1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác kiểm tra, kiểm toán nội bộ đối với hoạt động tín dụng tại chi nhánh ngân hàng công thương đống đa hà nội

122 415 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 122
Dung lượng 1,21 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhận thức về tầm quan trọng của kiểm toán, kiểm toán nội bộ nói chung và kiểm toán nội bộ đối với hoạt động tín dụng tại các NHTM nói riêng, trong thời gian thực tập tốt nghiệp tại Chi n

Trang 2

Mục lục

Chương i Những vấn đề cơ bản về kiểm toán kinh tế và kiểm toán nội bộ tronghoạt động

ngân hàng thương mại

I CƠ Sở LÝ LUậN CHUNG Về KIểM TOÁN 4

1 Sự hình thành và phát triển của toán trên thế giới và ở Việt nam 4

2 Bản chất của kiểm toán 7

3 Vai trò của kiểm toán trong nền kinh tế thị trường 12

4 Các loại hình kiểm toán và các bước cơ bản để tiến hành một cuộc kiểm toán 14

4.1 Các loại hình kiểm toán 14 a Phân loại kiểm toán theo chức năng: 14

b Phân loại kiểm toán theo chủ thể tiến hành 16

4.2 Các bước tiến hành một cuộc kiểm toán 19 a Lập kế hoạch và chương trình kiểm toán: 20

b Thực hiện kiểm toán: 21

c Hoàn tất và lập báo cáo kiểm toán 22

d Theo dõi sau kểm toán: 23

4.3 Các phương pháp, kỹ thuật sử dụng trong quá trình kiểm toán 23 a Phương pháp kiểm toán cơ bản: 23

b Phương pháp kiểm tra, kiểm soát: 24

c Phương pháp kiểm toán cân đối: 24

d Phương pháp đối chiếu: 25

đ Phương pháp kiểm kê: 25

e Phương pháp điều tra: 25

Trang 3

f Phương pháp thực nghiệm (còn gọi là phương pháptrắc nghiệm) 25

g Phương pháp chọn mẫu kiểm toán : 26

II KIểM TOÁN NGÂN HÀNG THƯƠNG MạI TRONG NềN KINH Tế THị TRƯờNG: 26

1 Sự cần thiết phải kiểm toán ngân hàng : 26

2 Những hình thức kiểm toán trong ngân hàng thương mại 28

3 Những lĩnh vực kiểm toán chủ yếu trong Ngân hàng thương mại 30 a Trong Kiểm toán tài sản và nguồn vốn, kiểm toán các nội dung sau: 30

b Kiểm toán hoạt động tín dụng: 30

c Kiểm toán doanh thu, chi phí và kết quả kinh doanh: 32

III KIểM TOÁN NộI Bộ ĐốI VớI HOạT ĐộNG TÍN DụNG TạI CÁC NGÂN HÀNG

THƯƠNG MạI TRONG NềN KINH Tế THị TRƯờNG: 33

1 Kiểm toán nội bộ trong các ngân hàng thương mại 33 a

Nhận thức cơ bản về kiểm toán nội bộ trong các NHTM 33

b Một số quy định cơ bản về kiểm toán nội bộ trong Ngân hàng 33

2 Những vấn đề cơ bản về hoạt động tín dụng trong các NHTM 40 a

Khái niệm tín dụng, đặc trưng, vai trò của tín dụng: 40

b Các loại tín dụng: 41

3 Kiểm toán nội bộ đối với hoạt động tín dụng trong các NHTM 44

a Vai trò, vị trí của kiểm toán nội bộ đối với hoạt động tín dụng trong các

Lập kế hoạch và thiết kế phương pháp kiểm toán 48

b Thực hiện kiểm toán 49

Trang 4

c Hoàn tất công tác kiểm toán và công bố kết quả kiểm toán 49

d Theo dõi việc thực hiện kiến nghị đã được Giám đốc thông qua 50

Chương II thực trạng công tác kiểm toán nội bộ đối với hoạt động tín dụng tại chi nhánh ngân hàng công thương Đống Đa I ĐặC ĐIểM KINH Tế XÃ HộI CủA ĐịA BÀN QUậN ĐốNG ĐA

51 II ĐÔI NÉT Về HOạT ĐộNG NHCTĐĐ VÀ KếT QUả HOạT ĐộNG KINH DOANH CủA NGÂN HÀNG 54

1 Khái quát về hoạt động của chi nhánh NHCTĐĐ: 54 2 Khái quát về kết quả hoạt động kinh doanh của Ngân hàng 58

III, THựC TRạNG CÔNG TÁC KIểM TOÁN NộI Bộ ĐốI VớI HOạT ĐộNG TÍN DụNG TạI CHI NHÁNH NGÂN HÀNG CÔNG THƯƠNG ĐốNG ĐA 63

1 Tổ chức và hoạt động của bộ phận kiểm tra, kiểm toán nội bộ tại Chi nhánh Ngân hàng công thương Đống Đa 63

a Cơ cấu tổ chức của bộ phận kiểm tra, kiểm toán nội bộ tại chi nhánh Ngân hàng công thương Đống Đa 63

b Nhiệm vụ của bộ phận kiểm tra, kiểm toán nội bộ tại Chi nhánh Ngân hàng công thương Đống Đa 65

2 Thực trạng hoạt dộng tín dụng tại Chi nhánh Ngân hàng công thương Đống Đa dưới góc độ đánh giá của kiểm toán nội bộ 68 a Về chỉ tiêu tổng dư nợ: 69

b Cơ cấu dư nợ theo thời hạn 69

c Cơ cấu dư nợ theo thành phần kinh tế: 71

d Cơ cấu dư nợ theo ngàng kinh tế 72

Trang 5

e Cơ cấu dư nợ theo loại tiền: VNĐ và ngoại tệ 73

3 Tình hình công tác kiểm tra nội bộ đối với hoạt đông tín dụng tại ngân hàng 75

3.1 Những đóng góp của công tác kiểm tra kiểm toán nội bộ đối với hoạt động tín dụng tại ngân hàng công thương Đống Đa 76

a Việc thực hiện quy chế vế quy trình kiểm tra nghiệp vụ tín dụng của Ngân hàng Công thương Việt Nam 77 b,

Những kết quả đạt được qua kiểm tra: 94 c

Những dạng sai phạm chủ yếu qua kiểm tra, kiểm toán 96

d Biện pháp của tổ kiểm tra tín dụng đối với những sai phạm thường xuyên xảy ra 98

e Những đóng góp của tổ kiểm tra, kiểm toán tín dụng với cương vị là kiểm toán nội bộ NHCTVN 98

3.2 Những hạn chế cần khắc phục trong công tác kiểm tra, kiểm toán nội bộ đối với hoạt động tín dụng tại chi nhánh Ngân hàng công thương Đống Đa

100

a Hạn chế về kết quả kiểm toán : 100

b Hạn chế về mô hình tổ chức và cơ chế hoạt động của bộ phận kiểm tra,

kiểm toán nội bộ tại chi nhánh 101

c Công tác kiểm soát từ xa và việc áp dụng công nghệ tin học trong kiểm tra, kiểm toán còn hạn chế 102 d Chức năng của hoạt động kiểm toán chưa được thực hiện đầy đủ 102

e Hạn chế trong phối hợp giữa kiểm tra, pháp chế với phòng kinh doanh tín

dụng 103 f, Những tồn tại khác 103

Trang 6

Chương III một số kiến nghị và giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của công tác kiểm tra

kiểm toán nội bộ đối vơí hoạt động tín dụng tại chi nhánh Ngân hàng Công

thương Đống Đa

I Sự CầN THIếT PHảI GIảI QUYếT NHữNG TồN TạI, HạN CHế CủA CÔNG TÁC KIểM TRA TÍN DụNG TạI CHI NHÁNH NGÂN HÀNG CÔNG THƯƠNG ĐốNG

ĐA 106

II MộT Số BIệN PHÁP NHằM KHắC PHụC HạN CHế, TồN TạI CủA CÔNG TÁC KIểM TRA, KIểM TOÁN TÍN DụNG TạI CN NGÂN HÀNG CÔNG THƯƠNG ĐốNG ĐA

107 1 Đề xuất về biện pháp khắc phục đối với những tồn tại, hạn chế của công tác kiểm toán tín dụng 107

a Giải pháp để nâng cao chất lượng công tác KTKTNB đối với hoạt động tín dụng 107

b Tăng cường công tác kiểm soát từ xa và áp dụng cộng nghệ tin học vào kiểm tra kiểm toán 108

c Đảm bảo tính độc lập trong hoạt động của tổ KTKTNB tín dụng tại Ngân hàng công thương Đống Đa 109

d Phối hợp chặt chẽ giữa các bộ phận trong kiểm tra kiểm toán, thực hiện tốt giữa tự kiểm tra nghiệp vụ và kiểm toán nội bộ 110

e Thực hiện đầy đủ chức năng của kiểm toán nội bộ 111

f Giải pháp cho các vấn đề khác 111

III NHữNG KIếN NGHị Cụ THể 112

1 Đối với các cơ quan Nhà nước và Ngân hàng cấp trên 113

a Kiến nghị với NHNN và các cấp có thẩm quyền về hoàn thiện cơ cấu tổ chức của hệ thống kiểm soát, kiểm toán nội bộ 113

b Kiến nghị với các cấp lãnh đạo Ngân hàng cấp trên về việc trang bị thêm máy vi tính cho bộ phận kiểm tra, kiểm toán nội bộ NHCTĐĐ: 114

Trang 7

c Kiến nghị với NHNN và các cấp về giải quyết TSTC thu hồi nợ tồn đọng 114

d Kiến nghị với Ngân hàng cấp trên (NHCTVN) về tăng cường kiến thức thực tế trong công tác của cán bộ kiểm tra, kiểm toán nội bộ 115

