Thuốc là một loại hàng hóa đặc biệt, ảnh hưởng rất lớn đến sức khỏe con người.
Trang 1và các phản ứng có hại của thuốc Quản lý sử dụng thuốc trong bệnh viện với mụctiêu đảm bảo sử dụng thuốc hợp lý, an toàn, hiệu quả sẽ góp phần đem lại sự thànhcông trong công tác chăm sóc sức khỏe của người bệnh.
Theo nghiên cứu tại bệnh viện Nhi Nghệ An cho thấy, có sự phối hợp thường xuyêngiữa hai kháng sinh nhóm Beta lactam và nhóm Aminoglycoside, là phối hợp đượccảnh báo có tương tác ở mức độ 4 tăng độc tính với thận [16]
Một nghiên cứu ở cộng đồng của GS Trần Đỗ Trinh và cộng sự năm 1992 trên 1716người bị tăng huyết áp thì chỉ có 4% là điều trị đúng; còn lại 67,5% không biếtbệnh, 15% biết bệnh nhưng không điều trị; 13,5% điều trị nhưng thất thường vàkhông đúng cách
Như vậy, việc quản lý sử dụng thuốc là một vấn đề rất quan trọng, cần đặt lên hàngđầu vì mục đích đảm bảo an toàn cho người bệnh và đảm bảo thuốc được sử dụnghợp lý, hiệu quả
Trong những năm gần, cùng với sự phát triển về kinh tế, ở Việt Nam tỷ lệcác bệnh về tim mạch ngày càng gia tăng với nhiều mặt bệnh khác nhau Các bệnhtim mạch, bao gồm cả nhồi máu cơ tim và đột quị hiện đang là một trong nhữngnguyên nhân gây tử vong hàng đầu thế giới Theo tổ chức Y tế thế giới, năm 2005
đã có khoảng 17 triệu người chết vì các bệnh tim mạch [27] Ở Việt Nam, theo cácthống kê gần đây, số ca đột quỵ ở nước ta tăng gấp 3 lần so với 10 năm trước, tỷ lệnhồi máu cơ tim tăng gấp 6 lần so với những năm 1960 Đi cùng với đó, kim
Trang 2nghạch nhập khẩu nhóm thuốc tim mạch vào nước ta cũng tăng khá mạnh (năm
2009 tăng 31,8% so với 2008), chỉ xếp sau nhóm thuốc kháng sinh và chuyển hóadinh dưỡng [26] Kinh phí sử dụng nhóm thuốc tim mạch ở các bệnh viện ở ViệtNam luôn xếp ở vị trí cao: bệnh viện Bạch Mai 20,53% ; bệnh viện E 16,67% [19];
BV Saintpaul 19,5% [13]; BV Thanh Nhàn 19,6% [15] Vì vậy, việc nghiên cứuquản lý sử dụng thuốc tim mạch để thuốc tim mạch được sử dụng hợp lý, an toàn,hiệu quả là điều cần thiết
Thành lập năm 2003, trực thuộc Sở y tế Hà Nội, bệnh viện tim Hà Nội làbệnh viện hạng I chuyên khoa về tim mạch, với 70 giường bệnh và 21 khoa phòng,bệnh viện là một trung tâm phẫu thuật tim với mô hình bệnh tật đa dạng Hiện nay
đã có nhiều đề tài nghiên cứu về công tác cung ứng thuốc ở một số bệnh viện nhưngchưa có đề tài nào nghiên cứu về quản lý sử dụng thuốc tại bệnh viện tim Hà Nội đềđánh giá công tác quản lý sử dụng thuốc tại đây có thực sự hiệu quả chưa, vì vậy,
chúng tôi chọn đề tài “Phân tích hoạt động quản lý sử dụng thuốc tại bệnh viện tim Hà Nội, giai đoạn 2008 – 2010”, với mục tiêu:
