Với sự phát triển mạnh mẽ về kinh tế của thế giới,với sự vươn lên không ngừng của các nước trong khu vực mà đặc biệt là sự phát triển như vũ bão về kinh tế, chính trị, xã hội.điều đó đặt nước ta vào một vị thế vô cùng quan trọng, bởi vì nước ta nằm ở vị trí cực kỳ nhậy cảm,nhạy cảm về vị trí chiến lược trong khu vực cũng như quân sự.
Trang 1MỤC LỤC
A LỜI MỞ ĐẦU 3
B.NỘI DUNG 4
I.CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI TTCK: 4
1.Khái niệm cơ bản về quản lý và QLNN đối với TTCK: 4
2 Vai trò của việc quản lý TTCK: 6
3 Chức năng của quản lý TTCK: 6
4 Các nguyên tắc cơ bản trong quản lý TTCK: 7
4.1 Nguyên tắc thống nhất quản lý về chính trị và kinh tế: 8
4.2 Nguyên tắc tập trung dân chủ: 8
4.3 Nguyên tắc kết hợp giữa các lợi ích kinh tế: 9
4.4 Nguyên tắc hiệu quả: 11
5 Các biện pháp quản lý TTCK: 11
5.1 Biện pháp giáo dục chính trị, tư tưởng: 13
5.2 Biện pháp hành chính luật pháp: 13
5.3.Biện pháp tổ chức và chỉ đạo: 14
5.4 Biện pháp kinh tế: 15
II Quản lý nhà nước đối với các công ty tham gia thị trường chứng khoán 16
1 Khái niệm 16
2.Nội dung 16
2.1.Quản lý đối với việc phát hành TPCP, Trái phiếu được Chính phủ bảo lãnh và TPCQĐP 16
2.2 QLNN đối với hoạt động PHCK của các doanh nghiệp: 19
2.3.QLNN đối với hoạt động niêm yết và ĐKGD 26
2.4 QLNN đối với hoạt động GDCK: 30
Trang 23.các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý nhà nước đối với các công ty tham
gia chứng khoán 33
4 tiêu chí đánh giá hoạt động quản lý nhà nước đối với công ty tham gia chứng khoán 35
III Đánh giá hoạt động quản lý nhà nước đối với các công ty tham gia vào thị trường chứng khoán 35
1.Khung pháp lý: 35
2.Những hạn chế: 39
3 Các giải pháp chung: 42
3.1 Hoàn thiện khung pháp lý CK & TTCK: 42
3.2 Hoàn thiện bộ máy QLNN đối với TTCK: 45
C.KẾT LUẬN 47
D Danh mục các văn bản pháp luật, các sách, báo, tạp chí: 49
Trang 3A LỜI MỞ ĐẦU
Với sự phát triển mạnh mẽ về kinh tế của thế giới,với sự vươn lên khôngngừng của các nước trong khu vực mà đặc biệt là sự phát triển như vũ bão vềkinh tế, chính trị, xã hội.điều đó đặt nước ta vào một vị thế vô cùng quan trọng,bởi vì nước ta nằm ở vị trí cực kỳ nhậy cảm,nhạy cảm về vị trí chiến lược trongkhu vực cũng như quân sự chính vì thế mà đảng và nhà nước ta đã nhận thấy rõcông việc của mình là phải lãnh đạo, định hướng phát triển nền kinh tế đất nướcsao cho thật tốt, để tiến tới kỷ nguyên mới với thành công rực rỡ để đạt đượcđiều đó đảng, nhà nước đã đưa ra nhiệm vụ ,mục tiêu tiến hành “Công nghiệphóa và hiện đại hóa đất nước”
Để tiến hành công nghiệp hóa và hiện đại hóa thành công, tăng trưởngkinh tế bền vững, khắc phục nguy cơ tụt hậu so với các nước trong khu vực cầnphải có nguồn vốn lớn mà để có nguồn vốn lớn cần có thị trường chứngkhoán tuy nhiên việc phát hành thị trường chứng khoán ở Việt Nam gặp rấtnhiều khó khăn về kinh tế cũng như sự hiểu biết về loại hình kinh doanh này cònhạn chế, đặc biệt khi thị trường chứng khoán đi vào hoạt động cần phải có “sựquản lý của nhà nước đối với các công ty phát hành chứng khoán”
Chính vì thế, mà hơn bao giờ hết chúng ta cần phải chuẩn bị một kỹ năng
kỹ càng cả về kiến thức cơ bản và học hỏi kinh nghiệm của một số nước trên thếgiới về tổ chức quản lý và kiểm soát hoạt động của các công ty phát hành chứngkhoán
Trang 4B.NỘI DUNG
I.CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI TTCK:
1.Khái niệm cơ bản về quản lý và QLNN đối với TTCK:
Khi xã hội loài người xuất hiện thì nhu cầu quản lý cũng hình thành Trình
độ quản lý phát triển theo sự phát triển của xã hội qua các phương thức sản xuấtkhác nhau Trong thời đại ngày nay, trong ba yếu tố cơ bản quyết định tới sựphát triển của xã hội là sức lao động, tri thức và trình độ quản lý thì quản lýđược coi là yếu tố quan trọng hàng đầu
“Quản lý là sự tác động liên tục, có định hướng, có tổ chức của chủ thể quản lý ( người quản lý, tổ chức quản lý) lên khách thể ( đối tượng bị quản lý) trên các mặt kinh tế, chính trị, văn hoá,xã hội …thông qua hệ thống pháp luật, các chính sách, các nguyên tắc, các quy định và bằng các biện pháp cụ thể nhằm tạo ra mội trường và tạo điều kiện cho sự phát triển của đối tượng
bị quản lý”.
Quy mô của quản lý có thể khác nhau: toàn cầu, khu vực, quốc gia, ngành,đơn vị…Quy mô khác nhau thì tính chất của quản lý cũng khác nhau Quản lý ởphạm vi quốc gia được coi là quản lý Nhà nước, quản lý ở một đơn vị kinhdoanh được coi là quản lý kinh doanh ( quản trị kinh doanh)…
TTCK là một lĩnh vực hoạt động trong nền kinh tế một quốc gia Vì vậy:
“Quản lý Nhà nước đối với TTCK của một quốc gia là sự quản lý vĩ mô của Nhà nước đối với các hoạt động xây dựng, vận hành và phát triển của TTCK”.
