1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn thạc sĩ phát triển loại hình công tư kết hợp trong lĩnh vực cung ứng dịch vụ công cộng trên địa bàn thành phố đà nẵng

120 431 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 120
Dung lượng 4,23 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tuy nhiên, trong điều kiện nguồn ngân sách của Nhà nước còn hạn chế, không thể dành nhiều ngân sách cho việc đầu tư vào lĩnh vực công cộng vì còn phải đầu tư cho nhiều lĩnh vực khác quan

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Đào Hữu Hòa

Đà Nẵng - Năm 2015

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi

Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Nguyễn Thành Nhân

Trang 3

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục tiêu nghiên cứu 3

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3

4 Phương pháp nghiên cứu 3

5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 4

6 Cấu trúc của luận văn: Luận văn gồm 3 chương 4

7 Tổng quan tài liệu nghiên cứu 4

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN LOẠI HÌNH CÔNG TƯ KẾT HỢP 9

1.1 TỔNG QUAN VỀ LOẠI HÌNH CÔNG TƯ KẾT HỢP 9

1.1.1 Khái niệm, đặc điểm của loại hình công tư kết hợp 9

1.1.2 Những lợi ích, thách thức của loại hình PPP 12

1.1.3 Các hình thức của loại hình PPP 16

1.1.4 Những yêu cầu đối với quản lý các dự án PPP 24

1.2 NỘI DUNG PHÁT TRIỂN LOẠI HÌNH CÔNG TƯ KẾT HỢP TRONG LĨNH VỰC CUNG ỨNG DỊCH VỤ CÔNG CỘNG 30

1.2.1 Phát triển về số lượng dự án mới, tăng quy mô dự án đang thực hiện .30

1.2.2 Phát triển về chất lượng dự án PPP 33

1.2.3 Phát triển về cơ cấu dự án PPP 34

1.2.4 Gia tăng sự đóng góp của PPP trong nền kinh tế 37

1.3 CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN PHÁT TRIỂN PPP 38

1.3.1 Về chính trị 38

1.3.2 Về thể chế 38

Trang 4

1.3.3 Về kinh tế 38

1.3.4 Về xã hội 39

1.4 KINH NGHIỆM THÀNH CÔNG TRONG PHÁT TRIỂN LOẠI HÌNH PPP TRÊN THẾ GIỚI 39

1.4.1 Hàn Quốc 39

1.4.2 Trung Quốc 40

1.4.3 Kinh nghiệm tại Hồng Kông 41

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN LOẠI HÌNH CÔNG TƯ KẾT HỢP TRONG LĨNH VỰC CUNG ỨNG DỊCH VỤ CÔNG CỘNG TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG 42

2.1 ĐẶC ĐIỂM CỦA THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG ẢNH HƯỞNG ĐẾN PHÁT TRIỂN PPP 42

2.1.1 Đặc điểm tự nhiên của Thành phố Đà Nẵng 42

2.1.2 Đặc điểm về kinh tế 43

2.1.3 Đặc điểm về xã hội 49

2.1.4 Môi trường thể chế 51

2.2 THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN LOẠI HÌNH PPP THỜI GIAN QUA TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG 52

2.2.1 Thực trạng phát triển về số lượng, quy mô các dự án PPP trong thời gian qua 52

2.2.2 Chất lượng các dự án PPP trong thời gian qua 55

2.2.3 Cơ cấu của các dự án PPP trong thời gian qua 55

2.2.4 Mức độ đóng góp của PPP trong nền kinh tế 57

2.2.5 Các chính sách Chính quyền Thành phố áp dụng phát triển PPP trong thời gian qua 59

2.2.6 Những thành công và hạn chế trong việc phát triển PPP tại Đà Nẵng thời gian qua 64

Trang 5

2.3 NGHIÊN CỨU CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN PHÁT TRIỂN

PPP TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG 66

2.3.1 Giới thiệu mô hình nghiên cứu 66

2.3.2 Xây dựng thang đo 67

2.3.3 Kiểm định thang đo 69

2.3.4 Tiến hành chọn mẫu điều tra 69

2.3.5 Quy trình xử lý mẫu điều tra 70

CHƯƠNG 3 MỘT SỐ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN LOẠI HÌNH CÔNG TƯ KẾT HỢP TRONG LĨNH VỰC CUNG ỨNG DỊCH VỤ CÔNG CỘNG TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG 81

3.1 CƠ SỞ TIỀN ĐỀ CHO VIỆC ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP 81

3.1.1 Các cơ sở pháp lý 81

3.1.2 Các dự báo về môi trường phát triển loại hình PPP trong thời gian đến 82

3.1.3 Phương hướng của Thành phố Đà Nẵng trong phát triển loại hình PPP .84

3.2 CÁC GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN LOẠI HÌNH CÔNG TƯ KẾT HỢP TRONG LĨNH VỰC CUNG ỨNG DỊCH VỤ CÔNG CỘNG Ở ĐÀ NẴNG 87

3.2.1 Phát triển về số lượng dự án mới, tăng quy mô dự án đang thực hiện .88

3.2.2 Phát triển về chất lượng dự án PPP 89

3.2.3 Phát triển về cơ cấu dự án PPP 90

3.2.4 Gia tăng sự đóng góp của PPP trong nền kinh tế 91

3.3 CÁC GIẢI PHÁP BỔ SUNG 92

3.3.1 Tăng cường đầu tư cơ sở hạ tầng xã hội nhằm tạo điều kiện cho PPP .92

Trang 6

3.3.2 Tăng cường công tác tuyên truyền cho người dân hiểu và ủng hộ PPP .92

3.3.3 Xây dựng cơ chế phối hợp các đơn vị của Nhà nước với PPP 92 3.4 KIẾN NGHỊ 93

KẾT LUẬN 94 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐÊ TÀI (bản sao)

PHỤ LỤC

Trang 7

BLT Xây dựng - Thuê dịch vụ - Chuyển giao

DBFO Thiết kế - Xây dựng - Tài trợ - Vận hành (Design - Build

- Finance - Operate) O&M Kinh doanh - Quản lý

PPP Công tư kết hợp hay còn gọi hợp tác công tư (Public

Private Partnership) SPV Công ty phục vụ mục đích đặc biệt (Special Purpose

Vehicle)

Trang 8

theo khoản mục đầu tư và phân theo ngành kinh tế 2011-2014

46

2.5 Đầu tư nước ngoài được cấp giấy phép và thực hiện vốn 48 2.6 Số trường học, lớp học, giáo viên, học sinh phổ thông 49 2.7 Số cơ sở y tế, giường bệnh và cán bộ y tế 50 2.8 Dự án PPP tại Đà Nẵng trong thời gian qua 53 2.9 Cơ cấu các dự án PPP tại Đà Nẵng thời gian qua 55 2.10 Dự án PPP góp phần tiết kiệm ngân sách thành phố 58 2.11 Nội dung liên quan đến phát triển PPP trong các Nghị quyết

HĐND thành phố Đà Nẵng

61

2.15 Kết quả kiểm định hệ số Cronback’s Apha lần 2 73 2.16 Kết quả phân tích nhân tố khám phá EFA lần 3 76 2.17 Kết quả phân tích nhân tố khám phá EFA lần 3 77 2.18 Danh mục các dự án PPP kêu gọi đầu tư trong thời gian đến 87

Trang 9

DANH MỤC CÁC HÌNH

Số

1.1 Lợi ích các bên liên quan trong PPP 13 1.2 Chất lượng hạ tầng dự án PPP các quốc gia Châu Á

(2011)

33

1.3 Cơ cấu dự án PPP phân theo hình thức đầu tư (%) 35 1.4 Tỷ trọng số dự án phân theo lĩnh vực đầu tư (%) 36 2.1 Tốc độ tăng trưởng GDP của thành phố Đà Nẵng, theo

giá so sánh năm 2010 (ĐVT: tỷ đồng)

44

2.3 Tỷ trọng số các dự án phân theo hình thức đầu tư 56

2.4 Tỷ trọng số các dự án phân theo lĩnh vực đầu tư 57

2.6 Các loại hình doanh nghiệp tham gia khảo sát 70 2.7 Các biến có mối quan hệ đến việc đầu tư các dự án PPP

dịch vụ công cộng

79

Trang 10

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Hiện nay nhu cầu về phát triển kinh tế xã hội ngày càng cao, quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa diễn ra mạnh mẽ, nhu cầu của người dân về phúc lợi xã hội không ngừng tăng lên Để đáp ứng nhu cầu này, xã hội cần rất nhiều nguồn lực để phát triển cơ sở hạ tầng nhằm gia tăng khả năng cung ứng dịch vụ công cộng đáp ứng nhu cầu tăng lên của người dân Tuy nhiên, trong điều kiện nguồn ngân sách của Nhà nước còn hạn chế, không thể dành nhiều ngân sách cho việc đầu tư vào lĩnh vực công cộng vì còn phải đầu tư cho nhiều lĩnh vực khác quan trọng như an ninh quốc phòng, phát triển kinh tế, xóa đói giảm nghèo… Bên cạnh đó, với cung cách quản lý hành chính quan liêu, các hiện tượng tiêu cực như tham ô, tham nhũng trong lĩnh vực đầu tư công đã đến mức báo động làm cho việc sử dụng vốn không hiệu quả, thất thoát vốn, thâm hụt vốn, chất lượng công trình không đảm bảo cũng làm hạn chế hiệu quả đầu tư công, gây lãng phí, làm gia tăng thâm hụt ngân sách… Để giải quyết yêu cầu này, việc phải tăng cường thu hút các nguồn vốn của xã hội

