2- Chương trình Tiếng Việt ở Tiểu học không có môn Văn, nhưng nhiệm vụ bồi dưỡng năng lực cảm thụ văn học, cùng với bồi dưỡng tình yêu Tiếng Việt và hình thành thói quen giữ gìn sự trong
Trang 1THIỀU THỊ HÒA
HÖ THèNG BµI TËP RÌN N¡NG LùC C¶M THô V¡N HäC CHO HäC SINH GIáI TIÓU HäC
Chuyên ngành: Giáo dục học (Bậc Tiểu học)
Mã số: 60 14 01 01
luËn V¡N TH¹C SÜ KHOA HäC GI¸O DôC
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS §ç HUY QUANG
Hµ Néi, 2014
Trang 2Để hoàn thành luận văn này, tôi đã nhận được sự giúp đỡ tận tình từ nhiều phía Tôi xin gửi lời cảm ơn tới tất cả những người đã giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn
Trước hết, tôi xin chân thành cảm ơn PGS.TS Đỗ Huy Quang - người
đã tận tình hướng dẫn tôi hoàn thành luận văn
Cảm ơn Trường ĐHSP Hà Nội 2, Phòng Sau đại học và các thầy cô trong nhà trường đã tạo điều kiện thuận lợi trong quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn của tôi
Cảm ơn BGH Trường Tiểu học An Tường 2 - nơi tôi công tác đã tạo điều kiện để tôi tiến hành thực nghiệm trong quá trình làm luận văn
Cảm ơn gia đình, đồng nghiệp và bạn bè đã ủng hộ và giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện luận văn
Hà Nội, tháng 12 năm 2014
Tác giả
Thiều Thị Hòa
Trang 3Tôi xin cam đoan luận văn này hoàn toàn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu và kết quả nghiên cứu là trung thực và chƣa từng đƣợc công bố trong bất cứ công trình nào khác
Hà Nội, tháng 12 năm 2014
Tác giả
Thiều Thị Hòa
Trang 41 Lí do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề 2
3 Mục đích nghiên cứu 6
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 6
5 Nhiệm vụ nghiên cứu 6
6 Phương pháp nghiên cứu 6
7 Giả thuyết khoa học 7
8 Đóng góp của luận văn 7
9 Cấu trúc của luận văn 7
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VẤN ĐỀ NĂNG LỰC, NĂNG LỰC CẢM THỤ VĂN HỌC, HỌC SINH GIỎI TIỂU HỌC 8
1.1 Cơ sở lí luận 8
1.1.1 Vấn đề năng lực, năng lực học sinh giỏi tiểu học 8
1.1.1.1 Khái niệm năng lực 8
1.1.1.2 Năng lực học sinh giỏi tiểu học 9
1.1.1.3 Phát hiện và bồi dưỡng học sinh giỏi Tiếng Việt ở tiểu học 10
1.1.2 Vấn đề cảm thụ văn học 13
1.1.2.1 Khái niệm cảm thụ văn học 13
1.1.2.2 Cảm thụ văn học và đọc hiểu văn bản 15
1.1.2.3 Năng lực cảm thụ văn học ở lứa tuổi tiểu học 16
1.1.3 Vấn đề bài tập Bài tập rèn kỹ năng, năng lực 18
1.1.3.1 Khái niệm bài tập Vai trò của bài tập trong dạy học tích cực 18
Trang 5học 20
1.2 Cơ sở thực tiễn 21
1.2.1 Mục tiêu dạy văn qua Tiếng Việt ở trường Tiểu học 21
1.2.2 Khảo sát nhiệm vụ khai thác tiềm năng năng khiếu văn của học sinh trong chương trình sách giáo khoa Tiếng Việt tiểu học 22
1.2.3 Khảo sát hoạt động bồi dưỡng học sinh giỏi ở tiểu học 22
1.2.4 Khảo sát năng lực cảm thụ của học sinh trong một số bài làm văn 23
1.2.5 Khảo sát thực trạng việc sử dụng bài tập rèn năng lực cảm thụ văn học cho học sinh giỏi Tiếng Việt 25
Tiểu kết chương 1 26
CHƯƠNG 2 XÂY DỰNG VÀ TỔ CHỨC THỰC HIỆN CÁC BÀI TẬP RÈN NĂNG LỰC CẢM THỤ VĂN HỌC CHO HỌC SINH GIỎI TIỂU HỌC 28
A Hệ thống bài tâp ……….28
2.1 Nhóm bài tập luyện kỹ năng đọc văn bản nghệ thuật 28
2.1.1 Bài tập luyện đọc diễn cảm, đọc thầm, đọc nhập vai 28
2.1.2 Bài tập xác định bố cục của văn bản, đặt tên cho từng đoạn văn bản 33
2.1.3 Bài tập xác định người kể trong truyện, người nói trong thơ 34
2.2 Nhóm bài tập làm rõ nghĩa của ngôn ngữ văn bản 34
2.2.1 Bài tập giải nghĩa từ ngữ 34
2.2.2 Bài tập yêu cầu làm rõ nghĩa, ý của các câu, khổ thơ, đoạn văn, chi tiết, hình ảnh trong bài 35
Trang 62.2.4 Bài tập phát hiện, nhận xét, đánh giá những câu văn có hình ảnh 44
2.3 Nhóm bài tập đọc hiểu và cảm thụ nội dung bài đọc 48
2.3.1 Bài tập xác định và nhận xét nhân vật trong bài đọc 48
2.3.2 Bài tập tái tạo nhân vật, sự việc, chi tiết, lời nói, lời tả, lời kể trong bài 49
2.3.3 Bài tập phát hiện và nhận xét tình cảm, cảm xúc của người viết trong văn bản 50
2.3.4 Bài tập tìm đại ý, nội dung chính của bài 51
2.4 Nhóm bài tập hồi đáp 54
2.4.1 Bài tập bình giá về nội dung văn bản 54
2.4.2 Bài tập bình giá về nghệ thuật của văn bản 58
2.4.3 Bài tập hướng dẫn học sinh trình bày những cảm nhận sâu sắc nhất về bài đọc 60
B Tổ chức cho học sinh thực hiện các bài tập bồi dưỡng năng lực cảm thụ văn học 64
a Kết hợp làm việc cá nhân với làm việc theo nhóm, theo lớp 64
b Tổ chức các hình thức trò chơi, thi đóng vai, thi đọc diễn cảm 64
c Tạo hứng thú cho học sinh trong mỗi bài tập Triệt để thực hiện chiến lược lạc quan, động viện học sinh 66
Tiểu kết chương 2 67
CHƯƠNG 3 THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 68
3.1 Mục đích thực nghiệm 68
3.2 Nội dung thực nghiệm 68
3.3 Đối tượng và địa bàn thực nghiệm 68
3.4 Phương pháp tiến hành 68
Trang 7KẾT LUẬN 82 TÀI LIỆU THAM KHẢO 84 PHỤ LỤC 86
Trang 8Viết tắt Viết đầy đủ
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
1- Giáo dục tiểu học là bậc học nền tảng trong hệ thống giáo dục quốc dân, tạo cơ sở ban đầu hết sức quan trọng cho sự phát triển toàn diện con người, đặt nền móng cho giáo dục phổ thông Mục tiêu giáo dục tiểu học hiện nay là hình thành cho học sinh tư tưởng, tình cảm, trí tuệ, thể chất và các kĩ năng cơ bản mang tính đúng đắn và lâu dài để các em học tiếp Trung học cơ
sở Hiện nay, đất nước ta đang bước vào thời kì xây dựng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, chất lượng nguồn nhân lực là vấn đề số một trong nội dung công tác của ngành giáo dục
Để đáp ứng nhu cầu của xã hội, cần có nhân tài, cần những người có trí tuệ sắc sảo, có bàn tay vàng, có kĩ năng đặc biệt, việc phát hiện và bồi dưỡng nhân tài là việc làm thật sự cần thiết
2- Chương trình Tiếng Việt ở Tiểu học không có môn Văn, nhưng nhiệm vụ bồi dưỡng năng lực cảm thụ văn học, cùng với bồi dưỡng tình yêu Tiếng Việt và hình thành thói quen giữ gìn sự trong sáng, giàu đẹp của Tiếng Việt, góp phần hình thành nhân cách con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa cho học sinh luôn là nhiệm vụ quan trọng
Tập đọc với tư cách là phân môn của Tiếng Việt có nhiệm vụ hình thành và phát triển năng lực văn cho học sinh Thông qua văn bản mà các em
có thể cảm nhận được cái hay, cái đẹp của tác phẩm Những rung động tình cảm ấy sẽ nảy nở những ước mơ tốt đẹp, khơi dậy được năng lực hành động, sức mạnh sáng tạo cũng như bồi dưỡng tâm hồn trẻ em
Ở tiểu học, việc bồi dưỡng học sinh giỏi còn là động lực thúc đẩy phong trào dạy tốt, học tốt Để có thể bồi dưỡng học sinh giỏi, các thầy cô giáo phải luôn học hỏi, nâng cao trình độ chuyên môn và năng lực sư phạm
Trang 10Bồi dưỡng học sinh giỏi Tiếng Việt phải bồi dưỡng nhiều kiến thức và kỹ năng, trong đó có năng lực cảm thụ văn học
Bồi dưỡng học sinh giỏi là một hướng dạy tự chọn ở tiểu học nhằm thực hiện giáo dục phổ thông theo định hướng phân hóa, phát huy cá tính và sáng tạo và phát triển cao nhất mọi năng lực của học sinh