1 Mô tả tình hình sử dụng thuốc tại bệnh viện tim Hà Nội qua các năm 2008 – 2010.
2 Phân tích hoạt động quản lý sử dụng thuốc tại bệnh viện.
Từ đó đưa ra các kiến nghị và đề xuất để góp phần nâng cao chất lượng quản
lý sử dụng thuốc cũng như công tác quản lý dược tại bệnh viện tim Hà Nội
Trang 3PHẦN 1 TỔNG QUAN
Quản lý sử dụng thuốc là hoạt động thứ tư trong chu trình cung ứng thuốc, làyếu tố quan trọng nhất trong việc đảm bảo sử dụng thuốc hợp lý, an toàn và hiệu quả
1.1 Chu trình cung ứng thuốc bệnh viện
Cung ứng thuốc là quá trình đưa thuốc từ nơi sản xuất đến tận người sử dụng(người bệnh) [4] Chu trình cung ứng thuốc được thể hiện như sơ đồ hình 1.1
- Mô hình BN
- Phác đồ điều trị
- Ngân sách
Công nghệ
Thông tin
Khoa học
Kinh tế
Lựa chọn thuốc
t
Cấp phát
Mua thuốc
QL sử dụng
Trang 4Vậy sử dụng thuốc hợp lý là gì?
Theo Tổ chức y tế thế giới WHO (1998) thì: “ Sử dụng thuốc hợp lý là người bệnh phải nhận được thuốc thích hợp với đòi hỏi của lâm sàng và liều lượng đáp ứng được yêu cầu cá nhân người bệnh trong một khoảng thời gian thích hợp và với chi phí ít gây tốn kém nhất cho người bệnh và cho cộng đồng” [24].
Theo định nghĩa trên thì sử dụng thuốc hợp lý đảm bảo các yếu tố:
Các yếu tố dẫn đến việc sử dụng thuốc không hợp lý:
Hình 1.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến sử dụng thuốc hợp lý [24]
Các trường hợp sử dụng thuốc không hợp lý có thể là [24]:
Thuốc được dùng khi không cần thiết
Thuốc được chỉ định sai
Thuốc không an toàn và không hiệu quả được kê đơn
Thuốc hiệu quả và sẵn có nhưng không được sử dụng
Bệnh nhân và cộng đồng
+ Văn hoá và niềm tin
+ Thời gian tư vấn ngắn
+ Thái độ người kê đơn
+ Thiếu thông tin được in ấn
Người kê đơn
+ Thiếu đào tạo+ Chưa xây dựng rõ nvụ + Thông tin không đầy đủ+ Quan tâm đến tài chính
Nhà phân phối
+ Đào tạo kém+ Không có giám sát+ Thiếu phương tiện+ Quá nhiều bệnh nhân+ Áp lực của doanh số
Trang 5 Thuốc sử dụng kém chất lượng
Sử dụng thuốc sai
Chu trình quản lý sử dụng thuốc được mô tả như sau:
Dòng lưu chuyển
Hình 1.3 Chu trình quản lý sử dụng thuốc [4]
1.1.4.1 Kê đơn đúng quy định
Kê đơn là hoạt động xác định xem người bệnh cần dùng những thuốc gì, liềudùng cùng với liệu trình điều trị phù hợp
Để kê đơn thuốc đúng quy định, người kê đơn cần tuân thủ quy chế kê đơn,
mà bắt đầu bằng việc chẩn đoán để xác định rõ những vấn đề phải can thiệp, sau đóxác định mục đích điều trị Người kê đơn dựa trên các thông tin được cập nhật vềđiều trị bệnh và thuốc, để lựa chọn cách điều trị phù hợp với cá thể người bệnh.Thuốc tốt để điều trị cho người bệnh là thuốc được lựa chọn theo tác dụng, độ antoàn, tính sẵn có và giá cả Sau đó thuốc phải được hướng dẫn để người bệnh hiểu
rõ liều, thời gian, đường dùng thuốc Người kê đơn nên cung cấp thông tin phù hợp
về thuốc và tình trạng bệnh cho người bệnh Người kê đơn cũng cần theo dõi ngườibệnh để có can thiệp kịp thời khi các biến cố có thể xảy ra trong quá trình điều trị
Thực hiện quy chế kê đơn ngoại trú
Người kê đơn tuân thủ theo quy chế kê đơn thuốc điều trị ngoại trú như quiđịnh về ghi đơn thuốc, thuốc hướng tâm thần và tiền chất dùng làm thuốc, thuốc gâynghiện, kê đơn thuốc trong điều trị mãn tính
