- Chương 1: Giới thiệu chung về công ty TNHH Nhà nước một thành viên Dệt 19/5 Hà Nội. - Chương 2: Thực trạng mua NVL của công ty TNHH Nhà nước một thành viên Dệt 19/5 Hà Nội. - Chương 3: Một số giải pháp hoàn thiện hoạt động mua NVL tại công ty TNHH Nhà nước một thành viên Dệt 19/5 Hà Nội.
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU
Trong thời gian vừa qua, cùng với sự phát triển của nền kinh tế hàng hoánhiều thành phần hoạt động theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước đãthúc đẩy nhiều mô hìmh kinh tế, các loại hình doanh nghiệp phát triển Hoạt độngsản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp đã đạt được những thành tựu đáng kể lànhờ vào khâu tiêu thụ sản phẩm Do có hoạt động tiêu thụ sản phẩm mà các doanhnghiệp có thể đáp ứng đầy đủ hơn nhu cầu ngày càng đa dạng về các sản phẩm chothị trường và người tiêu dùng Vì vậy, nó góp phần quan trọng vào việc tăng lợinhuận và đem lại hiệu quả kinh tế, xã hội cao
Cùng với xu hướng phát triển chung của nền kinh tế, ngành dệt may ViệtNam cũng có những bước tăng trưởng cao trong những năm vừa qua và sẽ tiếp tụctăng trong những năm tới Điều này sẽ đảm bảo cho sự phát triển lâu dài và ổn địnhcủa ngành dệt may Việt Nam Đây là ngành đã có sự phát triển từ lâu đời, thu hútnhiều lao động, tạo ra nguồn thu ngoại tệ cao cho đất nước, từng bước các mặt hàngcủa ngành dệt may đã đáp ứng được nhu cầu trong nước và xuất khẩu ra nướcngoài
Đối với công ty Dệt 19/5 Hà Nội nói riêng và các doanh nghiệp trong ngànhdệt may nói chung đều chịu nhiều biến động của thị trường nguyên vật liệu, nguyênvật liệu trong nước khan hiếm, giá cả cao, hơn nữa chất lượng nguyên vật liệu lạikhông đảm bảo dẫn đến phải nhập khẩu một lượng lớn nguyên vật liệu làm tăng chiphí kinh doanh Xét thấy việc mua sắm của công ty Dệt 19/5 là nguồn nguyên liệutrong nước mang tính đặc thù, cộng với những khó khăn về sự khan hiếm nguyênvật liệu mà chỉ diễn ra khi có đơn hàng cụ thể
Hoạt động mua và quản trị mua nguyên vật liệu ( NVL) có tầm quan trọngđối với hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty Để bán tốt phải bắt đầu từ khâumua tốt, bởi vì nếu mua NVL đạt chất lượng tốt và giảm được chi phí thu mua sẽthu hút được khách hàng
Trang 2Nhận thấy tầm quan trọng đó nên em đã chọn đề tài: “Hoạt động mua nguyên vật liệu ở công ty TNHH Nhà nước một thành viên Dệt 19/5 Hà Nội” để
hoàn thành chuyên đề tốt nghiệp
Mục đích nhằm nêu lên sự cần thiết và quan trọng trong việc mua NVL chosản xuất của doanh nghiệp công nghiệp Nội dung bài viết này gồm ba phần:
- Chương 1: Giới thiệu chung về công ty TNHH Nhà nước một thành viênDệt 19/5 Hà Nội
- Chương 2: Thực trạng mua NVL của công ty TNHH Nhà nước một thànhviên Dệt 19/5 Hà Nội
- Chương 3: Một số giải pháp hoàn thiện hoạt động mua NVL tại công tyTNHH Nhà nước một thành viên Dệt 19/5 Hà Nội
Trong quá trình hoàn thành bài chuyên đề thực tập này em đã nhận dược sựgiúp đỡ, chỉ bảo nhiệt tình của Thạc sỹ Mai Xuân Được, các cô chú và các anh chịtrong công ty Dệt 19/5 Hà Nội Tuy nhiên, do trình độ lý luận cùng với kinh nghiệmthực tế còn hạn chế nên bài viết của em không tránh khỏi thiếu sót Em rất mongnhận được sự góp ý của thầy cô giáo và các bạn để bài báo cáo này của em đượchoàn thiện hơn
Trang 3CHƯƠNG I GIỚI THIỆU CHUNG VỀ CÔNG TY TNHH NHÀ NƯỚC MỘT THÀNH
VIÊN DỆT 19/5 HÀ NỘI
1.1- Giới thiệu chung về công ty TNHH Nhà nước một thành viên Dệt 19/5 Hà Nội
1.1.1- Thông tin chung về công ty
Tên công ty : Công ty dệt 19/5 Hà Nội
Tên tiếng Anh : Hanoi May 19 Textile Company
Tên giao dịch : Hatexco
Địa chỉ : số 203 - Nguyễn Huy Tưởng – Thanh Xuân – Hà Nội
Ngành nghề kinh doanh :
Sản xuất sợi cotton các loại
Sản xuất vải bạt các loại
Sản phẩm may thêu
Xây dựng dân dụng
Hiện nay công ty dệt 19/5 Hà Nội có 4 cơ sở sản xuất chính và 2 liên doanhvới nước ngoài (Singapo) :
Cơ sở 1 : tại 203 Nguyễn Huy Tưởng, Thanh Xuân, Hà Nội
Cơ sở 2 : tại 89 Lĩnh Nam, Mai Động, Hoàng Mai, Hà Nội
Cơ sở 3 : tại Thôn Văn, xã Thanh Liệt, huyện Thanh Trì, Hà Nội
Cơ sở 4 : tại khu công nghiệp Đồng Văn, Hà Nam
Liên doanh 1 : Norfolk hatexco được thành lập năm 2002
Liên doanh 2 : Công ty TNHH tập đoàn sản xuất hàng dệt may 19/5 đượcthành lập năm 1993
Có 4 nhà máy :
Nhà máy Dệt Hà Nội
Nhà máy Sợi Hà Nội
Nhà máy May Thêu Hà Nội