để đầu tư vào lĩnh vực này là rất cần thiết và cấp bách, trong đó mô hình công

tư kết hợp hay còn gọi là hợp tác công tư (Public Private Partnership, PPP) là một hình thức đầu tư cần được ưu tiên xem xét Theo các nhà kinh tế, về cơ bản khi áp dụng loại hình PPP là tận dụng được lợi thế, điểm mạnh của Nhà nước và khu vực tư nhân, điều đó mang lại lợi ích cho cả Nhà nước, khu vực

tư nhân và người dân sử dụng dịch vụ - sản phẩm của công tư kết hợp

Đối với Đà Nẵng, là thành phố Trung ương tại miền Trung, trong những năm qua Đà Nẵng luôn duy trì được tốc độ tăng trưởng kinh tế cao và liên tục (bình quân hàng năm đạt từ 9-10%) Hiện nay thành phố đang đặt ra

mục tiêu phấn đầu là xây dựng thành công “Thành phố đáng sống”, “Thành

Trang 11

phố môi trường”; “Thành phố 5 không 3 có” Để hiện thực hóa mục tiêu

này, Thành phố đã triển khai rất nhiều chương trình phát triển như xây dựng chỉnh trang các khu dân cư; xây dựng mới cầu đường; hoàn thiện hệ thống xử

lý nước thải; xây dựng các khu du lịch, giải trí; trường học, bệnh viện… Nhờ

sự tích cực quan tâm đầu tư của chính quyền Thành phố, sự ủng hộ của người dân, đến nay Đà Nẵng đã dần định hình là một Thành phố phát triển, văn minh sạch đẹp hàng đầu ở Việt Nam Tuy nhiên, ngoài những thành tích ấn tượng đó, quá trình đầu tư công tại Đà Nẵng vẫn còn tồn tại một số bất cập, đặc biệt là việc huy động nguồn đầu tư từ ngân sách quá cao dẫn đến việc khai thác quá mức quỹ đất gây lãng phí, thất thoát, ảnh hưởng đến dự trữ quỹ đất cho phát triển của Thành phố trong tương lai Mặt khác, việc quản lý đầu

tư công vẫn chưa thật sự có hiệu quả, nhiều công trình mới đưa vào sử dụng

đã bị hư hỏng phải tốn nhiều kinh phí để sửa chữa, khắc phục như đường Nguyễn Tất Thành; bờ kè biển đường Liên Chiểu - Thuận Phước; cầu Rồng, cầu Thuận Phước và rất nhiều công trình công cộng tại các khu dân cư…

Để giảm áp lực cho việc huy động các nguồn vốn đầu tư từ ngân sách, đồng thời nâng cao hiệu quả đầu tư công tại thành phố Đà Nẵng trong tương lai, Thành phố cần tìm kiếm một mô hình phù hợp nhằm lôi kéo các thành phần kinh tế khác trong xã hội tham gia vào hoạt động đầu tư này, trong đó PPP là một mô hình cần ưu tiên xem xét Vì vậy, trong quá trình nghiên cứu, được sự đồng ý của giáo viên hướng dẫn và hội đồng xét duyệt đề tài, tôi đã

mạnh dạn chọn đề tài “Phát triển loại hình công tư kết hợp trong lĩnh vực cung ứng dịch vụ công cộng trên địa bàn thành phố Đà Nẵng” làm luận

văn tốt nghiệp cao học chuyên ngành Kinh tế Phát triển của mình Hy vọng rằng, luận văn sẽ có đóng góp nhất định cho thành phố Đà Nẵng trong việc định hướng các chính sách và giải pháp cụ thể để thúc đẩy loại hình PPP phát triển đồng thời qua đó không ngừng nâng cao chất lượng, hiệu quả trong lĩnh

Trang 12

vực đầu tư công

2 Mục tiêu nghiên cứu

- Nghiên cứu làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của loại hình đầu tư

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

a Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các vấn đề liên quan đến hoạt động đầu tư theo hình thức “công tư kết hợp” trên địa bàn Thành phố Đà Nẵng

b Phạm vi nghiên cứu

- Về không gian: Đề tài được thực hiện trong phạm vi thành phố Đà Nẵng

- Về thời gian nghiên cứu:

* Các số liệu thứ cấp: từ năm 2009 đến năm 2014

* Các số liệu sơ cấp: Từ tháng 02/2015 đến tháng 5/2015

- Tầm xa của các giải pháp: đến năm 2020 và tầm nhìn 2030

4 Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện được đề tài này, luận văn đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu như sau:

- Phương pháp nghiên cứu duy vật biện chứng: xem xét sự vật trong trang thái động và trong mối quan hệ với các sự vật khác

- Phương pháp nghiên cứu điều tra: sử dụng bảng câu hỏi để thu thập thông tin cần thiết

Trang 13

Khảo sát 66 cán bộ, nhân viên Đối tượng được khảo sát được lựa chọn ngẫu nhiên ở các doanh nghiệp đã tham gia và chưa tham gia PPP

Các dữ liệu được thu thập, mã hóa và thực hiện các thống kê dựa trên phần mềm SPSS Kiểm định thang đo sử dụng phương pháp phân tích nhân tố khám phá Exploatory Factor Analysis, (EFA), hệ số tin cậy Cronbach alpha, kiểm định giả thiết

- Các phương pháp khác

5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

Qua nghiên cứu đề này có thể phát hiện các kết quả khả quan và hướng

đi thích hợp của việc áp dụng loại hình PPP trên địa bàn thành phố Đà Nẵng

Đề xuất một số giải pháp nhằm phát triển loại hình PPP trong lĩnh vực cung ứng dịch vụ công cộng, nhằm kêu gọi tư nhân đầu tư vào lĩnh vực này ngày càng nhiều hơn, tạo ra nhiều lợi ích cho xã hội, đáp ứng được nhu cầu ngày càng cao của người dân thành phố

6 Cấu trúc của luận văn: Luận văn gồm 3 chương

Chương 1: Cơ sở lý luận về phát triển loại hình công tư kết hợp

Chương 2: Thực trạng phát triển loại hình công tư kết hợp trong lĩnh vực cung ứng dịch vụ công cộng trên địa bàn thành phố Đà Nẵng

Chương 3: Một số giải pháp phát triển loại hình công tư kết hợp trong lĩnh vực cung ứng dịch vụ công cộng trên địa bàn thành phố Đà Nẵng

7 Tổng quan tài liệu nghiên cứu

Đã có rất nhiều tài liệu trong và ngoài nước nghiên cứu về loại hình đầu

tư “công tư kết hợp, PPP” Trong quá trình tìm hiểu tác giả có tham khảo các công trình nghiên cứu sau:

Tác giả Nguyễn Thị Kim Dung (2008), "Quan hệ đối tác giữa Nhà nước và khu vực tư nhân (PPP) trong cung cấp một số loại dịch vụ công cơ bản: Kinh nghiệm, thông lệ quốc tế tốt và ý nghĩa ứng dụng cho Việt Nam"

Trang 14

Đề tài khoa học cấp Bộ Nghiên cứu này đã cung cấp các khái niệm, nội hàm

và kinh nghiệm thực tiễn về việc thu hút PPP trong lĩnh vực cung ứng dịch vụ công Đây là nghiên cứu đầu tiên ở nước ta về thực tiễn áp dụng mô hình PPP trên thế giới và gợi mở khả năng ứng dụng tại Việt Nam

Nhóm tác giả Mai Thị Thu, Nguyễn Văn Phúc, Đặng Ngọc Trâm và

Nguyễn Đoan Trang (2013), “Kinh nghiệm quốc tế và khuôn khổ thể chế tại Việt Nam” Báo cáo nghiên cứu RS - 09 về Phương thức đối tác công - tư

(PPP) Nhà xuất bản Tri thức Báo cáo của nhóm tác giả đã đi sâu phân tích bản chất, đặc điểm của phương thức đối tác công tư, các phương thức tổ chức thực hiện và những yêu cầu đối với công tác quản lý dự án PPP, trên cơ sở phân tích, đánh giá những khó khăn vướng mắc, những thành công cũng như thất bại trong việc thực hiện PPP các nước trên thế giới từ đó đưa ra khuyến nghị: Việt Nam cần phải hoàn thiện khuôn khổ thể chế PPP để tạo điều kiện thuận lợi trong việc triển khai PPP

Tác giả Phan Thị Bích Nguyệt (2013), “PPP - Lời giải cho bài toán vốn để phát triển cơ sở hạ tầng giao thông đô thị tại thành phố Hồ Chí Minh” Tạp chí Phát triển và Hội nhập số 10 (20) Nghiên cứu đã đánh giá

thực trạng cơ sở hạ tầng tại Thành phố Hồ Chí Minh còn yếu kém, đường sá quá tải, hệ thống giao thông quá tải nên việc triển khai mô hình PPP là hết sức cần thiết Trên cơ sở đó tác giả đã phân tích, đánh giá các lợi ích của mô hình PPP áp dụng trong lĩnh vực phát triển cơ sở hạ tầng tại Thành phố Hồ Chí Minh và các trở ngại chính trong việc triển khai thực hiện Từ đó đề xuất các công tác để nâng cao tính khả thi và hiệu quả cho các dự án về PPP: Hoàn thiện hành lang pháp lý, Phân bổ rủi ro hợp lý, Lựa chọn dự án tiến hành PPP, Tiến hành PPP theo chuẩn mực và tập quán quốc tế…

Tác giả La Hoàn (2012), “Thực trạng đầu tư theo hình thức hợp tác công tư (PPP) tại Việt Nam” Tác giả đã nghiên cứu, phân tích hình thức đầu

Trang 15

tư PPP ở các nước trên thế giới, rút ra những bài học kinh nghiệm và tỷ trọng phân bổ nguồn kinh phí đầu tư cho PPP ở các nước đang phát triển Qua đó đưa ra các đề xuất: Tạo lập khuôn khổ pháp lý, chính sách thực thi hợp đồng

và giải quyết tranh chấp, cần có sự hỗ trợ chính trị và cam kết mạnh mẽ của chính phủ

Tác giả Hồ Công Hòa (2011), "Mô hình hợp tác công tư - giải pháp tăng nguồn vốn, công nghệ và kỹ năng quản lý của tư nhân cho các dự án môi trường ở Việt Nam" Trên cơ sở phân tích nhu cầu và thực trạng môi trường ở