3- Hiện nay Bộ Giáo dục và Đào tạo không có chủ trương tổ chức thi học sinh giỏi toàn quốc ở tiểu học, nhưng việc phát hiện và bồi dưỡng học sinh giỏi trong các môn học vẫn rất cần thiết, nhằm thực hiện chủ trương dạy
- học phân hóa từ cấp Tiểu học và đẩy mạnh phong trào dạy tốt, học tốt Việc làm này còn góp phần khắc phục một trong những hạn chế của giáo dục hiện nay là dạy học sinh theo một khuôn, một mẫu nhất định, thủ tiêu tính tích cực
và cá tính sáng tạo của học sinh
Bồi dưỡng năng lực cảm thụ văn học cho học sinh giỏi tiểu học cần được thực hiện trong suốt quá trình học tập môn Tiếng Việt của các em Vậy làm thế nào để bồi dưỡng, nâng cao năng lực cảm thụ văn học cho học sinh giỏi tiểu học? Điều trăn trở đó đã thôi thúc tôi – một giáo viên Tiểu học quyết
định lựa chọn và nghiên cứu đề tài: “Hệ thống bài tập rèn năng lực cảm thụ
văn học cho học sinh giỏi Tiểu học”
2 Lịch sử vấn đề
- Cách mạng tháng Tám thành công, đất nước giành được độc lập, việc dạy tiếng Việt và dạy cảm thụ văn học ở nhà trường tiểu học đã được quan tâm thông qua môn tập đọc Trước những năm chín mươi của thế kỉ XX, dạy văn ở trường phổ thông là dạy Giảng văn và dạy Phân tích tác phẩm Ở tiểu học, nhóm tác giả viết sách giáo khoa Văn tiểu học gồm: Trịnh Mạnh, Đặng Anh, Nguyễn Đức Bảo đã đặt vấn đề nghiên cứu dạy CTVC cùng với việc dạy đọc hiểu và đọc diễn cảm
Trang 11Tuy nhiên, phải đến những năm đầu thế kỷ 21, khi dạy văn ở trường phổ thông được xác định là dạy đọc hiểu thì lí luận về dạy đọc hiểu cũng như
lí luận về dạy cảm thụ văn học mới được đặt ra như một vấn đề độc lập cần được nghiên cứu Viết nhiều sách về đọc hiểu Văn phải kể đến giáo sư
Nguyễn Thanh Hùng với các cuốn: Hiểu văn - Dạy văn (2000) NXB Giáo dục, Đọc và tiếp nhận văn chương (2002) NXB Giáo dục, Đọc hiểu tác phẩm
văn chương trong nhà trường (2008) NXB Giáo dục, Kỹ năng đọc hiểu văn
(2011) NXB Đại học Sư phạm Giáo sư Trần Đình Sử, Giáo sư Phan Trọng Luận là hai tổng chủ biên sách giáo khoa Ngữ văn THPT sau năm 2000 cũng
có nhiều cuốn sách, bài báo viết về đọc hiểu GS Phan Trọng Luận viết: Văn
chương - bạn đọc sáng tạo (2011) NXB Đại học Sư phạm, Văn học nhà trường, những điểm nhìn (2011) NXB Đại học Sư phạm, Phương pháp luận giải mã văn bản văn học (2014) NXB Đại học Sư phạm GS Trần Đình Sử có
nhiều bài viết in trong Tài liệu tập huấn giáo viên THPT: Đọc hiểu văn
bản-Một khâu đột phá trong nội dung và phương pháp dạy Văn hiện nay (2003), Đổi mới phương pháp dạy học môn Ngữ văn (2008), Văn bản văn học và đọc hiểu văn bản (2011)
- Quan tâm đến đọc hiểu ở tiểu học có các công trình của GS Lê
Phương Nga, Dạy học tập đọc ở tiểu học (2002) NXB Giáo dục, PGS Nguyễn Thị Hạnh, Dạy học đọc hiểu ở tiểu học (2002), NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, PGS Hoàng Hòa Bình, GS Nguyễn Minh Thuyết, Phương pháp dạy học
Tiếng Việt nhìn từ tiểu học (2012) NXB Giáo dục
Trong quá trình bàn luận về đọc hiểu văn, có nhiều tác giả đề nghị, với văn bản văn chương thì không nên dừng lại ở đọc hiểu mà phải là đọc cảm thụ, đọc thẩm mỹ Giáo sư Phan Trọng Luận nói rõ điều này trong cuốn
Phương pháp luận giải mã văn bản văn học: “Cần có sự phân biệt chỗ khác
nhau giữa đọc hiểu với đọc thẩm mỹ, giữa đọc văn bản văn chương với đọc
Trang 12văn bản phi nghệ thuật…Đọc văn bản khoa học chỉ chú trọng nội dung khách quan chứ không săn tìm cái chủ quan của người viết văn bản…Đọc văn là đọc được niềm rung cảm, thông điệp thẩm mỹ của nhà văn để tự mình cùng xúc cảm, cùng rung cảm, đồng cảm Đọc thẩm mỹ là thuật ngữ thích hợp với đọc văn chương ”
- Vấn đề Cảm thụ văn học ở tiểu học đã có các tác giả, các cuốn sách tiêu biểu đề cập đến như: Giáo trình Cảm thụ văn học (2009) của Dương Thị Hương, NXB Đại học Sư phạm, Bồi dưỡng năng lực cảm thụ văn chương cho
học sinh tiểu học (2009) của nhóm tác giả Lê Thị Lan Anh, Trần Minh Diệu,
Nguyễn Đình Mai, Hoàng Thị Mai Luyện tập về cảm thụ các bài thơ trong
sách Tiếng Việt các lớp 1,2,3 và 4,5 của Phạm Đình Ân, NXB Giáo dục, Rèn
kỹ năng cảm thụ văn học qua các bài tập đọc lớp 2,3,4,5 của nhóm tác giả Lê
Hữu Tỉnh (chủ biên), Ngô Vũ Thu Hằng, Đào Tiến Thi, Nguyễn Thị Mai Anh, Xuân Thị Nguyệt Hà Trong Lời nói đầu của mỗi cuốn sách Rèn kỹ
năng cảm thụ văn học qua các bài tập đọc đều có đoạn: “Trong các nội dung
giảng dạy môn Tiếng Việt ở cấp tiểu học có nội dung bồi dưỡng và nâng cao năng lực cảm thụ văn học cho học sinh Chương trình và sách giáo viên môn Tiếng Việt tiểu học đã ghi rõ: “Từ những bài văn bài thơ hấp dẫn trong sách giáo khoa, hình thành khả năng cảm thụ văn học, cảm thụ vẻ đẹp của tiếng Việt và tình yêu tiếng Việt cho học sinh” Nội dung này có những mức độ yêu cầu khác nhau tương ứng với các lớp khác nhau trong cấp tiểu học” Cùng
viết về cảm thụ văn học ở tiểu học còn có nhiều cuốn sách khác như: Luyện
tập về cảm thụ văn học ở tiểu học (2004) của Trần Mạnh Hưởng, NXB Giáo
dục, Vẻ đẹp ngôn ngữ văn học qua các bài tập đọc (tái bản 2004) của Đinh
Trọng Lạc, NXB Giáo dục, Tìm hiểu vẻ đẹp bài thơ ở tiểu học (2004) của
Nguyễn Trí, Nguyễn Trọng Hoàn, Giang Khắc Bình, NXB Giáo dục Cảm thụ
Văn tiểu học 4, Cảm thụ Văn tiểu học 5” của nhóm tác giả Tạ Đức Hiền,
Trang 13Nguyễn Việt Nga, Phạm Đức Minh Các công trình nghiên cứu trên đây đã
có nhiều ý kiến sâu sắc và đã đóng góp rất lớn vào vấn đề rèn năng lực cảm thụ văn học cho học sinh tiểu học
- Viết về vấn đề Bồi dưỡng học sinh giỏi ở tiểu học, cả về lý luận và
thực hành phải kể đến các cuốn sách: Bồi dưỡng học sinh giỏi Tiếng Việt 4 và
Bồi dưỡng học sinh giỏi 5 (2006) của Trần Mạnh Hưởng, Lê Hữu Tỉnh, NXB
Giáo dục, Bồi dưỡng học sinh giỏi Tiếng Việt ở tiểu học (Giáo trình chuyên
đề, tái bản lần 4 năm 2010) của GS Lê Phương Nga, NXB Đại học Sư phạm,
4 cuốn “25 đề kiểm tra học sinh giỏi Tiếng Việt lớp 1,2” và lớp 3,4,5 (tái bản lần 1 năm 2013) của Trần Mạnh Hưởng, Những bài văn đạt giải Quốc gia
cấp tiểu học (tái bản lần 2 năm 2012 của TS Tạ Thanh Sơn, TS Nguyễn Trung
Kiên, TS Nguyễn Việt Nga, TS Phạm Đức Minh, NXB Đại học Sư phạm Cuốn sách tập hợp 40 bài văn đạt giải thi học sinh giỏi tiểu học cấp quốc gia
và tỉnh, thành phố, từ năm học 1967 - 1968 đến năm 2005
Từ sau năm học 2004 - 2005, Bộ Giáo dục và Đào tạo chủ trương không tổ chức thi học sinh giỏi cấp quốc gia để tránh tạo ra những áp lực đối với học sinh tiểu học Từ năm học 2014 - 2015, giáo dục tiểu học còn được thực hiện chủ trương dạy học không điểm số, trẻ em đến trường học vô tư, hồn nhiên, không có so sánh, không có áp lực Nhưng giáo dục các cấp vẫn phải thực hiện theo “Chiến lược con người” của quốc gia: “Nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài” Giáo dục phải tạo mọi điều kiện để mỗi trẻ em được phát triển cao nhất năng lực của các em Các môn học, các hoạt động trong trường tiểu học vẫn phải có nhiệm vụ bồi dưỡng học sinh giỏi Vấn đề là bồi dưỡng như thế nào, bồi dưỡng những nội dung gì Trăn trở
xung quanh nhiệm vụ bồi dưỡng học sinh giỏi ở tiểu học, tôi chọn đề tài “Hệ
thống bài tập rèn năng lực cảm thụ văn học cho học sinh giỏi Tiểu học” để