Nhà máy Dệt Hà Nam
Trang 41.1.2- Qúa trình hình thành và phát triển của công ty
Công ty dệt 19/5 Hà Nội là một doanh nghiệp 100% vốn nhà nước, trực thuộc
Sở Công nghiệp TP Hà Nội Hoạt động sản xuất kinh doanh nhằm mục tiêu kinh tế
- xã hội do nhà nước giao
Bề dày lịch sử hình thành và phát triển Công ty dệt 19/5 Hà Nội có thể chialàm 4 giai đoạn phát triển
1.1.2.1- Giai đoạn hình thành, phục vụ nhiệm vụ đấu tranh xây dựng và bảo vệ
tổ quốc Xã Hội Chủ Nghĩa (1959-1973)
Công ty được thành lập 5/1959 (thời điểm miền Bắc Việt Nam giải phóngđược 5 năm), tiền thân của công ty được hợp nhất từ một số cơ sở dệt tư nhân vàcác hợp tác xã dệt khăn mặt, bít tất, vải kaki, vải phin, popơlin, … như Việt Thắng,Tây Hồ, …Vì thế, dây chuyền sản xuất, máy móc thiết bị mang tính chất nhỏ lẻ,manh mún và thực sự cũ kỹ lạc hậu, năng suất, chất lượng thấp Vì thế Xí nghiệpđược đánh giá như sự hợp tác của các cơ sở dệt để thực hiện các nhiệm vụ do Nhànước giao, phục vụ nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ tổ quốc Xã hội Chủ Nghĩa
1.1.2.2- Giai đoạn xí nghiệp phát triển trong cơ chế bao cấp (1974-1988)
Năm 1980, xí nghiệp được phê duyệt luận chứng kinh tế, kỹ thuật xây dựng
cơ sở mới ở Nhân Chính – Thanh Xuân với diện tích 4.5 ha và được đầu tư thêm100máy dệt hiệu UTAS Tiệp Khắc Quá trình xây dựng cơ bản từ năm 1981 đến năm
1985 thì hoàn thành Lúc này số lượng cán bộ công nhân xí nghiệp là 520 người,hàng năm sản xuất ra hơn 1, 8 triệu mét vải quy chuẩn các loại
Năm 1983, do nhu cầu giới thiệu tính ngành sản xuất, nhà máy được Uỷ banNhân dân TP Hà Nội quyết định đổi tên thành nhà máy dệt 19/5
Năm 1988, xí nghiệp thực tế đưa vào sản xuất 209 máy dệt các loại với 1500công nhân, hàng năm sản xuất ra 500 tấn sợi và 2, 7 triệu mét vải quy chuẩn cácloại Có thể nói đây là thời kỳ hoàng kim của nhà máy dệt 19/5
1.1.2.3- Giai đoạn vật lộn để phát triển vững mạnh trong cơ chế thị trường (1989 – 1999)
Đại hội toàn quốc lần thứ VI của Đảng (1986) có chủ trương chuyển đổi nềnkinh tế từ cơ chế tập trung bao cấp sang nền kinh tế vân hành theo cơ chế thị trường
Trang 5có sự quản lý của Nhà nước Nhiều thành phần kinh tế được thành lập và khuyếnkhích phát triển, kinh tế quốc doanh sau nhiều năm không bắt kịp cơ chế thị trường
đã dần phát triển trở lại và khẳng định vai trò chủ đạo của mình trong nền Kinh tếquốc dân
Năm 1993 theo quyết định số 255/QDUB của Uỷ ban Nhân dân thành phố
Hà Nội nhà máy dệt 19/5 được đổi tên thành Công ty dệt 19/5 Hà Nội Từ đây đánhdấu mhữmg bước phát triển và trưởng thành vượt bậc của công ty
Năm 1993 Công ty dệt 19/5 Hà Nội đã mạnh dạn góp vốn liên doanh với nhàđầu tư Singapore, đây là một trong những liên doanh đầu tiên trong ngành dệt maytại Việt Nam Doanh nghiệp đã góp 20% vốn bằng đất đai, nhà xưởng và chuyển
500 lao động từ doanh nghiệp sang liên doanh
Năm 1993, công ty đầu tư thêm 2 máy se sợi nặng của Trung Quốc Lô hàngbạt nặng đầu tiên đã được ký hợp đồng tiêu thụ ngay 80.000 mét
Năm 1998, công ty đầu tư thêm dây chuyền dệt tự động mang nhãn hiệu UTASTiệp Khắc làm tăng doanh thu của công ty lên 33 tỷ đồng, công ty đã bắt đầu làm ăn
Năm 2002 công ty tham gia liên doanh với tập đoàn Norfolk Singapore.Tháng 06/2002 sau nhiều nỗ lực công ty được tổ chức quốc tế QMS củaAustralia cấp chứng chỉ ISO 9002 khẳng định chất lượng sản phẩm của doanhnghiệp với bạn hàng
Trang 61.2- Đặc điểm chủ yếu của công ty
1.2.1- Hình thức pháp lý và loại hình kinh doanh
1.2.1.1- Hình thức pháp lý
Ngày 01/09/2005 theo quyết định số 2903/QĐUB của Uỷ ban Nhân dânthành phố Hà Nội ký ngày 28/05/2005 công ty dệt 19/5 Hà Nội chuyển sang công tyTNHH Nhà nước một thành viên dệt 19/5 Hà Nội với vốn điều lệ là 40 tỷ đồng
Công ty TNHH Nhà nước một thành viên dệt 19/5 Hà Nội là doanh nghiệp100% vốn Nhà nước, có tư cách pháp nhân đầy đủ, được đăng ký và hoạt động theoluật doanh nghiệp, luật doanh nghiệp Nhà nước nước Cộng hoà xã hội Chủ nghĩaViệt Nam và điều lệ tổ chức và hoạt động của công ty TNHH Nhà nước một thànhviên được uỷ ban nhân dân thành phố Hà Nội phê duyệt
1.2.1.2- Loại hình kinh doanh
Kinh doanh các sản phẩm bông, vải, sợi, may mặc và giầy dép các loại,hàng dệt thoi, dệt kim, hàng thêu và các sản phẩm phụ trợ
Sản xuất và cung cấp hơi nước, nước nóng