Thực hiện quy chế chuyên môn trong chỉ định thuốc ở hồ sơ bệnh án
QUẢN LÝ SỬ DỤNG THUỐC
Kê đơn đúng quy định
Đóng gói, dán nhãn
Giao phát
Hướng dẫn,
theo dõi sử
dụng
Trang 6Thực hiện đúng các quy chế sử dụng thuốc, quy chế chẩn đoán bệnh, làm hồ
sơ bệnh án và kê đơn điều trị [5]
Ghi đầy đủ họ và tên, tuổi, địa chỉ và căn bệnh, trẻ em dưới một năm phảighi tháng tuổi
Y lệnh dùng thuốc ghi đầy đủ, rõ ràng vào hồ sơ bệnh án gồm: tên thuốc,hàm lượng, liều dùng, đường dùng và thời gian dùng
Thuốc sử dụng có trong DMTBV, ghi đầy đủ và rõ ràng tên thuốc, dùngchữ Việt Nam, chữ La Tinh hoặc tên biệt dược
Ghi y lệnh dùng thuốc theo trình tự thuốc tiêm, thuốc viên, thuốc nước tiếpđến các phương pháp điều trị khác
Thuốc gây nghiện, kháng sinh có đánh số thứ tự để theo dõi
Thực hiện danh mục thuốc bệnh viện
Tuân thủ DMTBV bao gồm việc thực hiện các quy định của DMTBV, sự thíchứng với thực tế của DMT Để làm được điều này DMTBV phải dựa trên cơ sở danhmục thuốc thiết yếu và được xây dựng trên các tiêu chí lựa chọn khoa học, kháchquan để tạo nên được sự tin tưởng của thầy thuốc kê đơn khi sử dụng DM
1.1.4.2 Đóng gói, dán nhãn
Những thuốc được chuẩn bị để cấp phát theo đơn cho người bệnh cần đượcđóng gói cẩn thận sao cho người bệnh có thể cất giữ đảm bảo chất lượng thuốc vàhiểu rõ cách sử dụng Việc dán nhãn có vai trò quan trọng vì thuốc được sử dụngthường xuyên không đúng cách sẽ không đạt được hiệu quả điều trị mong muốn.Nhãn thuốc cần phải được viết rõ dễ đọc, đảm bảo cung cấp thông tin tên thuốc vớinồng độ hàm lượng, số lượng, liều dùng, thời gian dùng, cách dùng Có thể thêmcác nhãn phụ hướng dẫn sử dụng như “Lắc kỹ trước khi dùng”, “Có thể gây buồnngủ”
Trang 71.1.4.3 Giao phát
Giao phát là quy trình của chuẩn bị và đưa thuốc tới người bệnh theo đơn
Hình 1.4 Quy trình giao phát thuốc cho người bệnh [24]
Giao phát là yếu tố sống còn của sử dụng thuốc hợp lý Những nỗ lực tậptrung trong việc sử dụng thuốc hợp lý thường là đảm bảo thói quen kê đơn thuốchợp lý, có tính đến cả quá trình giao phát và sử dụng thuốc thực sự của người bệnh.Bất kỳ sai sót hay sự thất bại trong quá trình giao phát đều có thể ảnh hưởng nghiêmtrọng đến sự an toàn của người bệnh
Các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình giao phát thuốc:
Môi trường giao phát ( khu vực giao phát, dụng cụ, thiết bị, giá kệ, baogói…)
Người thực hiện giao phát
Tuân thủ chu trình giao phát
Các hoạt động giao phát thuốc [5]
Dược sỹ tại khoa Dược: Tuân thủ chu trình giao phát thuốc
Y tá (điều dưỡng ) tại các khoa phòng:
+ Công khai thuốc được dùng hàng ngày cho từng bệnh nhân
+ Phải có sổ thuốc điều trị, mỗi khi thực hiện xong phải đánh dấu vào sổ+ Phải có khay thuốc, lọ đựng thuốc uống sáng, chiều tối cho từng ngườibệnh
+ Khi gặp thuốc mới hoặc y lệnh sử dụng thuốc quá liều qui định phảithận trọng, hỏi lại bác sỹ điều trị
Ghi lại các hành
động vừa thực
hiện
Tìm hiểu và diễngiải đơn thuốcChuẩn bị các loại
thuốc cấp phát
Trang 8+ Trước khi tiêm thuốc, cho người bệnh uống thuốc phải thực hiện 3kiểm tra, 5 đối chiếu.