Quản lý là sự tác động của chủ thể quản lý lên các khách thể chịu sự quản
lý, làm cho các khách thể vận động theo hướng mà chủ thể mong muốn Bảnchất của hoạt động quản lý là quá trình đề ra các luật lệ, quy tắc, quy định vàthực hiện việc giám sát, cưỡng chế thực thi các luật lệ, quy tắc, quy định đónhằm kích thích và phát triển các yếu tố tích cực, đồng thời loại bỏ những yếu tố
Trang 5tiêu cực không mong muốn Hoạt động có sự quản lý là hoạt động phải tuân thủcác luật lệ, quy tắc do con người là chủ thể quản lý đặt ra Lịch sử hình thành vàphát triển TTCK ở các nước cho thấy TTCK ở những nước phát triển ra đời vàhoạt động tự do nhiều năm trước khi có sự quản lý về lĩnh vực này Việc quản lýTTCK xuất hiện với mục đích chống lại những hành vi thao túng, lừa đảo,chống lại sự lạm dụng trong hoạt động chứng khoán Cùng với sự phát triển vớiquy mô ngày càng rộng lớn và đa dạng, phức tạp của TTCK thì phương thức,nội dung, chức năng của quản lý ngày càng được hoàn thiện và phát triển Nếunhư trong thời kì sơ khai của TTCK, việc quản lý TTCK chủ yếu do các tổ chức
tự nhiên đảm trách, không có sự tham gia của các tổ chức quản lý Nhà nước vàpháp luật, thì cho đến ngày nay, ở hầu hết các nước đã có sự tham gia quản lýcủa Nhà nước để tăng cường hiệu quả của quản lý Nếu như trước đây, chứcnăng chủ yếu của các chủ thể quản lý là duy trì sự ổn định kỷ luật của thị trườngthì ngày nay, ngoài các chức năng đó, các chủ thể quản lý còn phải thực hiệnchức năng phát triển thị trường và ngăn ngừa những rủi ro lây lan của toàn bộ hệthống
Có thể khẳng định rằng, xu thế của tất cả các quốc gia là đưa TTCK vàoquỹ đạo quản lý Nhà nước có kết hợp với chế độ tự quản
Quá trình hình thành và mức độ phát triển phức tạp, đa dạng của TTCK vàđiều kiện cụ thể của mỗi nước dẫn đến sự đa dạng trong cơ chế và mức độ quản
lý thị trường Trong khi hầu hết các TTCK ở các nước phát triển được hìnhthành từ khu vực tư nhân nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế, do các cánhân đứng ra tổ chức, vận hành và tự quản thì ngược lại, ở các nước đang pháttriển TTCK thường do Chính phủ đứng ra thành lập với những mục đích cụ thểnhư hỗ trợ huy động vốn, tư nhân hoá hay thực hiện các mục tiêu kinh tế kháccủa Nhà nước Do vậy Chính phủ đóng vai trò chính trong việc tổ chức và quản
lý thị trường
Trang 62 Vai trò của việc quản lý TTCK:
Vai trò của việc quản lý TTCK là hướng tới việc tạo lập một thị trườngcông bằng, công khai, trung thực và hiệu quả
- Tính công bằng trong hoạt động của TTCK được đảm bảo bằng các biệnpháp quản lý chống độc quyền và bảo vệ sự cạnh tranh lành mạnh trong kinhdoanh chứng khoán, đầu tư chứng khoán, đặc biệt là công bằng với các nhà đầu
tư nhỏ
- Tính công khai trong hoạt động của TTCK được đảm bảo bằng các biệnpháp quản lý bắt buộc công khai thông tin của các đối tượng tham gia thị trường,nhằm tránh hoạt động lạm dụng, không lành mạnh
- Tính trung thực trong hoạt động của TTCK được đảm bảo bằng các hoạtđộng quản lý nhằm làm hạn chế những rủi ro phát sinh từ những hoạt độngkhông đúng đắn, rủi ro lây lan do mất lòng tin của công chúng đầu tư
Một thị trường mà hệ thống quản lý được xem là có hiệu quả cần phải đượcxem xét cả về khía cạnh tiết kiệm chi phí và lợi ích thu được.Tính hiệu quả tỷ lệthuận với kết quả và tỷ lệ nghịch với chi phí Kết quả được đánh giá chủ yếuthông qua việc thực hiện chức năng huy động vốn dễ, rẻ, luân chuyển vốn, phân
bổ và sử dụng nguồn vốn một cách hợp lý…Chi phí được tính chủ yếu được tínhđến là chi phí cho bộ máy quản lý và những chi phí thất thoát, mất mát do quản
lý kém Việc quản lý thái quá hoặc không đầy đủ có thể dẫn đến làm tăng chiphí, làm giảm hiệu quả quản lý thị trường
3 Chức năng của quản lý TTCK:
Quản lý là một hình thức đặc biệt của hoạt động điều hành, là sản phẩm củatiến trình phân công lao động và chuyên môn hoá việc quản lý ở hầu hết cácnước đang phát triển, các chủ thể quản lý luôn có hai chức năng chính: duy trì sựhoạt động ổn định của thị trường; tạo điều kiện để phát triển thị trường, làm chothị trường có thể cạnh tranh và thích ứng với mọi thay đổi trong xã hội
Trang 7Với chức năng ổn định thị trường tức là phải tạo lập một thị trường có kỷluật, an toàn, trật tự, ít rủi ro thì các nhà quản lý phải xác định được nên chophép đối tượng nào tham gia thị trường, tiêu chuẩn tham gia gồm những yếu tố
gì, xác định phải quản lý cái gì và giám sát cái gì Với chức năng phát triển thìcác nhà quản lý phải tạo động lực thúc đẩy thị trường Các chức năng này được
sử dụng vào hoàn cảnh khác nhau, tuy nhiên trong hoạt động quản lý Nhà nướcthì các chức năng này thường được áp dụng một cách đồng bộ
Đối với TTCK, hoạt động quản lý được cụ thể hoá ở một số lĩnh vực sau:
- Xây dựng kế hoạch hoạt động và phát triển TTCK với từng bước đi cụ thế
và thích hợp với điều kiện văn hoá, kinh tế, chính trị, xã hội, dân trí và các điềukiện khác
- Xây dựng hệ thống tổ chức bộ máy của TTCK như: cơ quan quản lý Nhànước, SGDCK, TTGDCK, TTLKCK, CtyCK, CtyQLQ…
- Xây dựng sự phối hợp giữa các tổ chức, các cá nhân là thành viên thamgia TTCK để tạo được sự thống nhất trong mọi hoạt động của TTCK
- Điều chỉnh, xử lý các hành vi sai phạm trên TTCK như mua bán gian lận,đầu cơ,…Mặt khác, tạo các điều kiện thuận lợi, khuyến khích những hoạt độngtiêu cực trên thị trường
- Thực hiện công tác kiểm tra định kỳ, bất thường nhằm phát hiện các hành
vi vi phạm pháp luật, thực hiện tổng kết thống kê nhằm tổng hợp hoạt động củathị trường
4 Các nguyên tắc cơ bản trong quản lý TTCK:
Nguyên tắc quản lý là những nguyên tắc chỉ đạo, những tiêu chuẩn hành vi
mà các chủ thể quản lý phải tuân theo khi thực hiện việc chỉ đạo, điều hành củamình
Các nguyên tắc trong quản lý được hình thành theo một hệ thống nhấtquán Con người đề ra các nguyên tắc quản lý nhưng những nguyên tắc này
Trang 8cũng chỉ mang tính chất khách quan vì nó nảy sinh từ chính bản chất xã hội.Khoa học quản lý đã rút ra những nguyên tắc cơ bản của quản lý như sau:
4.1 Nguyên tắc thống nhất quản lý về chính trị và kinh tế:
Trong hoạt động con người thì chính trị và kinh tế là hai phạm vi khác nhaunhưng lại có mối quan hệ hữu cơ với nhau, thúc đẩy nhau Giữa hai phạm vihoạt động này không phải lúc nào cũng thống nhất mà nhiều khi chúng có sựđộc lập tương đối nhưng lại có quan hệ tương hỗ và phụ thuộc nhau Chính trịnhiều khi là biện pháp để thực hiện các mục tiêu kinh tế và ngược lại, kinh tế lại
là đòn bẩy, là động lực để thực hiện các mục đích chính trị
Nguyên tắc này cũng được áp dụng trong QLNN đối với TTCK Yếu tốkinh tế của TTCK được thể hiện ở chỗ nó được coi như là một thị trường củacác thị trường Bên cạnh đó, TTCK không chỉ mang lại lợi ích mang tính kinh tế
mà còn có cả các yếu tố chính trị trong đó Chính vì thế, trong quản lý TTCK, sựkết hợp giữa kinh tế và chính trị là một yêu cầu bắt buộc, và trong trường hợp cóxung đột giữa hai mục đích thì mục tiêu chính trị phải được đặt lên trên nhất vìtrong chính trị đã bao hàm cả kinh tế Để TTCK phát huy được hết vai trò, chứcnăng của mình thì TTCK phải ổn định, phát triển lành mạnh Với đặc điểm đây
