạch phối hợp các mục tiêu chính, các chính sách và các trình tự hành động thành một tổng thể kết dính lại với nhau
- Theo William J.Glueck : Chiến lược kinh doanh là một kế hoạch mang tính thống nhất, tính toàn diện và tính phối hợp được thiết kế để đảm bảo rằng các mục tiêu cơ bản của doanh nghiệp sẽ được thực hiện
- Theo quan điểm hiện đại, nội dung khái niệm chiến lược có thể bao gồm “5P”
:
Kế hoạch : Plan
Trang 21Mưu lược : Ploy
Mô thức, dạng thức : Pattern
Vị thế : Position Triển vọng : Perspective
c) Phân biệt khái niệm chiến lược kinh doanh và một số khái niệm khác
- Quyết định chiến lược và quyết định tác nghiệp
Mục đích :
Xác định vị trí của doanh nghiệp trên thị trường, xác định năng lực sản xuất của doanh nghiệp
Thực hiện và khai thức các năng lực sản xuất hiện có
Thông tin : Thông tin mờ, đa dạng Cụ thể, chính xác
Mô hình :
Dựa vào các mô hình mang tính sáng tạo, dò dẫm, không mang tính thuật toán, quy tắc
Dựa vào các mô hình mang tính thuật toán, dựa trên những quy tắc
Tác dụng :
Tác dụng đối với toàn bộ hoạt động của doanh nghiệp và dài hạn
Tác dụng cục bộ từng bộ phận, từng khía cạnh, chức
Trang 22Như vậy, về phạm vi trong cùng một cấp thì chiến lược rộng hơn chính sách vì chiến lược xác định một hướng đi và mục tiêu mang tính dài hạn Tuy nhiên đây là sự khác biệt
có tính chất tương đối bởi vì thường là các doanh nghiệp khi hoạch định chiến lược phải phụ thuộc vào các chính sách của Nhà nước
- Chiến lược và kế hoạch, chương trình, dự án :
Phần lớn các nhà kinh tế cho rằng chiến lược, kế hoạch, chương trình dự án cùng phụ thuộc vào phạm trù kế hoạch hoá tuy nhiên giữa chúng khác nhau về mức độ, thể
Như vậy giữa chúng khác nhau về :
+ Khác nhau về cấp độ
+ Khác nhau về mục tiêu: thể hiện ở chỗ : chiến lược nhằm nâng cao vị thế cạnh tranh của tổ chức hoặc doanh nghiệp đối với các đối thủ cạnh tranh, kế hoạch nhằm vào việc thực hiện quá trình quản lý tác nghiệp để thực hiện các mục tiêu của chiến lược theo từng cấp độ, thời gian thích hợp
+ Khác nhau về cách thể hiện : chiến lược thể hiện bằng kế hoạch, kế hoạch thể hiện bằng các chỉ tiêu cụ thể
Có thể khẳng định rằng trong cơ chế kế hoạch hoá tập trung chúng ta sản xuất theo chỉ tiêu, kế hoạch giao từ trên xuống Theo đó việc tiêu thụ sản phẩm đã có địa chỉ cố định Các
tổ chức, các ngành và khu vực kinh tế không quan tâm tới chiến lược theo đúng nghĩa của
D ự án
Chương tr ình
Trang 233.1.1 Thang đo
Đề tài này nghiên cứu về sự thỏa mãn công việc của nhân viên văn phòng, đây là một dạng nghiên cứu thái độ của con người về một khía cạnh nào đó trong cuộc sống Để xem xét đánh giá được thái độ của người trả lời, trong trường hợp này là sự thỏa mãn công việc thì người nghiên cứu có thể lựa chọn hai dạng câu hỏi trong bảng câu hỏi của mình Dạng câu hỏi đầu tiên là câu hỏi dạng mở, nghĩa là người trả lời có thể tùy theo ý kiến của mình mà trả lời về cảm nhận của họ về sự thỏa mãn công việc của họ Dạng câu hỏi thứ hai là dạng câu hỏi đóng, nghĩa là người thiết kế bảng câu hỏi sẽ đưa ra luôn những lựa chọn trả lời với các tuyên bố về thái độ của người trả lời như hoàn toàn đồng