Xuất nhập khẩu các sản phẩm của công ty và sản phẩm liên doanh liên kết
Nhập khẩu và mua bán thiết bị, máy móc, vật tư, nguyên liệu, nhiên liệu,hoá chất phục vụ nhu cầu sản xuất của công ty và thị trường
lắp ráp và mua bán máy móc, thiết bị điện, điện tử, điện lạnh, tin học,thiết bị viễn thông
Xây dựng các công trình dân dụng, công nghiệp, cơ sở hạ tầng
Đại lý mua, đại lý bán, ký gửi hàng hoá
Cho thuê nhà xưởng, nhà ở, văn phòng, siêu thị, trung tâm thương mại,kho tàng, bến bãi và máy móc thiết bị
Kinh doanh các ngành nghề khác căn cứ vào năng lực của công ty, nhucầu thị trường và được luật pháp cho phép
1.2.2- Cơ cấu tổ chức của công ty
Vì là đơn vị hạch toán độc lập, bộ máy quản lý của công ty được tổ chức theo
mô hình trực tuyến chức năng Ban lãnh đạo công ty gồm:
Trang 7Sơ đồ 1: Sơ đồ tổ chức công ty TNHH Nhà nước một thành viên dệt 19/5 Hà Nội
Chủ tịch công
ty kiêm TGĐ công ty
Phó TGĐ
kỹ thuật và đầu tư
Phó TGĐ TC_nội chính
Phòng
tổ chức lao động
Phòng tài vụ
Phòng hành chính tổng hợp
Phòng
KH -TT
Phòng vật tư
Phòng
kỹ thuật
Phòng quản
lý chất lượng
Phó TGĐ
phụ trách kinh doanh
Nhà
máy
dệt
Các chi
doanh liên kết của công ty
Các nhà máy
Nhà máy sợi
Nhà máy thêu
Nhà máy dệt
Chi nhánh công ty
Chi nhánh công ty
Trang 8- Tổng giám đốc
- 03 Phó tổng giám đốc trong đó: 01 phó giám đốc phụ trách kinh doanh, 01phó giám đốc phụ trách nội chính, 01 phó tổng giám đốc phụ trách công tác, kỹthuật và đầu tư
- Các phòng ban nghiệp vụ có chức năng tham mưu cho Tổng giám đốc điềuhành công việc, bao gồm 7 phòng:
- Phòng KHTT: Lập kế hoạch sản xuất và tiêu thụ sản phẩm
- Phòng KTSX: Quản lý công tác kỹ thuật, đầu tư và điều độ sản xuất
- Phòng tài vụ: Hạch toán chi phí sản xuất kinh doanh, chuẩn bị vốn cho sảnxuất kinh doanh, thu hồi công nợ của khách hàng, phân tích kết quả hoạt động sảnxuất kinh doanh, thu chi tài chính kế toán
- Phòng LĐTL: Tuyển dụng, đào tạo nhân lực, bố trí lao động, giải quyết chế
độ tiền lương, bảo hiểm xã hội, kỷ luật lao động
- Phòng QLCL: Kiểm tra chất lượng sản phẩm, hàng hoá mua về và hàng sảnxuất của công ty, thường trực ISO
- Phòng vật tư: Cung ứng vật tư cho sản xuất kinh doanh, bảo quản kho tàng,vận chuyển hàng hoá
- Phòng hành chính tổng hợp: Đảm bảo an ninh, an toàn trong công ty và chămsóc sức khoẻ ban đầu cho người lao động
Công ty bố trí theo mô hình này có ưu điểm là không quá phức tạp, các quyếtđịnh, thông tin từ ban giám đốc và các phòng ban được cập nhật nhanh chóng, có sựphân chia công việc rõ ràng giữa các phòng ban Để có cái nhìn khái quát về cơ cấu
tổ chức của công ty ta có thể xem sơ đồ tổ chức phòng ban của công ty ở trang sau
1.2.3- Đặc điểm về sản phẩm
Sản phẩm sợi
Công ty sản xuất các loại sợi 100% cotton có chi số từ Ne 8 đến Ne 45 với
Ne chỉ loại sợi cotton thiết diện có chỉ số từ 8 đến 45 Sản phẩm sợi của công typhục vụ cho phân xưởng dệt và bán cho các bạn hàng trong nước, được đánh giácao về chất lượng Doanh thu từ sợi hàng năm chiếm 60% tổng doanh thu của Công
ty Sản phẩm sợi của doanh nghiệp chiếm 30% thị phần cả nước
Trang 9Sản phẩm vải
Công ty sản xuất các loại vải có độ dầy từ 80 g/m2 vải đến 600 g/m2 vải,trong đó sản phẩm chủ yếu là bạt 2, bạt 3, bạt 8, bạt 10 phục vụ cho may côngnghiệp, tẩy nhuộm công nghiệp, công nghiệp giày da, công nghiệp khai thác cácloại Có thể nói do đặc điểm về sản phẩm như thế nên sản phẩm của công ty cũng
là nguồn nguyên liệu đầu vào cho các ngành công nghiệp khác
Biểu đồ 1.1: Tỷ trọng doanh thu các loại vải năm
Nguồn Phòng kế hoạch thị trường
Sản phẩm may thêu
Sản phẩm may thêu được Công ty đầu tư và đưa vào sản xuất tháng 12/2002.Sản phẩm chính là quần áo xuất khẩu các loại; T-shirt, Jacket, quần áo dệt kim vàcác sản phẩm thêu các loại
Giá trịSXCN
Doanhthu
Số lượng(quy đổi)
Giá trịSXCN
Doanhthu
(Nguồn: Phòng kế hoạch thị trường – Công ty dệt 19/5 Hà Nội
Sản phẩm may thêu của doanh nghiệp tuy mới ra đời nhưng đã tìm được chỗ đứng và được các bạn hàng quốc tế đánh giá cao
1.2.4- Đặc điểm về khách hàng và thị trường
Trang 10Cho đến nay sản phẩm của Công ty đã được nhiều khách hàng trong nướcchứng nhận là sản phẩm có chất lượng tốt, Công ty không ngừng cải thiện, nâng caochất lượng sản phẩm cũng như cung cách bán hàng nên cho đến nay thương hiệusản phẩm của Công ty dệt 19/5 đã được nhiều khách hàng công nhận.