là một thị trường có tính rủi ro hệ thống rất cao, dễ bị ảnh hưởng khi có thôngtin bất cân xứng trên thị trường thì nếu nhà quản lý không đặt mục tiêu an toàn
ổn định của TTCK lên trước mục tiêu kinh tế thì nguy cơ xảy ra những tác độngkhông tốt là rất lớn Tuy nhiên, nhà hoạch định chính sách và quản lý TTCKcũng không thể lơi là tính kinh tế trong việc thực hiện công tác quản lý TTCKcần được hoạt động đúng theo nguyên tắc của thị trường là quy luật tự do cungcầu và chỉ khi đó TTCK mới đem lại lợi ích thiết thực
4.2 Nguyên tắc tập trung dân chủ:
Tập trung dân chủ là tập trung điều hành vào một cơ quan quyền lực caonhất Đây là cơ quan vạch ra đường lối, điều lệ, quy chế, phương hướng, đườnglối, mục tiêu tổng quát và đề ra các biện pháp cơ bản, chủ yếu để thực hiện Tính
Trang 9dân chủ trong quản lý thể hiện ở chỗ mọi người có thể tham gia bàn bạc, đónggóp ý kiến để tìm ra các biện pháp khả thi nhất cho quá trình thực hiện Hai vấn
đề tập trung dân chủ có sự tác động qua lại với nhau Tuy nhiên trong thực tế,quá trình thực hiện hai nguyên tắc này thường dễ làm nảy sinh hai thái cực, hoặc
là tập trung quan liêu độc đoán chuyên quyền, hoặc là dân chủ quá trớn, vôchính phủ
Đối với TTCK, sự tập trung quản lý thể hiện ở việc tập trung quyền hạnquản lý cho một cơ quan nhất định, thường là UBCK quốc gia, và ở các TTCKtrong giai đoạn mới hình thành và phát triển thì điều này đặc biệt quan trọng ởnhững TTCK mới hình thành thì chủ thể tham gia thị trường còn chưa có hiểubiết tốt, tình trạng không minh bạch, lừa đảo có thể xảy ra; đồng thời TTCK còn
là thị trường của những thị trường do vậy cần phải có một cơ quan quyền lực đủkhả năng thực hiện những biện pháp cần thiết để tạo lập được một thị trườngcông bằng và điều khiển mọi hoạt động của TTCK theo những nguyên lý cơ bảncủa thị trường về quy luật cung cầu, quy luật tự do cạnh tranh, nếu không tínhhiệu quả của thị trường sẽ không còn nữa Trong quá trình hình thành và pháttriển của TTCK, chính những chủ thể tham gia trên thị trường lại là những ngườikhởi xuớng, thống nhất những quy ước và tập quán chung cho toàn TTCK, và ởcác TTCK lâu đời thì vai trò của những quy ước, tập quán tự thiết lập này là rấtlớn nếu không nói là vai trò chính Trong một chừng mực nào đấy, chính nhữngquy ước, tập quán này đã tạo lập được trật tự của TTCK và giúp cho TTCKhoạt động có hiệu quả Vì vậy, nếu sự tập trung quyền hạn bị lạm dụng trongquản lý TTCK thì sẽ làm hỏng các chức năng lành mạnh của TTCK Do đó,người làm công tác quản lý cần có sự điều chỉnh mức độ dân chủ tuỳ theo sựphát triển của thị trường với sự tập trung quyền lực quản lý nhất định
4.3 Nguyên tắc kết hợp giữa các lợi ích kinh tế:
Trên thực tế luôn có lơi ích khác nhau giữa chủ thể và khách thể quản lý,
có sự mâu thuẫn giữa lợi ích cá nhân, lợi ích tập thể và lợi ích toàn xã hội Vai
Trang 10trò của công tác quản lý lúc này là phải tìm cách kết hợp, thoả mãn các lợi íchtheo đúng nhu cầu, đảm bảo cho các lợi ích không đối lập nhau, hỗ trợ thúc đẩynhau phát triển Vấn đề này đòi hỏi công tác quản lý phải chú trọng tới từng loạilợi ích trong từng mặt hoạt động như đầu tư, huy động vốn, phân chia lợi nhuận,ban hành các quy định về thuế,…
Khi TTCK hoạt động ổn định, hiệu quả thì các nguồn vốn mới được sửdụng tối đa nhât và đem lại lợi ích kinh tế Người cần vốn có được chi phí vốn rẻnhất và lợi nhuận đem lại cho người đầu tư là cao nhất Thực tế, bên cạnh sựthống nhất chung thì luôn tồn tai mâu thuẫn giữa các lợi ích với nhau, mâu thuẫngiữa lợi ích chung và lợi ích riêng, và nguyên nhân phát sinh lại chính từ tínhchất cạnh tranh khốc liệt của cơ chế thị trường Các nguồn vốn đầu tư đượcthông qua TTCK thì lại tập trung chủ yếu vào trong các lĩnh vưc sản xuất, dịch
vụ là những nơi đem lại mức sinh lời cao, dễ thu hồi vốn và mức độ rủi ro lạithấp Ngược lại, tại những ngành thuộc lĩnh vực đầu tư mang tính công cộng,tính xã hội cao như giáo dục, y tế, khoa học…thì lại không mấy được các nhàđầu tư mặn mà vì khó thu hồi vốn, lợi nhuận thu được thấp và mức độ rủi ro cao.Rủi ro trên TTCK còn phát sinh khi các cá nhân vì lợi ích riêng mà có thể cónhững hành vi không tốt, không minh bạch như tình trạng đầu cơ, các hành vigian lận, làm giá gây thiệt hại tới lợi ích chung của toàn bộ thị trường, và khi đóthì lợi ích của toàn xã hội cũng bị ảnh hưởng Như vậy, thứ tự ưu tiên trong quản
lý là quyền lợi xã hội nói chung, thể hiện là quyền của người đầu tư phải đượcđảm bảo Khi đó thị trường mới có thể vận hành tốt được và đem lại lợi ích chonhững chủ thể tham gia khác như người môi giới kinh doanh dịch vụ…Do đócần phải có sự điều tiết quản lý của Nhà nước mới có thể đảm bảo nguồn vốnđầu tư cho các ngành phi lợi nhuận hoạt động, đảm bảo sự phát triển đồng đều
và toàn diện của xã hội
Trang 114.4 Nguyên tắc hiệu quả:
Tiết kiệm là hạn chế chi phí đến mức tối thiểu mà vẫn đem lại hiệu quả tối
đa Tiết kiệm là nhằm để giảm thiểu chi phí nhưng chỉ có ý nghĩa khi thực hiện
nó mang tính hiệu quả Hiệu quả là kết quả cuối cùng của hoạt động được đobằng giá trị, vật phẩm, thời gian tác động,…Tiết kiệm và hiệu quả luôn đi vớinhau và nó là thước đo để đánh giá kết quả cuối cùng của quản lý
TTCK là mô hình tiêu biểu nhất về tính hiệu quả vì bản thân TTCK đãmang trong nó tính tiết kiệm chi phí và nhằm tới hiệu quả kinh tế cao nhất vìđây là môi trường thuận lợi nhất cho các nguồn vốn từ các nhà đầu tư được trựctiếp đưa đến nơi cần vốn Quá trình đầu tư thông qua TTCK được thực hiện vớichi phí thấp nhưng mang lại hiệu quả cao Vì vậy, đảm bảo nguyên tắc này trongTTCK tức là đảm bảo cho TTCK được hoạt động tự nhiên và phát huy nhữngchức năng vốn có của nó Nguyên tắc này được coi là tiêu chí áp dụng cho bất kìchính sách nào bởi mỗi chính sách đem lại lợi ích cũng kèm theo đó là chi phí.Nếu chi phí lớn hơn lợi ích đem lại thì việc áp dụng các chính sách đó là không
Do đó biện pháp quản lý có rất nhiều, hình thức và cách áp dụng cũng khácnhau Đối với TTCK cần áp dụng phương thức quản lý nào thì lại phụ thuộc rấtnhiều vào mức độ phát triển của thị trường Trên thực tế, xuất hiện hai trườngphái quản lý chính đối với TTCK là quản lý chặt chẽ của Nhà nước (phổ biến ởnhững nước có TTCK mới phát triển) hoặc là tự quản (phổ biến ở những nước
có thị trường phát triển lâu đời)
Trang 12QLNN được hiểu là Nhà nước giao quyền quản lý cho một hay nhiều cơquan của Nhà nước hoặc Chính phủ được phép đặt ra luật pháp hay quy địnhcho thị trường và thực thi luật Cho dù quyền quản lý này nằm trong tay một haynhiều cơ quan khác nhau thì vẫn thuộc quyền kiểm soát của Nhà nước Khi mộtnước theo trường phái Nhà nước tham gia nhiều vào quản lý, thông thường làbẵng cách thông qua một cơ quan chuyên biệt trực thuộc Nhà nước thì việc ápdụng biện pháp hành chính, luật pháp thường chiếm một vị trí lớn.