+ Bàn giao thuốc còn lại của người bệnh cho kíp trực sau
+ Khoa điều trị có sổ theo dõi sai sót và tai biến do thuốc
Thực hiện Chỉ thị 05/CT-BYT của Bộ Y tế về tăng cường công tác chăm sóc ngườibệnh toàn diện, khoa dược bệnh viện tim Hà Nội đã thực hiện phát thuốc tại cáckhoa phòng, theo quy trình:
Điều dưỡng trưởng khoa, điều dưỡng hành chính có nhiệm cụ tổng hợp thuốctheo đúng y lệnh, sau đó vào sổ tổng hợp, phiếu lĩnh thuốc Trưởng khoa dược hoặcdược sĩ được uỷ quyền duyệt phiếu lĩnh thuốc đã được trưởng khoa phòng điều trị
ký duyệt, sau đó chuyển đến thủ kho dược giao phát thuốc Phiếu lĩnh thuốc là căn
cứ để các thủ kho dược giao phát thuốc cho các khoa lâm sàng
Khi chuẩn bị thuốc để giao phát, dược sỹ khoa Dược phải thực hiện 3 kiểmtra, 3 đối chiếu
Điều dưỡng hành chính nhận thuốc, do thủ kho phát thuốc tại khoa, phảikiểm tra chất lượng, hàm lượng, đối chiếu với phiếu lĩnh thuốc và ký xác nhận đủvào phiếu lĩnh Điều dưỡng chăm sóc phải đảm bảo thuốc đến cơ thể người bệnh antoàn
1.1.4.4 Hướng dẫn, theo dõi sử dụng thuốc
Hướng dẫn người bệnh sử dụng thuốc bằng lời nói dễ hiểu, rõ ràng về liều dùng,
số lần dùng thuốc, thời gian điều trị Có sự tư vấn thích hợp để giúp người bệnhtuân thủ điều trị như: khi nào thì uống thuốc, uống thuốc như thế nào (nhai, nuốt,uống với nhiều nước ) và cách bảo quản giữ gìn thuốc Ngoài ra, cũng đề cập đếncác tác dụng phụ có thể có, tuy nhiên với mức độ thích hợp để người bệnh không sợhãi mà ngừng điều trị Chỉ nên nói đến tác dụng phụ nghiêm trọng với người kê đơn
để cân nhắc yếu tố nguy cơ/lợi ích khi sử dụng thuốc Khi hướng dẫn tư vấn sửdụng thuốc cho người bệnh cần đảm bảo họ đã hiểu rõ cách sử dụng thuốc để tránhsai sót khi sử dụng
Theo dõi giám sát sử dụng thuốc của người bệnh trong suốt quá trình điều trị,đồng thời theo dõi các phản ứng có hại, những tương tác bất lợi của thuốc
Trang 91.1.4.5 Mối quan hệ bác sĩ-dược sĩ-điều dưỡng, y tá trong sử dụng thuốc cho người bệnh
Công tác cung ứng thuốc ngày càng thuận lợi, dễ dàng, nhưng muốn sử dụngthuốc hợp lý, nhất là trong tình hình hiện nay với nhiều loại thuốc mới, biệt dượcnên rất khó khăn để hiểu biết sâu sắc và đầy đủ các thông tin về thuốc, vì vậy cần có
sự hợp tác chặt chẽ giữa bác sĩ, dược sĩ và y tá trong sử dụng thuốc cho người bệnh
để thuốc sử dụng cho người bệnh được hợp lý, an toàn và hiệu quả
Quan hệ của dược sĩ với bác sĩ: Bác sĩ với kiến thức và kinh nghiệm lâm sàngđóng vai trò quyết định trong việc kê đơn Dược sĩ với vai trò thông tin, tư vấn sử dụngthuốc để giúp bác sĩ kê đơn hợp lý Có sự kết hợp cùng nhau làm việc giữa bác sĩ vàdược sĩ mới tạo ra và thúc đẩy quá trình trao đổi thông tin lâm sàng về thuốc
Quan hệ của dược sĩ với y tá: y tá là người tiếp xúc trực tiếp với người bệnhkhi thực hiện y lệnh của bác sĩ Dược sĩ cần hỗ trợ y tá để dùng thuốc đúng chongười bệnh Ngoài ra, thông tin từ y tá về tác dụng không mong muốn khi sử dụngthuốc là rất quan trọng