2 Kiến nghị đối với lãnh đạo Ngân hàng công thương Đống Đa 116

3 Kiến nghị đối với các cán bộ kiểm tra tín dụng Ngân hàng công thương Đống

Đa 117

Kết luận

Trang 8

lời mở đầu

ở Việt Nam, từ khi nền kinh tế chuyển từ cơ chế tập trung quan liêu bao cấp sang nền kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, nhu cầu về kiểm toán đã trở nên tất yếu, một điều không thể phủ nhận

Những đóng góp quan trọng của kiểm toán Nhà nước, kiểm toán độc lập kể từ khi thành lập đối với sự nghiệp công nghiệp hoá - hiện đại hoá ở nước ta, hội nhập kinh

tế với khu vực và thế giới ngày càng được khẳng định

Năm 1991, Chính phủ đẫ ban hành nghị định 07/CP công bố: "Quy chế kiểm toán độc lập trong nền kinh tế quốc dân" và đến 11-7-1994, Chính phủ lại ban hành nghị định 70/ CP về “Thành lập cơ quan kiểm toán Nhà nước, và 24-1-1995, Thủ tướng Chính phủ ra quyết định 61/ TTG “Ban hành điều lệ tổ chức kiểm toán nhà nước" Đây

là những văn bản pháp quy đầu tiên của Nhà nước khẳng định vị trí, vai trò và tạo hành lang pháp lý cho hoạt động kiểm toán Chúng ta nhận thức được rằng, cùng với sự phát triển của nền kinh tế thị trường, hoạt động kiểm toán đã thực sự trở thành một nghề, một lĩnh vực hoạt động nghiệp vụ độc lập

Ngày nay, với sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế thế giới, số người quan tâm đến tình hình tài chính của doanh nghiệp đã mở rộng, cùng với sự quan tâm đến các thông tin tài chính, họ cũng đòi hỏi các thông tin này phải dược cung cấp một cách chính xác, song mỗi người lại quan tâm đến một lĩnh vực không giống nhau và với các mục đích khác nhau Để đáp ứng tất cả các yêu cầu về thông tin với các khía cạnh khác nhau, kiểm toán cũng bao gồm nhiều loại hình khác nhau như:kiểm toán hoạt động, kiểm toán tuân thủ, kiểm toán báo cáo tài chính

Ngân hàng thương mại (NHTM) là một tổ chức kinh doanh tiền tệ, dưới hình thức nhận tiền gửi và cho vay, cung cấp các dịch vụ tài chính khác, nhằm mục đích tìm kiếm

Trang 9

lợi nhuận và góp phần ổn định, phát triển nền kinh tế, thực hiện các mục tiêu của chính sách tiền tệ

Cũng như các loại hình doanh nghiệp khác, hoạt động của NHTM cũng cần phải được kiểm toán bởi các chủ thể khác nhau Hơn nữa kinh doanh ngân hàng là một lĩnh vực đặc biệt nhạy cảm và có nhiều rủi ro, nên việc kiểm toán mà nhất là kiểm toán hoạt động đối với NHTM càng là một yêu cầu cấp thiết, là chức năng chủ yếu của kiểm toán nội bộ

Kiểm toán nội bộ trong NHTM là một bộ phận hoạt động độc lập, nhằm kiểm tra tính hiệu lực, hiệu quả của hệ thống kiểm soát nội bộ và các mục tiêuquan trọng khác Nhận xét, đánh giá tính trung thực, chính xác của các thông tin kinh tế, các báo cáo tài chính, giúp ban quản lý Ngân hàng có quyết định kinh doanh đúng đắn

Kiểm toán nội bộ là cần thiết và vô cùng quan trọng, trong đó kiểm toán nội bộ đối với hoạt động tín dụng là bộ phận kiểm toán chủ yếu của NHTM, vì hoạt động tín dụng là hoạt động kinh doanhn chủ yếu có ảnh hưởng quyết định đến kết quả kinh doanh của Ngân hàng

Mục đích của kiểm toán tín dụng là nhằm hạn chế đến mức thấp nhất các rủi ro

có thể xảy ra, góp phần nâng cao chất lượng nghiệp vụ tài sản có của ngân hàng, bảo vệ

an toàn tài sản và ổn định hoạt động các ngân hàng thương mại

Nhận thức về tầm quan trọng của kiểm toán, kiểm toán nội bộ nói chung và kiểm toán nội bộ đối với hoạt động tín dụng tại các NHTM nói riêng, trong thời gian thực tập tốt nghiệp tại Chi nhánh ngân hàng công thương Đống Đa, em đã chọn đề tài:

"Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác kiểm tra, kiểm toán nội

bộ đối với hoạt động tín dụng tại Chi nhánh ngân hàng công thương Đống Đa -Hà Nội

Nội dung khoá luận gồm 3 chương: (ngoài lời nói đầu và kết luận)

Trang 10

Chương 1: Những vấn đề cơ bản về kiểm toán kinh tế và kiểm toán nội bộ trong

hoạt động ngân hàng thương mại

Chương 2: Thực trạng công tác kiểm tra, kiểm toán nội bộ đối với hoạt động tín

dụng tại Chi nhánh Ngân hàng công thương Đống Đa

Chương 3: Một số kiến nghị và giải pháp cơ bản nhằm nâng cao hiệu quả công

tác kiểm tra, kiểm toán nội bộ đối với hoạt động tín dụng tại Chi nhánh ngân hàng công thương Đống Đa

Chương i

Những vấn đề cơ bản về kiểm toán kinh tế và kiểm toán nội bộ tronghoạt động

ngân hàng thương mại

I Cơ sở lý luận chung về kiểm toán

1 Sự hình thành và phát triển của toán trên thế giới và ở Việt nam

Kiểm toán là hoạt động khá mới mẻ ở Việt Nam Trên thế giới, kiểm toán đã xuất hiện trong xã hội loài người từ rất lâu, vào khoảng thế kỷ thứ 3 trước công nguyên Thuật ngữ “Audit”có một ý nghĩa lịch sử và phù hợp với hoàn cảnh ra đời của nó, vào thời kỳ đó chính quyền La-Mã đã tuyển dụng các quan chức chuyên môn để kiểm tra về tình hình tài chính và thuyết trình lại kết quả kiểm tra này Chính vì vậy từ “Audit” theo tiếng La-Tinh có nghĩa là “người nghe” (one who hears) Kiểm toán đã dần hình thành

và gắn liền với sự phát trển của kế toán Và trong suốt thời kỳ trung đại đến trước khi cuộc cách mạng công nghiệp ra đời, kiểm toán thực sự chỉ giới hạn ở việc xác định xem liệu cá nhân giữ trọng trách trong một tổ chức hoạt động kinh doanh hoặc trong chính phủ có thực hiện đúng trách nhiệm và có báo cáo đúng sự thật không

Trong suốt thời kỳ cách mạng công nghiệp, số doanh nghiệp sản xuất kinh doanh tăng mạnh về quy mô, người chủ sở hữu vốn, tài sản bắt đầu phải đi thuê các nhà quản

lý cho các chi nhánh, cơ sở của mình

Với sự tách biệt về chủ sở hữu và việc quản lý nên phải tăng cường kiểm tra để bảo vệ tài sản của họ, nhằm chống lại nguy cơ sai phạm không chủ đích hoặc những gian lận do người quản lý và nhân viên làm công gây ra Các chủ nhà băng với tư cách

Trang 11

là người bên ngoài, sử dụng các báo cáo tài chính, khi cho vay tiền cũng chú ý đến việc xem xét các báo cáo tài chính có bị lệch lạc do sai phạm và gian lận không?

Từ những năm 1930, sự phá sản của các tổ chức tài chính, các doanh nghiệp trong điều kiện khủng hoảng kinh tế, suy thoái về tài chính, là dấu hiệu chứng minh điểm yếu của kế toán và kểm tra trước tình hình mới Kiểm toán viên trở nên có trách nhiệm hơn với các cơ quan chức năng của Chính phủ, Sở giao dịch chứng khoán, các nhà đầu tư cũng như các bên khác sử dụng thông tin tài chính Sự trung thực của báo cáo tài chính trở thành vấn đề tiên quyết có tầm quan trọng to lớn trong qúa trình lựa chọn các quyết định đầu tư tài chính

Khi các doanh nghiệp ngày càng có quy mô lớn, ở Ca-na-da, Anh, Mỹ kiểm toán viên bắt đầu thực hiện lựa chọn mẫu các nghiệp vụ hơn là kiểm tra các nghiệp vụ kinh tế phát sinh Kiểm toán viên và các nhà quản lý dần dần đi đến một chấp nhận chung mà một cuộc kiểm tra kỹ lưỡng các nghiệp vụ theo chọn mẫu sẽ đưa ra các chỉ số tin cậy, có hiệu quả về sự chính xác của các nghiệp vụ tương tự đã được phản ánh trong các báo cáo tài chính

ở Mỹ, sau cuộc khủng hoảng nặng nề về tài chính vào 1929, bắt đầu từ năm1934,

Uỷ ban bảo vệ và trao đổi tền tệ (SEC) đã được thành lập và quy chế về kiểm toán viên bên ngoài bắt đầu có hiệu lực Đồng thời, trường đào tạo kế toán viên công chứng của

Mỹ (AICPA) đã in ra mẫu chuẩn đầu tiên về baó cáo kiểm toán tài khoản của công ty

Từ những năm 1950, xuất hiện nhiều tổ chức kiểm toán của Chính phủ trong các lĩnh vực quân đội, hành chính và các xí nghiệp công cộng Một tổ chức quan trọng là văn phòng kế toán trưởng (GAO: GERNERAL ACCOUNTING OFFICE) đã có vai trò quyết định trong việc mở rộng phạm vi kiểm toán Chuẩn mực GAO vào năm 1972 (rà soát lại năm 1981), một mặt đã khẳng định lợi ích kiểm toán trong khu vực phi thương mại, mặt khác đã khẳng định quan điểm chuẩn mực và phương pháp mới để đánh giá hiệu quả của các nghiệp vụ phi thương mại