Trường phái tự quản lại cho phép chính người tham gia vào TTCK tự đặt raluật lệ Ví dụ như rất nhiều SGDCK có tư cách là một hiệp hội và mọi hoạt độngcủa SGDCK đều do SGDCK tự đặt ra để mọi thành viên phải tuân theo…Trongtrường hợp này, biện pháp mà Nhà nước phải sử dụng là biện pháp tổ chức,điều kiển và biện pháp kinh tế
Mỗi trường phái đều có mặt mạnh và mặt yếu của nó Tự quản cho phépcác quy định của thị trường phù hợp với yêu cầu của những người tham gia thịtrường, song chính các tổ chức tự quản này đôi khi có khả năng bất chấp và hisinh tính thống nhất của thị trường vì quyền lợi trước mắt của các hội viên Mặttốt của các tổ chức tự quản này là thường xuyên có những đổi mới về tập quánkinh doanh cho phù hợp với sự phát triển thực tế của thị trường, song cũng cónguy cơ khi các tổ chức này có tính “ phản cạnh tranh” khi chúng tìm cách cốđịnh giá cả, hạn chế sự tham gia của các thành viên mới và phản đối sự thay đổi
cơ cấu ngành kinh tế khi sự thayđổi đó ảnh hưởng đến quyền lợi của các hộiviên Trong trường hợp này, nếu có sự quản lý của cơ quan QLNN cùng với sự
hỗ trợ ngân sách cần thiết thì các cơ quan QLNN này có thể vượt qua được vấn
đề quyền lợi trước mắt và thực hiện các thay đổi cần thiết Mặt khác, các cơquan QLNN thường lại thiếu nhân lực cũng như tài chính để vạch ra các chínhsách mang tính kĩ thuật và để trực tiếp giám sát, kiểm soát hoạt động của thịtrường Trong công tác quản lý, người quản lý phải biết vận dụng khéo léo tất cảcác biện pháp trên để đạt được hiệu quả quản lý cao nhất
Một số biện pháp điển hình thường được sử dụng là:
Trang 135.1 Biện pháp giáo dục chính trị, tư tưởng:
Hầu hết các TTCK mới nổi đều không phải theo con đường tự nhiên nhưcác thị trường lâu đời ở phương Tây Những thị trường này ra đời là do lỗ lựccủa Chính phủ trong việc thiết lập một thị trường tài chính Nó còn mới mẻ vớitất cả các chủ thể tham gia trên TTCK Hầu hết mọi người chưa có nhận thức vàhiểu biết về TTCK do đó họ còn dè dặt trong việc đầu tư vào thị trường này Bởivậy, việc trang bị cho họ những kiến thức cơ bản về chứng khoán và TTCK để
họ có thể hiểu về những lợi ích của hình thức đầu tư mới mẻ này đem lại, đồngthời trang bị cho họ những kĩ năng để họ có thể đầu tư một cách hiệu quả nhất,
tự chịu trách nhiệm về các quyết định đầu tư của mình, tự phòng chống được cácrủi ro khi tham gia trên thị trường,… Vì thế yếu tố giáo dục, xây dựng tâm lýcho người tham gia thị trường là cực kì quan trọng Việc giáo dục bao gồm côngtác vạch đường lối chính sách phát triển kinh tế cho phù hợp, đào tạo phổ biếnkiến thức về thị trường, về chuyên môn nghiệp vụ; xây dựng và thiết lập nhữngchuẩn mực kinh doanh, kế toán, kiểm toán, xếp hạng cho hoạt động phát hành
và bảo lãnh chứng khoán
5.2 Biện pháp hành chính luật pháp:
Bịên pháp này có tác động trực tiếp và có vai trò lớn nhất trong các biệnpháp quản lý của Chính phủ ở các TTCK mới nổi bởi ở những thị trường nàymọi hoạt động đang đều ở giai đoạn mới hình thành, hơn thế nữa nhiều khi lại rađời không theo con đường tự nhiên như ở các nước phát triển Nhà nước đóngvai trò chính trong việc điều hành và hướng dẫn thị trường Ngoài ra, cho dù ởbất kỳ TTCK nào thì hình thức quản lý cơ bản nhất vẫn là luật pháp Bởi đây làmột thị trường đầy tính phức tạp thì luật pháp rõ ràng gần như là một điều kiệntiên quyết để có một thị trường hoạt động trong khuôn khổ và ổn định Luậtpháp về chứng khoán phải được hiểu là cả một hệ thống gồm Luật Chứng khoán
và các luật khác như Luật Doanh nghiệp, Luật Đầu tư,… Và vì vậy, việc xâydựng một hệ thống luật pháp không chỉ đơn thuần là việc cho ra đời Luật Chứng
Trang 14khoán mà còn bao gồm cả việc điều chỉnh và hoàn thiện dần các luật liên quan
để tạo môi trường pháp lý đầy đủ cho sự hình thành và phát triển của thị trường.Trên thực tế, rõ ràng không thể có được một hệ thống luật pháp hoàn thiện
lý tưởng ngay từ khi TTCK mới hình thành Do dó, biện pháp quản lý hànhchính là điều cần thiết để điều chỉnh và xử lý những hành vi có nguy cơ hoặc đãgây thiệt hại cho thị trường, nhất là những thị trường mới nổi và đặc biệt đang ởtrong giai đoạn đầu mới hình thành thị trường Điều này còn đúng hơn với thịtrường đang còn thiếu những chuyên gia giỏi về kiểm toán, kế toán, hệ thốnghành pháp thiếu những người có hiểu biết về TTCK
5.3.Biện pháp tổ chức và chỉ đạo:
Tổ chức là định hình các cơ cấu bộ phận tạo thành, xác lập chức năng,quyền hạn, nhiệm vụ và phạm vi hoạt động của từng bộ phận, đặt các bộ phậntrong quan hệ đối tác phù hợp, trong một tổng thể hoàn chỉnh Thể chế hoá tổchức là quá trình Nhà nước quy định cơ cấu tổ chức, vạch ranh giới cho từngcấp quản lý bằng các văn bản pháp luật, các văn bản quy định chức năng, nhiệm
vụ, cơ cấu tổ chức của các Bộ, cơ quan ngang Bộ, là những cơ quan QLNN theolĩnh vực chuyên môn; quy định cơ cấu tổ chức, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạncủa DNNN hoặc cơ cấu tổ chức của các tập đoàn kinh tế xuyên quốc gia, điều lệdoanh nghiệp, điều lệ công ty…
Trong quản lý, sự tác động của tổ chức có ý nghĩa hiệu quả và thiết thực