Quan hệ dược sĩ với người bệnh: Dược sĩ có ảnh hưởng đến sự hiểu biết củangười bệnh về thuốc sử dụng, cách sử dụng thuốc và quá trình điều trị, giúp ngườibệnh tự giác tuân thủ điều trị tốt hơn
1.2 Tình hình sử dụng thuốc tim mạch ở Việt Nam
Bệnh tim mạch là một bệnh chuyên khoa mãn tính, kết hợp nhiều yếu tố nguy cơ nguy hiểm đến sức khỏe người bệnh Tình hình sử dụng thuốc tim mạch ở Việt Nam trong vài chục năm gần đây, có thể dễ dàng nhận thấy một số đặc điểm như:
Việc sử dụng thuốc tim mạch phụ thuộc hoàn toàn vào sự lựa chọn của các bác sĩ tim mạch, những người có trình độ chuyên môn cao, thường đi đào tạo ở nước ngoài, ý thức được tầm quan trọng của chất lượng thuốc nên có tâm lý thích dùng thuốc ngoại, ít dùng thuốc sản xuất trong nước Đó là lý do dẫn đến hiện tượng thuốc được kê đơn theo tên biệt dược đang diễn ra phổ biến
Người bệnh mắc bệnh tim mạch thường có các bệnh kết hợp khác (các bệnh
về rối loạn chuyển hóa: đái tháo đường, mỡ máu…), phải điều trị lâu dài, sử dụng
Trang 10thuốc thường xuyên, vì vậy việc sử dụng thuốc và tuân thủ điều trị thường gặp khókhăn và yếu tố kinh tế ảnh hưởng rất lớn đến việc điều trị của người bệnh sau khi raviện Một nghiên cứu của GS Phạm Gia Khải và cộng sự năm 2002 cho biết trong
818 người được phát hiện có THA chỉ có 94 (11,49%) người là có dùng thuốc và tỷ
lệ HA được khống chế tốt là 19,1% (18/94)
Ở một số tỉnh, người bệnh có thể mua khá dễ dàng thuốc tim mạch tại các cơ
sở bán lẻ dược phẩm, mặc dùthuốc tim mạch là thuốc bán theo đơn, điều này góp phần làm cho người bệnh sử dụng thuốc theo “kinh nghiệm”, “tự điều trị”, tự điều chỉnh liều, tự ngưng thuốc…kết quả nhiều người phải nhập viện do tai biến từ sử dụng thuốc Một khảo sát tình hình mua thuốc ở một số tỉnh phía Bắc cho biết trong
số 828 lượt bán thuốc được khảo sát, chỉ có 23,67% người dân đến mua có đơn củathầy thuốc, còn lại là mua không đơn Đối với số thuốc của một lần mua có đơn thì
số đơn có từ 3 thuốc trở lên chiếm tới 93,88% [23];
Thêm vào đó, người bệnh tim mạch cũng không nhận được hướng dẫn, tư vấn thích hợp để hiểu về bệnh của mình cũng như thuốc phải sử dụng hay tầm quan trọng của việc thực hiện quá trình điều trị liên tục kéo dài Theo nghiên cứu tại bệnhviện Saint paul có 75,8% đơn không ghi hướng dẫn sử dụng thuốc đầy đủ [12], tại bệnh viện E số đơn không ghi rõ liều dùng, cách dùng chiếm 22%, số đơn không ghi rõ thời gian dùng chiếm 40% [19]
Nhằm tăng cường chất lượng kê đơn và hướng dẫn sử dụng thuốc, Bộ Y tế
và các bệnh viện đã có những biện pháp can thiệp phù hợp và đã thu được những kết quả ban đầu Cụ thể, tại bệnh viện Saint paul, hiệu quả của các biện pháp can thiệp làm giảm tỷ lệ đơn không ghi hướng dẫn sử dụng thuốc giảm từ 75,8% xuống còn 48,4% [12] Năm 1992, Hội Tim Mạch Học Quốc Gia Việt Nam (tên tiếng Anh