ý, đồng ý, không chắc, không đồng ý, hoàn toàn không đồng ý
Ví dụ thay vì hỏi câu hỏi dưới dạng về mở “Anh/ chị cảm thấy lương của mình nhận được từ công ty như thế nào?” thì ta có thể hỏi câu hỏi dưới dạng đóng “Mức lương của anh/chị hiện nay là phù hợp với năng lực và đóng góp của anh/ chị đối với công ty” kèm theo năm lựa chọn trả lời là: hoàn toàn đồng ý, đồng ý, không ý kiến, không đồng ý và hoàn toàn không đồng ý Với dạng câu hỏi đầu tiên, chúng ta sẽ nhận được các câu trả lời khác nhau và hầu như là mỗi người trả lời một cách Điều này khiến ta không kiểm soát được câu trả lời của họ và cũng khó có thể lượng hóa hay rút ra được một kết luận chung về vấn đề mức lương của họ Với dạng câu hỏi thứ hai và với câu trả lời có sẵn, khi nhận được câu trả lời chúng ta sẽ thấy được rõ hơn về đánh giá của người trả lời đối với mức lương của họ hiện nay
Như vậy sử dụng câu hỏi đóng trong nghiên cứu thái độ nói chung là thuận lợi hơn Ngoài ra, vì một trong những mục tiêu của đề tài này là tìm hiểu, xác định mức độ thỏa mãn công việc nên việc sử dụng câu hỏi dạng đóng với các lựa chọn trả lời dạng thang đo Likert là phù hợp nhất Với câu trả lời của người trả lời dưới dạng thang đo này, ta sẽ thấy được sự thỏa mãn công việc của người nhân viên
ở từng khía cạnh, từng nhân tố trong công việc ở mức thỏa mãn hay không thỏa mãn và ở mức độ nhiều hay ít (đối với Likert năm và bảy mức độ) Đồng thời, vì thang đo Likert là thang đo khoảng nên ta có thể sử dụng số liệu thu thập được để xử lý, phân tích định lượng để xác định mối quan hệ tương quan, quan hệ tuyến tính giữa các biến nói chung, cũng như giữa các biến độc lập và biến phụ thuộc
Tuy nhiên để đảm bảo tính phù hợp của thang đo, theo Kumar (2005) cần giải quyết hai vấn đề sau:
- Ai là người quyết định thang đo nào được sử dụng để đo lường cái cần đo?
Trang 24- Làm thế nào để biết được một công cụ nào đó phù hợp dùng để được cái cần đo?
Câu trả lời cho câu hỏi thứ nhất chính là các nhà nghiên cứu chuyên gia trong lĩnh vực liên quan Đối với đề tài này đó là các nhà nghiên cứu về sự thỏa mãn công việc Đó là Smith, Kendall và Hullin, những người đã dùng thang đo Likert để đo lường sự thỏa mãn công việc của người lao động ở năm nhân tố gồm bản chất công việc, tiền lương, thăng tiến, đồng nghiệp, và sự giám sát của cấp trên Đề tài nghiên cứu này về cơ bản cũng sử dụng thang đo Likert để đo lường sự thỏa mãn công việc của nhân viên Tuy nhiên, một số nhân tố được thay đổi chút ít về tên gọi cũng như nội dung Nhân tố
‘tiền lương’ được đổi thành ‘thu nhập’, nhân tố ‘thăng tiến’ được đổi thành ‘đào tạo thăng tiến’ Việc lấy tên mới trên nhằm mở rộng và bao quát hóa các nhân tố của sự thỏa mãn công việc Ngoài