Nó chỉ cho mọi người, mọi cấp biết trước phải hoạt động theo trật tự quy địnhtrước, nhằm đạt được những chỉ tiêu định trước Mặt khác, tổ chức có thể gâycản trở nếu quy định quá chi tiết, cứng nhắc khiến người thừa hành không pháthuy được sáng kiến, mất tính linh hoạt, sáng tạo Do đó, bên cạnh công tác tổchức phải có sự điều khiển trực tiếp Điều khiển là sự đôn đốc, chỉ đạo cụ thểnhằm điều chỉnh kịp thời những sai lệch so với mục tiêu đề ra Đó là hình thứctác động tích cực và linh hoạt nhất của biện pháp quản lý.Tổ chức và điều khiểncần được thực hiện phối hợp lẫn nhau trong quá trình quản lý
Trang 15Đối với TTCK, vai trò của biện pháp tổ chức trong QLNN là rất quantrọng Chỉ khi Nhà nước thể chế hoá được hệ thống quản lý TTCK thì mới cóthể thực hiện được việc quản lý Thông thường, các Chính phủ phải thành lậpmột uỷ ban chuyên trách trực tiếp quản lý TTCK, thường là UBCK quốc gia.Ngoài ra, nếu không thành lập một uỷ ban riêng thì Nhà nước phải giao quyềnquản lý cho một Bộ hay một cơ quan tương đương cấp, ví dụ như NHTW Tuỳthuộc vào chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn mà uỷ ban này được quy định, Nhànước thực hiện công tác quản lý của mình Nếu việc thể chế hoá tổ chức đượcthực hiện kém thì khả năng QLNN sẽ bị hạn chế đi rất nhiều
Tuy nhiên, cần phải hết sức thận trọng khi sử dụng biện pháp này vì sự canthiệp quá sâu vào TTCK thường để lại những hậu quả xấu Trong trường hợpcần thiết vẫn phải sử dụng biện pháp này vì các cơ quan quản lý thường chậmthay đổi, khó có thể theo kịp những thay đổi và tiến bộ hàng ngày của thịtrường Cách tốt nhất là hoàn thiện thể chế tổ chức quản lý và liên tục cải tiến,đổi mới tổ chức quản lý
5.4 Biện pháp kinh tế:
Biện pháp quản lý bằng kinh tế là cách thức vận dụng tổng hợp các đòn bẩykinh tế để kích thích các cá nhân, tập thể và toàn bộ xã hội thực hiện được mụctiêu theo định hướng vạch sẵn Những đòn bẩy này ở phạm vi vĩ mô là các chínhsách kinh tế, các chế tài, các chế độ thuế, chế độ hạch toán, kế toán,…Cơ sở lýluận và thực tế của nhiều nước cho thấy chế độ thuế là một công cụ tích cựctrong quản lý TTCK Chế độ thuế phù hợp có thể khuyến khích đầu tư vàochứng khoán, làm tăng cầu chứng khoán, là động lực cho TTCK phát triển.Nhiều quốc gia áp dụng chế độ hạch toán kinh tế độc lập cho các SGDCK, tạonguồn thu nhập cho các SGDCK, để chính các SGDCK này duy trì được vai trò
tự quản và thực hiện được những chương trình khoa học, áp dụng được nhữngcông nghệ cần thiết cho quản lý
Trang 16Như vậy, biện pháp kinh tế có tác dụng rất lớn trong lĩnh vực QLNN đốivới TTCK Biện pháp này có ưu điểm là không áp dụng những chỉ thị, mệnhlệnh trực tiếp của chủ thể quản lý nhưng có tác động rất thiết thực và sâu rộng.
II Quản lý nhà nước đối với các công ty tham gia thị trường chứng khoán
1 Khái niệm
Quản lý Nhà nước đối với TTCK của một quốc gia là sự quản lý vĩ mô của Nhà nước đối với các hoạt động xây dựng, vận hành và phát triển của TTCK
cụ để Chính phủ điều tiết vĩ mô nền kinh tế Hành lang pháp lý cho việc pháthành các loại trái phiếu này đã được Chính phủ từng bước hoàn thiện Ngày20/1/2003,Chính phủ đã ban hành Nghị định 141/2003/NĐ-CP về việc pháthành TPCP, TPCQĐP và trái phiếu được Chính phủ bảo lãnh thay thế cho Nghịđịnh 01/2000/NĐ-CP
Theo các quy định mới này thì TPCP và TPCQĐP đều do Chính phủ quyđịnh (trừ Công trái xây dựng tổ quốc tuân theo quy định tại pháp lệnh số12/1999/PL-UBTVQH10 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội) Theo Nghị định141/2003/NĐ-CP, thì Chính phủ là chủ thể phát hành các loại TPCP, Uỷ bannhân dân cấp tỉnh là chủ thể phát hành TPCQĐP Song các chủ thể này có thểchuyển quyền cho các cơ quan chức năng trực thuộc như KBNN, Bộ Tài chính,hoặc các tổ chức tài chính, tín dụng chịu trách nhiệm này Bộ Tài chính chịu
Trang 17trách nhiệm hướng dẫn và giám sát việc phát hành, sử dụng, thanh toán các loạiTPCP, xây dựng phương án phát hành trái phiếu công trình trung ương để trìnhChính phủ quyết định; tổ chức việc phát hành trái phiếu kho bạc, trái phiếu côngtrình trung ương, trái phiếu ngoại tệ và công trái xây dựng tổ quốc; thẩm địnhphương án và giám sát toàn bộ quá trình phát hành trái phiếu chính quyền địaphương; thoả thuận với các tổ chức phát hành về phương án phát hành, kế hoạchtriển khai đối với trái phiếu đầu tư của Chính phủ và trái phiếu công trình đượcChính phủ bảo lãnh; quyết định lãi suất trái phiếu kho bạc, trái phiếu công trìnhtrung ương; quyết định lãi suất trần của trái phiếu đầu tư, trái phiếu được Chínhphủ bảo lãnh, quyết định biên độ giới hạn lãi suất TPCQĐP NHNN chịu tráchnhiệm phối hợp với Bộ Tài chính tổ chức đấu thầu tín phiếu kho bạc, trái phiếungoại tệ qua NHNN, tham gia với Bộ Tài chính trong việc xây dựng lãi suấtTPCP và trái phiếu được Chính phủ bảo lãnh, tổ chức mua lại nguồn ngoại tệthu được từ việc phát hành trái phiếu ngoại tệ để tăng dự trữ ngoại hối của Nhànước và bán ngoại tệ cho Bộ Tài chính để thanh toán tiền gốc và lãi trái phiếukhi đến hạn, chỉ đạo các tổ chức tín dụng phát hành trái phiếu đầu tư theo quyếtđịnh của Thủ tướng Chính phủ.