là Vietnam National Heart Association, viết tắt là VNHA) được thành lập.Nhiều buổi hội thảo truyền thông được tổ chức để phòng chống bệnh tim mạch với nhiều chuyên đề về THA và bệnh lý liên quan đã thu hút được cộng đồng người bệnh tim mạch cũng như các thầy thuốc chuyên khoa
Trang 111.3 Bệnh viện tim Hà Nội
Bệnh viện tim Hà Nội thành lập theo quyết định số 6863/QĐ-UB ngày 15tháng 11 năm 2001 của UBND thành phố Hà Nội Là đơn vị sự nghiệp y tế có thuhoạt động theo cơ chế riêng do UBND thành phố phê duyệt, có dấu và tài khoản tạiKho Bạc Nhà nước và ngân hàng theo quy định hiện hành Năm 2005 bệnh việnchuyển sang hoạt động theo mô hình đơn vị sự nghiệp có thu tự hạch toán Quy môban đầu 50 giường bệnh, sau đó tăng 70 vào năm 2008, bệnh viện tim Hà Nội hiệnnay là bệnh viện chuyên khoa tim mạch hạng I cấp thành phố, trực thuộc Sở y tế HàNội, với nguồn nhân lực - nguồn lực từ 126 cán bộ nhân viên năm 2005 đến năm
2009 là 228 cán bộ nhân viên, góp phần đáp ứng nhu cầu khám và điều trị ngàycàng gia tăng của người dân trong cả nước [1] [2]
Chức năng, nhiệm vụ của bệnh viện
Là bệnh viện chuyên khoa sâu, sử dụng các kỹ thuật cao trong chẩn đoán vàđiều trị, bệnh viện có nhiệm vụ khám, điều trị nội, ngoại khoa các bệnh về tim, vớiđiều trị ngoại khoa là chủ yếu Bắt đầu hoạt động năm 2003, đến nay, bệnh viện đãthực hiện gần 5000 ca phẫu thuật tim, (trung bình 6-8 ca/ngày) Điều trị nội, bệnhviện khám, cấp cứu, điều trị cho người bệnh đến từ các tỉnh thành trong cả nước,chủ yếu khám phát hiện bệnh, khám sau phẫu thuật các bệnh về tim (bệnh về vantim, tim bẩm sinh - thông liên nhĩ, thất, còn ống động mạch, fallo 4…), bệnh mạchvành có và không có kèm theo các bệnh rối loạn chuyển hóa Bệnh viện thực hiện
kỹ thuật mới về can thiệp tim mạch vào tháng 4/2009, hoàn chỉnh vòng tròn khépkín việc chẩn đoán, khám và điều trị nội, ngoại khoa các bệnh về tim mạch – sựkhác biệt vượt trội với các trung tâm tim mạch khác trong cả nước
Bệnh viện chú trọng hợp tác với các tổ chức, cá nhân trong nước và ngoàinước để nghiên cứu, ứng dụng các kỹ thuật chẩn đoán và điều trị Trong nước, bệnhviện hợp tác với bệnh viện tim TP Hồ Chí Minh, Bạch Mai, Việt Đức, Nhi, Quânđội 108 Hiện nay, bệnh viện tim Hà Nội cùng bệnh viện quân đội 103 thực hiện đềtài nghiên cứu cấp nhà nước về ghép tim tại Việt Nam Ở ngoài nước, bệnh việnhợp tác chặt chẽ với bệnh viện trường Đại học Clermont Ferrand (Pháp), Viện timmạch Quốc gia Malaixia (Malaixia), trung tâm phẫu thuật tim Berlin (Đức)
Trang 12Các công tác phòng chống dịch bệnh (phòng chống lụt bão, tiêu chảy cấp,cúm A(H5N1), công tác đảm bảo y tế (phục vụ mùa thi đại học hàng năm, Hội nghịASEAN, Hội nghị Năm Chủ tịch ASEAN ) được bệnh viện quan tâm thực hiện.