Trang 12

Đạo luật về công ty thương mại của Pháp ngày 24-7-1966, đã xác định công việc

và các chuẩn mực hoạt động của kiểm toán viên bên ngoài một cách độc lập Đồng thời, kiểm toán viên nội bộ cũng đã xuất hiện một cách chính thức ở Pháp vào năm 1960 Trong các Công ty, chi nhánh của các tập đoàn ngoại quốc và các tổ chức Ngân hàng và được phát triển cùng với sự mở rộng quy mô của các công ty nhằm tăng cường sự ổn định và hiệu quả của các xí nghiệp

Năm 1965, hội kiểm soát viên nội bộ của Pháp được thành lập, sau trở thành viện nghiên cứu của kiểm toán viên và kiểm soát viên nội bộ của Pháp (IFACI) vào năm

1973 Trong lĩnh vực công cộng, kiểm toán cũng có nhiều bước phát triển Lúc đầu, kiểm toán nằm trong Uỷ ban đối chiếu tài khoản của các xí nghiệp công, đến năm 1976, Toà thẩm kế công bố đạo luật tài chính sửa đổi ngày 22-6-1976, giao việc đối chiếu các tài khoản và quản lý các xí nghiệp công

ở Việt Nam, kiểm toán còn là hoạt động rất mới mẻ Khái niệm kiểm toán mới chỉ được nhắc đến nhiều và sử dụng từ đầu thập niên 90 của thế kỷ 20 Sau khi Việt Nam chuyển đổi cơ chế kinh tế, kiểm toán độc lập đã được hình thành Sau đó kiểm toán Nhà nước cũng được thành lập Tuy nhiên, tiền thân của hoạt động này là kiểm tra kế toán

đã có từ ngày thành lập nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà Ngày 23-111945, Chủ tịch

Hồ Chí Minh đã ký sắc lệnh 64/SL thành lập tổ chức thanh tra đặc biệt trực thuộc Chính phủ, tiếp đó là sắc lệnh 57/SL ngày 4-6-1946 quy định tổ chức bộ máy các bộ, mà trong

đó lập ra các ban thanh tra Sắc lệnh 76/SL ngày 25-8-1946 về tổ chức bộ máy tài chính

và nha thanh tra tài chính thuộc bộ, khi đó đã quyết định nhiệm vụ của cơ quan tài chính

Hoạt động kiểm toán ra đời và phát triển gắn liền với bước trưởng thành của kế toán Việt Nam trong cơ chế thị trường Năm 1989, trước nhu cầu biến đổi có tính chất cách mạng trong cơ chế quản lý, cơ chế kinh tế của đất nước, sự thừa nhận một cách tất yếu của nền sản xuất hàng hoá, kinh tế thị trường và một cách quản lý tương đối phù hợp với nó, trong đó có việc sử dụng ngày càng hiệu quả các công cụ hạch toán và kiểm tra, kiểm soát, chế độ kế toán mới đã được ban hành thay thế cho chế độ kế toán cũ đã lạc hậu Thực tế, từ năm 1989 đến năm 1990, Bộ tài chính kết hợp với một số ngành hữu quan lần lượt cải tiến và ban hành một hệ thống các chế độ và văn bản pháp quy về

Trang 13

kế toán mới theo tinh thần kế thừa thành tựu của các chế độ kế toán trước đây Tuy nhiên, vẫn còn tồn tại một số nhược điểm của chế độ ban hành năm 1989, chưa bắt kịp với tình hình phát triển của nền kinh tế thị trường ở Việt Nam Do vậy, sau một thời gian soạn thảo, nghiên cứu và thử nghiệm, tháng 12-1995, Thủ tướng Chính phủ cho phép

Bộ tài chính ban hành hệ thống kế toán tài chính doanh nghiệp, hệ thống kế toán tài chính này bước đầu đã đáp ứng được yêu cầu quản lý vĩ mô của Nhà nước Đồng thời hoà nhập được thông lệ phổ biến của kế toán quốc tế, có tính đến điều kiện của Việt Nam Trong thời gian này, hệ thống kế toán ngân hàng, mà trước hết là kế toán của ngân hàng Nhà nước cũng được đổi mới căn bản phù hợp với yêu cầu của Ngân hàng thế giới (WORLD BANK-WB) và quỹ tiền tệ Quốc tế (IMF) Trong điều kiện đó, kiểm toán cũng có điều kiện xuất hiện như một tất yếu khách quan, công tác nội kiểm và kiểm toán

đã thể hiện những hạn chế lịch sử của nó, một chủ thể kiểm tra tách ra, đứng độc lập với

hệ thống tài chính, kế toán để giám định trở lại, qúa trình kiểm toán phải được hình thành

và phát triển theo đúng ý nghĩa, bản chất của nó, và cần có một hệ thống tổ chức thích đáng

Cho đến nay, hoạt động kiểm toán đã dần đi đúng quỹ đạo của nó và phát triển rất mạnh ở hầu khắp các nước trên thế giới Hiện nay, trên thế giới có những hãng kiểm toán, liên đoàn, Hội kiểm toán xuyên Quốc gia như: cơ quan kiểm toán tối cao Châu á ( ASOSAI), cơ quan kiểm toán tối cao Quốc tế (INTOSAI), và INCOSAI, hoạt động nổi tiếng vì đạt đến chuẩn mực nghiệp vụ, và kỹ năng nghề nghiệp trong kiểm toán Việt Nam đang trên con đường phát triển đất nước tiến tới hiện đại hoá - công nghiệp hoá, công tác kiểm toán cần được tăng cường và phát huy vai trò của nó, việc học hỏi kinh nghiệm kiểm toán của các tổ chức kiểm toán phát triển trên thế giới là một việc làm thiết thực, đưa kinh tế Việt Nam phát triển, hoà nhập với nền kinh tế thế giới

2 Bản chất của kiểm toán

- Khái niệm kiểm toán: Theo tác giả ALVIN AREN và JAMES K LOE Bbecker, phát biểu trong giáo trình kiểm toán hiện đại của mình: "Kiểm toán là quá trình

mà theo đó một cá nhân độc lập, có thẩm quyền thu thập và đánh giá các bằng chứng về các thông tin có thể định lượng có liên quan đến một tổ chức kinh tế cụ thể, nhằm mục

Trang 14

đích xác định và báo cáo mức độ phù hợp giữa các thông tin số lượng đó với các chuẩn mực đã được thiết lập "

Còn theo liên đoàn kế toán Quốc tế (IFAC) đã định nghĩa: “Kiểm toán là việc các kiểm toán viên độc lập kiểm tra và trình bày ý kiến của mình về bản báo cáo tài chính”

- Theo quan điểm chung nhất về kiểm toán, thể hiện tính đầy đủ về kiểm toán của các nhà kiểm toán chuyên nghiệp thế giới như sau: "Kiểm toán là một chức năng quản lý, là một quá trình mà trong đó, các kiểm toán viên có thẩm quyền, những người được đào tạo để có trình độ thích hợp, tiến hành một cách độc lập việc thu thập, xác minh, đánh giá các bằng chứng về các thông tin số lượng liên quan đến các hoạt động kinh tế - tài chính của một đơn vị và tổ chức kinh tế, nhằm xác định và báo cáo mức độ phù hợp của các thông tin số lượng đó với các chuẩn mực về kinh tế, về tài chính

và kế toán đã được thiết lập và được pháp luật thừa nhận”

- Từ định nghĩa trên đây, ta đi phân tích một số cụm từ chủ yếu để nói lên bản chất của kiểm toán

+ Thông tin số lượng và chuẩn mực đã được xây dựng:

Thông tin số lượng có thể được thể hiện dưới nhiều hình thức như: thông tin định lượng, thông tin về báo cáo tài chính của một công ty, lượng thời gian mà một công nhân cần để hoàn thành nhiệm vụ được giao, tổng chi phí theo một hợp đồng xây dựng của Nhà nước và bản khai thuế cá nhân có thể tiến hành kiểm toán được

Chuẩn mực để đánh giá thông tin số lượng cũng là những nguyên tắc, thể lệ, quy định pháp luật, chuẩn mực kế toán, các chuẩn mực được chọn sẽ sử dụng phụ thuộc vào các mục tiêu của cuộc kiểm toán

+ Tổ chức kinh tế: đối tượng kiểm toán của các kiểm toán viên bao giờ cũng được xác định, đó là phải kiểm toán tổ chức kinh tế nào, trong hầu hết các trường hợp tổ chức kinh tế cũng là những pháp nhân như: một Công ty cổ phần, một Ngân hàng thương mại,

Trang 15

tuy nhiên cũng có trường hợp là cá nhân, các phân xưởng Vì vậy kiểm toán viên cần phải xác định đơn vị, tổ chức kinh tế được kiểm toán là ai để có phương pháp và cách thức kiểm toán phù hợp

- Thu thập và đánh giá bằng chứng:

Bằng chứng được định nghĩa là mọi tài liệu thông tin mà kiểm toán viên đã sử dụng làm cơ sở để xác định xem thông tin số lượng đang được kiểm toán có được trình bày phù hợp với các chuẩn mực đã xây dựng hay không Bằng chứng được tồn tại dưới nhiều hình thức, có thể là những thông tin, lời khai của chính đối tượng được kiểm toán, cũng có khi là của bên ngoài, và có thể là nhận xét của kiểm toán viên

Việc thu thập đủ số lượng, chất lượng bằng chứng là rất quan trọng để thoả mãn các mục đích kiểm toán Quá trình thu thập và đánh giá bằng chứng phù hợp với các chuẩn mực đã xây dựng rất cần thiết của mọi cuộc kiểm toán

- Cá nhân độc lập có đủ khả năng chuyên môn và thẩm quyền: Tính độc lập là tiên quyết phải được đảm bảo khi kiểm toán Mặc dù tính độc lập chỉ là tương đối song nó phải là mục tiêu hướng tới của kiểm toán viên Kết quả kiểm toán thực sự không có ý nghĩa nếu một cá nhân có đủ thẩm quyền mà không vô tư thu thập chứng cứ Ngược lại, một kiểm toán viên phải có đủ thẩm quyền để được phép trong bất kỳ trường hợp nào cũng có thể kiểm toán