nghiên cứu
Trang 143 Mục đích nghiên cứu
- Góp phần nâng cao chất lượng dạy học môn Tiếng Việt ở Tiểu học nói chung và nâng cao năng lực cảm thụ văn học cho học sinh giỏi Tiểu học nói riêng
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu của luận văn là hoạt động dạy học và bồi dưỡng học sinh giỏi Tiếng Việt ở Tiểu học
- Bồi dưỡng học sinh giỏi Tiếng Việt gồm nhiều nội dung kiến thức, kỹ năng Đề tài giới hạn phạm vi nghiên cứu là hoạt động cảm thụ văn học cho học sinh ở trường Tiểu học An Tường 2, huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Tìm hiểu những vấn đề thuộc về lý luận và thực tiễn liên quan đến đề tài
- Xây dựng hệ thống bài tập rèn năng lực cảm thụ văn học cho học sinh giỏi Tiểu học
- Thực nghiệm để kiểm chứng tính khả thi của những bài tập đã được xây dựng
6 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu lí thuyết
Phương pháp này giúp chúng tôi có một cơ sở lý luận chắc chắn khi nghiên cứu đề tài Bên cạnh đó phương pháp này còn cho chúng tôi nắm bắt được lịch sử vấn đề nghiên cứu, từ đó chúng tôi xác định được cái mới của đề tài mà chúng tôi đã chọn
- Phương pháp nghiên cứu thực tiễn:
+ Phương pháp điều tra
+ Phương pháp khảo sát
+ Phương pháp thống kê
Trang 15+ Phương pháp so sánh - đối chiếu
- Phương pháp thực nghiệm khoa học
- Phương pháp phân tích - tổng hợp
7 Giả thuyết khoa học
Nếu có hệ thống bài tập và tổ chức tốt quá trình thực hiện bài tập rèn năng lực cảm thụ văn học cho học sinh giỏi Tiểu học thì chất lượng đọc văn, hiểu văn, cảm thụ văn của học sinh nhất định được nâng lên, số lượng học sinh yêu thích học văn cũng tăng lên, góp phần nâng cao chất lượng môn Tiếng Việt ở Tiểu học và thúc đẩy quá trình dạy tốt, học tốt ở trường Tiểu học
An Tường 2, Vĩnh Tường, Vĩnh Phúc
8 Đóng góp của luận văn
- Đóng góp về khoa học: Hệ thống hoá những vấn đề lí luận về học sinh giỏi, về năng lực, năng lực cảm thụ văn học, bồi dưỡng năng lực cảm thụ văn học cho học sinh trong quá trình dạy học phân môn Tập đọc ở trường tiểu học
- Đóng góp cho thực tiễn: Kết quả điều tra, khảo sát, phân tích làm sáng
tỏ thực trạng bồi dưỡng năng lực cảm thụ văn học của giáo viên, chất lượng cảm thụ văn học của học sinh tiểu học để từ đó xây dựng được hệ thống bài tập rèn năng lực cảm thụ văn học cho học sinh giỏi Tiểu học, góp phần làm cho nhiệm vụ bồi dưỡng học sinh giỏi đi vào nề nếp và chất lượng
9 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, phần Nội dung luận văn gồm 3
chương:
Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn của vấn đề năng lực, năng lực cảm
thụ văn học, học sinh giỏi tiểu học
Chương 2: Xây dựng và tổ chức thực hiện các bài tập rèn năng lực cảm
thụ văn học cho học sinh giỏi Tiểu học
Chương 3: Thực nghiệm sư phạm
Trang 16CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VẤN ĐỀ NĂNG LỰC, NĂNG LỰC CẢM THỤ VĂN HỌC, HỌC SINH GIỎI TIỂU HỌC
1.1 Cơ sở lí luận
1.1.1 Vấn đề năng lực, năng lực học sinh giỏi tiểu học
1.1.1.1 Khái niệm năng lực
Trên thế giới cũng như trong nước có khá nhiều định nghĩa về năng
lực Theo Wikipedia, “Năng lực là một tiêu chuẩn đòi hỏi ở một cá nhân khi
thực hiện một công việc cụ thể Nó bao gồm sự vận dụng tổng hợp các tri thức, kỹ năng, hành vi ứng xử trong thực hành Nói một cách khái quát, năng lực là một trạng thái, một phẩm chất, một khả năng tương xứng để có thể thực hiện một công việc cụ thể” (http// Wikipedia…)
Theo quan điểm của những nhà tâm lý học thì năng lực là tổng hợp các
đặc điểm, thuộc tính tâm lý của cá nhân phù hợp với yêu cầu đặc trưng của một hoạt động nhất định nhằm đảm bảo cho hoạt động đó đạt hiệu quả cao Các năng lực hình thành trên cơ sở của các tư chất tự nhiên của cá nhân, nhưng năng lực của con người không phải hoàn toàn đo tự nhiên mà phần lớn
do hoạt động, do tập luyện mà có Tâm lý học chia năng lực thành các dạng khác nhau như năng lực chung và năng lực chuyên môn
- Năng lực chung là năng lực cần thiết cho nhiều ngành hoạt động khác nhau như năng lực tư duy, năng lực lao động, năng lực khái quát hoá, năng lực học tập, năng lực tưởng tưởng
- Năng lực chuyên môn là năng lực đặc trưng trong lĩnh vực nhất định của xã hội như năng lực tổ chức , năng lực âm nhạc, năng lực kinh doanh, hội hoạ, toán học
Trang 17Năng lực chung và năng lực chuyên môn có quan hệ qua lại hữu cơ với nhau Năng lực chung là cơ sở của năng lực chuyên môn, nếu chúng càng phát triển thì càng dễ đạt được năng lực chuyên môn Ngược lại sự phát triển của năng lực chuyên môn trong những điều kiện nhất định lại có ảnh hưởng đối với sự phát triển của năng lực chung Trong thực tế muốn hoạt động có kết quả và hiệu quả cao thì mỗi người đều phải cớ năng lực chung phát triển ở trình độ cần thiết và có một vài năng lực chuyên môn tương ứng với lĩnh vực công việc của mình Những năng lực cơ bản này phải được giáo dục phát triển
và bồi dưỡng ở từng con người Năng lực của một người biết phối hợp trong mọi hoạt động là nhờ khả năng tự điều khiển, tự quản lý, tự điều chỉnh ở mỗi
cá nhân, được hình thành trong quá trình sống và giáo dục Năng lực còn được hiểu theo một cách khác, năng lực là tính chất tâm sinh lý của con người chi phối quá trình tiếp thu kiến thức, kỹ năng và kỹ xảo tối thiểu là cái mà người
đó có thể dùng khi hoạt động Trong điều kiện bên ngoài như nhau những người khác nhau cớ thể tiếp thu các kiến thức kỹ năng và kỹ xảo đó với nhịp
độ khác nhau Có người tiếp thu nhanh, có người phải mất nhiều thời gian và sức lực mới tiếp thu được, người này có thể đạt được trình độ điêu luyện cao còn người khác chỉ đạt được trình độ trung bình tuy đã hết sức cố gắng
1.1.1.2 Năng lực học sinh giỏi tiểu học
Trước hết, chúng ta cần biết năng lực không phải là bẩm sinh (dù có mầm mống bẩm sinh), không phải từ kinh nghiệm, cũng không phải là có năng lực thì làm việc gì cũng được
Năng lực mỗi người không giống nhau, nó được hình thành trong quá trình phát triển của con người trong xã hội Nghĩa là có bao nhiêu hình thức hoạt động của con người thì có bấy nhiêu loại năng lực Người có năng lực về điện, về khai mỏ, về thú y… Trong mỗi chuyên ngành còn biểu hiện năng lực
ở mỗi góc độ đảm nhiệm khác nhau, ch ng hạn trong ngành thú y, có người
Trang 18có khả năng tốt về soạn thảo văn bản pháp quy, hành chính, người có khả năng về chỉ đạo phòng chống dịch, về giải phẫu gia súc, về xử lý tình huống kiểm dịch, về tổ chức mạng lưới…
Như vậy, năng lực học sinh giỏi là những biểu hiện của học sinh thể hiện mức độ nhận thức bài học nhanh nhạy, làm bài có khoa học và chính xác, hoàn thành nhiệm vụ mà giáo viên giao trong một thời gian nhất định và tốt
hơn những học sinh khác
1.1.1.3 Phát hiện và bồi dưỡng học sinh giỏi Tiếng Việt ở tiểu học
Những học sinh có khả năng về môn Tiếng Việt thường có những biểu hiện sau:
Các em có lòng say mê văn học, có hứng thú với nghệ thuật ngôn từ, yêu thích thơ ca, ham mê đọc sách báo, thích nghe kể chuyện Có những em ước mơ thành nhà văn hoặc trở thành cô giáo giảng dạy bồi dưỡng môn Văn - Tiếng Việt Phần lớn các em không hờ hửng trước vẻ đẹp của ngôn từ văn chương, gắng ghi nhớ và ghi chép những câu văn hay
Các em có những phẩm chất tư duy có tính thống nhất: tư duy phân loại, phân tích, trừu tượng hóa, khái quát hóa
Các em có năng lực quan sát, nhận xét ngôn từ của mọi người và của chính mình Có em khi quan sát hiện thực, biết liên tưởng, so sánh, giàu cảm
xúc Ví dụ một em nhìn thấy trăng bị mây che đã nói: “ trăng đắp chăn” Hay
có em khi đọc 2 câu thơ “Con xót lòng mẹ hái trái bưởi đào / Con nhạt miệng
có canh tôm nấu khế” Các em đã hiểu được vừa hình ảnh, cụ thể, vừa khái
quát: mẹ lúc nào cũng sẵn sàng chăm sóc con, lo lắng cho con, làm tất cả
những gì mà con cần
Các em học giỏi Tiếng Việt là những em có khả năng tư duy nghệ thuật, có khả năng tiếp nhận vẻ đẹp của ngôn từ, cách nói độc đáo của văn chương Các em biết phát hiện những tín hiệu nghệ thuật và đánh giá được
Trang 19chúng trong việc biểu đạt nội dung Về khả năng sử dụng ngôn từ, những học sinh giỏi Tiếng Việt thường có khả năng sử dụng nhiều tính từ, từ láy, từ tượng hình, từ tượng thanh, sử dụng những câu có nhiều thành phần phụ như định ngữ, bỗ ngữ, câu văn sáng sủa, rõ ý, bộc lộ được sự đánh giá và tình cảm của mình với hiện thực được nói tới
Chúng ta thử so sánh 2 cách diễn đạt của một học sinh trung bình và
một học sinh giỏi môn Tiếng Việt: “Chúng em đã đến thăm Quảng trường Ba
Đình Quảng trường này rất có ý nghĩa vì tại đây bác Hồ đã đọc tuyên ngôn độc lập, cũng vì thế, lăng Bác được dựng ở đây” “Thế là chúng em đã được đến Quảng trường Ba Đình lịch sử Nơi đây Bác Hồ đã đọc tuyên ngôn đọc lập khai sinh ra nước Việt Nam dân chủ cộng hòa Cũng chính nơi đây, toàn dân ta đã chung sức xây nên nơi an nghỉ cuối cùng của Người”
Đoạn văn của em học sinh giỏi tác động đến người đọc không chỉ vào lí trí mà cả tình cảm
Vậy vấn đề đặt ra là cần phải phát hiện những học sinh có khả năng giỏi Tiếng Việt từ lúc nào? Nên tổ chức bồi dưỡng học sinh giỏi từ lớp nào? Trên thực tế, có nhiều trường khi chuẩn bị thi học sinh giỏi mới tập trung một
số buổi để ôn luyện, nhiều trường bồi dưỡng từ lớp 4 Có thể nói việc bồi dưỡng học sinh giỏi càng bắt đầu sớm bao nhiêu càng có hiệu quả bấy nhiêu
Ở lớp 1, nhiệm vụ chính của các em là nhanh chóng chiếm lĩnh công cụ chữ viết để đọc thông - viết thạo nên ở những trường dù có điều kiện cũng chỉ nên bồi dưỡng học sinh giỏi từ lớp 2
Để phát hiện những học sinh có năng lực Tiếng Việt, cần có sự điều tra khảo sát, tìm hiểu hứng thú học tập của các em,thông qua phỏng vấn trực tiếp, theo dõi, nắm tình hình học tập của các em và tìm hiểu thông qua phụ huynh
Xung quanh vấn đề phát hiện và bồi dưỡng học sinh giỏi ở tiểu học đang có nhiều ý kiến khác nhau Bây giờ ở tiểu học không tổ chức thi học
Trang 20giỏi, lại không đánh giá kết quả học tập của học sinh bằng điểm thí căn cứ vào đâu để chọn học sinh giỏi, và phải bồi dưỡng thế nào Trong cuốn Bồi dưỡng
học sinh giỏi Tiếng Việt ở tiểu học, GS Lê Phương Nga cho rằng: “Hiện nay,
Bộ Giáo dục và đào tạo không có chủ trương thi học sinh giỏi toàn quốc ở tiểu học, nhưng việc phát hiện và bồi dưỡng học sinh giỏi trong các môn học
ở tiểu học vẫn rất quan trọng, nhằm thực hiện chủ trương dạy học phân hóa, dạy học tự chọn, phát huy cá tính và sáng tạo của học sinh từ cấp tiểu học”
Như vậy, bồi dưỡng học sinh giỏi là quyền lợi của HS, là trách nhiệm của các thày cô giáo và phải được đồng hành với hoạt động dạy và học Còn bồi dưỡng nên theo cách làm nào?, PGS Nguyễn Thị Hạnh cho rằng, có 3 cách
tiếp cận dạy học phân hóa để bồi dưỡng học sinh giỏi Cách 1, thực hiện dạy
học phân hóa toàn diện, triết để Theo cách này, HS được phân hóa theo các
trường lớp khác nhau, nghĩa là HSG được học riêng ở các trường chuyên, lớp
chọn Cách 2, thực hiện phân hóa trung gian Việc phân hóa này chỉ diễn ra ở
một phần của chương trình, nghĩa là HSG được tổ chức thành nhóm nhỏ trong
mỗi lớp, được thày cô giáo bồi dưỡng riêng Cách 3, thực hiện phân hóa bộ
phận Cách phân hóa này chỉ diễn ra ở cấp độ hoạt dộng dạy học HS học
chung một chương trình và một tài liệu giáo khoa Trên tài liệu chung đó, GV bằng phương pháp dạy học tích cực, tạo cơ hội để các cá thể HS được học tập với nhịp độ phát triển của cá nhân nhằm đạt hiệu quả học tập cao nhất Điều
đó có nghĩa là thày cô giáo có thể đưa dần chương trình bồi dưỡng HSG vào từng giờ dạy hàng ngày, đáp ứng nhịp độ học tập của các trình độ HS (theo
Nguyễn Thị Hạnh, Về dạy học tự chọn môn Tiếng Việt ở tiểu học TCGD số
12/2004) Cách 3 là cách thực hiện nhiệm vụ bồi dưỡng HSG tốt nhất trong điều kiện hiện nay Nhiều trường tiểu học làm theo cách 3 có kết quả đã gọi
cách này là chủ động tạo ra HSG mà không thụ động, chờ có HSG để bồi
dưỡng Đề tài nghiên cứu của chúng tôi đi theo cách thứ 3 Hệ thống bài tập
Trang 21chúng tôi xây dựng để bồi dưỡng HSG, nhưng được sử dụng trong các giờ dạy học tập đọc hàng ngày Sẽ có GV băn khoăn, liệu cách làm này có ảo tưởng, phi thực tế không Dạy theo trình độ đại trà còn chưa đạt được chuẩn kiến thức, kỹ năng, nay còn thêm phần nâng cao để chủ động tạo ra HSG
Chúng tôi đã tìm thấy câu trả lời từ lý luận về “vùng phát triển gần” của Vư gôt xki trong cuốn Tâm lý học Vư gôt xki (1997, NXB Giáo dục) của tác giả Phạm Minh Hạc Theo Vư gôt xki, trong mỗi trẻ em có 2 trình độ phát triển
là trình độ phát triển hiện thời và vùng phát triển gần Điều hôm nay trẻ làm với sự giúp đỡ của người lớn , ngày mai trẻ có thể tự làm một mình Như vậy
là vùng phát triển gần giúp ta xác định ngày mai của trẻ Theo quan điểm
này, giảng dạy không phải là phát triển, nhưng giảng dạy được tổ chức đúng
đắn sẽ dẫn dắt sự phát triển trí tuệ của trẻ Quá trình giảng dạy phải tạo ra vùng phát triển gần và chỉ có việc giảng dạy nào đi trước sự phát triển mới là việc giảng dạy tốt (theo chương 8 Lý luận về vùng phát triển gần Vấn đề
giảng dạy và sự phát triển trí tuệ trong lứa tuổi học sinh) Từ quan điểm về
“vùng phát triển gần” và “dạy học đi trước sự phát triển”, “dẫn dắt sự phát triển trí tuệ của trẻ” (Vư gôt xki) có thể vận dụng để xây dựng chương trình bồi dưỡng HSG theo cách thứ 3 (đề xuất của Nguyễn Thị Hạnh) Khi đó, “vùng phát triển gần” là khả năng có thể trở thành HSG ở mỗi HS Dạy học hãy hướng vào đó, dẫn dắt HS tới đó, “vùng phát triển gần” sẽ trở thành “trình độ
hiện thời” của trẻ, nghĩa là bồi dưỡng HSG đã có kết quả tạo ra HSG
1.1.2 Vấn đề cảm thụ văn học
1.1.2.1 Khái niệm cảm thụ văn học
Trong từ điển thuật ngữ văn học (Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn
Khắc Phi đồng chủ biên) chỉ giải thích các thuật ngữ: tiếp nhận văn học,
thưởng thức văn học, phê bình văn học, không có thuật ngữ cảm thụ văn học
Như vậy có thể suy ra rằng, cảm thụ văn học không được coi là một thuật
Trang 22ngữ, một khái niệm, hay nó được coi là một hiện tượng bao trùm tất cả các khái niệm trên đây