Trên thị trường có nhiều doanh nghiệp cùng sản xuất nên khách hàng cóquyền lựa chọn những doanh nghiệp cung cấp những sản phẩm vừa đảm bảo về chấtlượng, thời hạn giao hàng…mà còn phải đảm bảo về tính thẩm mỹ, kiểu dáng Cóđảm bảo được sự vượt trội về một số điểm thì công ty mới có khả năng cạnh tranhcao Sản phẩm vải Công ty sản xuất chủ yếu là phục vụ cho việc sản xuất giày do đóthị trường chính trong một vài năm gần đây là các đơn vị sản xuất giày trong vàngoài nước
Thị trường trong nước chủ yếu là các công ty giày, dệt, may như: Công ty sợPhúc Tân, Công ty bông Việt Nam, Công ty giày Thụy Khê, Công ty dệt MinhKhai, Công ty dệt Thành Công, Công ty giày Hiệp Hưng, Công ty giày An Lạc,Công ty giày Bình Định…Trong một vài năm gần đây, thị trường của Công ty chủyếu là thị trường miền Nam, thị trường quân đội và thị trường miền Bắc có xuhướng giảm xuống, do vậy Công ty đã chủ động trong việc tìm thị trường nướcngoài đó là xuất khẩu sang thị trường Mỹ và EU Với thị trường ngoài nước sảnphẩm chủ yếu Công ty cung cấp là sản phẩm may thêu chất lượng cao Do đó sảnlượng tiêu thụ vải bạt và doanh thu của công ty trong những năm gần đây tăng lênđáng kể
Tuy nhiên , việc xâm nhập thị trường nước ngoài là công việc rất khó khăn, vìthị trường nước ngoài luôn là thị trường khó tính Với lại nền kinh tế Việt Nam cònnon trẻ, nước ta lại mới mở cửa hội nhập nên việc thâm nhập thị trường là việc làmkhó khăn Mặc dù vậy, nhưng công ty vẫn luôn chủ động và mạnh dạn xâm nhập thịtrường và chiếm được thị phần đáng kể So với mặt bằng chung của các công ty sảnxuất vải bạt trong nước thì công ty thuộc tốp đầu
Giá cả của các loại vải của công ty trong vài năm gần đây so với đối thủ cạnhtranh nhìn chung là thấp hơn khoảng 500-1000 đồng/sản phẩm Tuy thế do chất
Trang 11lượng ở một số sản phẩm cao nên bán được giá cao hơn mà vẫn được khách hàngchấp nhận Qua bảng số liệu dưới đây ta thấy trong năm 2007 thị phần của công ty
là 15.5%, đứng thứ 4, đây là vị trí tương đối cao, sang năm 2008 thứ hạng của công
ty đã tăng lên một bậc là xếp thứ 3 với thị phần là 16.5% (tăng1% so với năm2007) Có được như vậy là nhờ sự phấn đấu không biết mệt mỏi của thoàn thể cácthành viên trong công ty trong việc nâng cao năng lực sản xuất, thực hiện các biệnpháp hạ giá thành, tăng khả năng cạnh tranh Công ty vẫn không ngừng cố gắng đểvươn lên chiếm lĩnh thị trường trong nước, không dấu diếm tham vọng dành thị phầncao nhất trong nước, công ty luôn luôn tự làm mới mình và có những chiến lược kinhdoanh phù hợp với tình hình kinh tế trong nước cũng như tình hình thế giới
Bảng 1.2: So sánh thị phần của công ty với các công ty trong ngành
Tên công ty Thị phần (%) Năm 2007 Vị trí Thị phần(%) Năm 2008 Vị trí
Nguồn Phòng kế hoạch thị trường
1.2.5- Đặc điểm về mặt bằng và công nghệ sản xuất
1.2.5.1-Đặc điểm về mặt bằng sản xuất
Phân xưởng sản xuất
Vài năm gần đây, Công ty không chỉ tăng về diện tích hoạt động của cácphân xưởng mà nhìn chung các phân xưởng cũng đều được tu sửa, bảo dưỡng lại vàhiện nay được đánh giá là tương đối hiện đại so với các công ty khác trong cùngngành dệt may Bên cạnh các phân xưởng cũ thì trong năm 2003 Công ty có mởrộng ra thêm phân xưởng may – thêu Các phân xưởng sản xuất đều đảm bảo tiêu
Trang 12chuẩn về độ cao, an toàn, thoáng mát phù hợp với việc bố trí các trang thiết bị máymóc hiện đại Các phân xưởng được tổ chức bố trí đảm bảo tính hiệu quả nhất củaquá trình sản xuất và tối thiểu hoá chi phí vận chuyển giữa các khâu.
Không chỉ có hệ thống nhà xưởng của Công ty được tu sửa, bảo dưỡng mà hệthống cơ sở quản lý hành chính của Công ty cũng không ngừng được nâng cấp Các
bộ phận phòng ban trong công ty được tổ chức khép kín nhưng việc trao đổi qua lạigiữa các phòng ban cũng hết sức thuận tiện
1.2.5.2- Đặc điểm về công nghệ sản xuất
Nhìn chung máy móc thiết bị của Công ty trong hững năm gần đây đã từngbước được hiện đại hoá, một số khâu trong dây truyền sản xuất mới Đặc biệt cuốinăm 1998 đầu năm 1999 công ty đã đầu tư 24 máy dệt UTAS của Tiệp với số tiềnlên tới 60 tỷ đồng Tiếp đó đầu năm 2002 Công ty tiếp tục mua 2 máy đậu và mộtmáy se để hoàn thiện và nâng cao năng suất
Tuy nhiên hiện nay các máy móc thiết bị của Công ty có sự đan xen cuảnhiều thế hệ, nhưng chủ yếu vẫn là những máy móc có từ những năm 60 tới nay đãlạc hậu nhưng vẫn sử dụng được
Trải qua nhiều năm hoạt động sản xuất kinh doanh cho đến nay tổng số máymóc thiết bị của công ty có khoảng hơn 100 máy các loại như: máy đậu của TrungQuốc, Ba Lan, Tiệp Khắc ;máy se của Trung Quốc, máy ống, máy suốt, máy chải,máy ghép, máy OE
Theo các bảng số liệu trên ta thấy công nghệ dệt ở tình trạng rất lạc hậu, côngnghệ kéo sợi nhập từ Trung Quốc, có những máy móc thiết bị đã khấu hao hết, thậmchí tái khấu hao đến nhiều lần song vẫn đang còn sử dụng Chính hiện trạng củamáy móc thiết bị như vậy đã ảnh hưởng đến năng suất và chất lượng sản phẩm sảnxuất ra, ảnh hưởng đến khả năng đáp ứng ngày
Trong những năm gần đây máy móc thiết bị của công ty đã được hiện đại hóa một
số khâu, dây chuyền sản xuất mới Năm 1999 công ty đã đầu tư 24 máy dệt UTAS củaTiệp Khắc trị giá lên tới 60 tỷ đồng, năm 2002 công ty tiếp tục đầu tư 2 máy đậu và một
Trang 13máy se, nhờ đó mà không ngừng hoàn thiện và nâng cao năng suấtcàng tốt nhu cầu củakhách hàng.
1.2.6- Đặc điểm về lao động
Cũng như các doanh nghiệp dệt may Việt Nam nói chung, lao động chủ yếucủa công ty là lao động nữ (chiếm khoảng 80% lao động của toàn công ty) Trongcác khâu chính hầu hết là nữ, nam giới chỉ tập trung ở các khâu, các bộ phận sửachữa, bảo vệ, hành chính Tổng số lao động toàn công ty tăng qua các năm, năm
2006 chỉ tăng 34 người tương ứng với 0,12% Năm 2007 tăng nhanh hơn ở mức 94người tương ứng với 10,79% Sở dĩ có sự tăng nhanh về số lượng lao động như vậy
là do công ty tích cực đầu tư mở rộng cơ sở sản xuất mới Hiện nay công ty đangtiếp tục tuyển chọn khá lớn lượng lao động để làm việc ở cơ sở Hà Nam
Trước đây, trong thời kỳ bao cấp tổng số lao động của công ty lên đến 1500người Hiện nay, do nhu cầu tăng giảm lao động gján tiếp cùng với quá trình tổchức sắp xếp lại lao động ở các phân xưởng sản xuất, tổng số lao động hiện nay củacông ty là 965 người
Do đặc điểm của ngành dệt may nói chung là đò hỏi đội ngũ lao động thủcông tương đối cao, trình độ tay nghề phải tương đối cao, đặc biệt đối với loại hàngdùng cho xuất khẩu vì yêu cầu của khách hàng là rất khắt khe về chất lượng
Trang 14
Bảng 1.3: Tổng hợp lao động toàn công tyCông nhân Năm 2006 Năm 2007 Năm 2008
Nguồn Phòng Lao đ ộng tiền l ư ơng - Công ty d ệt 19/5 H à N ội
1.2.7- Đặc điểm tài chính của công ty
Bảng 1.4: Báo cáo tài chính giai đoạn 2004-2008 Đvt:triệu đ
A Nợ phải trả 129.458 135.202 114.225 140.784 156.653
1 Nợ ngắn hạn 112.678 118.422 96.363 124.302 122.435
Phải trả cho người bán 28.250 26.820 28.472 34.120 25.964
Lợi nhuận chưa phân phối 1.885 2000 2.100 2.500 2.800
Trang 15Qua bảng số liêu trên ta thây khả năng thanh toán của công ty có tăng lên,riêng năm 2006 khả năng thanh toán bị giảm xuống Tuy nhiên sự gia tăng này cònchậm do gần đây công ty tập trung đầu tư các trang thiết bị máy móc hiện đại, nênkhả năng thanh toán còn hạn hẹp Nhưng với số lượng máy móc được cải thiện thìtrong tương lai năng suất sẽ không ngừng được nâng cao.