ra, trên cơ sở nghiên cứu của các chuyên gia và các nhà nghiên cứu khác trong lĩnh vực này và xem xét tình hình cụ thể ở Việt Nam, hai nhân tố khác cũng theo thang đo Likert là điều kiện làm việc và phúc lợi công ty đã được thêm vào để xem xét và kiểm định tính phù hợp của nó
Câu hỏi thứ hai rất quan trọng, có hai phương pháp để tạo dựng nên tính phù hợp của một công
cụ nghiên cứu, đó là dùng lập luận logic và dùng bằng chứng thông kê Rõ ràng dùng phương pháp thứ hai thì thuyết phục hơn Trong thực tế từ các nghiên cứu liên quan đến sự thỏa mãn công việc thì thang đo Likert đã được các nhà nghiên cứu sử dụng rộng rãi và thừa nhận tính phù hợp của nó
Về độ tin cậy của công cụ đo lường, hệ số alpha của Cronbach sẽ được sử dụng để kiểm định độ tin cậy của các biến (câu hỏi) được sử dụng trong bảng câu hỏi Ngoài ra, phân tích nhân tố cũng được tiến hành để kiểm định tính đơn khía cạnh của các câu hỏi trong nhóm thuộc từng khía cạnh (nhân tố)
Bảng 3-1 Các thang đo được sử dụng trong bảng câu hỏi nghiên cứu
Thông tin phân loại
Trang 25Loại hình doanh nghiệp Định danh
Thông tin về sự thỏa mã n từng khía cạnh chi tiết trong công việc
Đánh giá chi tiết về mức
Các chỉ số đánh giá về đặc điểm công việc
Các chỉ số đánh giá về điều kiện làm việc
Các chỉ số đánh giá về phúc lợi công ty
Thông tin về sự độ thỏa mãn của từng nhân tố
Hài lòng về đặc điểm công việc
Hài lòng về điều kiện làm việc
Hài lòng về phúc lợi công ty 3.1.2 Chọn mẫu
3.1.2.1 Tổng thể
Tổng thể của khảo sát này là toàn bộ nhân viên văn phòng làm việc tại TP.HCM
Như đã định nghĩa ở phần mở đầu của đề tài, nhân viên văn phòng trong nghiên cứu này sẽ bao gồm toàn bộ những người làm việc ăn lương, tức không phải làm chủ doanh nghiệp, hầu hết thời gian làm việc của họ là ở trong văn phòng, nơi công tác có thể là các tổ chức, công ty, chi nhánh, văn phòng đại diện, phòng giao dịch, v.v đặt tại TP.HCM Như vậy, tổng thể của khảo sát này là tất cả những người thỏa đủ ba đặc điểm là nhân viên văn phòng, làm công ăn lương và nơi làm việc là TP.HCM
3.1.2.2 Phương pháp chọn mẫu
Để đạt được các mục tiêu nghiên cứu đã đề ra ở phần mở đầu của đề tài, thiết kế chọn phi xác suất với hình thức chọn mẫu ngẫu nhiên thuận lợi đã được sử dụng và được xem là hợp lý để tiến hành nghiên cứu đề tài này Lý do để lựa chọn phương pháp chọn mẫu này vì người trả lời dễ tiếp cận, họ sẵn sàng trả lời bảng câu hỏi nghiên cứu cũng như ít tốn kém về thời gian và chi phí để thu thập thông tin cần nghiên cứu
Trang 26Theo Cooper và Schindler (1998), lý do quan trọng khiến người ta sử dụng phương pháp chọn mẫu phi xác suất là tính tiết kiệm về chi phí và thời gian Về mặt này thì phương pháp chọn mẫu phi xác suất vượt trội so với chọn mẫu xác suất Ngoài ra, hai tác giả cũng nhắc nhở rằng chọn mẫu xác suất không phải lúc nào cũng đảm bảo tính chính xác và trong một số trường hợp chọn mẫu xác suất
là không thể thực hiện được Tuy nhiên hai tác giả này cũng khẳng định nhược điểm lớn nhất của phương pháp chọn mẫu phi xác suất là sự chủ quan thiên vị trong quá trình chọn mẫu và sẽ làm méo