Hiểu một cách đơn giản, cảm thụ văn học (CTVH) chính là sự cảm nhận những giá trị nổi bật, những điều sâu sắc, tế nhị, đẹp đẽ của văn học thể hiện trong tác phẩm (cuốn truyện, bài văn, bài thơ, ) hay một bộ phận của tác phẩm
Theo “Giáo trình cảm thụ văn học” (dành cho hệ đào tạo cử nhân Giáo
dục tiểu học của tác giả Dương Thị Hương, NXB Đại học Sư phạm 2009),
“Cảm thụ văn học là đọc hiểu các tác phẩm văn chương ở mức độ cao nhất,
người đọc không chỉ nắm bắt thông tin mà còn phải thẩm thấu được thông tin, phân tích, đánh giá được khả năng sử dụng ngôn từ của tác giả, tạo được mối giao cảm đặc biệt giữa tác giả và bạn đọc và có thể truyền thụ cách hiểu đó cho người khác”
Theo cuốn “Bồi dưỡng năng lực cảm thụ văn chương cho HS tiểu học”, các tác giả cho rằng “cảm thụ văn học cũng như các khái niệm tiếp nhận,
thưởng thức, phê bình văn chương là hết sức đa dạng và vô cùng phong phú đến mức khó có thể khái quát thậm chí trong phạm vi một cuốn sách”, từ đó
“có thể sơ lược mà nói rằng, dù hiểu theo cách nào thì cảm thụ văn học cũng
bao gồm ít nhất là khả năng nhận thức và rung cảm trước nội dung, nghệ thuật của tác phẩm văn chương, các hoạt động tâm lý đó mang tính chủ quan
và cảm tính”
Giáo sư Phan Trọng Luận có cách nói khác về cảm thụ văn học Theo
Giáo sư, “đọc thẩm mỹ là thuật ngữ thích hợp với đọc văn chương… Nhà văn
qua sáng tác gửi đến bạn đọc nỗi niềm, tấc lòng, niềm xúc động của mình về cuộc đời, về con người, nói chung là một thông điệp thẩm mỹ Đọc văn là đọc được niềm rung cảm, thông điệp thẩm mỹ của nhà văn để tự mình cùng xúc cảm, cùng rung cảm, đồng cảm”
Trang 231.1.2.2 Cảm thụ văn học và đọc hiểu văn bản
Phân biệt hai khái niệm này không chỉ liên quan đến đề tài bồi dưỡng HSG Tiếng Việt ở tiểu học mà còn liên quan đến quan điểm xây dựng chương trình Ngữ văn phổ thông hiện tại và tương lai Theo Lý thuyết tiếp nhận thì văn bản và tác phẩm không phải là một Người học văn phải tự mình đọc văn bản để làm xuất hiện tác phẩm và khám phá những giá trị tiềm tàng trong tác phẩm để thỏa mãn nhu cầu hiểu biết, và phát trỉển năng lực tinh thần Từ đó, dạy văn không phải là giảng văn hoặc phân tích tác phẩm mà là dạy học đọc hiểu văn Đọc hiểu vừa là nhiệm vụ của mỗi giờ văn, vừa là nhu cầu của xã hội để mỗi con người trong cuộc sống hiện đại có thể học mọi nơi, mọi lúc, học suốt đời, tạo ra một xã hội học tập Dạy văn là dạy đọc hiểu nên trong chương trình Ngữ văn (ở tiểu học là Tiếng Việt) có thêm rất nhiều bài đọc là những tác phẩm không phải nghệ thuật Sách Tiếng Việt tiểu học, mỗi năm có
15 bài đọc không phải nghệ thuật Vậy dạy văn là dạy đọc hiểu văn bản, quan
niệm đó đã đúng chưa? Theo Giáo sư Trần Đình Sử, “Đọc hiểu văn bản - một
khâu đột phá trong nội dung và PPDH văn hiện nay” Còn Giáo sư Phan
Trọng Luận lại có ý kiến khác “Gần đây một số người trong giáo giới hay
nói đến đọc hiểu, coi như đó là đặc trưng của đọc văn Thậm chí có người còn đề nghị gọi chính danh môn dạy văn trong nhà trường là môn đọc hiểu Ở đây ít nhất có 2 sự nhầm lẫn: nhầm lẫn giữa đọc văn với đọc các văn bản phi nghệ thuật, đồng nhất dạy tác phẩm văn chương với dạy các phân môn khác như Làm văn, Tiếng Việt, Văn học sử” Sự không thống nhất xung quanh thuật
ngữ đọc văn trong dạy văn của các nhà khoa học giúp cho những người trực tiếp dạy tập đọc ở tiểu học như chúng tôi thấy rõ hơn nhiệm vụ: dạy đọc hiểu văn bản nghệ thuật trong giờ tập đọc không được dừng ở đọc hiểu thông thường mà phải dạy cảm thụ văn học
Trang 24Phân biệt đọc hiểu với cảm thụ văn học, Giáo trình Cảm thụ văn học giảng giải cho giáo sinh GDTH như sau: “Đọc hiểu là yêu cầu đặt ra cho mọi
đối tượng đọc, với tất cả các kiểu loại văn bản, trong đó có cả văn bản nghệ thuật Còn cảm thụ là yêu cầu đặt ra cho những ai đọc các văn bản nghệ thuật, đặc biệt là các văn bản có khả năng gây xúc động cho người đọc Đọc
hiểu là hoạt động đọc được diễn ra đồng thời với quá trình nắm bắt thông tin, đọc trong nhận thức để có khả năng hiểu được những gì được đọc Kết quả của đọc hiểu là người đọc phải lĩnh hội được thông tin, hiểu nghĩa của từ cụm
từ, câu, đoạn, bài, văn bản
CTVH là sự kết hợp hài hòa giữa việc hiểu và rung động trong quá trình cảm nhận những giá trị nổi bật, những điều sâu sắc, tế nhị và đẹp đẽ của một văn bản nghệ thuật
CTVH là một năng lực bắt buộc phải có ở những học sinh giỏi Tiếng Việt Chính vì vậy cùng với Luyện từ và câu và Tập làm văn, nó là một trong
ba nội dung cấu tạo nên một đề thi học sinh giỏi Tiếng Việt Nó được đánh số thứ tự như một mạch kiến thức kĩ năng và có một vị trí đặc biệt quan trọng Mạch kiến thức, kĩ năng này chủ yếu được hình thành trong phân môn Tập đọc
1.1.2.3 Năng lực cảm thụ văn học ở lứa tuổi tiểu học
Cảm thụ văn học hay nói chính xác hơn, tiếp nhận văn học là một quá trình nhận thức thẩm mĩ rất đặc biệt, phức tạp và có tính sáng tạo Những tính chất này do đối tượng nhận thức – tác phẩm văn học – quy định Quá trình cảm thụ văn học là quá trình nhận thức cái đẹp được chứa đựng trong thế giới ngôn từ - hệ thống tín hiệu thứ 2 của loài người Quá trình này mang tính chất chủ quan vì nó phụ thuộc vào vốn sống, vốn kinh nghiệm, hiểu biết riêng của người cảm thụ văn học Nói một cách đơn giản, cảm thụ văn học là tiếp nhận, hiểu và cảm được cái hay cái đẹp của văn chương từ tính hình tượng và đặc trưng của ngôn ngữ nghệ thuật của văn chương
Trang 25Năng lực CTVH được hiểu là khả năng nắm bắt một cách nhanh nhạy, chính xác các đặc điểm, đặc trưng, bản chất của các tác phẩm về nội dung và nghệ thuật; là khả năng hiểu, rung cảm một cách sâu sắc, tinh tế với những điều tâm sự thầm kín nhất của tác giả gửi gắm qua hình tượng; là khả năng đánh giá chính xác tài năng cũng như sự độc đáo trong phong cách nhà văn
Năng lực CTVH cũng có các mức độ: năng lực bình thường, tài năng
Thiên tài trong CTVH là sự thăng hoa của tài năng Đây là hiện tượng hiếm thấy, và cũng thường gắn liền với các thiên tài trong lĩnh vực khác
Năng lực CTVH có liên quan mật thiết đến tri thức, kĩ năng, kĩ xảo cũng như với tâm hồn, nhân cách của chủ thể
Trước khi đến trường, HSTH đã có vốn văn học nhất định Đây không phải là lần đầu tiên các em được tiếp xúc với hình tượng văn học Ngay từ nhỏ, các em đã được bố, mẹ, ông, bà kể cho nghe chuyện cổ tích, truyện nhi đồng, các em đã thuộc nhiều bài đồng dao, một số bài ca dao, dân ca,
Đến bậc tiểu học, lần đầu tiên các em được tiếp xúc với tác phẩm văn học bằng chữ viết Chữ viết tiếp tục đưa các em đi xa hơn trong việc cảm thụ thế giới văn chương
Trường tiểu học sẽ trang bị cho các em một số tri thức và rèn luyện các
kĩ năng, năng lực cần thiết cho CTVH Học sinh bắt đầu làm quen với các thao tác tìm hiểu nội dung, nghệ thuật của tác phẩm Đó là những câu hỏi, bài
Trang 26tập yêu cầu phát hiện ý của đọan, ý chính của bài (ở lớp 4, 5) các em cũng được trang bị một số tri thức về hình tượng, ngôn ngữ nghệ thuật thông qua
hệ thống câu hỏi, bài tập của các bài Tập đọc