ROA = lợi nhuận sau thuế/tổng tài sản
Hệ số này phản ánh hiệu quả hoạt động đàu tư của công ty qua các năm Tathấy rằng hoạt động đầu tư của công ty tương đối đồng đều, tăng lên trong năm
2006 và 2007
1.3- Kết quả kinh doanh của công ty
Vốn điều lệ của công ty là 40 tỷ đồng Trong một vài năm gần đây, khi Công
ty tự chủ động trong mọi hoạt động sản xuất kinh doanh của mình thì nhìn chungtốc độ phát triển của Công ty ngày càng rõ rệt:
Doanh thu của công ty trong 5 năm đã tăng từ 91.712 năm 2004 đến 99.416năm 2008, tăng khoảng gần 10 tỷ đồng, tốc độ tăng trưởng khoảng 4,7% mổi năm
Do doanh thu tăng nên kéo theo các chỉ tiêu GTSXCN, TNDN tăng theo
Trong vòng 5 năm tổng vốn kinh doanh của công ty đã tăng lên hàng chục tỷđồng, thu nhập bình quân đầu người không ngừng tăng nhanh qua các năm Nếu sosánh doanh thu của công ty từ năm 2000 với năm 2004 thì doanh thu tăng hơn 90%
Về giá trị sản xuất công nghiệp tăng hơn 110% và nộp thuế cho Nhà nước cũng tănglên rất nhiều Cụ thể công ty đã nộp ngân sách nhà nước từ mức có 9.615 tỷ đồngnăm 2004 đến 13.982 tỷ đồng trong năm 2008 Tốc độ tăng bình quân hằng năm làkhoảng 110%, doanh nghiệp luôn thực hiện nghĩa vụ của mình rất tốt vì vậy luônđược tuyên dương
Bảng1.5: Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh từ năm 2004-2008
Trang 165 TNDN 1.6 1.9 2.1 2.4 2.3
(Nguồn: Phòng tài vụ – Công ty dệt 19/5 Hà Nội)
Có được kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh tốt như trên cũng là nhờ sự
nổ lực không biết mệt mỏi của cán bộ, công nhân viên toàn công ty
CHƯƠNG II THỰC TRẠNG MUA NGUYÊN VẬT LIỆU CỦA CÔNG TY TNHH NHÀ
NƯỚC MỘT THÀNH VIÊN DỆT 19/5 HÀ NỘI
2.1- Đặc điểm nguyên vật liệu của công ty
Nhiệm vụ chính của Công ty là sản xuất kinh doanh sản phảm vải và sợi tổnghợp Vì thế nên NVL đầu vào chủ yếu là sợi và bông, hoạt động mua NVL có tầmquan trọng đặc biệt đối với hoạt động sản xuất – kinh doanh của Công ty Trong cấuthành giá trị sản phẩm:
- Bông chiếm 50%
- Sợi chiếm 45%
Trang 17- Vật tư, nguyên liệu khác chiếm 5%
Nguồn nguyên liệu cung cấp cho công ty có cả nguồn cung trong nước vànguồn cung nước ngoài Do nguồn cung trong nước còn hạn chế, nên chủ yếu phảinhập ngoại từ các nước Tây Phi, Liên Xô, Ấn Độ…Nguồn cung từ nước ngoài khá
ổn định vì họ áp dụng được tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất, mặt khác họchuyên canh trồng và sản xuất trên diện tích lớn
Nguyên vật liệu được sử dụng với vai trò công dụng khác nhau trong quá trìnhsản xuất, kinh doanh Nằm ở nhiều loại sản phẩm, có khi là sản phẩm của công đoạnnày nhưng lại là nguyên vật liệu chính cho công đoạn sau bởi vì công ty có dâychuyền sản xuất dài, thiết bị công nghệ phức tạp, chia làm nhiều khâu, khâu nàyxong kế tiếp đến khâu sau, sản phẩm khâu trước lại phục vụ khâu sau
Nguyên vật liệu được sử dụng tại các phân xưởng như sau:
Phân xưởng sợi: nguyên vật liệu đầu vào được sử dụng là bông để sản xuất,sợi sản xuất ra được chuyển sang phân xưởng dệt
Phân xưởng dệt: nguyên liệu đầu vào là các loại sợi do phân xưởng sợi kéosau đó tiến hành sản xuất ra các loại vải Công đoạn dệt sản phẩm được tiến hànhbằng máy móc công nghệ hiện đại nhập khẩu từ nước ngoài Các sản phẩm vải sảnxuất xong được chuyển qua phân xưởng may
Phân xưởng may: chủ yếu là sản xuất các loại vải nhập khẩu và một phần làcủa Công ty Các loại vải này đều là vải có chất lượng cao vì sản phẩm được sảnxuất ra xuất khẩu chủ yếu sang thị trường EU và Mỹ
Tại Công ty, NVL được chia làm 3 loại chủ yếu sau:
Nguyên vật liệu chính: là thành phần chính cấu tạo nên thành phẩm Ví dụ nhưbông, sợi… là thành phần chính trong sản phẩm
Nguyên vật liệu phụ: là những nguyên liệu có định mức sử dụng gần giốngnhau nên công ty xếp chung thành một loại, ví dụ như dầu MD 40, sáp tạo độ bóngcao…
Bảng 2.1 Mẫu số đơn vị cung ứng
Trang 181. Công ty Dunavant Bông
10 Công ty TNHH Con Thoi Phụ tùng máy dệt, sợi
11 Tổng công ty Xuất Nhập Khẩu Thiên
Về cơ cấu của phòng vật tư
Ở công ty, công việc được phân giao cho các phòng ban một cách cụ thể, rõràng, đối với việc thu mua NVL, cung ứng vật tư cho sản xuất kinh doanh, bảo quảnkho tàng, vận chuyển hàng hoá đều do phòng vật tư đảm nhiệm
Phòng vật tư được đánh giá là làm việc linh hoạt, nhanh nhẹn Phòng vật tư cómột trưởng phòng, một kế toán, 2 thành viên, hầu hết là trình độ đại học, dưới đó làđội ngũ thủ kho chuyên chịu trách nhiệm tổ chức việc cấp phát NVL còn đội ngũbốc vác chịu trách nhiệm vận chuyển NVL nhập kho khi mua về hay chuyển tới cácphân xưởng sản xuất Mỗi thành viên đều thấy rõ được nhiệm vụ phải làm và có sựquản lý chặt chẽ, hơn nữa là tinh thần làm việc tự giác, nhiệt tình của các thành viên
đã tạo được hiệu quả cao trong công việc
Về việc tổ chức quản lý NVL
Đặc điểm của việc tổ chức công tác sản xuất của công ty là theo đơn đặt hàng
có sẵn hay có kế hoạch sản xuất cụ thể, bởi vậy phòng vật tư sẽ căn cứ vào đó đểlên kế hoạch vật tư, sau khi đã lên kế hoạch cung ứng , dự trữ vật tư, bản kế hoạch
Trang 19này được trình lên Tổng Giám Đốc phê duyệt Dựa trên bản kế hoạch phê duyệt,phòng vật tư lên biểu hàng tháng, phân chia cụ thể, chi tiết từng tháng nhu cầu NVLnhư thế nào Sau đó phòng dựa vào danh sách để lựa chọn nhà cung ứng phù hợp,rồi tiến hành mua NVL, tổ chức tiếp nhận NVL và nhập kho, bảo quản, dự trữNVL.