- Báo cáo: Khâu cuối cùng của quá trình kiểm toán là báo cáo kiểm toán - bản thông báo về các phát hiện cho người đọc báo cáo

Báo cáo có thể khác nhau về hình thức, bản chất, trong mọi trường hợp chúng đều phải thông tin cho người đọc về mức độ phù hợp giữa các thông tin số lượng và chuẩn mực đã xây dựng Để hiểu một cách đầy đủ và toàn diện hơn về bản chất của kiểm toán Hãy đi phân tích mối quan hệ và sự khác nhau căn bản của kiểm toán trong mối quan hệ với kế toán, thanh tra

* Mối quan hệ giữa kiểm toán với kế toán

Trang 16

- Kế toán: là quá trình ghi sổ, phân loại và tổng hợp các nghiệp vụ kinh tế một cách có hệ thống, nhằm mục đích cung cấp thông tin tài chính cho quá trình ra quyết định

Kế toán - với tư cách là một công cụ để quản lý nền tài chính Quốc gia nói chung

và công tác tài chính trong một doanh nghiệp , một tổ chức kinh tế nói riêng, hạch toán

kế toán đã đem lại những tác dụng to lớn trong việc tăng thu nhập, tiết kiệm chi phí trong quản lý kinh doanh, kinh tế tài chính có hiệu quả

Chức năng của hạch toán kế toán là cung cấp thông tin số lượng một số loại nhất định mà nhà quản lý và những người khác có thể sử dụng để ra quyết định

- Mặc dù các thông tin kinh tế mà hạch toán kế toán đã đưa ra là cơ sở cho việc ra quyết định của chủ doanh nghiệp, cơ sở cho việc hoạch định và thực thi các chính sách kinh tế, cơ sở cho các bộ phận bên ngoài doanh nghiệp quan tâm để ra quyết định kinh doanh Song thông tin nào là đúng đắn, là có căn cứ, có độ chính xác cao, điều này lại hoàn toàn phụ thuộc vào hệ thống kiểm tra, kiểm soát, kiểm toán Nhà nước, kiểm toán nội bộ cũng như hệ thống kiểm toán độc lập Điều này để lên giữa kiểm toán và kế toán có mối quan hệ hữu cơ với nhau, ở chỗ, nếu kế toán là quá trình ghi chép, phản ánh, tổng hợp và phân tích các nghiệp vụ kinh tế phát sinh thì kiểm toán lại là quá trình phân tích, nhận định, đánh giá, kiểm định, kết luận về độ chính xác của các thông tin đó Xét trên một khía cạnh nào đó của mối quan hệ này thì nhận thấy rằng: sẽ không có quá trình kiểm toán nếu không có kế toán, mặt khác

những thông tin mà kế toán đã đưa ra thông qua quá trình hạch toán các nghiệp vụ kinh tế phát sinh không được kiểm toán viên kiểm tra, xác nhận tính trung thực, đúng đắn thì những thông tin ấy chưa hẳn đã đảm bảo tính pháp lý, hợp thức cao của nó

Hiện nay, hoạt động kiểm toán còn rất mới mẻ cho nên việc lầm lẫn giữa hai khái niệm này là không thể tránh khỏi Vì vậy thông qua quá trình nghiên cứu và phân tích

có hệ thống, có khoa học thì sẽ đảm bảo được sự hiểu biết chính xác về hai loại công

cụ quản lý kinh tế này

* Sự khác biệt giữa kiểm toán với thanh tra:

Trang 17

Mặc dù hai hoạt động: thanh tra, kiểm toán đều là một trong những yếu tố cấu thành sự lãnh đạo và quản lý của Nhà nước, có chức năng kiểm tra, kiểm soát, xác nhận

sự đúng đắn trong hoạt của đối tượng kiểm tra, tuy nhiên về cách thức tổ chức hoạt động

và về bản chất cơ bản là khác nhau, cụ thể:

- Về cách thức tổ chức:

+ Thanh tra: hệ thống thanh tra kế toán tài chính được tổ chức theo ngành dọc từ Trung ương đến địa phương và gắn liền với các tổ chức tài chính, gồm:

./ Thanh tra Nhà nước: là cơ quan của Chính phủ

./ Thanh tra tài chính: là một ban từ Trung ương xuống địa phương và nằm trong ngành tài chính

./ Trong tổ chức của Đảng và công đoàn cũng có hệ thống kiểm tra từ Trung ương đến địa phương nằm trong các tổ chức đó

./ Thanh tra của các ngành quản lý

+ Kiểm toán: hệ thống kiểm toán được tổ chức theo hướng tập trung thống nhất, bao gồm:

./ Hệ thống kiểm toán Nhà nước với mục đích là kiểm tra tài chính công, trong

đó chủ yếu kiểm tra tính đúng đắn, hợp pháp của các hoạt động thu, chi ngân sách và chi tiêu tài chính do ngân sách cấp, qua đó xác nhận số liệu báo cáo làm cơ sở cho các cấp thanh quyết toán, thu chi ngân sách

./ Hệ thống kiểm toán độc lập: cung cấp các dịch vụ kiểm toán theo yêu cầu của khách hàng với nhiều mục đích khác nhau hoạt động của kiểm toán độc lập có tác dụng lớn giúp cho các đơn vị thực hiện tốt công tác tài chính kế toán, đảm bảo tính khách quan, trung thực của số liệu, tài liệu kế toán và quyết toán

Trang 18

./ Hệ thống kiểm toán nội bộ: là việc kiểm toán trong nội bộ từng ngành, từng đơn vị do bộ máy kế toán của ngành, đơn vị tiến hành đối với các đơn vị và bộ phận trực thuộc nhằm đảm bảo yêu cầu quản lý và hạch toán của bản thân ngành và đơn vị

và tài chính Quốc gia

/ Điều tra công việc, vụ việc có liên quan đến các vấn đề về tài chính kế toán trước khiếu nại, khiếu tố của công dân, hoạt động chủ yếu của thanh tra là thanh tra theo

Như vậy, về mặt bản chất kiểm toán không phải là thanh tra nhưng thanh tra, kiểm tra lại là chức năng cơ bản của kiểm toán Nếu thanh tra được tiến hành theo vụ việc, theo yêu cầu thì kiểm toán là hoạt động có tính chất thường xuyên hơn, mọi công việc kiểm toán đều được tổ chức theo một trình tự khái quát từ việc chuẩn bị, đến lập kế

Trang 19

hoạch và thực hiện kiểm toán, và được thực hiện bởi những kiểm toán viên trong hệ thống bộ máy kiểm toán

Mặc dù việc thực hiện các biện pháp quản lý sai phạm không thuộc chức năng, nhiệm vụ của kiểm toán, nhưng chức năng kiểm tra, xác nhận, đánh giá và kết luận về đối tượng kiểm toán lại xác lập cho hoạt động kiểm toán tính độc lập, chủ động và khách quan rất cao Từ đó có những kiến nghị thoả đáng với cấp có thẩm quyền để có quyết định đúng đắn trong quản lý, điều hành sản xuất kinh doanh

3 Vai trò của kiểm toán trong nền kinh tế thị trường

Hoạt động của bất kỳ một Quốc gia, một tổ chức kinh tế nào đều nhằm tiến tới

sự hoàn thiện và sự phát triển cao , tuy nhiên đây là một lý tưởng, bởi lẽ sự biến động của môi trường kinh tế - xã hội là tất yếu xảy ra và có tác động tích cực hay tiêu cực tới kết quả hoạt động của quốc gia, của tổ chức kinh tế đó

Nói như vậy để khẳng định rằng, những kết quả và những hậu quả của một quá trình hoạt động và phát triển của một pháp nhân, một chủ thể kinh tế là tất yếu Sự thất thoát tài sản, sự xụp đổ một chế độ, đổ vỡ chiến lược kinh doanh và những thành tựu kinh tế đạt được là hai mặt đối lập luôn tồn tại trong một thể thống nhất Vấn đề đặt ra

là, làm thế nào để hạn chế tới mức thấp nhất những rủi ro có thể xảy ra đối với các chủ thể kinh tế trong hoạt động và phấn đấu trên con đường tiến tới mục đích của mình

Câu hỏi này được đặt ra không chỉ đối với các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền

mà là vấn đề quan tâm chung của toàn xã hội Nhận thức được điều này, các nhà quản

lý và hoạch định chính sách kinh tế ở tầm Quốc gia và xuyên Quốc gia đã xây dựng và

áp dụng các công cụ quản lý kinh tế - xã hội Trong đó, kiểm toán là một công cụ quan trọng không thể thiếu trong hệ thống các công cụ quản lý nền tài chính, tiền tệ, ổn định chính trị xã hội Quốc gia, Quốc tế

Trang 20

Nhìn vào hậu quả của cuộc khủng hoảng kinh tế tài chính, tiền tệ ở khu vực Đông Nam á, nhiều nhà kinh tế, đặc biệt là các chuyên gia kinh tế của ngân hàng phát triển Châu á, ngân hàng thế giới, đã đưa ra một số nhận định liên quan đến công tác quản lý

và tổ chức hoạt động của các công ty kiểm toán Họ cho rằng các doanh nghiệp có thị trường xuất khẩu lớn ở hầu hết các nước thuộc khu vực Đông Nam á, do bị mất thị phần dẫn đến doanh thu giảm và lâm vào tình trạng khủng hoảng về tài chính nhưng đã không 3.1.1 Thang đo

Đề tài này nghiên cứu về sự thỏa mãn công việc của nhân viên văn phòng, đây là một dạng nghiên cứu thái độ của con người về một khía cạnh nào đó trong cuộc sống

Để xem xét đánh giá được thái độ của người trả lời, trong trường hợp này là sự thỏa mãn công việc thì người nghiên cứu có thể lựa chọn hai dạng câu hỏi trong bảng câu hỏi của mình Dạng câu hỏi đầu tiên là câu hỏi dạng mở, nghĩa là người trả lời có thể tùy theo ý kiến của mình mà trả lời về cảm nhận của họ về sự thỏa mãn công việc của họ Dạng câu hỏi thứ hai là dạng câu hỏi đóng, nghĩa là người thiết kế bảng câu hỏi sẽ đưa ra luôn những lựa chọn trả lời với các tuyên bố về thái độ của người trả lời như hoàn toàn đồng