mó biến dạng kết quả nghiên cứu Giáo sư Tiến sĩ Nguyễn Thị Cành (2007) cho rằng chọn mẫu phi xác suất là dễ phác thảo và thực hiện nhưng nó có thể cho kết quả sai lệch bất chấp sự phán đoán của chúng ta, do ngẫu nhiên nên có thể chúng không đại diện cho tổng thể
Vì đây là nghiên cứu khám phá cùng với phân tích như trên, phương pháp chọn mẫu phi xác suất với hình thức chọn mẫu thuận tiện là phù hợp nhất Các bảng câu hỏi nghiên cứu sẽ được gửi trực tiếp đến bạn bè, người quen để trả lời đồng thời cũng nhờ những người này gửi cho bạn bè của họ để trả lời thêm cho đến khi đạt được số lượng mẫu cần thiết
2.2- Chiến lược cấp cơ sở kinh doanh
Cấp cơ sở kinh doanh ở đây được hiểu là mỗi cấp cơ sở kinh doanh là một lĩnh vực kinh doanh
Các chiến lược cấp cơ sở thường được xây dựng trên cơ sở các chiến lược tổng thể 4
cấp đơn vị (ngành) và hỗ trợ cho việc thực hiện chiến lược cấp đơn vị (ngành), các chiến
lược cấp cơ sở chú trọng tới yếu tố sản phẩm và thị trường Khi nói đến chiến lược cấp cơ
sở người ta nói đến hai chiến lược cơ bản đó là : chiến lược tăng trưởng tập trung và chiến
lược cạnh tranh, ngoài ra các chiến lược bộ phận còn tồn tại dưới các dạng chiến lược chức
Trang 27b) Chiến lược Marketing mix : Là tập hợp những yếu tố biến động kiểm soát được
của Marketing mà công ty sử dụng để cố gắng gây được những phản ứng mong muốn từ phía thị trường mục tiêu
- Chiến lược sản phẩm
- Chiến lược về giá
- Chiến lược phân phối
- Chiến lược xúc tiến
3- Quá trình hoạch định chiến lược kinh doanh
3.1- Khái niệm và yêu cầu
a) Khái niệm
Hoạch định chiến lược là quá trình xác định mục tiêu tổng quát, những chủ trương hoạt động chính và các chính sách huy động nguồn lực trên cơ sở dự báo những thay đổi về môi trường, thị trường và tương quan lực lượng giữa ngành, tổ chức hoặc đơn vị và các đối thủ cạnh tranh
- Phải có chiến lược dự phòng
- Phải các định phạm vi kinh doanh, mục tiêu và các điều kiện cơ bản để thực hiện mục tiêu
- Chiến lược kinh doanh phải xây dựng trên cơ sở dự đoán được môi trường kinh doanh và tương lai
Trang 28- Chiến lược kinh doanh phải kết hợp giữa độ hoàn hảo của chiến lược và thời cơ xuất hiện Tóm lại : Khi xây dựng chiến lược kinh doanh cho 1 tổ chức, 1 đơn vị phải dựa vào 3 yếu tố : môi trường, bản thân tổ chức đó và người lãnh đạo tổ chức, đơn vị đó Chiến lược chính là sự kết hợp giao nhau của 3 yếu tố :
+ Khả năng và các nguồn lực của ngành, đơn vị hay 1 khu vực kinh tế
+ Cơ hội và đe doạ đối với tổ chức đó
+ Hệ thống giá trị và mong muốn của các nhà lãnh đạo
3.2- Các nội dung cơ bản của hoạch định chiến lược
a) Xác định nhiệm vụ chiến lược và hệ thống mục tiêu chiến lược
- Nhiệm vụ chiến lược : Đó là một tuyên bố cố định có tính chất lâu dài về mục đích của tổ chức, ngành, nó phân biệt tổ chức, ngành này với tổ chức hoặc ngành khác Các tuyên bố này có thể là :
+ Nguyên tắc kinh doanh :
+ Mục đích, triết lý kinh doanh từ đó xác định các lĩnh vực kinh doanh sản
phẩm dịch vụ, nhu cầu thị trường…