Việt Nam tác giả đã chỉ ra được sự cần thiết áp dụng mô hình PPP trong các

dự án hạ tầng về môi trường

Tác giả Phạm Dương Phương (2012),“Kinh nghiệm triển khai mô hình đầu tư công - tư (PPP) trên thế giới để phát triển cơ sở hạ tầng giao thông đô thị, Tạp chí Phát triển và Hội nhập số 12 (22) Tác giả đã chỉ ra được kinh

nghiệm trong việc thực hiện thành công mô đầu tư công tư trên thế giới Trên

cơ sở phân tích các nhân tố tác động đến sự thành công mô hình PPP: trong

đó Chính phủ giữ vai trò trách nhiệm rất quan trọng trong việc phát triển dự

án PPP như Hoàn thiện khung pháp lý, Chính sách hỗ trợ, Ổn định môi trường kinh tế vĩ mô; Lựa chọn đối tác tư nhân phù hợp, Nhận dạng và phân

bổ rủi ro thích hợp; Tài chính cho PPP, Thực hiện phân tích chi phí - lợi ích, Các nhân tố bất lợi cho dự án PPP Đồng thời tác giả cũng phân tích Kinh nghiệm một số nước trên thế giới về triển khai mô hình PPP trong các dự án phát triển cơ sở hạ tầng của một số nước trên thế giới

Nhóm tác giả Phan Thị Bích Nguyệt và Phạm Dương Phương Thảo

(2014), “Thu hút vốn đầu tư từ mô hình đầu tư công - tư (PPP)”, Tạp chí Tài

chính số 5-2014 Nghiên cứu đã đánh giá những nhân tố tác động đến mô hình triển khai đầu tư công ở một số nước trên thế giới, rút ra những bài học kinh nghiệm trong việc thực hiện loại hình PPP Đưa ra những kiến nghị để

Trang 16

thực hiện tốt loại hình PPP tại Việt Nam: Bổ sung các quy định pháp luật phù hợp với chuẩn mực luật pháp quốc tế; Điều chỉnh các quy định đã có, xây dựng thêm các Nghị định cho PPP; Quy định về đảm bảo nghĩa vụ thực hiện hợp đồng, quy định về bồi thường hợp đồng; Cần gia tăng vai trò của Chính phủ ổn định kinh tế vĩ mô, ổn định và phát triển thị trường tài chính; Có chính sách mở rộng thị trường, hợp tác và hội nhập quốc tế; Xây dựng cấu trúc tài chính tiêu chuẩn cho 1 dự án PPP và Các cơ quan hữu quan cần công bố công khai, minh bạch quy hoạch về đầu tư cơ sở hạ tầng

Tác giả Huỳnh Thị Thúy Giang (2012), "Hình thức hợp tác công tư để phát triển hạ tầng giao thông đường bộ Việt Nam" Luận án Tiến sỹ kinh tế

Theo đó tác giả đã nghiên cứu cách thức thực hiện PPP ở các quốc gia chưa tồn tại thị trường PPP giống như nước ta Cách thức thu hút vốn đầu tư của các nước, tình hình đầu tư tư nhân trong lĩnh vực đường bộ, mức độ sẵn lòng khi đầu tư vào các dự án PPP đường bộ của khu vực tư nhân Đồng thời cũng chỉ ra một số phương pháp để kêu gọi và triển khai thành công việc thu hút vốn đầu tư phát triển ngành đường bộ Việt Nam

Tác giả Phạm Quốc Trường (2014), Thực trạng PPP đưa ra một số đề xuất về chương trình khung để vận hành dự án PPP phù với với điều kiện Việt Nam” Tạp chí Tài chính số 9/2014 Trong bài viết tác giả đánh giá thực trạng

công tác đầu tư PPP tại Việt Nam chủ yếu là các hình thức như: BOT, BTO, BOO Trong đó đáng kể nhất là hình thức BOT áp dụng khá phổ biến tại ngành giao thông đường bộ nhưng hiệu quả còn hạn chế; đưa ra những nhân

tố ảnh hưởng đến sự vận hành PPP: giá trị tiền tệ, chia sẽ rủi ro, khả năng chi trả Qua phân tích tác giả đã đề xuất chương trình khung vận hành PPP tại Việt Nam, bao gồm 5 giai đoạn: Xác định, ưu tiên và lựa chọn của dự án PPP; Thẩm định và tính khả thi; Mua sắm; Thông báo trúng thầu và Quản lý hợp đồng

Trang 17

Tác giả Lê Thị Kim Phương và Nguyễn Thị Thu Hồng (2012), “Báo cáo Chuyên đề về Mô hình Hợp tác công tư (PPP)” Báo cáo đánh giá về Lộ

trình chuẩn bị và triển khai thực hiện dự án PPP; Các hình thức PPP; Các mô hình đối tác giữa Nhà nước và Tư nhân ở Việt Nam và áp dụng các mô hình này ở Thành phố Đà Nẵng Qua báo cáo cũng thấy được những thuận lợi, hạn chế khi triển khai dự án PPP tại Thành phố Đà Nẵng và đưa ra một số giải pháp căn bản nhằm khuyến khích, đẩy mạnh đầu tư theo mô hình PPP vào Thành phố Đà Nẵng trong những năm đến

Ngoài các tài liệu trên, tác giả còn tham khảo các tham luận và phát

biểu tại Hội thảo “Khai thông môi trường đầu tư và lựa chọn mô hình Kết hợp công tư trong cung cấp dịch vụ y tế”, do Bộ Y tế và Ngân hàng Thế giới

(WB) phối hợp tổ chức năm 2014 Hội thảo đã giới thiệu về kinh nghiệm trong phát triển và vận hành mô hình PPP tại một số quốc gia như là một trong những giải pháp hiệu quả huy động các thành phần kinh tế ngoài nhà nước đầu tư vào mô hình PPP Hội thảo cũng chỉ ra, điều quan trọng là không nên xem mô hình PPP như công cụ để cung cấp dịch vụ y tế cho những người

có thể chi trả, mà nên được thực hiện để nhằm thanh toán cho những bệnh nhân nghèo không có bảo hiểm, giúp họ có thể sử dụng các dịch vụ chất lượng thông qua PPP

Từ những nghiên cứu trên, có thể khẳng định, đã có rất nhiều nghiên cứu, báo cáo khẳng định tính hữu ích của mô hình PPP trong lĩnh vực đầu tư

công Tuy nhiên cho đến nay vẫn chưa có công trình nào đề cập đến “Phát triển loại hình công tư kết hợp trong lĩnh vực cung ứng dịch vụ công cộng

trên địa bàn thành phố Đà Nẵng” Nhận thức về điều đó, luận văn đã kế thừa

những thành tựu nghiên cứu của các nhà khoa học đã đạt được đồng thời nghiên cứu chuyên sâu về Phát triển loại hình công tư kết hợp trong lĩnh vực cung ứng dịch vụ công cộng trên địa bàn thành phố Đà Nẵng

Trang 18

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN LOẠI HÌNH CÔNG TƯ KẾT HỢP

1.1 TỔNG QUAN VỀ LOẠI HÌNH CÔNG TƯ KẾT HỢP

1.1.1 Khái niệm, đặc điểm của loại hình công tư kết hợp

a Khái niệm PPP

Loại hình “Công tư kết hợp” hay còn gọi là “Hợp tác công tư” (Public

Private Partnership, PPP) được định nghĩa dưới nhiều khía cạnh và có nhiều

phiên bản khác nhau, tùy theo bối cảnh của các quốc gia hoặc tổ chức nghiên

cứu Hiện nay có một số khái niệm về PPP khá phổ biến như sau:

Theo cuốn sách "PPP: Hướng dẫn cho chính quyền địa phương" xuất

bản năm 1999, Chính quyền bang British Columbia, Canada coi “Hợp tác

công tư” là “sự phối hợp giữa các cơ quan chính phủ và tổ chức tư nhân nhằm

mục đích cung cấp cơ sở hạ tầng công, các tiện nghi cho cộng đồng và các

dịch vụ liên quan” (Ministry of Municipal Affair, 1999)

Trong khi đó “Sổ tay hướng dẫn về PPP” do Ngân hàng phát triển châu

Á (ADB) phát hành năm 2008 coi thuật ngữ “mối quan hệ đối tác nhà nước -

tư nhân” miêu tả một loạt các mối quan hệ có thể có giữa các tổ chức nhà

nước và tổ chức tư nhân liên quan đến lĩnh vực cơ sở hạ tầng và các lĩnh vực

dịch vụ khác” (ADB, 2008)

Trong nghiên cứu “Khai thác lợi thế của PPP: Vai trò của chiến lược hỗ

trợ tài chính trong phát triển bền vững”, Colverson và Perera coi PPP “là một

hình thức được áp dụng trong một số dạng hợp đồng giữa nhà nước và khu

vực tư nhân nhằm mục tiêu cung cấp dịch vụ và phát triển cơ sở hạ tầng”

(Colverson và Perera, 2012)

Trang 19

Một số tổ chức chuyên hoạt động trong lĩnh vực PPP như Hội đồng PPP của Canada, Hội đồng quốc gia về PPP của Mỹ cũng đưa ra những khái niệm riêng của mình về PPP Chẳng hạn như “PPP là một liên doanh hợp tác giữa khu vực công và tư, dựa trên lợi thế của mỗi bên nhằm xác định nhu cầu của cộng đồng thông qua việc phân bố hợp lý nguồn lực, rủi ro và lợi ích”

Mặc dù tồn tại dưới nhiều dạng khác nhau trong thuật ngữ hoặc cách diễn giải song về bản chất có thể định nghĩa: Hợp tác công tư (hay công tư kết hợp, PPP) là sự hợp tác giữa khu vực nhà nước và khu vực tư nhân dựa trên một hợp đồng dài hạn để cung cấp cơ sở hạ tầng hoặc dịch vụ công cộng

Công tư kết hợp được thực hiện nhằm chia sẽ kinh nghiệm của mỗi đối tác và đáp ứng tốt nhất những nhu cầu của khách hàng thông qua phân bổ phù hợp các nguồn lực, rủi ro và lợi ích

b Khái niệm về phát triển loại hình PPP

Phát triển là sự vận động theo hướng đi lên, từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ chưa hoàn thiện đến hoàn thiện của sự vật Sự phát triển không chỉ là sự tăng, giảm thuần túy về lượng, mà còn phải có sự thay đổi về chất của sự vật, hiện tượng

Trên cơ sở khái niệm về phát triển ở trên, chúng ta có thể đưa ra khái niệm về phát triển loại hình PPP như sau:

Phát triển loại hình PPP là quá trình tăng lên về số lượng và quy mô đóng góp của các dự án PPP, gia tăng chất lượng của các dự án và thúc đẩy sự chuyển dịch cơ cấu của các dự án hợp tác công tư theo hướng tích cực nhằm mang lại những sản phẩm/dịch vụ có chất lượng cao hơn, có nhiều tiện ích hơn cho xã hội, nhằm thỏa mãn tối đa lợi ích của đối tác Nhà nước, đối tác tư nhân và người sử dụng sản phẩm/dịch vụ

c Đặc điểm cơ bản của loại hình PPP

- Chia sẻ rủi ro và lợi ích: Forward và Aldis (2009), Kappeler và

Trang 20

Nemoz (2010), Quium (2011) và Planning Commission (2004) đều thống nhất cho rằng việc chia sẻ hay phân bổ rủi ro là vấn đề trung tâm và là đặc điểm nổi bật nhất của loại hình PPP Những rủi ro có thể xuất hiện trong quá trình triển khai dự án được Planning Commission (2004) tổng kết lại bao gồm:

+ Rủi ro trong quá trình xây dựng do những lý do như sự vỡ nợ của nhà thầu, môi trường bị tàn phá

+ Rủi ro về thị trường do những nguyên nhân cầu không tương xứng, mức thuế sử dụng dịch vụ không thực tế

+ Rủi ro về tài chính do thay đổi về tỷ giá, lãi suất, thuế tăng lên, do lạm phát…

+ Rủi ro trong quá trình vận hành và bảo trì do hợp đồng bị ngừng lại, những rủi ro về mặt công nghệ hoặc lao động

+ Rủi ro về mặt pháp lý do những thay đổi trong hệ thống luật pháp, do tình trạng vỡ nợ của nhà cung cấp dịch vụ…

- Mối quan hệ hợp tác lâu dài giữa đối tác công và tư: Một đặc điểm khác của loại hình PPP được Kappeler và Nemoz (2010) mô tả là mối quan hệ hợp tác lâu dài giữa đối tác công và tư; các nội dung chính của dự án PPP bao gồm “thiết kế, xây dựng, vận hành hoặc bảo trì”, gắn liền với nguồn tài chính

từ đối tác tư nhân; đối tác công trả công cho đối tác tư trong suốt vòng đời của

dự án PPP, căn cứ vào chất lượng dịch vụ cung cấp

- Chủ thể tham gia PPP đa dạng: Đối tác công ở đây có thể là các Bộ, ngành, các chính quyền địa phương hoặc các doanh nghiệp trong nước Đối tác tư nhân có thể là các doanh nghiệp hoặc các nhà đầu tư trong nước hoặc ngoài nước

Trang 21

1.1.2 Những lợi ích, thách thức của loại hình PPP

a Những lợi ích của loại hình PPP

Thực tế là không phải lĩnh vực nào cũng nên áp dụng PPP bởi bản thân

nó chứa đựng cả lợi ích và thách thức Trước khi quyết định lựa chọn áp dụng PPP, việc tiến hành phân tích chi phí - lợi ích của loại hình này là rất quan trọng Dựa trên kinh nghiệm thực tế trong việc triển khai PPP ở các quốc gia trên thế giới, những lợi ích và thách thức PPP mang lại như sau:

Về cơ bản tận dụng được lợi thế của Nhà nước và khu vực tư nhân và điều đó mang lại lợi ích cho cả hai và người dân sử dụng sản phẩm, dịch vụ của sự hợp tác công tư Những lợi ích đáng chú ý nhất là:

- Tạo ra nhiều khoản đầu tư hơn cho cơ sở hạ tầng: với loại hình PPP, Nhà nước sẽ giảm được gánh nặng phải tìm kiếm, sắp xếp và phân bổ nguồn vốn đầu tư từ ngân sách cho cơ sở hạ tầng Do vậy, Nhà nước có thể tiến hành nhiều dự án đầu tư hơn hoặc tăng quy mô của các dự án đầu tư cơ sở hạ tầng

- Tạo ra sự ổn định và tăng trưởng cho khu vực tư nhân: Với việc tham gia vào loại hình PPP, khu vực tư nhân có được nhiều cơ hội đầu tư mang tính dài hạn hơn, ít rủi ro hơn với sự đảm bảo của Nhà nước Từ đó, tạo ra sự ổn định và tăng trưởng cho khu vực tư nhân, thúc đẩy sự phát triển của công nghiệp địa phương cũng như tạo ra nhiều công ăn việc làm hơn cho người lao động

- Phân bổ rủi ro tốt và hiệu quả hơn: Bất kỳ một dự án đầu tư nào đều

ẩn chứa những rủi ro, có thể là rủi ro về tài chính, về tiến độ thực hiện, về lợi nhuận… Ministry of Municipal Affairs (1999), Colverson và Perera (2012) và European Commision (20003) cho rằng một trong những nguyên tắc cốt yếu của loại hình PPP là rủi ro sẽ được phân bố cho bên nào giải quyết tốt nhất Với nhiều trương hợp, Nhà nước là bên có trách nhiệm giải quyết những rủi

ro liên quan đến cộng đồng, môi trường hoặc bảo lãnh vay vốn do tiếng nói

Trang 22

của Nhà nước “có trọng lượng” hơn đối với các đối tượng đó Ngược lại khu vực tư nhân ưu việt hơn trong việc xử lý những rủi ro liên quan đến quản lý,

vụ sắp được đưa vào sử dụng hơn, qua đó cũng giúp tiết kiệm được chi phí

- Cải thiện chất lượng dịch vụ cung cấp: Một trong những lợi ích rõ ràng được nhiều nghiên cứu và kinh nghiệp quốc tế thực tế chỉ ra đó là chất lượng các dự án áp dụng loại hình PPP thường tốt hơn so với hình thức đấu thầu truyền thống

Chính phủ

- Tối đa hóa doanh thu

- Cung cấp khả năng tiếp cận dịch vụ phổ thông

- Đảm bảo các dịch vụ cơ bản có giá cả hợp lý

- Thúc đẩy cạnh tranh lành mạnh

- Thu hút các nhà đầu tư

- Cải thiện phúc lợi công cộng

Người lao động

- Đảm bảo đối xử công bằng với

người lao động

- Cung cấp các cơ hội việc làm

- Cải thiện năng suất, hiệu quả và

- Cung cấp nguồn nhân lực đã được đào tạo

- Tạo ra nhiều cơ hội đầu tư hơn

Lợi ích của các bên liên quan

Trang 23

Ngoài ra, loại hình PPP còn mang lại một số lợi ích khác như nâng cao khả năng quản lý công, tạo thêm doanh thu cho khu vực tư nhân, uy tín về mặt chính trị tốt hơn cho Nhà nước

b Những thách thức của PPP

Bên cạnh những lợi ích rỏ ràng và ưu việt so với các hình thức khác, loại hình PPP cũng có ẩn chứa những thách thức không nhỏ, đòi hỏi các bên phải lưu tâm trong quá trình áp dụng Nỗi bật là những vấn đề sau:

- Gây ra chi phí cao hơn: Trước hết điều này không hề mâu thuẫn với lợi ích tiết kiệm chi phí được trình bày ở trên Chi phí cao hơn ở đây có thể là việc các khoản vay đối với khu vực tư nhân sẽ có lãi suất cao hơn so với việc Nhà nước đi vay trong các mô hình truyền thống trước đây Bên cạnh đó, chi phí cho việc tổ chức đấu thầu và đàm phán hợp đồng, chi phí trả cho các công

ty tư vấn pháp lý cũng có thể khiến cho chi phí việc áp dụng loại hình PPP cao hơn (Colverson và Pere, 2012) Trong khi đó, chi phí cao hơn được Ministry of Municipal Affairs (1999) nhìn nhận dưới một góc độ khác nhau: theo đó, khi đặt ra mức phí cho việc sử dụng một dịch vụ do Nhà nước cung cấp, nhiều trường hợp Nhà nước “quên” không tính toán tới chi phí hành chính, khấu hao công trình hoặc đơn giản là có những khoản trợ cấp bù đắp cho những chi phí đó Trong khi, việc áp phí trong cơ chế PPP đòi hỏi phải bao hàm tất cả các loại chi phí có liên quan Điều này sẽ dẫn tới việc sử dụng dịch vụ sẽ phải trả mức phí cao hơn so với sử dụng dịch vụ được cung cấp bởi riêng Nhà nước

- Làm giảm tính cạnh tranh: Các tiêu chuẩn cao khi lựa chọn nhà đầu tư

tư nhân, chi phí giao dịch và đấu thầu cao cùng với việc phải ký kết hợp đồng dài hạn là những yếu tố cần thiết để tham gia loại hình PPP mà không phải nhà đầu tư tư nhân nào cũng có thể đáp ứng được Colverson và Perera (2012)

và Ministry of Municipal Affairs (1999) cho rằng điều này gây ra hai hậu quả:

Trang 24

thu hẹp sự lựa chọn đối tác tư nhân của Nhà nước; và tạo ra thị trường độc quyền, ít sức ép cạnh tranh để các đối tác tư nhân được lựa chọn phấn đấu để giảm chi phí hoặc nâng cao chất lượng dịch vụ

- Thiếu năng lực và rủi ro chính trị: loại hình PPP đòi hỏi cả hai bên Nhà nước và tư nhân đều phải có năng lực đủ mạnh về PPP; song trong rất nhiều trường hợp, một hoặc cả hai bên đều không đủ năng lực Ministry of Municipal Affairs (1999) cho rằng “sự kết hợp của một chính quyền thiếu năng lực, kinh nghiệm và một đối tác tư nhân không quen thuộc với PPP có thể dẫn đến những rủi ro về mặt chính trị Colverson và Perera (2012) lại lo ngại về một hiện tượng thiếu năng lực khác, đó là việc mô hình PPP lại phụ thuộc quá nhiều vào chuyên gia tư vấn bên ngoài và cả Nhà nước và Tư nhân không học hỏi được gì qua quá trình triển khai dự án sau khi chuyên gia rời đi

- Thách thức mang tên “quyền kiểm soát”: Bản chất của loại hình PPP chính là việc chia sẻ rủi ro, lợi ích và quyền quyết định của các bên Đối tác

tư nhân với việc đầu tư về tài chính, công nghệ, nhân lực…cũng có tiếng nói quan trọng trong việc xác định ai là người nắm quyền cung cấp dịch vụ