Ở lứa tuổi Tiểu học, khả năng nhạy cảm, tinh tế trong cảm thụ của các
em mang những đặc thù riêng Tình cảm tâm hồn của các em rất hồn nhiên, trong sáng, rất dễ rung động trước những kích thích, trong đó có kích thích thẩm mĩ
Tuy nhiên, lứa tuổi tiểu học cũng gặp khó khăn trong việc phát hiện những nội dung trừu tượng, khái quát và một số kĩ năng diễn đạt Đó là do tư duy logic ở các em chưa phát triển như người trưởng thành
1.1.2.4 Yêu cầu về rèn luyện cảm thụ văn học
Chương trình môn Tiếng Việt ở tiểu học luôn coi nhiệm vụ bồi dưỡng năng lực cảm thụ văn học cho HS là một nhiệm vụ quan trọng nhằm: “Bồi dưỡng tình yêu tiếng Việt và hình thành thói quen giữ gìn sự trong sáng, giàu đẹp của tiếng Việt, góp phần hình thành nhân cách con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa cho HS”
Dưới sự dẫn dắt của thầy giáo, cô giáo, những bài thơ, bài văn hay trong sách giáo khoa sẽ đem đến cho các em bao điều kì thú và hấp dẫn Tuy nhiên, muốn trở thành HS có năng lực cảm thụ văn học tốt, mỗi em cần phải
tự giác phấn đấu, rèn luyện về nhiều mặt
Do vậy, những yêu cầu rèn luyện về CTVH dưới đây cần được mỗi HS
cố gắng thực hiện tốt
1.1.3 Vấn đề bài tập Bài tập rèn kỹ năng, năng lực
1.1.3.1 Khái niệm bài tập Vai trò của bài tập trong dạy học tích cực
* Khái niệm bài tập
Có nhiều định nghĩa về bài tập Các tác giả Từ điển tiếng Việt giới
thiệu “Bài tập là bài ra cho học sinh làm để tập vận dụng những điều đã
Trang 27học” Quan niệm này chủ yếu phù hợp với các bài tập nhằm giúp học sinh
nắm chắc các khái niệm, củng cố các đơn vị kiến thức vừa học trong các bài lí thuyết Nguyễn Hữu Châu trong Từ điển giáo dục (2009, NXB GD) định
nghĩa: “Bài tập là những nhiệm vụ, công việc được giao cho mỗi nhóm hoặc
mỗi cá nhân trong khuôn khổ một chương trình học tập nhằm rèn luyện kỹ năng hay tăng cường kiến thức cho người học” Từ hai định nghĩa này có thể
hiểu, bài tập không chỉ được dùng với mục đích giúp người học củng cố, vận dụng kiến thức đã học, rèn kỹ năng tương ứng mà còn giúp họ hình thành tri thức mới và phát triển các kỹ năng khác
Trong các bài học thực hành rèn luyện kĩ năng, bài tập được coi là phương tiện không thể thiếu, có vai trò hết sức quan trọng
Theo quan điểm dạy học phát huy tính tích cực chủ động của HS, bài tập hoàn toàn có khả năng dẫn dắt trí tuệ, tình cảm học sinh tới “vùng phát triển gần”, vùng năng lực của HSG Dạy học như vậy được gọi là dạy học đi trước sự phát triển, dạy học khuyến khích tài năng Vấn đề thách thức là bài tập đó được xây dựng như thế nào
1.1.3.2 Hệ thống bài tập
Trong cuốn “Từ điển Từ và Ngữ Hán Việt”, khái niệm hệ thống được
hiểu là: tập hợp những bộ phận có liên hệ chặt chẽ với nhau, theo thứ tự, sắp xếp có quy củ và liên tục Bản chất cốt lõi của khái niệm hệ thống được thể hiện ở hai khía cạnh, thứ nhất là mối quan hệ nội tại có tính logic rất rõ của từng thành tố riêng biệt với những thành tố khác trong một dãy các thành tố, thứ hai là tính chất tổng thể, hợp thành của một đối tượng từ những thành tố cùng loại hay có cùng chức năng
Như vậy, hệ thống có thể được hiểu là tập hợp những thành tố có liên
hệ, quan hệ với nhau, tác động lẫn nhau, tạo nên một chỉnh thể mới Hệ thống bài tập là một tập hợp với nhiều bài tập khác nhau, được xếp thành các nhóm
Trang 28(trong mỗi nhóm có thể có những nhóm nhỏ hơn) theo một trình tự, nhằm thực hiện những chủ đích chung Thông thường, để đảm bảo tính khoa học về quá trình nhận thức của người học, hệ thống bài tập được sắp xếp theo trình tự
từ dễ đến khó, từ đơn giản đến phức tạp, từ kiến thức đơn lẻ đến những kiến thức tổng hợp, nhằm rèn luyện, phát triển những kỹ năng cụ thể cho người học Trong dạy học, muốn phát triển một kỹ năng cho HS, người dạy phải xây dựng được hệ thống hành động, cách thức thực hiện hành động, và các tình huống trong thực tế để HS thực hành, luyện tập Các hành động này được cụ thể hóa bằng một hệ thống bài tập Giải quyết được toàn bộ những yêu cầu của hệ thống bài tập, HS sẽ có những kỹ năng và năng lực tương ứng
1.1.3.3 Hệ thống bài tập rèn năng lực cảm thụ văn học ở tiểu học
Dạy học sinh cảm thụ văn học thực chất là rèn luyện cho học sinh các
kĩ năng phát hiện những câu thơ, câu văn có hình ảnh được dùng một cách có nghệ thuật Từ đó rèn luyện cho các em kĩ năng phân tích, bình giá hiệu quả các đơn vị sử dụng ngôn từ trong những câu văn, câu thơ đó, đồng thời dạy để các em biết bộc lộ cảm xúc và biết trình bày kết quả cảm thụ của mình
Hệ thống bài tập rèn năng lực CTVH cho HSG có thể dựa vào 6 tiêu chí, theo đề xuất của Giáo sư Phan Trọng Luận, gồm: 1 Lòng say mê văn học; 2 Tính nhạy cảm nhân ái và thẩm mỹ; 3 Khả năng quan sát nhạy bén, tinh tế cuộc sống, con người, cảnh vật; 4 Khả năng liên tưởng, tưởng tượng phong phú; 5 Thói quen và khả năng tư duy hình tượng; 6 Khả năng sáng tạo
về ngôn từ [17].Có thể dựa vào Giáo trình cảm thụ văn học: Nói một cách
đơn giản, yêu cầu dạy CTVH ở trường tiểu học phải trải qua một quy trình:
hiểu nội dung thông báo - phát hiện các tín hiệu nghệ thuật - đánh giá được giá trị của các tín hiệu nghệ thuật đó - khái quát được nội dung thông báo thẩm mỹ của toàn bộ văn bản [ 11] Với HS đại trà yêu cầu đặt ra trong dạy
học tập đọc chủ yếu là dừng lại ở mức độ đọc hiểu, ngoại trừ các văn bản có
Trang 29hàm ý sâu xa Với HS khá giỏi, yêu cầu bồi dưỡng năng lực CTVH phải được đặt ra ở mức cao nhất Có thể dựa vào các bài tập rèn kỹ năng đọc hiểu,
CTVH trong cuốn “Bồi dưỡng học sinh giỏi Tiếng Việt ở tiểu học” của GS Lê
Phương Nga gồm: 1 BT yêu cầu phát hiện những từ dùng đắt và đánh giá giá trị của chúng trong việc biểu đạt nội dung; 2 BT yêu cầu phát hiện biện pháp
tu từ và đánh giá giá trị của nó trong việc biểu đạt nội dung; 3 BT yêu cầu HS chỉ ra các hình ảnh đẹp của thơ văn và đánh giá; 4 BT yêu cầu phát hiện và đánh giá cái hay của tứ thơ; 5 BT yêu cầu phát hiện và đánh giá các nhân vật trong truyện; 6 BT yêu cầu phát hiện, dánh giá cái hay của tình tiết truyện [19]
Chúng tôi sẽ xây dựng hệ thống bài tập rèn năng lực CTVH phù hợp với HS tiểu học bao gồm 4 nhóm sau:
- Nhóm bài tập luyện kỹ năng đọc văn bản nghệ thuật
- Nhóm bài tập làm rõ nghĩa của ngôn ngữ văn bản
- Nhóm bài tập đọc hiểu và cảm thụ nội dung, ý nghĩa bài đọc
- Nhóm bài tập hồi đáp
Trong mỗi nhóm sẽ gồm nhiều dạng bài tập cụ thể
1.2 Cơ sở thực tiễn
1.2.1 Mục tiêu dạy văn qua Tiếng Việt ở trường Tiểu học
Hình thành và phát triển ở học sinh các kĩ năng sử dụng Tiếng Việt (nghe, nói, đọc, viết) để học tập và giao tiếp trong các môi trường hoạt động của lứa tuổi
Thông qua việc dạy và học Tiếng Việt, góp phần rèn luyện các thao tác của tư duy
Cung cấp cho học sinh những kiến thức sơ giản về Tiếng Việt và những hiểu biết sơ giản về xã hội, tự nhiên và con người, về văn hóa, văn học của Việt Nam và nước ngoài
Trang 30Bồi dưỡng tình yêu Tiếng Việt và hình thành thói quen giữ gìn sự trong sáng, giàu đẹp của Tiếng Việt, góp phần hình thành nhân cách con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa”