Bệnh viện, với mô hình đơn vị sự nghiệp có thu tự hạch toán, rất quan tâmđến nhiệm vụ quản lý kinh tế Doanh thu của bệnh viện tăng vượt bậc qua các năm,dành khoản kinh phí lớn để tái đầu tư cơ sở vật chất, máy móc, trang thiết bị y tếhiện đại, đào tạo chuyên môn, đồng thời thu nhập của cán bộ bệnh viện tim Hà Nộinhìn chung cao hơn so với mặt bằng các bệnh viện khác trên cùng địa bàn
Ngoài ra, bệnh viện cũng thực hiện công tác quản lý cán bộ, công chức theoquy định của nhà nước
1.4 Mô hình bệnh tật tại bệnh viện tim Hà Nội
1.4.1.Mô hình bệnh tật qua các ca phẫu thuật tim tại bệnh viện tim Hà Nội
Qua 2000 ca phẫu thuật tim đầu tiên trong thời gian 2004-2007, tỷ lệ mặt bệnh đượcthể hiện như bảng 1.1
Bảng 1.1 Tỷ lệ mặt bệnh qua 2000 ca phẫu thuật tim tại bệnh viện
Trang 131.4.2.Mô hình bệnh tim mạch tại khoa phòng khám bệnh viện tim Hà Nội trong thời gian 2004-2005
Bảng 1.2 Tỷ lệ mặt bệnh tại khoa phòng khám tại bệnh viện năm 2004-2005
độ khóa luận tốt nghiệp, luận văn thạc sĩ Các đề tài này chỉ dừng lại nghiên cứu phân tích từng phần trong hoạt động quản lý sử dụng thuốc Vì vậy, chúng tôi thực
hiện đề tài nghiên cứu “Phân tích hoạt động quản lý sử dụng thuốc tại bệnh viện tim Hà Nội, giai đoạn 2008 – 2010” với mong muốn phân tích sâu và đầy đủ hơn
hoạt động quản lý sử dụng thuốc, đặc biệt là đối với thuốc tim mạch Việc nghiên cứu này là cần thiết và mang tính thời sự vì hiện nay ở nước ta các bệnh lý tim
Trang 14mạch đang gia tăng và vấn đề quản lý sử dụng thuốc chưa được quan tâm đúng mứcdẫn đến tình trạng người bệnh còn gặp các tai biến do sử dụng thuốc.