UBCKNN chịu trách nhiệm phối hợp với Bộ Tài chính tổ chức phát hànhTPCP thông qua hình thức đấu thầu tại TTCK, quản lý và giám sát các hoạtđộng niêm yết và giao dịch trái phiếu qua thị trường giao dịch chứng khoán tậptrung
Có thể thấy được, trong thời gian qua, các loại TPCP đã được đa dạng hoáchủng loại và kỳ hạn trái phiếu Nếu như trong giai đoạn 1990-1995, Bộ Tàichính chủ yếu phát hành tín phiếu kho bạc, từ 1996 đã bổ xung thêm các loại tráiphiếu mới như trái phiếu công trình, trái phiếu kho bạc, công trái, trái phiếu đầu
tư, trái phiếu ngoại tệ…Kì hạn trái phiếu cũng được thay đổi cho phù hợp hơnvới yêu cầu của thị trường Nếu như trước năm 1999 thì chỉ có loại kì hạn 1và 2năm, từ năm 1999 trở đi đã được bổ xung thêm kì hạn 5 và 7 năm; từ năm 2003trở đi, kì hạn 5 năm chiếm khoảng hơn 50% tổng dư nợ Trước năm 1999, TPCP
Trang 18chủ yếu được phát hành dưới dạng chứng chỉ có ghi tên người nắm giữ thì từ
1999 đến nay, việc phát hành TPCP được bổ xung thêm hình thức ghi sổ vàchứng chỉ quỹ không ghi tên người nắm giữ Chính phủ cũng đã bổ xung vàtừng bước hoàn thiện các phương thức và hình thức phát hành trái phiếu Nếunhư trước năm 1995 việc phát hành trái phiếu chủ yếu là qua phương thức bán lẻqua hệ thống KBNN, đến cuối năm 1995 áp dụng thêm phương thức đấu thầuqua NHNN, thì từ năm 2002 trở đi, việc phát hành được bổ xung thêm phươngthức đấu thầu qua TTGDCK và phương thức bảo lãnh phát hành Quyết định số2276/QĐ-BTC ngày 20/6/2006 do Bộ trưởng Bộ Tài chính ban hành về việc tậptrung đấu thầu TPCP tại TTGDCK HN đã khắc phục việc chia cắt trong hìnhthức đấu thầu TPCP trước đó, TPCP vừa được đấu thầu tại NHNN, vừa đấu thầuqua TTGDCK Từ thực tế cho thấy, tỷ lệ thành công của các phiên đấu thầuTPCP ngày càng cao và lãi suất huy động ngày càng giảm, nhất là sau khiTTGDCK HN đưa ra con số 12.005 tỷ đồng huy động được từ thị trường tráiphiếu, nhiều người lạc quan cho rằng hoạt động đầu tự loại chứng khoán nàyđang thực sự chuyển biến tích cực và ngày càng hiệu quả hơn Theo kết quả báocáo thống kê, cả 8 phiên đấu thầu trái phiếu diễn ra trong quý I/2007 đều thànhcông với tỷ lệ trúng thầu đạt tới 99% ( khối lượng trúng thầu là 3.860 tỷ đồng/3.900 tỷ đồng khối lượng gọi thầu Riêng TPCP do KBNN phát hành năm 2006
và 6 tháng đầu năm 2007 qua gần 30 phiên đấu thầu tại TTGDCK HN đã huyđộng được 12.695 tỷ đồng cho ngân sách Nhà nước Hơn nữa, lãi suất đấu thầuTPCP cũng giảm dần Lần đầu tiên lãi suất TPCP đã giảm xuống thấp hơn lãisuất ngân hàng Cụ thể, lãi suất cơ bản vào ngày 1/6/2007 là 8,25% theo Quyếtđịnh 1143/QĐ-NHNN ngày 29/5/2007, trong khi đó lãi suất trúng thầu TPCP kìhạn 5 năm vào ngày 11/6/2007 là 7,15% dẫn đến lãi suất bảo lãnh phát hàngcũng giảm Điều này đã làm giảm đáng kể gánh nặng ngân sách Nhà nước trongviệc huy động vốn cho đầu tư phát triển, góp phần bình ổn lãi suất cho vay củaNHNN, từ đó góp phần bình ổn kinh tế vĩ mô.[15] Bên cạnh đó, Chính phủ cònbắt đầu thực hiện việc phát hành TPCP trên thị trường nước ngoài và ban đầu đã
Trang 19đạt được kết quả khá khả quan Năm 2005, khối lượng phát hành thành côngkhoảng trên 750 triệu USD trên TTCK Newyork.
2.2 QLNN đối với hoạt động PHCK của các doanh nghiệp:
Xét dưới góc độ kinh tế, PHCK là một hoạt động kinh tế hết sức nhạy cảm,
vì tuy là giai đoạn đầu nhưng nó hàm chứa nhiều yếu tố dẫn đến rủi ro củaTTCK Nó được ví như con dao hai lưỡi, có thể đem lại một nguồn vốn to lớncho đầu tư phát triển kinh tế, nhưng nếu không được quản lý tốt sẽ gây khủnghoảng cho TTCK, gây thiệt hại xấu cho người đầu tư và thông qua đó ảnh hưởngxấu tới nền kinh tế đất nước
Ơ Việt Nam, từ khi TTCK còn ở giai đoạn manh nha, hoạt động chưa có tổchức cho tới nay, pháp luật đã có những quy định cụ thể về chứng khoán vàPHCK Trong thời gian qua, cơ sở pháp lý cho hoạt động PHCK của các doanhnghiệp đã được Nhà nước ban hành tương đối cụ thể và hoàn thiện từng bước.Các văn bản pháp lý chung cung cấp các cơ sở pháp lý về PHCK doanh nghiệp
đã được Nhà nước ban hành, sửa đổi và hoàn thiện như Luật Doanh nghiệp,Luật Đầu tư, các văn bản pháp luật chuyên ngành như Luật Chứng khoán và cácvăn bản hướng dẫn Luật…đã góp phần tạo cơ sở pháp lý cho hoạt động PHCK.Theo quy định của pháp luật về quyền PHCK của các doanh nghiệp đó là :DNNN được phát hành trái phiếu, cổ phiếu; CtyCP được phép phát hành cổphiếu, trái phiếu; các NHTM quốc doanh được phép phát hành trái phiếuNHTM; DNNN CPH được phát hành cổ phiếu Việc Nhà nước cho phép nhiềuđối tượng khác nhau được PHCK góp phần tạo ra sự đa dạng về hàng hoá choTTCK, đặc biệt là thị trường tập trung Các loại chứng khoán được phép pháthành và giao dịch trên TTCK Việt Nam bao gồm: cổ phiếu, trái phiếu, chứng chỉquỹ và các loại chứng khoán phái sinh, các giao dịch về các loại hình chứngkhoán phái sinh đã bắt đầu manh nha hình thành nhưng vẫn còn ít Trên TTCKhiện nay chỉ có cổ phiếu, trái phiếu và chứng chỉ quỹ đang được giao dịch Trênphương diện pháp lý, có hai phương thức phát hành cơ bản là phát hành riêng lẻ
Trang 20và PHCK ra công chúng Tuy vậy, Luật Chứng khoán chứng khoán chỉ điềuchỉnh hoạt động PHCK ra công chúng
Các điều kiện PHCK ra công chúng đã được Chính phủ điều chỉnh linhhoạt cho phù hợp với điều kiện của nền kinh tế trong từng thời kì Nếu nhưtrước kia Nghị định 48/1998/NĐ-CP quy định khá chặt chẽ các điều kiện PHCK