Nhiệm vụ chiến lược mang tính trìu tượng bao gồm những công việc sau :
+ Xác định ngành kinh doanh;
+ Công bố các mục tiêu quan trọng; + Tư
tưởng chủ đạo của tổ chức, ngành
- Hệ thống mục tiêu chiến lược :
Mục tiêu chiến lược : là toàn bộ kết quả cuối cùng mà đơn vị, cơ quan muốn đạt được hay
là kết quả kỳ vọng của tổ chức, đơn vị đó, kết quả này là biểu hiện của :
+ ý nguyện và hoài bão;
Trang 29+ Mục đích dài hạn;
+ Mục đích ngắn hạn;
+ Các chỉ tiêu kê hoạch và kết quả công tác
Hệ thống mục tiêu :Là tập hợp các mục tiêu cần đạt được trong một thời kỳ nào đó Thông thường hệ thống mục tiêu của doanh nghiệp hướng tới : tối đa hoá lợi nhuận, tăng năng suất lao động, cải thiện nguồn tài chính, nâng cao hiệu lực quản lý, phát triển việc làm, cải thiện công nghệ, nâng cao trách nhiệm xã hội của tổ chưc, của ngành hoặc 1 khu vực kinh tế
Có nhiều cách phân loại hệ thống mục tiêu của đơn vị, tổ chức hay 1 ngành :
+ Căn cứ vào yếu tố thời gian có: mục tiêu dài hạn, ngắn hạn
+ Căn cứ vào yếu tố tăng trưởng có: tăng trưởng nhanh, ổn định, suy giảm
+ Căn cứ vào phân cấp mục tiêu có: mục tiêu tổng quát, bộ phận
- Mục tiêu có tính chất sau: tính cụ thể, tính linh hoạt, tính đo được, tính khả thi, tính thống nhất và tính hợp lý
b) Chuẩn đoán chiến lược
Chuẩn đoán môi trường
Trang 30
Các đối thủ mới tiềm ẩn
Nh ững yếu tố c ơ b ản của môi tr ư ờng vĩ mô
* Môi trư ờng vi mô : Bao gồm các yếu tố trong ngành
Y ếu
t ố kinh
Y ếu tố
k ỹ thuật công ngh ệ Y ếu tố
chính
tr ị pháp
Y ếu tố
xã h ội
T ổ chức, đơn v ị
Trang 31Nguy cơ do sản phẩm và dịch vụ thay
Hàng thay thế
- Các đối thủ tiềm ẩn mới : Tạo ra sức ép đe doạ đến lợi ích của tổ chức và của ngành
Sự nhập ngành phụ thuộc vào những rào chắn sau đây :
+ Sự khác biệt hoá sản phẩm
+ Tiết kiệm chi phí theo quy mô
+ Nhu cầu vốn lớn
+ Chi phí chuyển dịch
+ Thâm nhập vào mạng phân phối khó
+ Bất lợi về giá độc lập với quy mô sản xuất
+ Rào chắn pháp lý
+ Các yếu tố khác như: kinh nghiệm, uy tín của những nhà sản xuất hiện tại,
sự chống trả của nhà sản xuất hiện tại, bản quyền công nghiệp, yêu cầu kỹ thuật
- Các nhà sản xuất hiện tại : có 3 yếu tố tạo thành mức độ cạnh tranh giữa các nhà sản xuất hiện tại :
+ Cơ cấu cạnh tranh
C ạnh tra n h giữa các hãng hi ện có trong
khách
ngành
Trang 32+ Rào sản xuất ngành như : đầu tư lớn; chuyên dùng; công nghệ; pháp lý; tâm
lý xã hội; sức ép xã hội (thất nghiệp)
- Sản phẩm thay thế : là sản phẩm của các đối thủ cạnh tranh hoặc các ngành hoạt động kinh doanh cùng có chức năng đáp ứng nhu cầu tiêu dùng giống nhau của khách hàng Sản phẩm thay thế ra đời tạo ra đe doạ đối với nhà sản xuất hiện tại bởi vì nó có nguy cơ huỷ hoại thị trường Phần lớn sản phẩm thay thế là kết quả của cuộc bùng nổ công nghệ các hãng cần dành nguồn lực để phát triển và vận dụng công nghệ mới
- Quyền lực khách hàng : khách hàng có quyền lực mạnh so với tổ chức, ngành khi : + Mua một khối lượng lớn so với doanh thu người bán