- Tính minh bạch và trách nhiệm giải trình thấp: Một trong những vấn

đề quan ngại khi áp dụng loại hình PPP là tính minh bạch của dự án sẽ không cao như việc chỉ Nhà nước triển khai dự án Nguyên nhân là do cách tiếp cận thông tin của tư nhân rất khó khăn, đặc biệt là những thông tin tài chính, thương mại, được coi là bí mật của các công ty Ngoài ra việc đánh giá toàn

bộ dự án cũng sẽ rất khó khăn do những lý do tương tự, cộng thêm với việc nguồn thông tin, dữ liệu do nhiều nguồn nắm giữ, công chúng khó có thể kiểm tra được

- Thời gian dài hơn: Quá trình đàm phán đấu thầu đối với các dự án PPP thường kéo dài và phức tạp hơn so với các phương thức truyền thống

Trang 25

khác Mặt khác, do bản chất phức tạp và thời gian dài hạn của bản hợp đồng giữa Nhà nước và tư nhân, bất kỳ mâu thuẫn, tranh chấp hoặc một thay đổi nào xãy ra cũng sẽ cần nhiều thời gian hơn để giải quyết hoặc đàm phán lại

Đặc điểm của hình thức này là:

- Khu vực công là bên cung cấp cơ sở hạ tầng, còn phía tư nhân cung cấp dịch vụ cho khu vực công trên cơ sở hạ tầng đã có Khách hàng là cơ quan Nhà nước vẫn giữ tất cả quyền thiết kế, quyền sở hữu đối với cơ sở hạ tầng, trong khi đơn vị tư nhân phải thực hiện dịch vụ phải đáp ứng những tiêu chuẩn hoạt động do cơ quan Nhà nước đặt ra

- Cơ quan Nhà nước trả cho đối tác tư một khoản chi phí cố định trên

cơ sở phí một lần, hoặc chi phí đơn vị dịch vụ hoặc chi phí khác

b Hợp đồng quản lý

Là hợp đồng giữa cơ quan Nhà nước với đối tác tư nhân, trong đó thỏa thuận cho khu vực tư nhân được quản lý một tiện ích hay dịch vụ công

Đặc điểm của hình thức này là:

- Nghĩa vụ cung cấp dịch vụ công vẫn thuộc trách nhiệm khu vực Nhà nước, hoạt động quản lý kiểm soát và thẩm quyền xử lý hàng ngày được giao cho đối tác tư nhân

- Cơ quan Nhà nước vẫn chịu trách nhiệm quy định biểu phí dịch vụ đối với khách hàng sử dụng

- Đối tác tư nhân cung cấp vốn cho hoạt động quản lý, điều hành nhưng không có nhiệm vụ cung cấp vốn đầu tư cho cơ sở hạ tầng

Trang 26

- Đối tác tư nhân được trả một khoản phí theo thỏa thuận dựa trên chi phí lao động và chi phí điều hành dự kiến khác

- Phương pháp này giúp khu vực công tận dụng được trình độ quản lý của khu vực tư nhân, nhưng vẫn giữ được quyền sở hữu tài sản/cơ sở hạ tầng

- Mô hình này thường được sử dụng trong các thỏa thuận quản lý từ 3 đến 5 năm

c Nhượng quyền khai thác

Nhượng quyền khai thác, theo nghĩa rộng là một hình thức tổ chức thực hiện PPP, trong đó khu vực Nhà nước dựa trên các tài sản/cơ sở hạ tầng do Nhà nước xây dựng và sở hữu, nhượng lại quyền khai thác, kinh doanh cho khu vực tư nhân Trong mô hình này, đối tác tư nhân được lựa chọn sẽ được quyền vận hành và duy trì dịch vụ công cộng

Có hai hình thức đối với hình thức này, đó là cho thuê và nhượng quyền khai thác

+ Hình thức cho thuê: với hình thức này, cơ quan Nhà nước cho đối tác tư nhân thuê tài sản/tiện ích/cơ sở hạ tầng do Nhà nước xây dựng và sở hữu của cơ quan Nhà nước, để thực hiện khai thác, vận hành, và cung cấp dịch vụ công

Theo thỏa thuận cho thuê, đối tác tư nhân phải thanh toán tiền thuê cho

cơ quan Nhà nước một khoản cố định, không phụ thuộc vào khả năng thu phí

từ người sử dụng Và do đó, đối tác tư nhân chịu hoàn toàn rủi ro kinh doanh

+ Hình thức nhượng quyền khai thác: là loại hình PPP trong đó, cơ quan Nhà nước nhượng lại quyền vận hành, khai thác và cung cấp dịch vụ công cho đối tác tư nhân dựa trên các tài sản/tiện ích/cơ sở hạ tầng do Nhà nước xây dựng và sở hữu Nhưng khác với hình thức cho thuê, đối tác tư nhân phải trả một khoản phí cố định theo thỏa thuận cho cơ quan Nhà nước, thì trong hình thức nhượng quyền, đối tác tư nhân được phép thu phí từ người sử dụng dịch vụ và trả một khoản phí cho cơ quan Nhà nước theo tỷ lệ trên một đơn vị dịch vụ bán ra, đồng thời được phép giữ lại một phần doanh thu từ việc khai thác dịch vụ công

Trang 27

Đặc điểm của hình thức này là:

- Vai trò của khu vực Nhà nước đã chuyển từ người cung cấp dịch vụ sang người điều tiết, quản lý giá (phí) và chất lượng dịch vụ

- Các tài sản, hạ tầng vẫn thuộc quyền sở hữu của khu vực Nhà nước

- Chính phủ chịu trách nhiệm đầu tư để hình thành tài sản và do đó chịu rủi ro đầu tư Các rủi ro hoạt động được chuyển giao cho đối tác tư nhân

- Lợi nhuận của khu vực tư nhân phụ thuộc vào doanh thu từ việc cung cấp dịch vụ và chi phí vận hành, bảo trì

Hình thức nhượng quyền khai thác/cho thuê thường được sử dụng trong các trường hợp sau:

* Khi cơ quan quản lý muốn kết hợp tài chính công với hiệu quả khai thác của khu vực tư nhân

* Chuyển nhiệm vụ cung cấp dịch vụ công sang khu vực tư nhân dựa trên các tài sản/cơ sở hạ tầng công sẵn có Đồng thời chuyển các rủi ro tài chính, vận hành sang khu vực tư nhân

* Thời hạn của hợp đồng nhượng quyền khai thác/cho thuê thường là

8-10 năm và có thể được gia hạn kéo dài đến 20 năm

* Trên thế giới, hình thức này thường được sử dụng trong việc cung cấp dịch vụ xe buýt đô thị, các dịch vụ đường sắt, khai thác các bến cảng…

* Đối tác tư nhân thường được lựa chọn thông qua hình thức đấu thầu

* Trong trường hợp nhượng quyền khai thác, có thể sử dụng hình thức nhượng quyền khai thác không xác định thời hạn

d Thiết kế - Xây dựng - Tài trợ - Vận hành (Design - Build - Finance

- Operate, DBFO)

DBFO là một loại hình PPP, trong đó đối tác tư nhân thực hiện tất cả các giai đoạn của một dự án để cung cấp dịch vụ công, bao gồm: thiết kế, xây dựng, tài trợ và vận hành dự án thông qua một hợp đồng dài hạn

Trang 28

Đặc điểm của hình thức DBFO:

- Chìa khóa quan trọng nhất trong mô hình DBFO là việc sử dụng tài chính tư nhân Tuy nhiên, cơ chế tài chính trong mô hình DBFO phức tạp hơn

so với các hình thức khác

- Trong hình thức DBFO có nhiều hơn một đối tác tư nhân có liên quan, tham gia vào quá trình thực hiện dự án và cung cấp dịch vụ công Để thực hiện dự án DBFO, một công ty phục vụ mục đích đặc biệt (Special Purpose Vehicle, SPV) được thành lập Đó thường là sự liên doanh giữa đối tác tư nhân với các ngân hàng/các nhà đầu tư tài chính

- Khu vực Nhà nước ký hợp đồng trực tiếp với SPV về việc thực hiện

dự án cho bên ngân hàng đã tài trợ cho SPV (ii) Hợp đồng DBFO dưới dạng một hợp đồng nhượng quyền, tức là sau khi hoàn thành dự án, đối tác tư nhân được phép khai thác dự án, thu phí từ người sử dụng để bù đắp lại vốn đầu tư

đã bỏ ra và thu lợi nhuận Kết thúc thời hạn hợp đồng, tài sản/cơ sở hạ tầng được chuyển giao lại cho khu vực Nhà nước Hình thức DBFO trong trường hợp này giống với hình thức BOT

e Xây dựng - Vận hành - Chuyển giao (Build - Operate - Transfer, BOT)

BOT là một hình thức PPP trong đó khu vực Nhà nước và đối tác tư

Trang 29

nhân thỏa thuận cho phép đối tác tư nhân bỏ vốn xây dựng công trình cơ sở hạ tầng và được phép kinh doanh công trình cơ sở hạ tầng đó trong một thời hạn nhất định nhằm thu lại chi phí đã bỏ ra và một khoản lợi nhuận Kết thúc thời hạn hợp đồng, đối tác tư nhân phải chuyển giao không bồi hoàn công trình cơ

sở hạ tầng cho khu vực Nhà nước

Đặc điểm chính của BOT:

- Đây là một hình thức quan trọng, hiện hữu để huy động vốn đầu tư từ khu vực tư nhân trong điều kiện ngân sách Nhà nước hạn hẹp

- Việc tài trợ dự án và các rủi ro tài chính, rủi ro hoạt động được chuyển sang khu vực tư nhân

- Đối tác tư nhân thực hiện dự án thường tính toán kỹ lưỡng khả năng thu phí để làm cơ sở thỏa thuận thời hạn của hợp đồng, đặc biệt là thời hạn khai thác công trình cơ sở hạ tầng Giai đoạn khai thác, kinh doanh chủ yếu xác định bằng thời gian cần thiết để doanh thu từ công trình trả hết được chi phí vốn đầu tư của doanh nghiệp và tạo ra được một tỷ suất sinh lời hợp lý cho việc đầu tư và rủi ro mà doanh nghiệp đó phải chịu