Phòng vật tư bố trí các khâu công việc cũng như con người cho việc mua NVLrất hợp lý Có các bộ phận thực hiện các khâu công việc cụ thể nhằm làm tốt cácnhiệm vụ đề ra như: Hoạch định nhu cầu vật tư cho sản xuất, cho các nhu cầu khác
và thực hiện nhiệm vụ Marketing mua hàng; Lập đơn hàng vật tư và chuẩn bị choviệc ký kết hợp đồng cũng như theo dõi việc tổ chức thực hiện hợp đồng đã được kýkết; Tổ chức tiếp nhận vật tư, thực hiện bảo quản vật tư, theo dõi tình hình biếnđộng và đánh giá tình hình thực hiện kế hoạch và hợp đồng đã ký kết
2.3- Quá trình mua NVL của công ty
2.3.1- Xác định nhu cầu NVL trong kỳ kế hoạch
Theo cơ chế mới của công ty, mỗi phòng ban chức năng được giao nhiệm vụ
cụ thể, phòng vật tư là nơi quản lý vật tư cho sản xuất kinh doanh, nguyên vật liệu,thiết bị phụ tùng, vận chuyển, bốc dỡ…bởi vậy ,việc lập kế hoạch cung ứng nguyênvật liệu do phòng vật tư và phòng kế hoạch đảm nhiệm Căn cứ vào đơn hàng đã kíkết, định mức tiêu dùng nguyên vật liệu sẽ lên kế hoạch cụ thể cho từng đơn hàng.Dựa vào định mức để xác định tổng hạn mức là 101.5% định mức, có tỷ lệ dôi ranày nhằm phòng trừ tỷ lệ sai sót Từ đó phòng vật tư sẽ lên kế hoạch mua vật tư, với
tỷ lệ là 105% so với định mức phòng khi thiếu hụt
Bảng 2 2 : Nhu cầu nguyên vật liệu năm 2008
Đơn vị: triệu đồng n v : 1000 ị: triệu đồng ng
Trang 20Nguồn Phòng kế hoạch thị trường
Nhu cầu NVL của công ty rất lớn và nhiều chủng loại Vì thế việc tính toán,xác định nhu cầu là tương đối khó khăn
Trang 21Phương pháp xác định nhu cầu nguyên vật liệu
Công ty Dệt 19/5 là loại hình doanh nghiệp sản xuất hàng loạt, với nhiều chủng loại sản phẩm khác nhau, sản phẩm được sản xuất bởi mỗi loại vật liệu khác nhau, vì vậy em chỉ xin trình bày phương pháp tính toán của loại NVL chính
- Công thức tính lượng NVL thứ i để sản xuất ra sản phẩm k:
Qik = [(Đik*Qk)*(1+TTk)]
Trong đó:
Qik : Cầu NVL thứ i để sản xuất sản phẩm k trong kỳ kế hoạch
Đik : Định mức tiêu dùng loại NVL thứ i để sản xuất ra một sản phẩm k
Tk : Tỷ lệ hao hụt NVL
Qk : Số lượng sản phẩm thứ k được sản xuất trong kỳ kế hoạch
- Chi phí NVL i để sản xuất số sản phẩm k trong kỳ kế hoạch:
2.3.2- Nghiên cứu thị trường NVL và lựa chọn nhà cung ứng
Do đặc thù của sản phẩm dệt may, nguyên vật liệu chiếm tỷ trọng lớn tronggiá thành sản phẩm, bởi vậy việc lựa chọn nhà cung cấp sao cho phù hợp nhất vềgiá cả và chi phí vận tải đòi hỏi công ty phải thường xuyên nghiên cứu thị trườngnguyên vật liệu và lựa chọn nhà cung cấp Trên thị trường có rất nhiều loại nguyênvật liệu có phẩm cấp khác nhau có thể đáp ứng được khách hàng này nhưng lạikhông đáp ứng được khách hàng khác Vì thế, việc tính toán đầy đủ các khía cạnh
Trang 22để lựa chọn được nhà cung ứng vừa đảm bảo về chất lượng, thời gian, vừa đảm bảođược chi phí mua sắm và vận chuyển là yêu cầu quan trọng được đặt ra.