ra công chúng ( doanh nghiệp có vốn điều lệ 10 tỷ đồng, hoạt động kinh doanh
có lãi trong hai năm liên tục gần nhất, thành viên HĐQT phải có kinh nghiệmquản lý kinh doanh, có phương án khả thi việc sử dụng vốn thu được từ đợt chàobán, ) Số vốn điều lệ là 10 tỷ đồng khi đó là một yêu cầu khá cao cho cácdoanh nghiệp trong giai đoạn đó nên chưa tạo điều kiện khuyến khích doanhnghiệp PHCK, mặt khác, quy định về kinh nghiệm quản lý và kinh doanh củaHĐQT và giám đốc lại là một quy định chủ yếu mang tính định tính, khó xácđịnh Trong Nghị định 144/2003/NĐ-CP đã giảm bớt và nới lỏng các điều kiệnnày: doanh nghiệp có vốn điều lệ trên 5 tỷ đồng đối với phát hành cổ phiếu vàtrên 10 tỷ đồng đối với phát hành trái phiếu, hoạt động kinh doanh liền trướcnăm đăng kí phải có lãi, có phương án khả thi trong việc sử dụng nguồn vốn huyđộng được; nếu phát hành trái phiếu thì phải có tổ chức bảo lãnh phát hành vàxác định đại diện người sở hữu trái phiếu Sự nới lỏng này vừa tạo điều kiệnthuận lợi cho các doanh nghiệp trong việc tiếp cận công chúng để huy động vốn,vừa góp phần thúc đẩy TTCK Việt Nam phát triển Tuy vậy, theo Luật Chứngkhoán thì điều kiện để PHCK đối với các doanh nghiệp đã được thắt chặt hơn.Theo đó, đối với phát hành cổ phiếu: doanh nghiệp phải có mức vốn điều lệ tạithời điểm đăng kí chào bán phải là 10 tỷ đồng trở lên tính theo giá trị ghi trên sổ
kế toán, hoạt động năm liền trước năm đăng kí chào bán phải có lãi…; đối vớicác công ty mới thành lập trong lĩnh vực cơ sở hạ tầng hoặc lĩnh vực công nghệcao tiến hành chào bán chứng khoán ra công chúng đợt đầu phải có tổ chức bảolãnh phát hành và phải có ngân hàng giám sát việc sử dụng vốn thu được từ đợtchào bán Đối với phát hành trái phiếu thì yêu cầu vốn điều lệ đã góp tại thờiđiểm đăng kí chào bán tối thiểu 10 tỷ đồng, hoạt động kinh doanh của năm liền
Trang 21trước năm đăng kí chào bán phải có lãi,…Đối với việc phát hành chứng chỉ quỹđầu tư là tổng giá trị chứng chỉ quỹ đăng kí chào bán tối thiểu 50 tỷ đồng…Nhưvậy, các điều kiện phát hành được yêu cầu cao và chặt chẽ hơn bởi xét theotình hình mới của nền kinh tế, có rất nhiều doanh nghiệp thoả mãn được điềukiện trên, đồng thời để tạo tiền đề tăng cung hàng hoá có chât lượng cho TTCK.Các thủ tục trong việc phát hành chứng khoán ra công chúng đã đượcChính phủ hoàn thiện theo hướng đơn giản hoá, rút ngắn thời gian làm thủ tụccho doanh nghiệp Theo Nghị định 48/1998/NĐ-CP thì thời hạn UBCKNN trảlời việc cấp hay từ chối là 45 ngày kể từ ngày nhận đủ bộ hồ sơ hợp lệ Tuy vậy,theo nghị định 144 và sau đó là tới quy định theo Luật Chứng khoán thì thờigian này rút xuống còn 30 ngày Bộ Tài chính cũng đã ban hành Thông tư93/2005/TT-BTC để sửa đổi Thông tư 60/2004/TT-BTC hướng dẫn việc PHCK
ra công chúng, trong đó đã bỏ hẳn yêu cầu TCPH phải nộp hồ sơ quyết toán thuếkhi muốn phát hành ra công chúng Việc phát hành cổ phiếu để trả cổ tức hayviệc phát hành thêm cổ phiếu thưởng để tăng vốn điều lệ từ nguồn vốn chủ sởhữu chỉ đòi hỏi hồ sơ đăng kí phát hành gồm đơn đăng kí phát hành, quyết địnhcủa Đại hội đồng cổ đông và bản giải trình nguồn vốn hợp pháp để phát hànhthêm Đây là những quy định tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp
Việc tổ chức xét duyệt và cấp chứng nhận đăng kí PHCK ra công chúngcho các TCPH đã được UBCKNN đảm bảo đúng quy định Theo Quyết định301/QĐ-UBCKNN do Chủ tịch UBCKNN ban hành vào ngày 9/5/2006 thì hiệntại UBCKNN đảm nhận việc cấp chứng nhận đăng ký PHCK ra công chúng, cấpphép niêm yết, cấp phép hoạt động cho các tổ chức kinh doanh theo một quytrình gồm 6 bước: tiếp nhận hồ sơ; thẩm tra hồ sơ; phân tích, lập báo cáo trìnhlên Chủ tịch UBCKNN và Hội đồng xét duyệt; họp Hội đồng xét duyệt; hoàn tấtthủ tục cấp phép; công bố cấp phép Quy trình này tương đối chặt chẽ, đảm bảo
sự giám sát của các bộ phận chức năng liên quan và đảm bảo được tính kháchquan của bộ phận xét duyệt
Trang 22Công tác CPH đã góp phần không nhỏ trong việc tạo nguồn cung hàng hoá,thúc đẩy TTCK phát triển Những cải tiến của Nhà nước trong việc chuyểnDNNN thành CtyCP đã tạo thuận lợi cho doanh nghiệp trong việc phát hành cổphiếu để huy động vốn Công tác CPH đã được tiến hành với những quy địnhphù hợp hơn để thúc đẩy, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp chuyển đổi sanghình thức CtyCP như theo Nghị định 187/2004/NĐ-CP và nay được thay bằngNghị định 109/2007/NĐ-CP Theo nội dung của các Nghị định này thì xoá bỏviệc định giá doanh nghiệp thông qua hội đồng, thực hiện xác định giá trị doanhnghiệp thông qua tổ chức chuyên nghiệp để nâng cao tính minh bạch trong địnhgiá, cho phép định giá linh hoạt; thực hiện công khai minh bạch trong việc bánđấu giá cổ phần; quy định các DNNN chuyển thành CtyCP phải thực hiện bánđấu giá cổ phần qua tổ chức tài chính trung gian nếu khối lượng bán ra từ 1-10
tỷ đồng, và qua TTGDCK nếu khối lượng bán ra lớn hơn 10 tỷ đồng Hình thứcbán đấu giá cổ phần trên một mặt khắc phục được tình trạng CPH khép kín nội