- Để thực hiện dự án BOT, đòi hỏi có nhiều hợp đồng được ký kết, song hợp đồng BOT là cơ sở pháp lý quan trọng nhất, là tiền đề cho việc hình thành doanh nghiệp BOT và việc ký kết các hợp đồng liên quan để thực hiện

dự án Hợp đồng BOT là tập hợp các thỏa thuận cho phép các nhà đầu quyền được thực hiện dự án với những cam kết đối với Nhà nước trong việc pháp triển cơ sở hạ tầng

- Hợp đồng BOT được xem xét dưới góc độ là một quá trình, ở khía cạnh này, hợp đồng BOT luôn đi kèm với một dự án BOT và là cơ sở hình thành và phát triển dự án BOT Chính vì vậy, hợp đồng BOT cũng được gọi là hợp đồng dự án Bên cạnh đó hợp đồng BOT cũng được coi là một hợp đồng nhượng quyền, ở đó đối tác tư nhân được nhượng quyền thực hiện xây dựng,

Trang 30

kinh doanh chứ không phải là bị buộc phải xây dựng, kinh doanh Ở một số nước, pháp luật quy định Nhà nước có trách nhiệm bảo lãnh ngay từ ban đầu việc cấp toàn bộ giấy phép cần thiết để thực hiện dự án và việc nhượng quyền này là một nội dung bắt buộc của hợp đồng BOT

- Đối tác tư nhân có thể tự mình bỏ toàn bộ vốn xây dựng cơ sở hạ tầng, song cũng có thể vay vốn từ ngân hàng Điểm đặc biệt trong việc huy động vốn vay ở mô hình BOT là: việc tài trợ cho dự án BOT bởi các bên cho vay thường không phụ thuộc vào tài sản dùng để bảo lãnh của các nhà đầu tư hoặc giá trị tài sản hữu hình của bản thân dự án như các hợp đồng tín dụng truyền thống, mà phụ thuộc chủ yếu vào tính hiệu quả và kết quả kinh doanh của chính dự án Các bên cho vay thường xem xét đến nguồn thu của dự án để hoàn trả lại vốn vay thay vì các nguồn tài sản bảo đảm Đây là nét đặc trưng của việc đầu tư theo phương thức hợp đồng BOT thể hiện tính phức tạp, tính

xã hội và tính đặc thù của hợp đồng BOT

- Hợp đồng BOT thường là hợp đồng dài hạn (thời gian khoảng 20-30 năm)

- Loại hình BOT được áp dụng phổ biến ở hầu hết các nước trên thế giới

- Để các dự án thành công, cả phía đối tác Nhà nước và đối tác tư nhân đều cần nhận thức được những thuận lợi và hạn chế của dự án, tính toán, dự báo được lợi ích từ dự án để có quyết định, thỏa thuận về vốn đầu tư, thời hạn hợp đồng cũng như các điều khoản ràng buột khác

f Xây dựng - Chuyển giao - Vận hành (Build - Transfer - Operate, BTO)

Hợp đồng BTO là một hình thức của loại hình PPP, được ký kết giữa

cơ quan Nhà nước có thẩm quyền và đối tác tư nhân, trong đó đối tác tư nhân

bỏ vốn xây dựng công trình cơ sở hạ tầng, sau khi xây dựng xong công trình, đối tác tư nhân chuyển giao quyền sở hữu tài sản cho Nhà nước, ngược lại, Nhà nước dành cho đối tác tư nhân quyền khai thác, sử dụng công trình đó trong một thời hạn nhất định

Trang 31

Đặc điểm chính của hình thức BTO:

- Hình thức BTO bao gồm việc tài trợ của khu vực tư nhân trong tất cả các giai đoạn: thiết kế, xây dựng và khai thác Khu vực Nhà nước có thể khai thác lợi thế của khu vực tư nhân, trong khi vẫn giữ quyền sở hữu tài sản

- BTO kết hợp quá trình đấu thầu thiết kế - xây dựng và khai thác trong một hợp đồng Do đó, với hợp đồng BTO, các bên liên quan sẽ mất ít giao dịch hơn, đồng thời trách nhiệm của các nhà thầu cao hơn

- Hình thức BTO có lợi thế quan trọng là khuyến khích khu vực tư nhân hoàn thành kịp thời các dự án, đảm bảo tài chính, hiệu quả hoạt động và chất lượng dịch vụ

- Sau khi chuyển giao quyền sở hữu tài sản cho khu vực công, đối tác

tư nhân được quyền khai thác, kinh doanh thông qua một thỏa thuận cho thuê/nhường quyền khai thác dài hạn

Trong trường hợp vốn đầu tư của đối tác tư nhân được thanh toán ngay khi công trình được hoàn thành hoặc sau thời gian bảo đảm thì giai đoạn khai thác, kinh doanh có tính chất giống với hợp đồng cho thuê/nhượng quyền khai thác ở trên Còn trong trường hợp vốn đầu tư được thu hồi thông qua việc thu phí từ sử dụng và các doanh nghiệp thương mại, thì hợp đồng BTO lúc này có tính chất gần giống với hợp đồng BOT trong giai đoạn vận hành

- Việc phân chia lợi ích của mỗi bên trong quá trình khai thác sử dụng công trình là một trong những nội dung chủ yếu, được thỏa thuận trong chi tiết trong hợp đồng

- BTO có mức độ tham gia của tư nhân thấp hơn so với mô hình BOT, DBFO, BOO

Hình thức BTO cũng được áp dụng khá phổ biến trên thế giới, trong các lĩnh vực cơ sở hạ tầng như: đường xá, hệ thống cấp nước, trụ sở của các

Trang 32

cơ quan Nhà nước, sân bay…

g Xây dựng - Sở hữu - Vận hành (Build - Own - Operate, BOO)

Hình thức BOO là hình thức trong đó đối tác Nhà nước và đối tác tư nhân thỏa thuận: đối tác tư nhân bỏ vốn xây dựng tài sản/cơ sở hạ tầng dịch

vụ công và được phép khai thác, vận hành tài sản/cơ sở hạ tầng Đối tác tư nhân có quyền sở hữu tài sản trong suốt vòng đời của nó

Đặc điểm của BOO:

- Đối tác tư nhân bỏ toàn bộ chi phí xây dựng, vận hành và bảo trì tài sản/cơ sở hạ tầng Tức là khu vực tư nhân tự cung cấp vốn cho tài sản dịch vụ công

- Đối tác tư nhân được quyền vận hành và sở hữu tài sản trong suốt vòng đời của nó và không có ghĩa vụ phải chuyển giao cho khu vực Nhà nước

- Đối tác tư nhân được quyền quyết định thu lệ phí, tiền thue và tiền sử dụng dịch vụ, thông qua đó thu lại thu lại khoản chi phí đã đầu tư để xây dựng, vận hành

- Khi hợp đồng vẫn còn giá trị, đối tác tư nhân phải tiếp tục kinh doanh phù hợp với những cam kết đã được xác định trong thỏa thuận hợp đồng hoặc được quy định bởi cơ quan điều tiết

Bảng 1.1 Đặc điểm chủ yếu của các hình thức tổ chức thực hiện PPP

Hình

thức

Hợp đồng dịch vụ/

hợp đồng quản lý

Nhượng quyền khai thác/

Nhà nước

Nhà nước Tư nhân

Trang 33

Hình

thức

Hợp đồng dịch vụ/

hợp đồng quản lý

Nhượng quyền khai thác/

Tư nhân Tư nhân Tư nhân Tư nhân Tư nhân

sẻ

Tư nhân Tư nhân Tư nhân Tư nhân

1.1.4 Những yêu cầu đối với quản lý các dự án PPP

Xu thế toàn cầu hóa đòi hỏi cần phải cư xử bình đẳng giữa các thành phần kinh tế trong và ngoài nước nên cần phải xây dựng một quy trình PPP phù hợp với thông lệ quốc tế, đảm bảo các yếu tố từ việc đấu thầu đến việc đánh giá rủi ro, lợi ích, chi phí của dự án

a Các yêu cầu về thể chế

Trước hết, Chính quyền cần xây dựng quy định quản lý thống nhất cho các đối tượng khác nhau thuộc loại hình PPP, phù hợp với tình hình thực tế, đảm bảo ổn định trong suốt một thời gian dài và phù hợp với thông lệ quốc tế nhằm tạo nên niềm tin cho các nhà đầu tư tư nhân, từ đó khuyến khích sự tham gia của đầu tư tư nhân

Thứ hai, Chính quyền cần phải xác định rõ ràng hình thức và cấu trúc của các cơ quan quản lý hoạt động PPP phù hợp với tình hình thực tế, đảm bảo hoạt động đầu tư theo loại hình PPP diễn ra thuận lợi và đạt kết quả tốt nhất

b Các yêu cầu về thương mại, tài chính và kinh tế

Yêu cầu về thương mại: trước khi xây dựng mối quan hệ PPP, một số yêu cầu về thương mại cần được thực hiện nhằm làm cho mối quan hệ công tư kết hợp mang lại kết quả như mong muốn Đó là phải có cơ sở dữ liệu khách hàng, các thỏa thuận cấp vốn, yêu cầu về chất lượng dịch vụ để khu vực tư nhân thực hiện đúng cam kết khi tham gia đầu tư

Trang 34

Yêu cầu về tài chính: Trước khi tiến hành thực hiện PPP, đối tác Nhà nước cần phải thẩm định tất cả các khoản góp vốn đầu tư như đất đai, phí giải phóng mặt bằng, hỗ trợ thuế nhằm hạn chế việc thất thoát tài sản của Nhà nước cũng như khó khăn trong quá trình thực hiện hợp tác Cả hai đối tác cần phải cùng nhau xác định được mức giá dịch vụ một cách hợp lý, đáp ứng cân bằng các tiêu chí sau: mức giá xác định không được quá cao để có thể làm giảm cơ hội tiếp cận của người dân đến sản phẩm, dịch vụ công; mức giá đặt ra cũng không quá thấp để không hấp dẫn những nhà đầu tư tư nhân có năng lực