Việc tiến hành mua sắm nguyên vật liệu của phòng vật tư chủ yếu thườngxuyên dựa vào uy tín của các đơn vị cung ứng nguyên vật liệu với từng chủng loạikhác nhau Trên thị trường độc quyền, chỉ có một người bán NVL, nhưng có rấtnhiều người mua loại NVL ấy Do vậy, người bán tự quyết định giá cả và lượnghàng hóa bán, người mua không có quyền lựa chọn Ngược lại, trên thị trường cạnhtranh có nhiều người cùng mua, bán một loại NVL, những người bán cạnh tranh vớinhau và những người mua cạnh tranh với những người bán, không ai có đủ khốilượng cần thiết để chi phối thị trường Để đảm bảo đạt những yêu cầu đặt ra cho quátrình mua và đảm bảo hiệu quả kinh doanh, công ty phải tìm và lựa chọn người bánthích hợp
Thông thường, trong loại công việc này, người mua lại phải xem xét trên cácmặt đảm bảo số lượng, chất lượng, kỳ hạn đã đặt ra với chi phí mua nhỏ nhất Đểviệc tìm và lựa chọn người bán thích hợp, công ty phải xác định được chính sáchlựa chọn người bán Chính sách ấy phải đảm bảo 2 mục tiêu cơ bản:
- Thỏa mãn được 5 yêu cầu đặt ra cho quá trình mua: Đúng số lượng mongmuốn; Đúng chủng loại mong muốn; Đúng chất lượng mong muốn; Đúngthời điểm mong muốn; Chi phí nhỏ nhất
- An toàn cho sản xuất, nghĩa là đảm bảo cho sản xuất tiến hành liên tục,không bị gián đoạn do những trục trặc xảy ra từ phía người bán
- Tiêu chuẩn lựa chọn nhà cung ứng
Cung cấp được chất lượng NVL đảm bảo yêu cầu sản xuất dịch vụ, là yêu cầutối quan trọng để đảm bảo sản xuất ra những sản phẩm có chất lượng cao
Giá cả phù hợp với giá mặt bằng thị trường, phù hợp với điều kiện tài chínhcủa công ty
Trang 23Đảm bảo về mặt tiến độ, thời gian cung ứng, có năng lực đáp ứng vật tư tựphục vụ cho sản xuất của công ty để tránh làm ảnh hưởng đến kế hoạch sản xuất,không xảy ra tình trạng thiếu hụt vật tư làm chậm thời gian hoàn thành.
Một nhà cung ứng tốt là một nhà cung ứng đem lại cho ta sự thỏa mãn caonhất về chất lượng sản phẩm và cung cách làm việc đảm bảo về sự an toàn cho hànghóa Không gây cản trở cho cả đôi bên Tuy nhiên không phải là sẽ không có nhữngkhuyết điểm, sai xót tuy nhiên ta củng có thể tìm cho mình một nhà cung ứng có ítkhuyết điểm nhất
Các nhà cung ứng trong nước không cho công ty có nhiều lựa chọn, bởi vì sốlượng nhà cung ứng NVL cho nghành dệt may không nhiều Còn với các nhà cungứng nước ngoài công ty thường tìm hiểu qua các thông tin gián tiếp như mạng, báochí và các bạn hàng khác…
- Phương pháp đánh giá nhà cung ứng
Để lựa chọn được nhà cung ứng phù hợp công ty dựa trên những cơ sở nhưsau:
Dựa trên hồ sơ về quy trình cung ứng cụ thể mà những người cung ứng đãtừng hợp tác với công ty trong thời gian vừa qua Qua đó ta có thể đánh giá và lựachọn cho mình một nhà cung ứng phù hợp nhất đối với phương thức làm việc củacông ty
Dựa trên đánh giá của bên thứ ba (chứng chỉ, chứng nhận mà đơn vị đó nhậnđược), thông qua đó chứng tỏ được uy tín của đơn vị cung ứng trên thị trường NVL
về chất lượng, khả năng đúng hạn, kịp thời đảm bảo cho cho công ty sản xuất liêntục nhờ vào việc đáp ứng đầy đủ NVL
Trên cơ sở những thông tin thu thập được, công ty tiến hành phân tích, đánhgiá để lựa chọn nhà cung ứng phù hợp nhất Tuy nhiên, công ty cũng cần đánh giákhách quan về nhà cung ứng khi tiếp nhận thông tin về họ Vì có thể thông tin chưachính xác, hay vì một điều kiện khách quan nào đó mà nhà cung ứng chưa làm tốtnhư trong cam kết đối với khách hàng
Trang 24- Xây dựng duy trì mối quan hệ
Chọn đơn vị cung ứng: khi đã có quyết định mua vật tư, phòng vật tư chịttrách nhiệm lập danh sách các đơn vị cung ứng trình lên Tổng Giám Đốc phê duyệt,nếu các đơn vị cung ứng nào đó được phê duyệt nhưng lại không đáp ứng được thìphải lựa chọn đơn vị cung ứng khác theo trình tự như sau:
Bước 1: Thu thập những thông tin của ít nhất 2 đơn vị cung ứng về loại NVLcần cung cấp Có như vậy ta mới có thể đánh giá chính xác được khả năng của nhàcung ứng Tốt nhất có thể ta đi thu tập thông tin nhiều hơn 2 đơn vị cung ứng để cóthể có nhiều lựa chọn hơn cho việc ra quyết định của công ty
Bước 2: Lấy thông tin trực tiếp từ các đơn vị cung ứng khi họ chào hàng, choxem mẫu vật tư, phiếu kiểm tra hay chứng chỉ chất lượng…Sau đó trực tiếp gửi cán
bộ đi đánh giá độ chính xác thông tin mà nhà cung ứng cung cấp
Bước 3: Chọn lựa, phê duyệt: phòng vật tư đánh giá khả năng cung ứng củacác đơn vị cung ứng trên cơ sở thông tin thu thập được, sau đó lập phiếu xem xét đềnghị của các nhà cung ứng, phiếu theo dõi được Giám Đốc phê duyệt và đưa vàodanh sách các đơn vị cung ứng của công ty, danh sách này cứ sau 2 năm có sự đánhgiá lại trước khi mua để kịp thời điều chỉnh.Việc lên danh sách nhà cung ứng và tạođược mối quan hệ thường xuyên, ổn định lâu dài tạo lợi thể là lựa chọn chắc chắn,không sợ rủi ro, giảm chi phí khảo sát, nghiên cứu
Để có thể giữ dược mối quan hệ đối tác lâu dài với nhà cung ứng, công tycũng cần quan tâm tới các nhu cầu của họ về phương thức, sao cho hai bên luôn tìmđược tiếng nói chung trong việc giao nhận hàng Muốn vậy công ty cần có nhữngbiện pháp tìm hiểu nhà cung ứng của mình Tất nhiên để tìm hiểu dược nhà cungcấp có nhiều phương pháp Một phương pháp ít tốn kém mà mang lại hiệu quả màcông ty đã áp dụng là sử dụng phiếu xem xét đề nghị của nhà cung ứng như mẫusau:
Trang 25CÔNG TY TNHHNN MTV DỆT 19/5 HÀ NỘI
PHIỂU XEM XÉT CÁC ĐỀ NGHỊ CỦA NHÀ CUNG ỨNG
1 Về phần nhà cung ứng
Nhà cung ứng Địa chỉ Điện thoại Tên người liên hệ Địa chỉ
Các yêu cầu thay đổi của nhà cung ứng
Số lượng Giá Phương thức giao nhận Phương thức thanh toán Các yêu cầu khác
2 Khả năng của công ty
Số lượng Giá cả Phương thức giao nhận Phương thức thanh toán Các quy định khác
3 Kết luận
Phòng Vật Tư Hà Nội, ngày…tháng….năm Giám Đốc
Trang 26
Đối với nhà cung ứng nước ngoài:
Nguyên vật liệu trong nước không đủ đáp ứng, chất lượng của bông trongnước không đủ chất lượng yêu cầu với sản phẩm, công ty phải nhập bông từ nướcngoài chủ yếu là các nhà cung ứng như: bông Tây Phi, bông Liên Xô, bông Mỹ,bông Ấn Độ… Nguyên liệu bông vẫn phải nhập đến 90%, đây là khó khăn chocông ty Do đó để giảm bớt khó khăn, giảm chi phí sản xuất, hạ giá thành sản phẩmcông ty cần tìm được các nhà cung ứng phù hợp đảm bảo chất lượng đầu vào tránhtình trạng lệ thuộc vào một số nhà cung ứng
Bởi vậy, ngành dệt may nói chung chịu tác động của các nhà cung ứng nướcngoài là rất lớn và công ty Dệt 19/5 không nằm ngoài xu hướng này
Bảng 2.3: Tình hình nhập khẩu bông của công ty năm 2007 và 2008
sẽ nhập khẩu khối lượng nguyên vật liệu ở các mức khác nhau
Để đáp ứng nhu cầu nguyên vật liệu của mình, công ty đã tìm đến một số đốitác nước ngoài như: Trung Quốc, Đài Loan, Nhật Bản, Thái Lan,… đây là các đối
Trang 27tác hiện nay thâm nhập vào Việt Nam rất nhiều tạo điều kiện cho công ty lựa chọnđược đối tác có chi phí mua thấp nhất.