1.2.2 Khảo sát nhiệm vụ khai thác tiềm năng năng khiếu văn của học sinh trong chương trình sách giáo khoa Tiếng Việt tiểu học
Để tìm hiểu thực trạng nhiệm vụ khai thác tiềm năng năng khiếu văn của học sinh trong chương trình sách giáo khoa Tiếng Việt tiểu học, chúng tôi
đã tiến hành điều tra qua hai hướng:
+ Hướng 1: Dự giờ để biết năng lực khai thác tiềm năng năng khiếu văn của học sinh trong giờ học
+ Hướng 2: Dùng phiếu khảo sát
1.2.3 Khảo sát hoạt động bồi dưỡng học sinh giỏi ở tiểu học
Để tìm hiểu thực trạng hoạt động bồi dưỡng học sinh giỏi ở tiểu học, chúng tôi đã trao đổi kinh nghiệm giảng dạy cùng với quan sát dự giờ dạy Tập đọc lớp 4 và lớp 5 ở trường Tiểu học An Tường 2 với hai bài Tập đọc: “Đoàn thuyền đánh cá” (Tiếng Việt 4, tập 2) và bài “Tiếng đàn ba-la-lai-ca trên sông Đà” (Tiếng Việt 5, tập 1)
Sau đây là tổng hợp những ưu điểm và hạn chế trong quá trình giảng dạy Tập đọc của các GV trường Tiểu học An Tường 2:
- Ưu điểm: Phần lớn các GV có giọng đọc hay, truyền cảm, đúng chính
âm GV nắm được quy trình giảng dạy, thực hiện đúng, đầy đủ quy trình Trong phần tìm hiểu bài GV cũng đã hướng dẫn để học sinh hiểu các câu hỏi trong sách giáo khoa, giúp các em nắm được nội dung chính của bài Đối với những câu hỏi dài, khó, GV cũng đã tách nhỏ từng ý để hướng dẫn học sinh giải quyết hoặc tổ chức cho học sinh hoạt động, thảo luận nhóm để tìm ra câu trả lời
Trang 31GV cũng đã hướng dẫn để các em biết đọc diễn cảm, đã tổ chức cho HS thi đọc hay, tìm ra cách đọc hay nhất và tạo tinh thần phấn khởi thi đua trong giờ học
- Hạn chế: Vì nhiều lí do nên GV vẫn thường trung thành với các câu hỏi trong SGK, GV mới chỉ dừng lại ở việc tìm hiểu nội dung bài đọc mà chưa đi sâu vào phân tích, đánh giá giá trị nghệ thuật của các biện pháp tu từ trong bài đó Việc giáo viên xây dựng hệ thống bài tập rèn năng lực CTVH cho học sinh ngay trong giờ học còn nhiều lúng túng
Trong luyện đọc diễn cảm, GV chưa chú ý đến sửa lỗi phát âm cho những học sinh đọc sai và cũng chưa có biện pháp cụ thể hay kế hoạch cho học sinh đó luyện tập ngoài giờ
1.2.4 Khảo sát năng lực cảm thụ của học sinh trong một số bài làm văn
Để khảo sát toàn diện hơn về vấn đề nhận thức và thực hành CTVH của học sinh lớp 4; 5, chúng tôi đã tiến hành điều tra và phỏng vấn 250 học sinh lớp 4; 5 (115 học sinh lớp 4 và 135 học sinh lớp 5) của một số trường tiểu học
ở huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc Khi điều tra vấn đề này, chúng tôi nhận thấy quá trình học và thực hành CTVH thông qua phân môn Tập đọc của các
em HS gặp rất nhiều khó khăn Hầu hết các em không nắm được bản chất của hoạt động CTVH là làm cái gì, Học sinh không nắm được các kĩ năng cần thiết để cảm thụ được một văn bản nghệ thuật
Quá trình khảo sát và đánh giá năng lực cảm thụ của học sinh, chúng tôi thu được kết quả như sau:
Trang 32Bảng 1: Khảo sát năng lực cảm thụ của học sinh (thông qua bài làm yêu cầu
học sinh viết một đoạn văn cảm thụ về bài Tập đọc “Tre Việt Nam”)
Vốn văn học của HS 18 7,5 35 14,58 146 60,84 41 17,08
Sự rung cảm có tính thẩm mĩ 19 7,91 38 15,83 110 45,85 73 30,41
Vốn ngôn ngữ 35 14,58 44 18,33 107 44,59 54 22,5 Khả năng diễn đạt theo ý riêng 14 5,83 49 20,41 106 44,18 71 29,58
- Qua chất lƣợng bài bài làm của học sinh, chúng tôi thấy vốn văn học của học sinh, tỉ lệ Trung bình chiếm đa số (60,84 %) và Yếu (17,08 %), số em đạt loại Tốt chỉ có 7, 5 % và Khá 14, 58 %
- Về sự rung cảm có tính thẩm mĩ đạt Tốt có 7,91 %, trong khi đó Yếu chiếm 30,41 %, tỉ lệ Trung bình đạt 45,85 % và Khá đạt 15,83 %
- Vốn ngôn ngữ, chữ viết của học sinh có cao hơn, tỉ lệ đạt Tốt là 14,58
%, Khá là 18,33 %, Trung bình là 44,59 % nhƣng vẫn có đến 22, 55 % Yếu
- Về khả năng diễn đạt theo ý riêng, đạt Tốt chỉ có 5,83 %, Khá có 20,41 %, Yếu có đến 29,58 % và chỉ có 44,18 % Trung bình
* Nhận xét chung: Do còn nhiều hạn chế trong quá trình dạy và học
mà việc nâng cao năng lực cảm thụ văn học cho các em học sinh lớp 4,5 ngay trong giờ Tập đọc chƣa đƣợc quan tâm thực sự Bởi vậy, trong bài làm các em mới chỉ nhận biết đƣợc các biện pháp tu từ, các yếu tố nghệ thuật mà chƣa biết đi sâu vào phân tích giá trị của các biện pháp tu từ đó Điều này dẫn đến tình trạng các em không hiểu hết đƣợc cái hay, cái đẹp về giá trị nội dung và giá trị nghệ thuật của các tác phẩm mà các biện pháp tu từ đem lại
Vì thế, xây dựng hệ thống bài tập rèn năng lực cảm thụ văn học cho học sinh trong giờ Tập đọc lớp 4,5 là rất cần thiết
Trang 331.2.5 Khảo sát thực trạng việc sử dụng bài tập rèn năng lực cảm thụ văn học cho học sinh giỏi Tiếng Việt
Việc sử dụng các bài tập rèn năng lực cảm thụ văn học trong dạy học ở các trường Tiểu học đang được mọi người rất quan tâm, song thực trạng của việc áp dụng các biện pháp này ra sao và hiệu quả thế nào? Để biết được điều này chúng tôi đã tiến hành điều tra việc sử dụng các bài tập rèn năng lực cảm thụ văn học cho học sinh tiểu học mà GV sử dụng
Kết quả thu điều tra được cụ thể hóa ở bảng sau:
Tài liệu Vở bài tập
Tiếng Việt Sách tham khảo khác Tự biên soạn
Bảng 2: Bảng thống kê mức độ sử dụng các tài liệu về bài tập rèn
năng lực cảm thụ văn học của giáo viên
Theo kết quả trên, chúng tôi nhận thấy: 100% giáo viên sử dụng những bài tập rèn năng lực cảm thụ văn học trong vở bài tập và rất ít giáo viên dành thời gian tự biên soạn các bài tập cho phù hợp vớii lớp học và bài dạy
Cũng theo kết quả điều tra có tới 65% các thầy cô cho rằng các bài tập rèn năng lực cảm thụ văn học trong vở bài tập trên thị trường hiện nay, bên cạnh một số bài phù hợp vẫn có nhiều bài không phù hợp với thực tế đối tượng học sinh lớp mình đang dạy, có khoảng 5% ý kiến cho là chưa phù hợp và 30% cho là đã phù hợp Thực tế cho thấy việc áp dụng các bài tập rèn năng lực cảm thụ văn học trong dạy học còn phải căn cứ vào nhiều điều kiện như: thực
tế cuộc sống nơi học sinh ở, vốn sống và hiểu biết của các em,… Vì vậy việc mỗi giáo viên tự biên soạn hệ thống bài tập rèn năng lực cảm thụ văn học dành riêng cho các đối tượng học sinh lớp mình sao cho phù hợp là rất cần thiết
Trang 34Tiểu kết chương 1
CTVH là một năng lực bắt buộc phải có ở những học sinh giỏi Tiếng
Việt Bồi dưỡng HSG Tiếng Việt ở tiểu học gồm nhiều nội dung như: Bồi
dưỡng hứng thú tiếng Việt, Bồi dưỡng vốn sống, Bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng tiếng Việt (bao gồm cả kiến thức kỹ năng Văn, Tập làm văn) Về kiến thức, kỹ
năng văn, bồi dưỡng HSG phải bồi dưỡng các điều kiện để HSG có chất liệu
và công cụ đọc hiểu văn, cảm thụ văn như: Tăng cường vốn sống, vốn hiểu
biết, Trang bị một số kiến thức về lý luận văn học, Bồi dưỡng năng lực CTVH
(Lê Phương Nga), Đề tài luận văn của chúng tôi chỉ chọn một nội dung trong
số nhiều nội dung để bồi dưỡng HSG là bồi dưỡng năng lực CTVH bằng hệ
thống bài tập Trong điều kiện dạy học ở trường tiểu học không tổ chức thi