Yêu cầu về kinh tế: cần phải thực hiện việc công tư kết hợp (PPP) ảnh hưởng đến ngân sách, đến lĩnh vực ngành nghề, lĩnh vực kinh tế nhằm đưa ra một cái nhìn tổng quát và sâu sắc hơn về mối quan hệ giữa Nhà nước và tư nhân

c Các yêu cầu về tham vấn các bên liên quan

Các dự án PPP nhiều khi rất nhạy cảm về mặt chính trị hoặc xã hội, như công tác đền bù giải phóng mặt bằng, tái định cư… nên cần phải có sự trao đổi, bàn bạc giữa các bên liên quan để thống nhất Bởi khi các lợi ích không được giải quyết thỏa đáng cho các bên thì việc thực hiện dự án không chỉ gặp khó khăn mà lợi ích thu được từ dự án có thể không cao

d Các yêu cầu về chiến lược và lộ trình rõ ràng đối với lĩnh vực PPP

PPP thường liên quan đến các dự án phát triển kết cấu hạ tầng, cung cấp dịch vụ công Trong nhiều trường hợp, các dự án cơ sở hạ tầng hay dịch

vụ công rất nhạy cảm dưới lĩnh vực an ninh quốc gia hoặc có các tác động lên

cả các yếu tố kinh tế, xã hội, môi trường Vì thế, để tránh rủi ro cho đối tác tư nhân, đối tác Nhà nước cần có một lộ trình rõ ràng đối với các lĩnh vực dự định kêu gọi công tư kết hợp

Nhà nước cũng cần có chiến lược rõ ràng đối với các lĩnh vực, việc thực hiện chiến lược cần bao nhiêu vốn, Nhà nước đáp ứng được bao nhiêu, cần huy động bao nhiêu từ khu vực tư nhân và hình thức hợp tác như thế nào

Trang 35

e Các yêu cầu về cam kết rõ ràng của Chính phủ

Công tư kết hợp hay còn gọi là hợp tác công tư là một bản hợp đồng giữa một bên là Nhà nước và một bên là tư nhân, hai bên cùng gánh chịu chi phí, chia

sẻ rủi ro và cùng nhau hưởng thụ thành quả đạt được Hơn nữa, cam kết từ phía Chính phủ cần phải là yêu cầu bắt buộc trong việc chia sẻ chi phí, lợi ích và rủi ro với khu vực tư nhân vì các dự án công tư kết hợp thường có thời gian rất dài

Về chi phí đầu tư: sau khi Chính phủ và tư nhân thống nhất phân chia chi phí đầu tư thì Chính phủ cần thực hiện theo đúng cam kết này, vì nếu cam kết không được thực hiện hoặc thực hiện chậm có thể gây thiệt hại lớn cho tư nhân

Về những rủi ro phát sinh: Khi có sự thay đổi (như lạm phát, lãi suất hay tỷ giá trên thị trường) cả hai phía Nhà nước và tư nhân cần có sự đàm phán để chia sẻ rủi ro Việc gánh chịu một phần rủi ro từ phía Nhà nước khi

có những tình huấn phát sinh không thể dự báo trước cũng sẽ thu hút mối quan tâm và sự tham gia của khu vực tư nhân kết hợp với Nhà nước để phát triển cơ sở hạ tầng và cung ứng dịch vụ công

Về thành quả đạt được: cả hai đối tác cũng cần có sự phân chia rõ ràng Doanh thu thu được từ việc cung ứng sản phẩm/dịch vụ công phụ thuộc vào quy

mô của nhu cầu và giá cả của giá cả và dịch vụ Giá cả của sản phẩm/dịch vụ công có thể không cố định mà biến đổi tùy thuộc vào lạm phát Tuy nhiên, kể cả khi lạm phát tăng cao thì doanh nghiệp tư nhân cũng có thể khó tăng được giá do sức ép từ phía người tiêu dùng sản phẩm/dịch vụ công lên phía Nhà nước

Qua đó, cam kết từ phía Chính phủ cần phải được đảm bảo không chỉ thực hiện theo đúng thỏa thuận đã ký kết mà còn cam kết gánh chịu những chi phí, rủi ro phát sinh không thể lường trước với đối tác tư nhân Khi đó, hình thức công tư kết hợp mới hấp dẫn được đối tác tư nhân và kích thích khu vực

tư nhân kết hợp với khu vực Nhà nước cùng đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng tạo điều kiện để kinh tế phát triển

Trang 36

f Quy trình thủ tục PPP

Khác với dự án đầu tư công từ ngân sách Nhà nước, việc chuẩn bị cho

dự án theo loại hình PPP là một quá trình phức tạp đòi hỏi sự chuẩn bị kỹ càng, công phu từ khâu lập dự án, thiết kế; đàm phán và thực hiện hợp đồng Nhằm phân định trách nhiệm, lợi ích, rủi ro một cách hợp lý

Quy trình thủ tục dự án PPP thể hiện qua sơ đồ:

- Đánh giá dự án: đối tác Nhà nước và đối tác tư nhân tiến hành đánh giá dự án theo phương pháp riêng của mình, nhằm xác định mục đích, tính cần thiết của dự án

- Nghiên cứu tiền khả thi: đối tác Nhà nước tiến hành xác định hình thức

dự án; lựa chọn về mặt kỹ thuật; giả định các rủi ro có thể xãy ra, quá trình đấu thầu hợp pháp và cuối cùng hướng dẫn đối tác tư nhân trước khi đấu thầu dựa trên nghiên cứu về tính khả thi

Nguồn: Sở kế hoạch & Đầu tư Tp Đà Nẵng Hình 2.2 Quy trình quản lý thủ tục loại hình PPP

Chính quyền

Đánh giá dự án Nghiên cứu tiền khả thi Quảng bá và đấu thầu Nghiên cứu khả thi

Dự thầu Đàm phán Hợp đồng Thực hiện, vận hành, giám sát

Trang 37

- Giai đoạn Nghiên cứu khả thi: Xác định công việc thiết kế cuối cùng

và tài trợ dự án Nghiên cứu toàn diện về tính khả thi trên các mặt luật pháp, tài chính, kinh tế và kỹ thuật cũng như nghiên cứu để xác định nhu cầu của xã hội về sản phẩm/dịch vụ dự án; tiếp theo là xác định tính hợp lý của dự án (thành công hay thất bại) và cuối cùng là tìm ra một cơ cấu về mối quan hệ giữa đối tác Nhà nước và đối tác tư nhân một cách phù hợp

- Giai đoạn Quảng bá và đấu thầu: dựa trên kết quả nghiên cứu khả thi

về cơ cấu tài chính Chính quyền nên tìm kiếm các nhà đầu tư hoạt động trong lĩnh vực dự án và có khả năng tài chính đáp ứng nhu cầu Phổ biến các thông tin về dự án cho các nhà đầu tư tiềm năng một cách rõ ràng để họ có đủ thông tin trước khi tham gia đấu thầu

Sau khi dự án được đánh giá là có tính khả thi thì Chính quyền sẽ chuẩn bị cho khâu đấu thầu Thông thường đối tác tư nhân sẽ thành lập công

ty phục vụ mục đích đặc biệt (Special Purpose Vehicle, SPV) có những kỹ năng khác nhau cần có cho việc hoàn thành dự án để tham gia

Để đảm bảo lựa chọn nhà thầu thành công, Chính quyền phải thiết lập quá trình đấu thầu một cách cẩn thận và cung cấp thông tin chất lượng cao cho nhà thầu tiềm năng

Đối với các đề xuất kỹ thuật, mô tả toàn diện của hệ thống và các hoạt động là cần thiết Các thủ tục cần thiết được đưa ra để đảm bảo những thay đổi trong quá trình thực hiện dự án Chi tiết toàn diện về việc thực hiện, vận hành và chi phí bảo trì cũng phải được cung cấp, cũng như dòng tiền và lợi nhuận trong suốt thời gian của toàn dự án

Cuối cùng là một báo cáo tài chính hoàn chỉnh, cùng với giả định được

sử dụng, phải được cung cấp chi tiết về tỷ lệ lãi suất, tỷ lệ trao đổi, lạm phát,

sự leo thang của giá cả, dịch vụ nợ và các thông tin khác có liên quan

- Đàm phán hợp đồng: Mục tiêu quan trọng nhất của cuộc đàm phán là

Trang 38

cùng thống nhất một hợp đồng bảo vệ lợi ích của công chúng và mang lại cơ hội đầu tư cho đối tác tư nhân để mang lại lợi nhuận chính đáng, bao gồm các công việc sau:

+ Phân định rủi ro đối với từng đối tác Nhà nước và đối tác tư nhân, khả năng phân bổ cho các bên tốt nhất có thể để quản lý nó; đối tác Nhà nước cần đảm bảo nguồn tài chính cho dự án, họ phải chắc chắn rằng nhà thầu có khả năng hoàn thành dự án dù tình hình tài chính có thể bất ổn

+ Đối tác Nhà nước phải chắc chắn rằng dự án sẽ hoàn vốn đầu tư khi thời hạn hợp đồng kết thúc Những nguồn vốn đó nên được hoàn trả trong tình trạng còn hoạt động và thời hạn bảo lãnh nên áp dụng sau khi bàn giao

- Thực hiện, vận hành và giám sát: Trong quá trình thực hiện hợp đồng cần phải thực hiện giám sát quá trình thực hiện và trong suốt vòng đời của sản phẩm/dịch vụ hoặc giai đoạn chuyển quyền

Trong quá trình thi công dự án phải đảm bảo chất lượng công trình, tiến

độ dự án cũng như các yêu cầu về kỹ thuật đối với từng hạng mục công việc theo đúng nội dung hợp đồng

Trong suốt thời gian vận hành, việc giám sát chất lượng của sản phẩm/dịch vụ đã được cung cấp, mức thuế quan và vốn của dự án là thật sự cần thiết

Đối tác Nhà nước nên hiểu rằng dự án theo loại hình PPP sẽ hoạt động trong thời gian dài, tình hình tài chính và kinh tế có thể thay đổi đáng kể trong thời gian đó Do đó, vì nhiều lý do, hoàn cảnh bên ngoài có thể buộc chúng ta

vi phạm hợp đồng Nếu tình huấn đó xãy ra, giải pháp tốt nhất là đàm phán lại các điều kiện của hợp đồng, nếu có thể là tạm thời, cho đến khi các yếu tố gây

ra sự vi phạm thay đổi đó là các yếu tố bên ngoài Nếu sự thất bại là do hoạt động yếu kém của đối tác tư nhân thì thực hiện cách giải quyết theo luật định