Đối với nhà cung ứng trong nước:
Từ sức cung của thị trường trong nước ta thấy rằng mức độ ảnh hưởng củacác nhà cung ứng trong nước đối với toàn ngành không lớn Gần như toàn bộ cáccông ty hoạt động trong lĩnh vực này vừa sản xuất sợi, vừa sản xuất vải Nhưngkhối lượng sản xuất ra và chi phí sản xuất còn rất lớn Bởi thành phần chính yếu làbông vẫn phải nhập đến 98% bông từ nước ngoài Với chi phí sản xuất lớn như vậy,
họ không thể tự tăng chi phí trong quá trình sản xuất kinh doanh, vì vậy bông nhậpkhẩu vẫn là giải pháp hiệu quả hơn
Từ quý 4 năm 1998 công ty bông đã chuyển về cho công ty quản lý, tạo điềukiện thuận lợi cho việc trồng, chế biến và tiêu thụ bông Từ đó linh hoạt hơn trongviệc cung ứng kịp thời bông cho sản xuất Thêm nữa cây bông từ nay cũng có thịtrường lớn và ổn định là các công ty sản xuất sợi mỗi lúc một tăng, dự báo đến năm
2010 là 150.000 tấn Việc tăng sản lượng trong nước có ý nghĩa vô cùng lớn bởi sẽgiảm được tỷ lệ phải nhập khẩu, tránh các tác động của tỷ giá hối đoái, hạ giá thànhsản phẩm, công ăn việc làm cho người lao động
Nguồn cung ứng sợi trong nước của công ty bao gồm sợi Huế, sợi 8/3, sợi
Hà Nội
2.3.3- Xác định lượng đặt hàng và thời gian đặt hàng
Tại công ty, việc xác định lượng đặt hàng và thời gian đặt hàng là hoạt độnggắn liền với sản phẩm Bởi căn cứ trên đơn hàng đã được kí kết, công ty mới lên kếhoạch về NVL, sau khi xem xét để lựa chọn nhà cung ứng có trong danh sách,phòng vật tư tiến hành lập đơn đặt hàng và trình duyết lên Giám Đốc, nếu đơn hàng
đã được duyệt thì phòng sẽ gửi đơn đặt hàng và kí kết hợp đồng mua hàng Chỉ khi
có đơn hàng hay có nhu cầu sản xuất thì công ty mới cho xây dựng kế hoạch muasắm NVL Do đó lượng NVL cần mua sắm thường được xác định bằng lượng NVLcần để sản xuất ra số sản phẩm theo đơn hàng hoặc theo kế hoạch sản xuất Đâycũng chính là lượng dự trữ tối thiểu cần thiết mà công ty cần có Khi có nhu cầu
Trang 28NVL phòng vật tư lập nhu cầu NVL đưa xuống các thủ kho, trên cơ sở kiểm tralượng tồn kho để xem đủ thì xuất, không đủ thì tiếp tục lập đơn và gửi đơn hàngnhư vừa nói ở trên.
Để xác định được lượng đặt hàng hợp lý, tối ưu là yếu tố rất quan trọng, bởi
nó ảnh hưởng đến nhiều chi phí kèm theo, nếu đặt hàng lớn thì giảm số lần đặthàng, tiết kiệm được chi phí kinh doanh đặt hàng, giảm chi phí mua hàng với sốlượng lớn, đảm bảo được sự chắc chắn về NVL; nhưng đặt hàng quá lớn sẽ làm lưukho lớn, cần vốn lưu động lớn gây ảnh hưởng xấu đến khả năng thanh toán củadoanh nghiệp Ngược lại nếu đặt hàng quá ít dẫn đế chi phí kinh doanh lưu khogiảm nhưng vẫn không đem lại hiệu quả kinh doanh cao vì chi phí kinh doanh bìnhquân liên quan đến mua sắm và vận chuyển lớn, không được giảm giá mua hàng, sựgián đoạn trong khâu cung ứng
Với phương thức đặt hàng như vậy, công ty sẽ giảm được chi phí lưu kho,chi phí bảo quản, hao hụt, mất mát…Nhưng việc đặt hàng như thế cũng sẽ gây khókhăn như: lượng tiền thanh toán cho việc thanh toán không có đủ, khách hàngkhông có NVL để đáp ứng kịp thời, nếu điều này xảy ra sẽ làm tăng thời gian máymóc ngừng hoạt động, người lao động không có đủ việc để làm…dẫn đến chi phíkinh doanh tăng lên, giảm hiệu quản kinh doanh của công ty Hơn nữa việc muasắm như thế dẫn đến hiệu quả kinh doanh của công ty không cao do chi phí kinhdoanh bình quân liên quan đến mua sắm, vận chuyển lớn, không được giảm giá muahàng…
Trang 29Sau đây là mẫu đơn đặt hàng của công ty:
1 Tên hàng, số lượng, đơn giá
STT Tên vật tư Mã hiệu ĐVT Số lượng Đơn giá Tổng giá1
2
…
2 Quy cách chất lượng hàng hoá
3 Phương thức thanh toán
4 Giao nhận vận chuyển
Hàng giao tại
Thời gian giao hàng
Vận chuyển
5 Kiểm tra nghiệm thu
Thực hiện kiểm tra vật tư đầu vào theo quy trình (tuỳ theo từng chủng loại vật
tư để đưa ra các yêu cầu cho việc kiểm tra)
Xin chân trọng kính chào
Giám đốc công ty
( đã ký)
2.3.4- Tổ chức thực hiện kế hoạch mua NVL