Trang 15PHẦN 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu:
Nghiên cứu hoạt động quản lý sử dụng thuốc tại bệnh viện tim Hà Nội trong giaiđoạn 2008-2010, thông qua:
Các báo cáo về bệnh tật lưu tại phòng Kế hoạch tổng hợp
Sổ sách xuất nhập, thống kê sử dụng thuốc lưu tại khoa Dược và phòng Tàichính kế toán
Danh mục thuốc của bệnh viện
Các tài liệu có liên quan đến cung ứng thuốc tại bệnh viện
Biên bản họp, tài liệu liên quan hoạt động của Hội đồng thuốc và điều trị
Tài liệu liên quan hoạt động của Tổ thông tin thuốc
2.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu:
- Địa điểm: + Bộ môn Quản lý và Kinh tế Dược – Trường Đại học Dược Hà Nội
+ Bệnh viện tim Hà Nội
- Thời gian nghiên cứu: từ 1/1/ 2008 đến 1/1/ 2011
- Thời gian thực hiện đề tài: năm 2011
2.3 Nội dung nghiên cứu:
Tóm tắt nội dung và các chỉ tiêu nghiên cứu theo bảng 2.3
2.4 Phương pháp nghiên cứu:
2.4.1 Phương pháp mô tả hồi cứu:
Hồi cứu mô hình tổ chức, cơ cấu nhân lực, mô hình bệnh tật… tại bệnh việntim Hà Nội Thu thập các số liệu, tài liệu liên quan mục tiêu nghiên cứu các hoạtđộng tại bệnh viện giai đoạn 2008-2010 :
Các báo cáo về bệnh tật lưu tại phòng Kế hoạch tổng hợp
Sổ sách xuất nhập, thống kê sử dụng thuốc lưu tại khoa Dược và phòngTài chính kế toán
Danh mục thuốc của bệnh viện
Các tài liệu có liên quan đến cung ứng thuốc tại bệnh viện
Biên bản họp, tài liệu hoạt động của hội đồng thuốc và điều trị
Trang 16 Hồ sơ bệnh án, đơn thuốc BHYT ngoại trú, sổ khám bệnh.
Trang 17Bảng 2.3 Sơ đồ tóm tắt nội dung và chỉ tiêu nghiên cứu
Phân tích kinh phí, số lượng và
chủng loại thuốc sử dụng
Phân tích hoạt động Quản lý sử dụng thuốc tại bệnh viện Tim Hà
Nội, giai đoạn 2008 - 2010
Giám sát hoạt động thông tin
Một số chỉ số chăm sóc người bệnh
Một số chỉ số kê đơn tại bệnh viện
Kinh phí sử dụng thuốc trong
kê đơn ngoại trú
Thực hiện
QC chuyên môn trong chỉ định thuốc tại
HS bệnh án
Trang 182.4.2 Phương pháp mô tả tiến cứu
Tiến cứu sổ khám bệnh và đơn thuốc BHYT ngoại trú
2.4.3 Phương pháp thu thập số liệu
2.4.3.1 Phương pháp quan sát
Quan sát trực tiếp các hoạt động:
Hoạt động giao phát thuốc tại bệnh viện
Hoạt động thực hiện y lệnh
2.4.3.2 Phương pháp phỏng vấn
Phỏng vấn, trao đổi trực tiếp với người bệnh tại bệnh viện tim Hà Nội về mức độ
hiểu biết căn bệnh mắc phải, tổng đợt điều trị bệnh và cách sử dụng thuốc theo đơn(liều dùng, số lần dùng trong ngày và cách dùng thuốc)
2.4.3.3 Phương pháp thu thập số liệu qua tài liệu sổ sách
2.4.4 Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu:
Cỡ mẫu
Đề tài định hướng chọn 100 hồ sơ bệnh án, 100 đơn thuốc BHYT ngoại trú và
100 sổ khám bệnh
Phương pháp chọn mẫu
100 hồ sơ bệnh án được chọn theo kỹ thuật chọn mẫu ngẫu nhiên đơn trong
tổng số hồ sơ bệnh án giai đoạn 2008- 2010 được lưu tại phòng KHTH
100 đơn thuốc Bảo hiểm y tế ngoại trú tiến cứu tại kho phát thuốc BHYT.
100 sổ khám bệnh được tiến cứu tại nhà thuốc bệnh viện
2.4.5 Phương pháp phân tích số liệu
Gọi đơn giá của một thuốc là gi (trong đó i chỉ một loại thuốc, i=1,2,3…N)
qi là số lượng thuốc sử dụng ci là tiền thuốc sử dụng ==> ci= gi× qi