Trang 39

1.2 NỘI DUNG PHÁT TRIỂN LOẠI HÌNH CÔNG TƯ KẾT HỢP TRONG LĨNH VỰC CUNG ỨNG DỊCH VỤ CÔNG CỘNG

1.2.1 Phát triển về số lượng dự án mới, tăng quy mô dự án đang thực hiện

Theo định nghĩa, phát triển loại hình PPP trước hết là quá trình tăng lên

về số lượng và quy mô đóng góp của các dự án PPP trong nền kinh tế Nó được đo lường bởi quy mô và tốc độ tăng trong những giai đoạn nhất định về

số lượng các dự án PPP, hoặc là tốc độ tăng của quy mô vốn đầu tư, quy mô sản phẩm hàng hóa và dịch vụ mà các dự án PPP cung ứng cho nền kinh tế của một địa phương, một quốc gia

Phát triển về mặt số lượng dự án PPP là áp dụng, triển khai các biện pháp nhằm gia tăng số lượng dự án theo thời gian, năm sau cao hơn năm trước Để đẩy mạnh phát triển số lượng dự án PPP cần phải có những phương pháp đồng bộ, trong đó thường chú trọng đến:

- Tạo lập khuôn khổ pháp lý và chính sách thực thi hợp đồng, giải quyết tranh chấp, khung quy định về các khu vực rõ ràng Để đảm bảo sự thành công cho loại hình PPP trong phát triển dịch vụ công cộng cần phải đảm bảo hai yếu tố: “hợp đồng hiệu quả” và “môi trường thuận lợi nhằm gia tăng giá trị vốn đầu tư và thuận lợi trong công tác quản lý PPP” Điều này góp phần giảm chi phí giao dịch, tăng tính minh bạch cho loại hình PPP và khuyến khích các nhà đầu tư tư nhân tham gia tích cực hơn

- Ổn định môi trường kinh tế vĩ mô (nghiên cứu của Dailami và Klein, 1997; Zhang,2005; Young,2009): Sự hài lòng của các nhà đầu tư phụ thuộc rất lớn vào điều kiện kinh tế vĩ mô tại khu vực mà dự án được triển khai Vì vậy, Chính phủ cần tạo lập một môi trường đầu tư thuận lợi với điều kiện xã hội, pháp luật, kinh tế và tài chính ổn định

- Phát triển thị trường tài chính (nghiên cứu của Akintoye et al, 2001):

Trang 40

Thị trường tài chính là nguồn cung ứng vốn cho các khu vực Phát triển thị trường tài chính là tiền đề cho việc phát triển và ổn định kinh tế vĩ mô

- Xác lập cơ chế phân chia rủi ro phù hợp: Các đối tác công và tư khi tham gia PPP cần phải xác định và hiểu cả các rủi ro tiềm năng liên quan đến PPP để đảm bảo rằng các rủi ro được phân chia một cách hợp lý Rủi ro sẽ được phân chia cho các bên có khả năng tài chính và kỹ thuật tốt nhất để xử lý chúng Nghiên cứu của Edwards (1991); Flanagan và Norman (1993); Merna

và Smith (1996); Grant (1996); Zhang (2005); Nisar (2007); Young (2009) cùng cho thấy nhân tố nhận dạng và phân bố rủi ro có quan hệ chặt chẽ với việc triển khai các hợp đồng PPP

Mặc dù chính quyền đã tạo nhiều thuận lợi đối với các dự án PPP Tuy nhiên, việc phát triển số lượng dự án PPP trong thời gian qua vẫn còn gặp nhiều rào cản:

“Rào cản thực thi PPP là việc quản lý nguồn vốn đầu tư vào dự án

đó, ai đứng ra quản lý và quản lý như thế nào, đầu tư ra sao đó là vấn đề

cơ bản nhất” Bên cạnh đó, còn có những rào cản khác như: những dự án cần kêu gọi đầu tư hiện nay chưa được lập và chưa được phân tích một cách cụ thể

Tỷ lệ vốn phần vốn chủ sở hữu của nhà đầu tư khu vực tư nhân trong

dự án phải đảm bảo tối thiểu 30% phần vốn của khu vực tư nhân tham gia dự

án, nên đây cũng là vấn đề hạn chế đối với khu vực đối tác tư nhân Việc đấu thầu giữa các nhà đầu tư để tham gia loại hình PPP hiện nay cũng gặp rất nhiều những khó khăn do thời gian chuẩn bị của dự án quá dài

Bên cạnh việc phát triển loại hình PPP thông qua gia tăng số lượng dự

án, thì phát triển về mặt quy mô dự án PPP cũng không kém phần quan trọng

Các dự án PPP hiện nay được thực hiện theo hình thức thí điểm theo Quyết định 71/2010/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ chủ yếu dưới dạng

Ngày đăng: 24/09/2015, 13:01

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1. Giá trị sản xuất theo giá so sánh 2010 - Luận văn thạc sĩ phát triển loại hình công tư kết hợp trong lĩnh vực cung ứng dịch vụ công cộng trên địa bàn thành phố đà nẵng
Bảng 2.1. Giá trị sản xuất theo giá so sánh 2010 (Trang 53)
Bảng 2.2. Chỉ số phát triển giá trị sản xuất theo giá so sánh 2010 - Luận văn thạc sĩ phát triển loại hình công tư kết hợp trong lĩnh vực cung ứng dịch vụ công cộng trên địa bàn thành phố đà nẵng
Bảng 2.2. Chỉ số phát triển giá trị sản xuất theo giá so sánh 2010 (Trang 54)
Bảng 2.4. Vốn đầu tư phát triển trên địa bàn theo giá hiện hành phân theo - Luận văn thạc sĩ phát triển loại hình công tư kết hợp trong lĩnh vực cung ứng dịch vụ công cộng trên địa bàn thành phố đà nẵng
Bảng 2.4. Vốn đầu tư phát triển trên địa bàn theo giá hiện hành phân theo (Trang 55)
Bảng 2.3. Vốn đầu tư phát triển theo giá hiện hành - Luận văn thạc sĩ phát triển loại hình công tư kết hợp trong lĩnh vực cung ứng dịch vụ công cộng trên địa bàn thành phố đà nẵng
Bảng 2.3. Vốn đầu tư phát triển theo giá hiện hành (Trang 55)
Bảng 2.8. Dự án PPP tại Đà Nẵng trong thời gian qua - Luận văn thạc sĩ phát triển loại hình công tư kết hợp trong lĩnh vực cung ứng dịch vụ công cộng trên địa bàn thành phố đà nẵng
Bảng 2.8. Dự án PPP tại Đà Nẵng trong thời gian qua (Trang 62)
Hình 2.2. Quy mô vốn bình quân qua các năm - Luận văn thạc sĩ phát triển loại hình công tư kết hợp trong lĩnh vực cung ứng dịch vụ công cộng trên địa bàn thành phố đà nẵng
Hình 2.2. Quy mô vốn bình quân qua các năm (Trang 63)
Bảng 2.9. Cơ cấu các dự án PPP tại Đà Nẵng thời gian qua - Luận văn thạc sĩ phát triển loại hình công tư kết hợp trong lĩnh vực cung ứng dịch vụ công cộng trên địa bàn thành phố đà nẵng
Bảng 2.9. Cơ cấu các dự án PPP tại Đà Nẵng thời gian qua (Trang 64)
Hình 2.3. Tỷ trọng số các dự án phân theo hình thức đầu tư - Luận văn thạc sĩ phát triển loại hình công tư kết hợp trong lĩnh vực cung ứng dịch vụ công cộng trên địa bàn thành phố đà nẵng
Hình 2.3. Tỷ trọng số các dự án phân theo hình thức đầu tư (Trang 65)
Bảng 2.10. Dự án PPP góp phần tiết kiệm ngân sách thành phố - Luận văn thạc sĩ phát triển loại hình công tư kết hợp trong lĩnh vực cung ứng dịch vụ công cộng trên địa bàn thành phố đà nẵng
Bảng 2.10. Dự án PPP góp phần tiết kiệm ngân sách thành phố (Trang 67)
Bảng 2.11. Nội dung liên quan đến phát triển PPP trong các Nghị quyết - Luận văn thạc sĩ phát triển loại hình công tư kết hợp trong lĩnh vực cung ứng dịch vụ công cộng trên địa bàn thành phố đà nẵng
Bảng 2.11. Nội dung liên quan đến phát triển PPP trong các Nghị quyết (Trang 70)
Hình 2.5. Mô hình nghiên cứu đề nghị - Luận văn thạc sĩ phát triển loại hình công tư kết hợp trong lĩnh vực cung ứng dịch vụ công cộng trên địa bàn thành phố đà nẵng
Hình 2.5. Mô hình nghiên cứu đề nghị (Trang 75)
Bảng 2.12. Thang đo - Luận văn thạc sĩ phát triển loại hình công tư kết hợp trong lĩnh vực cung ứng dịch vụ công cộng trên địa bàn thành phố đà nẵng
Bảng 2.12. Thang đo (Trang 76)
Bảng 2.13. Kết cấu bảng câu hỏi - Luận văn thạc sĩ phát triển loại hình công tư kết hợp trong lĩnh vực cung ứng dịch vụ công cộng trên địa bàn thành phố đà nẵng
Bảng 2.13. Kết cấu bảng câu hỏi (Trang 77)
Bảng 2.15. Kết quả kiểm định hệ số Cronback’s Apha lần 2 - Luận văn thạc sĩ phát triển loại hình công tư kết hợp trong lĩnh vực cung ứng dịch vụ công cộng trên địa bàn thành phố đà nẵng
Bảng 2.15. Kết quả kiểm định hệ số Cronback’s Apha lần 2 (Trang 82)
Bảng 2.16. Kết quả phân tích nhân tố khám phá EFA lần 3 - Luận văn thạc sĩ phát triển loại hình công tư kết hợp trong lĩnh vực cung ứng dịch vụ công cộng trên địa bàn thành phố đà nẵng
Bảng 2.16. Kết quả phân tích nhân tố khám phá EFA lần 3 (Trang 85)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w