bộ, mặt khác quan trọng hơn để hình thành cơ chế công khai minh bạch, tạo cácbước đi thích hợp để doanh nghiệp tiến tới tham gia trên TTCK CPH được mởrộng về diện và quy mô cả Tổng công ty Nhà nước, NHTM, tổ chức tài chínhNhà nước, thu hẹp DNNN nắm giữ 100% vốn hay cổ phần chi phối thông quaviệc bán bớt cổ phần của Nhà nước trừ một số lĩnh vực trọng yếu; không hạnchế việc mua cổ phần của nhà đầu tư trong nước, nhà ĐTNN hạn chế mua ởmức 49% Chính phủ đã mở màn bằng việc CPH một số doanh nghiệp có quy
mô lớn, có giá trị doanh nghiệp lên tới hàng trăm tỷ đồng như Công ty Sữa ViệtNam Vinamilk ( giá trị doanh nghiệp 2500 tỷ đồng, trong đó vốn Nhà nước là
1500 tỷ đồng), Thuỷ điện Vĩnh Sơn- sông Hinh với giá trị tương ứng là 1253 tỷđồng và 114 tỷ đồng, Công ty bảo hiểm Tp Hồ Chí Minh với giá trị tương ứng
là 1311 đồng và 650 tỷ đồng Những đổi mới này tạo điều kiện cho cá doanhnghiệp thuộc đối tượng CPH có thể dễ dàng tiếp cận được với công chúng đầu
tư để PHCK huy động vốn, đồng thời đảm bảo giá trị cổ phần doanh nghiệpđược hình thành theo quan hệ cung cầu trên thị trường
Trang 23Theo quy định của Luật Chứng khoán, TCPH thực hiện việc chào bánchứng khoán ra công chúng phải đăng kí với UBCKNN ( trừ chào bán TPCP vàtrái phiếu của tổ chức tài chính quốc tế được Chính phủ Việt Nam chấp thuận,
cổ phiếu của các DNNN mới chuyển thành CtyCP và chào bán chứng khoántheo quyết định của toà án) UBCKNN có quyền đình chỉ hoặc huỷ bỏ việc chàobán chứng khoán ra công chúng nếu như TCPH vi phạm, không thực hiện đượccác điều kiện đặt ra Cũng theo Luật Chứng khoán, các TCPH đã hoàn thànhviệc chào bán cổ phiếu ra công chúng trở thành công ty đại chúng và phải thựchiện nghĩa vụ của công ty đại chúng theo quy đinh của pháp luật
Công tác QLNN đối với việc PHCK đã đạt được bước đầu thuận lợi, tuyvậy vẫn còn tồn tại một sô hạn chế làm giảm hiệu quả của hoạt động này Đốivới việc phát hành TPCP thì hạn chế bắt nguồn từ lãi suất chỉ đạo của Bộ Tàichính còn thấp, chưa thực sự hấp dẫn, phương thức trả lãi thiếu linh hoạt Bộ Tàichính vừa phát hành trái phiếu qua đấu thầu, vừa phát hành trái phiếu bán lẻ quaKBNN trong cùng một thời gian với cùng một kì hạn trái phiếu, cùng một lãisuất đã không khuyến khích các tổ chức tài chính trung gian đấu thầu TPCP đểbán lại trên thị trường thứ cấp Việc phát hành TPCP qua hệ thống KBNNthường dài trong nhiều tháng, hình thức phát hành TPCP chủ yếu là dưới dạngchứng chỉ, trái phiếu kho bạc thì thường phát hành dưới dạng chứng chỉ có ghitên người nắm giữ Điều này làm tăng chi phí cho lưu kí chứng khoán, sau đóvừa làm cho TPCP khó đáp ứng các yêu cầu cần thiết để giao dịch trên TTCKthứ cấp Bên cạnh đó, chúng ta còn chưa hình thành hệ thống phân phối TPCPtrên thị trường sơ cấp, năng lực bảo lãnh và làm đại lý phát hành của các tổ chứcnhận bảo lãnh và phát hành còn hạn chế, cho nên tồn tại khối lượng lớn TPCP
do các tổ chức này giữ lại mà không phân phối ra công chúng Việc quy định lãisuất trần trong đấu thầu TPCP quá thấp so với lãi suất huy động vốn bình quântrên thị trường đã làm cho nhiều phiên đấu thầu TPCP có kết quả thấp Khốilượng đăng kí tương đối cao, bình quân gấp 3,65 lần khối lượng gọi thầu nhưng
tỷ lệ thành công lại theo chiều hướng giảm dần (nếu như trong quý I/2007 tỷ lệ
Trang 24này là 99% thì đến quý II/2007 giảm xuống còn 82,46%, và đến cuối quýIII/2007 con số này chỉ còn 58,39%) Ví dụ như TPCP kì hạn 5 năm thì mức lãisuất trần quy định là 7,05-7,9%, kì hạn 10 năm là 7,95-8,6%, 15 năm là 8-8,8% ,trong khi đó trái phiếu các doanh nghiệp phát hành lại đưa ra mức lãi suất kháhấp dẫn, tính thanh khoản cao hơn hẳn TPCP khiến các nhà đầu tư đổ dồn vàotrái phiếu doanh nghiệp và không mặn mà với TPCP ( ví dụ, NHTMCP A Châuvừa phát hành thành công 2.250 tỷ đồng trái phiếu với lãi suất 8,6%/năm; Tổngcông ty Xây dung dịch vụ Việt Nam VINECO cũng vừa chào bán thành công 5triệu trái phiếu kì hạn 5 năm, lãi suất cố định là 10,15%/năm, số lượng đăng kímua trong đợt phát hành này lên tới 11,1 triệu trái phiếu) Bên cạnh đó, tâm lý longại lạm phát có xu hướng gia tăng khiến mức lãi suất TPCP ( chỉ khoảng trêndưới 7-8%) không đủ bù đắp lại mức tăng giá do lạm phát mà các nhà đầu tưtrong nước phải gánh chịu Riêng nhà đầu tư nước ngoài thì còn tồn tại lo ngạiliên quan đến chính sách điều hành tỷ giá của NHNN nên vẫn chưa mặn mà vớitrái phiếu nói chung và TPCP nói riêng Trước đây, nhà ĐTNN hy vọng rằngđồng Việt Nam sẽ mạnh lên do các luồng vốn từ nước ngoài đổ vào tạo sức éptăng giá đồng nội tệ, nhưng NHNN vẫn duy trì chính sách đồng tiền Việt Namgiảm giá và thường mức trung bình từ 1%/1 năm Tỷ giá bị chênh lệch mất 1%cộng với lạm phát gia tăng khiến sức hấp dẫn của TPCP cũng bị ảnh hưởngkhông nhỏ và cầu từ phía nhà ĐTNN cũng giảm đi trông thấy.[15]
Trong công tác QLNN đối với hoạt động PHCK của các doanh nghiệp thìhạn chế đầu tiên phải kể đến là cơ sở pháp lý cho hoạt động PHCK ra côngchúng chưa có tính thống nhất và chưa thực sự đầy đủ, từ đó làm nảy sinh bấthợp lý Việc PHCK của các tổ chức tín dụng được thực hiện theo Luật các tổchức tín dụng, hoạt động phát hành cổ phiếu ra công chúng của các DNNN CPHlại được thực hiện theo Nghị định 109/2007/NĐ-CP Việc phát hành trái phiếudoanh nghiệp riêng lẻ lại được quy định trong Nghị định 02/2006/NĐ-CP Cònviệc PHCK của các loại hình doanh nghiệp khác lại được thực hiện theo quyđịnh trong Luật Chứng khoán Sự thiếu thống nhất về cơ sở pháp lý đã nảy sinh