+ Các sản phẩm mua chiếm phần lớn trong giá thành hoặc trong giá trị mua
sắm của họ
+ Chi phí chuyển dịch của nhà cung cấp nhỏ
+ Những khách hàng đã hội nhập dọc một phần theo hướng trên
+ Sản phẩm không hề ảnh hưởng tới chất lượng sản phẩm của khách hàng
+ Khách hàng có đầy đủ thông tin và phương tiện khác để gây sức ép
+ Khách hàng là những người bán lẻ có khả năng tác động tới hành vi mua
sắm của người tiêu dùng
- Quyền lực của nhà cung cấp : các yếu tố tạo nên quyền lực nhà cung cấp :
+ Nhà cung cấp tập trung hoá cao hơn khách hàng (số lượng nhà cung cấp ít, người mua nhiều)
+ Các nhà cung cấp không có sức ép của sản phẩm thay thế
+ Ngành hoạt động chỉ là khách hàng nhỏ của nhóm nhà cung cấp
+ Sản phẩm của nhà cung cấp là phương tiện sản xuất quan trọng của khách hàng
Trang 33+ Nhà cung cấp đã khác biệt hoá sản phẩm
+ Nhà cung cấp đã hội nhập dọc hướng dưới
Chuẩn đoán nội bộ bên trong :
Đây là quá trình phân tích các yếu tố và chức năng trong nội bộ ngành, tổ chức Bao gồm :
Trang 34- Nghiệp vụ sản xuất :
+ Cung ứng nguyên vật liệu
+ Mức độ hội nhập dọc
- Nghiên cứu và phát triển :
+ Nghiên cứu sản phẩm, công nghệ, thị trường, sáng kiến cải tiến
+ Bằng phát minh, mã hiệu hàng hoá, bảo hộ bằng luật pháp
c) Phân tích tổng hợp và lựa chọn các chiến lược khả thi
Trên cơ sở xác định nhiệm vụ chiến và đánh giá các yếu tố về môi trường cũng như các yếu tố bên trong của ngành, tổ chức chúng ta có thể sử dụng nhiều mô hình phân tích chiến lược để tìm ra những giải pháp chiến lược khả thi ở đây xin đề cập tới một số mô hình có thể áp dụng được trong khu vực kinh tế làng nghề, đó là :
tăng trưởng 10thị
Trang 35- Nhóm “Ngôi sao”: Cần đầu tư duy trì hay củng cố vị trí của chúng Các chiến lược
có thể là hội nhập dọc, ngang, thâm nhập thị trường, phát triển thị trường, phát triển sản phẩm, liên doanh
- Nhóm “Dấu hỏi” : Cần đầu tư để giữ vững và tăng thị bằng cách đầu tư thêm tiền để trở thành “ngôi sao” hoặc có thể loại bỏ Nếu đầu tư thêm thì chiến lược nên theo đổi là các chiến lược tập trung: thâm nhập thị trường, phát triển thị trường, phát triển sản phẩm
- Nhóm “Bò sữa”: Mức tăng nhưng thị phần cao tạo ra sức mạnh hỗ trợ nhóm ”dấu hỏi” và việc nghiên cứu phát triển Các chiến lược phát triển sản phẩm hay đa dạng hoá được áp dụng khi các lĩnh vực đang vững mạn, chiến lược giảm bớt chi tiêu đối với các lĩnh vực đang yếu đi
- Nhóm “Chó”: Các chiến lược là cắt giảm chi phí, thanh lý, giải thể
Mô hình Mc Kinsey:
Mô hình này được xây dựng trên hai chỉ tiêu mang tính tổng hợp hơn đó là sức hấp dẫn của thị trường và vị thế cạnh tranh
Ma trận gồm 9 ô : Trục tung biểu thị mức độ hấp dẫn của thị trường, trục hoành biểu thị
vị thế cạnh của đơn vị hoặc của từng lĩnh vực hoạt động; được chia làm 3 mức độ : Mạnh - trung bình - yếu, mỗi phương diện sẽ cho phép định vị được toàn bộ các lĩnh vực hoạt động Diện tích
Trang 36các vòng tròn tương ứng với vị trí của mỗi lĩnh vực, hoạt động khác nhau của tổ chức, phần gạch chéo trên mỗi vòng tròn là thị phần của lĩnh vực hoạt động đó