ý, đồng ý, không chắc, không đồng ý, hoàn toàn không đồng ý

Ví dụ thay vì hỏi câu hỏi dưới dạng về mở “Anh/ chị cảm thấy lương của mình nhận được từ công ty như thế nào?” thì ta có thể hỏi câu hỏi dưới dạng đóng “Mức lương của anh/chị hiện nay là phù hợp với năng lực và đóng góp của anh/ chị đối với công ty” kèm theo năm lựa chọn trả lời là: hoàn toàn đồng ý, đồng ý, không ý kiến, không đồng

ý và hoàn toàn không đồng ý Với dạng câu hỏi đầu tiên, chúng ta sẽ nhận được các câu trả lời khác nhau và hầu như là mỗi người trả lời một cách Điều này khiến ta không kiểm soát được câu trả lời của họ và cũng khó có thể lượng hóa hay rút ra được một kết luận chung về vấn đề mức lương của họ Với dạng câu hỏi thứ hai và với câu trả lời có sẵn, khi nhận được câu trả lời chúng ta sẽ thấy được rõ hơn về đánh giá của người trả lời đối với mức lương của họ hiện nay

Như vậy sử dụng câu hỏi đóng trong nghiên cứu thái độ nói chung là thuận lợi hơn Ngoài ra, vì một trong những mục tiêu của đề tài này là tìm hiểu, xác định mức độ thỏa mãn công việc nên việc sử dụng câu hỏi dạng đóng với các lựa chọn trả lời dạng thang đo Likert là phù hợp nhất Với câu trả lời của người trả lời dưới dạng thang đo

Trang 21

này, ta sẽ thấy được sự thỏa mãn công việc của người nhân viên ở từng khía cạnh, từng nhân tố trong công việc ở mức thỏa mãn hay không thỏa mãn và ở mức độ nhiều hay ít (đối với Likert năm và bảy mức độ) Đồng thời, vì thang đo Likert là thang đo khoảng nên ta có thể sử dụng số liệu thu thập được để xử lý, phân tích định lượng để xác định mối quan hệ tương quan, quan hệ tuyến tính giữa các biến nói chung, cũng như giữa các biến độc lập và biến phụ thuộc

Tuy nhiên để đảm bảo tính phù hợp của thang đo, theo Kumar (2005) cần giải quyết hai vấn đề sau:

- Ai là người quyết định thang đo nào được sử dụng để đo lường cái cần đo?

- Làm thế nào để biết được một công cụ nào đó phù hợp dùng để được cái cần đo?

Câu trả lời cho câu hỏi thứ nhất chính là các nhà nghiên cứu chuyên gia trong lĩnh vực liên quan Đối với đề tài này đó là các nhà nghiên cứu về sự thỏa mãn công việc Đó là Smith, Kendall và Hullin, những người đã dùng thang đo Likert để đo lường

sự thỏa mãn công việc của người lao động ở năm nhân tố gồm bản chất công việc, tiền lương, thăng tiến, đồng nghiệp, và sự giám sát của cấp trên Đề tài nghiên cứu này về cơ bản cũng sử dụng thang đo Likert để đo lường sự thỏa mãn công việc của nhân viên Tuy nhiên, một số nhân tố được thay đổi chút ít về tên gọi cũng như nội dung Nhân tố

‘tiền lương’ được đổi thành ‘thu nhập’, nhân tố ‘thăng tiến’ được đổi thành ‘đào tạo thăng tiến’ Việc lấy tên mới trên nhằm mở rộng và bao quát hóa các nhân tố của sự thỏa mãn công việc Ngoài ra, trên cơ sở nghiên cứu của các chuyên gia và các nhà nghiên cứu khác trong lĩnh vực này và xem xét tình hình cụ thể ở Việt Nam, hai nhân tố khác cũng theo thang đo Likert là điều kiện làm việc và phúc lợi công ty đã được thêm vào để xem xét và kiểm định tính phù hợp của nó

Câu hỏi thứ hai rất quan trọng, có hai phương pháp để tạo dựng nên tính phù hợp của một công cụ nghiên cứu, đó là dùng lập luận logic và dùng bằng chứng thông

kê Rõ ràng dùng phương pháp thứ hai thì thuyết phục hơn Trong thực tế từ các

nghiên cứu liên quan đến sự thỏa mãn công việc thì thang đo Likert đã được các nhà nghiên cứu sử dụng rộng rãi và thừa nhận tính phù hợp của nó

Trang 22

Về độ tin cậy của công cụ đo lường, hệ số alpha của Cronbach sẽ được sử dụng

để kiểm định độ tin cậy của các biến (câu hỏi) được sử dụng trong bảng câu hỏi Ngoài

ra, phân tích nhân tố cũng được tiến hành để kiểm định tính đơn khía cạnh của các câu hỏi trong nhóm thuộc từng khía cạnh (nhân tố)

Bảng 3-1 Các thang đo được sử dụng trong bảng câu hỏi nghiên cứu

Thông tin phân loại

Loại hình doanh nghiệp Định danh

Thông tin về sự thỏa mã n từng khía cạnh chi tiết trong công việc

Đánh giá chi tiết về mức

Các chỉ số đánh giá về đặc điểm công việc

Các chỉ số đánh giá về điều kiện làm việc

Các chỉ số đánh giá về phúc lợi công ty

Thông tin về sự độ thỏa mãn của từng nhân tố

Trang 23

Hài lòng về đặc điểm công việc

Hài lòng về điều kiện làm việc

Hài lòng về phúc lợi công ty

3.1.2 Chọn mẫu

3.1.2.1 Tổng thể

Tổng thể của khảo sát này là toàn bộ nhân viên văn phòng làm việc tại TP.HCM Như đã định nghĩa ở phần mở đầu của đề tài, nhân viên văn phòng trong nghiên cứu này sẽ bao gồm toàn bộ những người làm việc ăn lương, tức không phải làm chủ doanh nghiệp, hầu hết thời gian làm việc của họ là ở trong văn phòng, nơi công tác có thể là các tổ chức, công ty, chi nhánh, văn phòng đại diện, phòng giao dịch, v.v đặt tại TP.HCM Như vậy, tổng thể của khảo sát này là tất cả những người thỏa đủ ba đặc điểm

là nhân viên văn phòng, làm công ăn lương và nơi làm việc là TP.HCM

3.1.2.2 Phương pháp chọn mẫu

Để đạt được các mục tiêu nghiên cứu đã đề ra ở phần mở đầu của đề tài, thiết kế chọn phi xác suất với hình thức chọn mẫu ngẫu nhiên thuận lợi đã được sử dụng và được xem là hợp lý để tiến hành nghiên cứu đề tài này Lý do để lựa chọn phương pháp chọn mẫu này vì người trả lời dễ tiếp cận, họ sẵn sàng trả lời bảng câu hỏi nghiên cứu cũng như ít tốn kém về thời gian và chi phí để thu thập thông tin cần nghiên cứu

Theo Cooper và Schindler (1998), lý do quan trọng khiến người ta sử dụng phương pháp chọn mẫu phi xác suất là tính tiết kiệm về chi phí và thời gian Về mặt này thì phương pháp chọn mẫu phi xác suất vượt trội so với chọn mẫu xác suất Ngoài ra, hai tác giả cũng nhắc nhở rằng chọn mẫu xác suất không phải lúc nào cũng đảm bảo tính chính xác và trong một số trường hợp chọn mẫu xác suất là không thể thực hiện được Tuy nhiên hai tác giả này cũng khẳng định nhược điểm lớn nhất của phương pháp chọn mẫu phi xác suất là sự chủ quan thiên vị trong quá trình chọn mẫu và sẽ làm méo mó biến dạng kết quả nghiên cứu Giáo sư Tiến sĩ Nguyễn Thị Cành (2007) cho rằng chọn mẫu phi xác suất là dễ phác thảo và thực hiện nhưng nó có thể cho kết quả sai lệch bất chấp sự phán đoán của chúng ta, do ngẫu nhiên nên có thể chúng không đại diện cho tổng thể

Trang 24

Vì đây là nghiên cứu khám phá cùng với phân tích như trên, phương pháp chọn mẫu phi xác suất với hình thức chọn mẫu thuận tiện là phù hợp nhất Các bảng câu hỏi nghiên cứu sẽ được gửi trực tiếp đến bạn bè, người quen để trả lời đồng thời cũng nhờ những người này gửi cho bạn bè của họ để trả lời thêm cho đến khi đạt được số lượng mẫu cần thiết

+ Kiểm tra và xác nhận chất lượng, độ tin cậy của các thông tin kinh tế, tài chính của báo cáo tài chính, báo cáo kế toán quản trị doanh nghiệp trước khi trình ký duyệt và công bố

+ Kiểm tra và đánh giá sự tuân thủ các nguyên tắc hoạt động, quản lý kinh doanh đặc biệt sự tuân thủ luật pháp, các chính sách, chế độ kế toán, các nghị quyết, quyết định của hội đồng quản trị, Ban Giám đốc của tổ chức kinh tế đó

+ Phát hiện những sơ hở, yếu kém, gian lận trong quản lý và trong bảo vệ tài sản,

đề xuất các giải pháp nhằm cải tiến, hoàn thiện hệ thống quản lý điều hành kinh doanh của doanh nghiệp

Phụ lục các công ty kiểm toán độc lập ở Việt Nam và bảng kê phận loại kiểm toán

Các công ty kiểm toán độc lập ở Việt Nam

Công ty 100% vốn

nước ngoài

Công ty liên doanh Công ty của Việt Nam

Nhà nước Trách nhiệm hữu hạn

Trang 25

-C&L&AISC (1995)

VACO (1991) -AASE (1991)

-AFSC (1994)

-DAC (1994)