HSG cấp quốc gia, không sử dụng điểm số để đánh giá HS, nhưng vẫn phải
bồi dưỡng HSG để thực hiện dạy học phân hóa thì Dạy học phân hóa bộ
phận như đề xuất của Phó giáo sư Nguyễn Thị Hạnh là phù hợp hơn cả Cách
phân hóa này chỉ diễn ra ở cấp độ hoạt dộng dạy học HS học chung một chương trình và một tài liệu giáo khoa Trên tài liệu chung đó, GV bằng phương pháp dạy học tích cực, đưa dần chương trình bồi dưỡng HSG (chương trình nâng cao) vào từng giờ dạy hàng ngày, để chủ động tạo ra nhiều HSG trong một lớp học Lý thuyết về “vùng phát gần” và “dạy học đi trước sự phát triển” của Vư gôt xki là cơ sở lý luận để chúng tôi có niềm tin thực hiện ý tưởng chuyển nội dung bồi dưỡng HSG vào các bài dạy hàng ngày thông qua
hệ thống bài tập Về hệ thống bài tập, chúng tôi dựa vào nhiệm vụ đọc hiểu và cảm thụ tác phẩm văn học nhưng phải phù hợp với trình độ, năng lực HS tiểu học Vì thế, hệ thống bài tập chúng tôi xây dựng sẽ gồm 4 nhóm, mỗi nhóm lại gồm nhiều dạng cụ thể
Trên đây là nội dung tìm hiểu về cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn của Việc rèn năng lực cảm thụ cho học sinh giỏi Tiếng Việt ở tiểu học Chúng tôi
Trang 35đã trình bày một số vấn đề bài tập, bài tập rèn kỹ năng, vấn đề cảm thụ văn học, vấn đề năng lực, năng lực học sinh giỏi tiểu học, hệ thống bài tập rén năng lực CTVH Chúng tôi cũng đã khảo sát từ GV và HS, khảo sát chương trình SGK TV tiểu học để làm cơ sở cho các bài tập sau này
Trang 36CHƯƠNG 2 XÂY DỰNG VÀ TỔ CHỨC THỰC HIỆN CÁC BÀI TẬP RÈN NĂNG LỰC CẢM THỤ VĂN HỌC CHO HỌC SINH GIỎI TIỂU HỌC
Bồi duỡng năng lực CTVH cho học sinh trước hết phải cho học sinh tiếp xúc với tác phẩm một cách có hiệu quả để kích thích hứng thú thẩm mỹ
và năng lực thẩm mỹ của các em GV là người gợi mở, dẫn dắt các em tiếp xúc với tác phẩm trong chương trình, tôn trọng những suy nghĩ, cảm xúc chân thật, ngây thơ của trẻ và nâng chúng lên ở chất lượng cao hơn Để giải
mã văn chương, phải chú trọng các đặc điểm diễn đạt hàm ẩn, cách nói biểu trưng, tính đa nghĩa, những cách nói hướng đến gây ấn tượng khác với ngôn ngữ đời thường
Dạy CTVH là dạy HS cảm nhận những giá trị nổi bật, những điều tế nhị, sâu sắc, đẹp đẽ của từ ngữ, câu văn, câu thơ Muốn thực hiện nhiệm vụ này, GV cần xây dựng hệ thống bài tập bồi dưỡng năng lực CTVH cho HS Bài tập bồi dưỡng năng lực CTVH là hệ thống câu hỏi được sử dụng ở phần tìm hiểu bài trong các giờ Tập đọc Ngoài ra, HS phải có trí tưởng tượng và biết cách diễn đạt những cảm nhận của mình bằng ngôn ngữ mạch lạc, gợi cảm, trong sáng
Sau đây là một số dạng bài tập để rèn năng lực cảm thụ văn học cho học sinh giỏi tiểu học
A Hệ thống bài tập
2.1 Nhóm bài tập luyện kỹ năng đọc văn bản nghệ thuật
2.1.1 Bài tập luyện đọc diễn cảm, đọc thầm, đọc nhập vai
Một trong những biện pháp để bồi dưỡng năng lực CTVH cho HS giỏi Tiếng Việt là đọc diễn cảm, đọc thầm, đọc nhập vai Nó giúp HS nâng cao nhận thức thẩm mĩ và kích thích các em khám phá ra cái hay, cái đẹp của văn
Trang 37chương Đọc diễn cảm là sự kết hợp giữa ngữ điệu đọc và các yếu tố như nét mặt, cử chỉ, điệu bộ, ánh mắt nhằm diễn tả nội dung và gây cảm xúc cho HS Đọc diễn cảm phải làm nổi bật được nhân vật trữ tình, nói lên tiếng nói của nhân vật trữ tình trong tác phẩm
Muốn đọc đúng, đọc diễn cảm, HS phải nắm được các thao tác sau:
- Đọc rõ tiếng, rõ lời, phải đúng chính âm (đây là yêu cầu quan trọng nhất khi đọc diễn cảm)
- Ngắt giọng biểu cảm
- Ngữ điệu phù hợp
- Thể hiện nét mặt, điệu bộ đúng với nhân vật trữ tình trong thơ, người
kể chuyện, dẫn chuyện trong truyện
- Chú ý tốc độ và âm lượng
Bài tập 1:
Đọc diễn cảm bài thơ:
Tre Việt Nam
Tre xanh Xanh tự bao giờ?
Truyện ngày xưa … đã có bờ tre xanh
Thân gầy guộc, lá mong manh
Mà sao nên luỹ, nên thành tre ơi?
Ở đâu tre cũng xanh tươi Cho dù cát sỏi đá vôi bạc màu?
Có gì đâu, có gì đâu
Mỡ màu ít, chắt dồn lâu hoá nhiều
Rễ siêng không ngại đất nghèo Tre bao nhiêu rễ bấy nhiêu cần cù
Trang 38Vươn mình trong gió tre đu Cây kham khổ vẫn hát ru lá cành
Yêu nhiều nắng nỏ trời xanh Tre xanh không đứng khuất mình bóng râm Bão bùng thân bọc lấy thân
Tay ôm tay níu tre gần nhau thêm
Thương nhau tre ch ng ở riêng Luỹ thành từ đó mà nên hỡi người
Ch ng may thân gãy cành rơi Vẫn nguyên cái gốc truyền đời cho măng
Nòi tre đâu chịu mọc cong Chưa lên đã nhọn như chông lạ thường
Lưng trần phơi nắng phơi sương
Có manh áo cộc, tre nhường cho con
Măng non là búp măng non
Đã mang dáng th ng, thân tròn của tre Năm qua đi, tháng qua đi
Tre già măng mọc có gì lạ đâu
Mai sau, Mai sau, Mai sau, Đất xanh tre mãi xanh màu tre xanh
Yêu cầu luyện tập
a, Đọc thầm nhiều lượt để tìm hiểu nội dung và cách đọc
Trang 39- Đoạn “Tre xanh … bạc màu” Các câu hỏi được dùng với mục đích gì? Cách đọc những câu hỏi đó ra sao? Xác định nhịp thơ và chỗ nghỉ hơi khi đọc diễn cảm
- Đoạn “Có gì đâu … hát ru lá cành” Nội dung có ý trả lời cho câu hỏi nào ở đoạn 1 Cần đọc ngắt nhịp từng dòng thơ ra sao? Cần nhấn mạnh hay đọc hơi kéo dài những từ ngữ nào để làm rõ nội dung?
- Đoạn “Yêu nhiều … thân tròn của tre” Nội dung có ý trả lời cho câu hỏi nào ở đoạn 1? Cần nhấn mạnh những từ ngữ nào để làm rõ nội dung? Các dòng 6 tiếng ngắt nhịp như thế nào? Các dòng 8 tiếng ngắt nhịp ra sao? Khi đọc diễn cảm những tiếng vần với nhau trong câu thơ lục bát thường hơi nhấn giọng để gợi điều gì?
- Đoạn “Năm qua đi … xanh màu tre xanh” Cách ngắt nhịp, nghỉ hơi ở đoạn này có gì đặc biệt? Cần đọc nhân giọng ở những từ ngữ nào để làm nổi bật ý thơ?
b, Ghi ký hiệu và lời chỉ dẫn đọc diễn cảm bài thơ, sau đó tiến hành luyện đọc
- Ghi ký hiệu đọc trong bài: ngắt nhịp thơ (/), nghỉ hơi (//), nhấn giọng hoặc kéo dài (-), cao giọng ( ), thấp giọng ( )
- Ghi lời chỉ dẫn đọc ở cột dọc từng khổ thơ, chú ý về cách đọc và cảm xúc khi đọc
Bài tập 2:
Đọc diễn cảm bài thơ:
Tiếng đàn Ba-la-lai-ca trên sông Đà
Trên sông Đà Một đêm trăng chơi vơi Tôi đã nghe tiếng Balalaica
Trang 40Một cô gái Nga mái tóc màu hạt dẻ Ngón tay đan trên những sợi dây đàn
Lúc ấy
Cả công trường say ngủ cạnh dòng sông Những tháp khoan nhô lên trời mà ngẫm nghĩ Những xe ủi xe ben sóng vai nhau nằm nghỉ Chỉ còn tiếng đàn ngân nga
Với một dòng trăng lấp lánh sông Đà
Ngày mai
Chiếc đập lớn, nối liền hai khối núi Biển sẽ nằm bỡ ngỡ giữa cao nguyên Sông Đà chia ánh sáng đi muôn ngả
Từ công trình thủy điện lớn đầu tiên
Quang Huy
Yêu cầu luyện tập
a, Đọc thầm nhiều lượt để tìm hiểu nội dung và cách đọc
- Đoạn 1: “Trên sông Đà … sợi dây đàn” tả đêm trăng và hình ảnh cô gái Nga có những nét gì đẹp? Cần đọc nhấn giọng những từ ngữ nào để diễn cảm giọng? Những tiếng nào cần đọc hơi kéo dài để diễn tả rõ nội dung? Nên ngắt nhịp các câu thơ và đọc với giọng điệu như thế nào cho phù hợp
- Đoạn 3: “ Ngày mai … đầu tiên” cần lưu ý những điểm gì về cách đọc (ngắt hơi, nhấn giọng, biểu lộ cảm xúc …) để diễn tả sự đổi thay của sông Đà trong tương lai
b, Ghi ký hiệu và lời chỉ dẫn đọc diễn cảm bài thơ, sau đó tiến hành luyện đọc