Vùng là vùng thu hoạch và loại bỏ thường đi đôi với chiến lược suy giảm
Tuy nhiên để đánh giá được hai yếu tố vị trí cạnh tranh và sự hấp dẫn của thị trường
phụ thuộc vào nhiều yếu tố, mức độ ảnh hưởng của từng yếu tố phụ thuộc vào nhận thức và
kinh nghiệm của nhà lãnh đạo về tính năng động của cạnh tranh Thường công cụ để giải
quyết vấn đề đó là phương pháp cho điểm
Mô hình phân tích SWOT :
Trang 37Mô hình SWOT là 1 phương pháp đồng bộ để nghiên cứu môi trường của 1 ngành, 1 khu vực kinh tế gắn với tiềm năng bên trong của nó Từ SWOT là viết tắt của các từ tiếng Anh :
Strengths (những mặt mạnh);
Weaknesses (những mặt yếu);
Opportunities (các cơ hội bên ngoài);
Threats (các nguy cơ bên ngoài)
Cho nên ta gọi phương pháp này là phương pháp phân tích những mặt - yếu, những cơ hội và nguy cơ
Phân tích mô hình SWOT có trình tự như sau :
* Xây dựng ma trận đánh giá các yếu tố bên ngoài (môi trường) thể hiện qua ma trận cơ hội và ma trận nguy cơ
- Ma trận nguy cơ :
Trang 38tố
Tác động đối với tổ chức, khu vực kinh
tế
Tính chất tác động
Điểm đánh giá
Miền ưu tiên cao
trung bình
Miền ưu tiên thấp
Vùng khẩn cấp
Mức cao
Trung Bình
Trang 39
Nhiều : 3
TB : 2
ít : 1
Tốt ( + ) Xấu ( _ )
= x
Lấy dấu
Tổng số điểm
Tổng số điểm >0 Yếu tố bên trong đang mạnh
Tổng số điểm >0 Yếu tố bên trong đang yếu
Chiến lược sử dụng điểm mạnh để vượt qua đe doạ (ST)
Trang 40Giảm thiểu các điểm yếu tránh khỏi đe doạ (WT)
3.3- Một số kinh nghiệm về xây dựng chiến lược kinh doanh
a) Kinh nghiệm về xác định nhiệm vụ chiến lược của 1 số tổ chức
Hầu hết các ngành, các tổ chức kinh tế tại những nước phát triển bắt đầu tiến trình quản trị chiến lược kinh doanh bằng việc soạn thảo bản thuyết minh chức năng nhiệm vụ
Nó được xây dựng căn cứ vào các đối tượng hữu quan đó là : khách hàng, đối thủ cạnh tranh
và bản thân tổ chức hay ngành đó
Một nghiên cứu gần đây của tạp chí Fortune (Hoa kỳ) về 500 công ty làm ăn phát đạt và yếu kém đã kết luận rằng, các hãng hoạt động có hiệu quả hơn thường có những bản thuyết minh, báo cáo chức năng nhiệm vụ, về mục tiêu, kế hoạch toàn diện hơn
Theo công ty Philips Petroleum : “bản thuyết minh nhiệm vụ của chúng ta nhằm đến việc làm tăng giá trị đầu tư của các cổ đông bằng cách dùng ưu thế về con ngươì và hoạt động hợp nhất của chúng ta nhằm cung cấp cho các khách những sản phẩm có chất lược tốt hơn với mức giá có khả năng cạnh tranh”
Kinh nghiệp xây dựng một bản thuyết minh, báo cáo về chức, nhiệm vụ chiến lược là phải xây dựng trên cơ sở lấy ý kiến từ tất cả mọi nhà quản trị trong tổ chức hoặc ngành đó, theo tiến trình hội thảo đi đến soạn thảo có như vậy bản báo cáo mới đem lại cơ hội lớn cho các chiến lược
b) Kinh nghiệm về thu thập và xử lý thông tin chiến lược
Thông tin là yếu tố quan trọng để xây dựng cũng như thực hiện chiến lược Thông tin phong phú, được xử lý tốt, kịp thời, bảo đảm tính sát thực khả thi cho các mục tiêu, các phương án chiến lược