-HALO CO -Công ty Thuỷ Chung

-HBP

-Hoaàng gia

Phân biệt các loại kiểm toán

Chỉ tiêu Kiểm toán

Nhà nước

Kiểm toán độc lập

Kiểm toán nội bộ

Chủ thể tiến hành Cơ quan kiểm toán

Nhà nước

Công ty kiểm toán

Bộ phận kiểm toán trong doanh nghiệp, tổ chức kinh tế,tổ chức tín dụng

Kiểm toán viên Viên chức Nhà nước Hành nghề độc

Trang 26

Theo yêu cầu của GĐ

Kinh phí kiểm

toán

Không có Có kinh phí không có

Trách nhiệm Với Nhà nước Với bên thứ ba với GĐ

Báo cáo (trình

cho)

Nhà nước Công khai cho

các đơn vị liên quan đến doanh nghiệp

Dành cho GĐ

4.2 Các bước tiến hành một cuộc kiểm toán

Khi tiến hành một cuộc kiểm toán, dù cuộc kiểm toán được tiến hành bởi chủ thể nào thì cũng phải tuân theo một trình tự nhất định của cuộc kiểm oán, phải đảm bảo tính khoa học và logic kể từ khi xuất hiện yêu cầu kiểm toán đến khi kết thúc cuộc kiểm toán

Chuẩn mực về trình tự một cuộc kiểm toán chung áp dụng ở Việt Nam chưa được thông qua mặc dù trình tự kiểm toán Nhà nước và kiểm toán nội bộ đã được phê chuẩn, tuy nhiên nhận thức được tầm quan trọng của chất lượng kiểm toán ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp tới những quyết định trong quản lý, trong kinh doanh cũng như trong đầu

tư của các bên quan tâm, trình tự kiểm toán phải đảm bảo được những nguyên tắc sau

cơ bản sau:

- Đảm bảo đầy đủ công việc để kiểm toán một nội dung nào đó

- Phải đảm bảo trình tự các công việc của cuộc kiểm toán kể từ khi

có quyết định kiểm toán đến khi kết thúc cuộc kiểm toán và những công việc sau kiểm toán

Trình tự cuộc kiểm toán phải khoa học, logic, phù hợp với nội dung kiểm toán và đối với từng đối tượng được kiểm toán

Trang 27

ki

Việc tuân thủ những nguyên tắc trên, không những đảm báo chất lượng cuộc ểm toán mà còn đảm bảo cho cuộc kiểm toán đó đạt được tính kinh tế, tính hiệu quả nhất định và đây là yêu cầu cao nhất của bất kỳ một chủ thể nào khi tiến hành kiểm toán

Từ sự phân tích trên đây thì quy trình một cuộc kiểm toán bao gồm 4 bước như sau:

- Lập kế hoạch và chương trình kiểm toán

- Tiến hành kiểm toán

- Lập báo cáo kiểm toán - Theo dõi sau kiểm toán

a Lập kế hoạch và chương trình kiểm toán:

- Mục đích và tác dụng: trợ giúp cho công tác kiểm toán đạt chất lượng, đúng thời hạn, kế hoạch kiểm toán thích hợp sẽ giúp cho kiểm toán viên xác định đúng trọng tâm vấn đề cần thiết, có những chú ý và tránh được sai sót, tiết kiệm thời gian và tạo điều kiện tổ chức, phối hợp công việc giữa các thành viên tham gia kiểm toán cũng như sử dụng hiệu quả kinh nghiệm các chuyên gia, cho phép thu thập đầy đủ những bằng chứng để đưa ra các ý kiến xác đáng

- Nội dung của kế hoạch, chương trình kiểm toán : + Tiến hành điều tra và phân tích rủi ro

+ Xác định mục đích, yêu cầu của cuộc kiểm toán

+ Xác định nội dung và phạm vi của cuộc kiểm toán

+ Xác định phương pháp, kỹ thuật kiểm toán, xác định thời gian kiểm toán từ khi bắt đầu đến khi lập báo cáo kiểm toán

+ Chuẩn bị nhân sự cho kiểm toán

Trang 28

- Các bước lập kế hoạch và chương trình kiểm toán

+ Kế hoạch sơ bộ

+ Kế hoạch tổng thể và kế hoạch chi tiết

+ Chương trình kiểm toán

Chương trình kiểm toán là một bước rất quan trọng của quá trình lập kế hoạch kiểm toán vì chương trình kiểm toán chính là việc rà soát lại những nội dung, những vấn

đề của một cuộc kiểm toán, sắp xếp các nội dung đó theo một trình tự nhất định đảm bảo tính đầy đủ và khoa học của kế hoạch kiểm toán, tạo những tiền đề cơ bản cho bước thực hiện kiểm toán để cuộc kiểm toán đạt chất lượng cao

Nội dung của chương trình kiểm toán với những vấn đề theo trình tự sau:

- Thu thập thông tin về các bộ phận và phác thảo chương trình kiểm toán

- Đối chiếu lại với kế hoạch kiểm toán xem có thích hợp không

- Lựa chọn trình tự kiểm toán

- Đánh giá xem lựa chọn trình tự kiểm toán có đúng đắn không

- Lập chương trình kiểm toán cụ thể

b Thực hiện kiểm toán:

- Sau các công việc chuẩn bị cho cuộc kiểm toán, kiểm toán viên dựa vào kế hoạch chương trình kiểm toán đã hoạch định, vận dụng các phương pháp, kỹ thuật để tiến hành kiểm toán

Quá trình kiểm toán thực chất là quá trình kiểm toán viên vận dụng thực hiện các nội dung của phương pháp và kỹ thuật kiểm toán nhằm thu thập đầy đủ các bằng chứng kiểm toán có độ tin cậy cao và có giá trị để làm cơ sở cho việc lập báo cáo kiểm toán

Trang 29

+ Định kỳ phải tổng hợp kết quả kiểm toán

c Hoàn tất và lập báo cáo kiểm toán

Lập và công bố báo cáo kiểm toán và lưu trữ hồ sơ kiểm toán: là quá trình kiểm toán viên tổng hợp công bố và lưu trữ những kết quả làm việc của đoàn kiểm toán về những nội dung kiểm toán trên cơ sở những bằng chứng kiểm toán thu thập được, những vấn đề phát hiện được, những ý kiến, nhận xét và đánh giá, kết luận đồng thời đưa ra các kiến nghị đối với đơn vị được kiểm toán cũng như đối với các cơ quan quản lý Nhà nước trong quản lý kinh tế nhằm hoàn chỉnh và đổi mới cơ chế, chính sách của Nhà nước

Báo cáo kiểm toán: là sản phẩm của quá trình kiểm toán, vì vậy, khi lập báo cáo kiểm toán phải tuân thủ những tiêu chuẩn, chuẩn mực nhất định, trong đó, yêu cầu của báo cáo kiểm toán phải lập thành văn bản, một báo cáo kiểm toán phải có đầy đủ các yếu tố cơ bản sau:

./ Tiêu đề

./ Địa chỉ gửi báo cáo đi (gửi cho ai?)

./ Căn cứ pháp lý của cuộc kiểm toán

Trang 30

./ Xác định nội dung công việc kiểm toán (kiểm toán về vấn đề gì)

./ Xác định đối tượng kiểm toán (phòng nào, bộ phận nào trong cơ quan) Kết quả kiểm toán trên các nội dung, ý kiến nhận xét và các kiến nghị của kiểm toán viên

Ký tên, ngày ký và lập báo cáo kiểm toán

- Các bước lập báo cáo kiểm toán:

+ Chuẩn bị lập báo cáo kiểm toán: thu thập, tổng hợp bằng chứng kiểm toán + Soạn thảo báo cáo kiểm toán thông qua dự thảo báo cáo

+ Xét duyệt và công bố kết quả kiểm toán

+ Phát hành BCKT

+ Lưu trữ hồ sơ BCKT

* Các loại báo cáo kiểm toán:

Báo cáo chấp nhận toàn bộ

- Báo cáo chấp nhận từng phần

- Báo cáo ý kiến đối ngược

- Báo cáo ý kiến từ bỏ

d Theo dõi sau kểm toán:

Theo dõi sau kiểm toán là quá trình kiểm tra đơn vị được kiểm toán thực hiện kiến nghị của đoàn kiểm toán hoặc bộ phận kiểm toán nội bộ như thế nào? Có coi trọng các kiến nghị này hay không và đã làm đến đâu? Bằng các phương pháp điều tra trực

Trang 31

4.3 Các phương pháp, kỹ thuật sử dụng trong quá trình kiểm toán

Khi tiến hành cuộc kiểm toán, các kiểm toán viên và các đoàn kiểm toán có thể

sử dụng nhiều phương pháp khác nhau để thu thập bằng chứng kiểm toán, xác minh và đánh giá các thông tin kinh tế, sau đây là một số phương pháp kiểm toán chủ yếu có thể lựa chọn trong quá trình kiểm toán để đạt được mục tiêu của cuộc kiểm toán

a Phương pháp kiểm toán cơ bản:

Khái niệm: là phương pháp dùng để thu thập bằng chứng về mức độ trung thực, hợp lý của những số liêu kế toán

Phương pháp này bao gồm hai bộ phận: phương pháp phân tích và phương pháp

ểm tra chi tiết nghiệp vụ và số dư

- Phương pháp phân tích: là việc so sánh các thông tin, nghiên cứu các mối quan hệ bằng các tỷ lệ, các chỉ số để phát hiện và nghiên cứu về các trường hợp bất thường, chẳng hạn mối quan hệ:

+ Vốn bằng tiền và tài sản lưu động của đơn vị được kiểm toán, tỷ suất này > 0.1

và < 0.5 thì đảm bảo tồn quỹ tiền mặt không quá lớn mà vẫn đảm bảo khả năng thanh khoản

Trang 32

+ Mối quan hệ giữa thông tin tài chính và thông tin phi tài chính: chi phí nhân công và số lượng lao động

+ Sử dụng phương pháp phân tích để kế hoạch kiểm toán khoa học, giúp kiểm toán viên sử dụng thông tin tài chính và phi tài chính, có phạm vi rộng về việc thu thập các bằng chứng để phân tích, nhận xét và củng có thông tin nhằm đưa ra ý kiến xác đáng trong báo cáo kiểm toán Sử dụng phương pháp phân tích để xét lại tổng thể các thông tin từ đó đi đến kết luận một cách tổng quát về tính hợp lý của các thông tin đó

- Phương pháp kiểm tra chi tiết nghiệp vụ và số dư

Phương pháp này thường được sử dụng để kiểm tra các đối tượng riêng lẻ nhằm nhấn mạnh vào chiều sâu của các vấn đề hoặc các dfdối tượng có quy mô nhỏ, cá nghiệp

vụ không phức tạp, tuy nhiên phương pháp này có thể xảy ra những rủi ro nằm trong mối tương quan giữa các đối tượng, đồng thời tốn kém về nhân lực và thời gian

b Phương pháp kiểm tra, kiểm soát:

Khái niệm: là phương pháp thực hiện các thử nghiệm để thu thập các bằng chứng kiểm toán, đảm bảo rằng hệ thống kiểm soát nội bộ mà kiểm toán viên dựa vào để kiểm ttoán là một hệ thống có hiệu quả

Phương pháp này được sử dụng dựa vào hệ thống kiểm soát nội bộ là chủ yếu, để kiểm tra tính hiệu lực, hiệu quả của hệ thống này, tồn tại có phải chỉ là hình thức hay không để từ đó những ý kiến, những kiến nghị phù hợp

c Phương pháp kiểm toán cân đối:

- Khái niệm: là phương pháp dựa trên các cân đối kế toán và các cân đối khác để kiểm toán các mối quan hệ nội tại của các yếu tố cấu thành các quan hệ cân đối đó

Trang 33

d Phương pháp đối chiếu:

Bao gồm phương pháp đối chiếu trực tiếp và phương pháp đối chiếu logic

- Phương pháp đối chiếu trực tiếp: là phương pháp kiểm toán mà kiểm toán viên tiến hành so sánh đối chiếu về mặt lượng của cùng một chỉ tiểu trên các tài liệu khác nhau (các chứng từ kiểm toán ) để tìm ra các sai sót, gian lận về chỉ tiêu đó

- Phương pháp đối chiếu logic: là việc nghiên cứu các mối liên hệ bản chất giữa các chỉ tiêu có quan hệ với nhau thông qua việc xem xét mức biến động tương ứng

về trị số của các chỉ tiêu có quan hệ kinh tế trực tiếp, song có thể có mức biến động khác nhau theo các hướng khác nhau

đ Phương pháp kiểm kê:

Phương pháp kiểm kê là phương pháp kiểm tra hiện vật các loại tài sản nhằm thu thập các thông tin về số lượng, giá trị của tài sản đó Để đảm bảo hiệu quả của công tác kiểm kê, kiểm toán viên cần vào tính chất của các loại vật tư, tài sản: số lượng, giá trị, đặc tính kinh tế

- Kỹ thuật sử dụng phương pháp này: kiểm kê toàn diện hoặc kiểm kê điển hình, kểm kê chọn mẫu

e Phương pháp điều tra:

Là phương pháp kiểm toán mà theo đó bằng các cách khác nhau, kiểm toán viên tiếp cận đối tượng kiểm toán nhằm tìm hiểu, thu thập các thông tin cần thiết về tình huống, thực chất, thực trạng của một số sự vụ, bổ sung căn cứ cho viẹc đưa ra những đánh giá, nhận xét hay kết luận kiểm toán

f Phương pháp thực nghiệm (còn gọi là phương pháptrắc nghiệm)

Là phương pháp tái diễn các hoạt động hoặc các nghiệp vụ để xác minh lại kết quả của một quá trình, một sự việc đã qua hoặc sử dụng thủ pháp kỹ thuật, nghiệp vụ để

Trang 34

tiến hành phép thử nhằm xác định một cách khách quan chất lượng công việc, mức độ chi phí

- Phương pháp này thường được áp dụng khi đã thu thập một lượng thông tin nhất định về đối tượng kiểm toán và thường được sử dụng kết hợp với các phương pháp khác như: điều tra, kiểm kê

g Phương pháp chọn mẫu kiểm toán :

Phương pháp này cũng có thể coi là một kỹ thuật điển hình khi kiểm toán

- Khái niệm: Chọn mẫu là việc kiểm toán viên chọn các phần tử "đại diện"

có đặc điểm như tổng thể, đủ độ tiêu biểu cho tổng thể, làm cơ sở cho kiểm tra, đánh giá, rút ra kết luận về tổng thể

- Phương pháp áp dụng: chọn ngẫu nhiên, chọn theo xét đoán, ước tính, chọn

hệ thống trên cơ sở phân cấp, có thể chọn bằng máy vi tính

Khi lựa chọn các phương pháp kiểm toán, không nhất thiết phải chọn một phương pháp mà kiểm toán viên có thể lựa chọn, quyết định sử dụng phối hợp một số các phương

pháp kiểm toán để có được những kết quả cao nhất, tuy nhiên cũng phải nghiên cứu xem

kết hợp phương pháp nào với phương pháp nào cho phù hợp, tránh sử dụng phương pháp kiểm kê với phương pháp chọn mẫu vì nếu chưa đủ độ tin cậy của các thông tin thì không nên sử dụng phương pháp chọn mẫu, trong khi đó, sử dụng phương pháp kiểm kê là để nắm bắt mọi thông tin về đối tượng kiểm toán

II KIểM TOáN ngân hàng thương mại TRONG NềN KINH Tế THị TRƯờNG:

1 Sự cần thiết phải kiểm toán ngân hàng :

Theo pháp lệnh Ngân hàng, Hợp tác xã tín dụng và tổ chức kinh tế 23-5-1990, pháp lệnh quy định:

- “NHTM là tổ chức kinh doanh tiền tệ mà hoạt động chủ yếu thường xuyên là nhận tiền gửi của khách hàng với trách nhiệm hoàn trả và sử dụng số tiền đó để cho vay, thực hiện nhiệm vụ chiết khấu và làm phương tiện thanh toán.’

Trang 35

Ngân hàng thương mại và những trung gian tài chính nói chung cũng như các doanh nghiệp khác tổ chức mọi hoạt động để kinh doanh kiếm lợi nhằm tồn tại, phát triển

và thịnh vượng

Tuy nhiên, ngân hàng thương mại khác các tổ chức kinh tế khác ở chỗ nó kinh doanh một mặt hàng đặc biệt là tiền tệ và dịch vụ ngân hàng Hoạt động của ngân hàng chứa rất nhiều rủi ro, không những là rủi ro mất vốn tự có của ngân hàng mà còn có rủi

ro do mất vốn của khách hàng Vì vậy, khi có rủi ro xảy ra đối với ngành ngân hàng cũng

có nghĩa là rủi ro đối với cả kinh tế, bởi lẽ hoạt động của ngân hàng liên quan đến mọi

đối tượng trong nền kinh tế, kết quả hoạt động của ngành ngân hàng chi phối đến kết

quả, triển vọng của các doanh nghiệp, các tổ chức, cá nhân liên đới với ngân hàng

Trong hoạt động ngân hàng, tổn thất trong kinh doanh là điều khó tránh khỏi

Việc bảo vệ an toàn vốn tiền gửi của khách hàng và đảm bảo an toàn vốn đầu tư không những đựơc các nhà kinh doanh tiền tệ quan tâm mà còn là mối quan tâm của toàn xã hội Đứng trên tầm vĩ mô thì trách nhiệm của cơ quan quản lí Nhà nước là vô cùng lớn đối với sự an toàn và phát triền của hệ thống Ngân hàng và phát triển thương mại Vì lẽ

đó, Nhà nước đã tăng cường càc công cụ quản lý của mình đối với các Ngân hàng thương mại bằng việc xây dựng hành lang pháp lý bảo vệ hoạt động Ngân hàng, tổ chức các hoạt động kiểm tra kiểm soát các Ngân hàng thương mại nhằm hạn chế đến mức thấp nhất

những rủi ro có thể xảy ra

Mặt khác NHTM là các đơn vị được hoạt động được cấp vốn bởi ngân sách Nhà nước cho nên cũng là đối tượng thường xuyên phải kiểm toán của kiểm toán Nhà nước, kiểm toán Nhà nước thường kiểm tra việc sử dụng nguồn vốn Nhà nước cấp cho các ngân hàng thương mại, tình hình chấp hành cơ chế quản lý tổ chức của Nhà nước, của pháp

luật

Cũng xuất phát từ nhu cầu tìm hiểu thông tin về Ngân hàng, là đối tương mà các chủ thể kinh tế muốn đầu tư, đảm bảo quyền lợi cho họ trong quan hệ giao dịch, liên doanh, liên kết, đòi hỏi phải dựa trên những thông tin có đủ độ tin cậy để giúp họ đưa ra những quyết định đúng đắn Vì vậy kiểm toán ngân hàng là cần thiết, là một nhu cầu tất yếu được đáp ứng đối với các đối tượng quan tâm, là một công cụ quan trọng của Nhà nước để quản lý và giám sát đối với hoạt động của hệ thống Ngân hàng, là cơ sơ cho việc

Trang 36

thực thi, xây dựng các chính sách kinh tế của Nhà nước, là một mảng công việc của kiếm toán Nhà nước nhằm hoàn thành nhiệm vụ được giao trong năm ngân sách trong việc kiểm tra, kiểm toán việc sử dụng, quản lý ngân sách Nhà nước tại từng ngân hàng trong

hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam

2 Những hình thức kiểm toán trong ngân hàng thương mại

Ngày nay, một ngân hàng đang chịu sự chi phối của các hình thức kiểm toán sau: kiểm toán Nhà nước, kiểm toán độc lập, kiểm toán nội bộ

Sự tất yếu tồn tại kiểm toán Nhà nước tại các ngân hàng thương mại vì theo quyết định, chỉ thị của Chính phủ trong năm tài chính nhằm xem xét việc chấp hành các chính sách, luật lệ, chế độ của Nhà nước Mặt khác kiểm toán Nhà nước còn có khả năng xác nhận tính đúng đắn, hợp pháp của tài liệu, số liệu kế toán, báo cáo quyết toán của ngân hàng và định giá sự hữu hiệu, hiệu quả của hoạt động ngân hàng trong việc sử dụng vốn

và kinh phí của ngân hàng Từ đó, có những góp ý, yêu cầu ngân hàng xử chữa sai phạm, kiến nghị với cấp có thẩm quyền những mặt còn hạn chế trong quản lý Ngân hàng, có

đề xuất với Chính phủ về việc sửa đổi, cải tiến cơ chế quản lý tài chính, kế toán cần thiết đối với ngân hàng

Như vậy, mọi hoạt động của Ngân hàng phải tuân theo pháp luật, các chính sách của Nhà nước, các chế độ về quản lý tài chính, kế toán của Nhà nước ban hành Việc đánh giá đúng đắn những quy định này phải dựa trên báo cáo kiểm toán của kiểm toán Nhà nước, từ đó đảm bảo mọi hoạt động sản xuất kinh doanh của ngân hàng đúng đắn, hiệu quả và an toàn

Khi muốn có được những thông tin kế toán chính xác, trung thực, lãnh đạo Ngân hàng không chỉ dựa vào những số liệu do bộ phận kế toán đưa ra, mà cần phải kết hợp với sự xác nhận một cách khách quan, trung thực về số liệu trên báo cáo tài chính đó của các hãng kiểm toán độc lập Mặt khác, nếu cơ quan Nhà nước cấp trên muốn biết chính xác về những thông tin phản ánh tình hình sản xuất kinh doanh của một Ngân hàng thương mại nào đó, cơ quan Nhà nước đó có thể thuê một hãng kiểm toán độc lập tại địa bàn ngân hàng đó đang hoạt động hoặc một hãng kiểm toán độc lập ở một địa phương khác đến kiểm toán Ngân hàng đó (thường là thuê hãng kiểm toán cùng địa bàn vì lượng

Trang 37

thông tin nắm bắt về ngân hàng này sẽ lớn hơn, chính xác và tổng hợp hơn) Kinh phí thuê hãng kiểm toán này do cơ quan Nhà nước cấp trên đó chi trả Các kiểm toán viên nội bộ, hệ thống kiểm soát nội bộ trong NHTM có trách nhiệm cung cấp đầy đủ thông tin theo yêu cầu của kiểm toán viên bên ngoài có thông qua ý kiến cấp lãnh đạo của NHTM đó

Bên cạnh hoạt động kiểm toán Nhà nước, kiểm toán độc lập diễn ra trong NHTM, một hoạt động kiểm toán không thể thiếu trong nội bộ một ngân hàng đó là kiểm toán nội bộ ngân hàng Theo luật các tổ chức tín dụng thông qua trong Quốc hội khoá 10, kỳ họp thứ 2 (12-12-1997) quy định:

“Tổ chức tín dụng phải lập hệ thống kiểm tra, kiểm toán nội bộ thuộc bộ máy điêù hành, giúp tổng Giám đốc hoặc Giám đốc điều hành thông suốt, an toàn và đúng Pháp luật mọi hoạt động nghiệp vụ của tổ chức tín dụng”

Vị trí và vai trò của kiểm toán nội bộ càng được khẳng định sau khi quyết định

số 03-98 QĐ/NHNN3 ngày 3-1-1998 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước được ban hành vê quy chế: "Mẫu về tổ chức và hoạt động kiểm tra, kiểm toán nội bộ trong tổ chức tín dụng hoạt động tại Việt Nam"

Trong điều 5 của quy định có nêu:

“Tất cả các tổ chức tín dụng quy định tại điều 2, khoản 1 quy chế này phải thành lập bộ máy kiểm tra nội bộ chuyên trách tại trụ sở chính và các đơn vị thành viên Bộ máy này trực thuộc tổng giám đốc hoặc Giám đốc”

Các tổ chức tín dụng quy định tại điều 2, khoản 1 quy chế này là:

Ngân hàng quốc doanh (bao gồm cả ngân hàng phục vụ người nghèo và Ngân hàng phát triển nhà đồng bằng sông Cửu Long), Ngân hàng thương mại cổ phần, các Công ty tài chính (bao gồm cả các Công ty tài chính 100% vốn nước ngoài, Công ty tài chính liên doanh với nước ngoài tại Việt Nam, Công ty cho thuê tài chính), các Ngân hàng liên doanh, các chi nhánh Ngân hàng nước ngoài tại Việt Nam, quỹ tín dụng nhân dân Trung ương

Trang 38

Như vậy, một Ngân hàng thương mại phải chịu sự chi phối của các loại kiểm toán trên, cả 3 loại hình kiểm toán này đều đem lại những tác dụng nhất định cho hoạt động sản xuất kinh doanh của NHTM, giúp các Ngân hàng hoạt động và phát triển một cách lành mạnh, an toàn và hiệu quả

3 Những lĩnh vực kiểm toán chủ yếu trong Ngân hàng thương mại

NHTM hoạt động với rất nhiều lĩnh vực, rất nhiều nội dung, xét một cách khoa học thì các lĩnh vực kiểm toán chủ yếu trong NHTM là :

Kiểm toán tài sản và nguồn vốn, kiểm toán hoạt động tín dụng, kiểm toán doanh thu, chi phí và kết quả kinh doanh, kiểm toán tình hình thực hiện nghĩa vụ đối với ngân sách Nhà nước

a Trong Kiểm toán tài sản và nguồn vốn, kiểm toán các nội dung sau:

+ Kiểm toán các khoản tiền (số hiệu tài khoản:10), kiểm toán các khoản đầu tư (số hiệu

tài khoản: 11,13), kiểm toán khoản phải thu (số hiệu tài khoản :36,37)

+ Kiểm toán các khoản phải trả (số hiệu tài khoản: 40,41,42,43, 44,46,47)

+ Kiểm toán các khoản cộng dồn dự thu (số hiệu tài khoản:117, 127,137,207, 217,

227, 237, 247, 257,277)

+ Kiểm toán công cụ lao động và vật liệu (số hiệu tài khoản: 311 ,312, 313)

+ Kiểm toán tài sản cố định

+ Kiểm toán chi phí xây dựng cơ bản dở dang

+ Kiểm toán nguồn vốn và các quỹ

./ Nguồn vốn chủ sở hữu (số hiệu tài khoản: 60,61,63,69)

./ Nguồn kinh phí sự nghiệp (số hiệu tài khoản: 422)

b Kiểm toán hoạt động tín dụng:

Trang 39

+ Kiểm toán nghiệp vụ cho vay :

Nhận về hồ sơ cho vay có đảm bảo tính pháp lý không, có đầy đủ không

Việc áp dụng đố tượng cho vay so với qui chế cho vay

Nhận xét bên cho vay về các điều kiện vay vốn,

Nhận xét việc áp dụng các phương thức cho vay có phù hợp không

Nhận xét việc chấp hàng các qui định khác: mức cho vay, lãi suất, thời hạn cho vay

Nhận xét việc kiểm tra, kiểm soát trước, trong và sau cho vay, xử lý nợ có đúng qui định không, việc gia hạn nợ, điều chỉnh kỳ hạn nợ có đúng nguyên nhân khách quan không ?

Trang 40

+ Kiểm toán nghiệp vụ bảo lãnh :

Kiểm tra tổng số dư bảo lãnh của Ngân hàng có vượt mức quy định so với qũi bảo lãnh không ?

Có trích qũi bảo lãnh không?

Các quy định áp dụng khi bảo lãnh cho vay vốn nước ngoài, bảo lãnh trong nước có được thực hiện đúng và đầy đủ không?

+ Đối với nghiệp vụ cho thuê tài chính :

Nhận xét bên thuê có đủ điều kiện không ?

Kiểm tra, nhận xét hồ sơ xin thuê có đầy đủ không?

Kiểm tra tính chất phù hợp của thời hạn thuê

Kiểm tra việc tuân thủ quy định về sử dụng nguồn vốn của công ty cho thuê tài chính (Nguồn vốn vay không quá 20 lần vốn tự có, tổng giá trị tài sản cho thuê một khách hàng không qúa 30% vốn tự có)

+ Đối với dịch vụ cầm đồ:

Kiểm tra: "Giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh dịch vụ cầm đồ" do chi nhánh ngân hàng Nhà nước cấp cho chi nhánh ngân hàng thương mại, nếu trong điều lệ

tổ chức và hoạt động của ngân hàng thương mại không có dịch vụ này

+ Đối với nghiệp vụ chiết khấu :

Kiểm tra, nhận xét việc chấp hành các quy định về chiết khấu, trong đó chú ý kiểm tra luật lưu thông hối phiếu, giấy tờ có giá có được tuân thủ không

c Kiểm toán doanh thu, chi phí và kết quả kinh doanh:

- Kiểm toán các khoản doanh thu: thu về hoạt động tín dụng, thu về dịch vụ thanh toán, ngân quỹ, thu từ các hoạt động khác như: thu lãi góp vốn, mua cổ phần, thu

Ngày đăng: 24/09/2015, 18:01

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 3-1 Các thang đo được sử dụng trong bảng câu hỏi nghiên cứu - Luận văn  một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác kiểm tra, kiểm toán nội bộ đối với hoạt động tín dụng tại chi nhánh ngân hàng công thương đống đa  hà nội
Bảng 3 1 Các thang đo được sử dụng trong bảng câu hỏi nghiên cứu (Trang 22)
Bảng 3-1 Các thang đo được sử dụng trong bảng câu hỏi nghiên cứu - Luận văn  một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác kiểm tra, kiểm toán nội bộ đối với hoạt động tín dụng tại chi nhánh ngân hàng công thương đống đa  hà nội
Bảng 3 1 Các thang đo được sử dụng trong bảng câu hỏi nghiên cứu (Trang 121)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w