1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Dạy học yếu tố hình học ở các lớp 1, 2, 3 theo hướng hình thành và phát triển trí tưởng tượng không gian cho học sinh

89 768 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 89
Dung lượng 1,42 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

25 2.1 Những yêu cầu cơ bản đối với hoạt động học tập hình học các lớp 1, 2, 3 theo hướng hình thành và phát triển trí tưởng tượng không gian cho học sinh.. 52 2.3 Một số lưu ý với giáo

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2

NGUYỄN HƯƠNG GIANG

DẠY HỌC YẾU TỐ HÌNH HỌC Ở CÁC LỚP 1, 2, 3

THEO HƯỚNG HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN TRÍ TƯỞNG TƯỢNG KHÔNG GIAN CHO HỌC SINH

Chuyên ngành: Giáo dục học (bậc tiểu học)

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành đề tài này tôi xin chân thành cảm ơn: Sự hướng dẫn và giúp đỡ tận tình của PGS.TS Đỗ Tiến Đạt, sự giúp đỡ nhiệt tình của các đồng nghiệp và học sinh trường tiểu học Việt Nam - Singapore Trong quá trình làm khóa luận không tránh khỏi những thiếu sót, rất mong được sự đóng góp

ý kiến từ các thầy cô và các đồng nghiệp Tôi xin chân thành cảm ơn

Hà Nội, tháng 10 năm 2014

Tác giả luận văn

Nguyễn Hương Giang

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, được hoàn thành với sự hướng dẫn và giúp đỡ tận tình của nhiều nhà khoa học Các số liệu, kết quả được trình bày trong luận án là trung thực Những kết luận khoa

học của luận văn chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Tác giả luận văn

Nguyễn Hương Giang

Trang 4

MỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN 1

LỜI CAM ĐOAN 2

MỞ ĐẦU 5

1 Lý do chọn đề tài 5

2 Mục đích nghiên cứu 7

3 Nhiệm vụ nghiên cứu 7

4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 7

5 Phương pháp nghiên cứu 7

6 Giả thuyết khoa học 8

7 Những đóng góp của luận văn 8

NỘI DUNG 9

CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 9

1.1 Cơ sở lí luận 9

1.1.1 Khái niêm về tưởng tượng 9

1.1.2 Trí tưởng tượng không gian 9

1.1.2.1 Trí tưởng tượng không gian là gì? 9

1.1.2.2 Dạy học trực quan với trí tưởng tượng không gian 11

1.1.2.3 Vai trò của trí tưởng tượng không gian 15

1.2 Cơ sở thực tiễn 16

CHƯƠNG II: CÁC HOẠT ĐỘNG HỌC TẬP HÌNH HỌC NHẰM HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN TRÍ TƯỞNG TƯỢNG KHÔNG GIAN CHO HỌC SINH CÁC LỚP 1, 2, 3 THÔNG QUA VIỆC DẠY HỌC CÁC YẾU TỐ HÌNH HỌC 25

2.1 Những yêu cầu cơ bản đối với hoạt động học tập hình học các lớp 1, 2, 3 theo hướng hình thành và phát triển trí tưởng tượng không gian cho học sinh 25

2.1Xây dựng và tổ chức hoạt động học tập hình học ở các lớp 1, 2, 3 nhằm hình thành và phát triển trí tưởng tượng không gian cho học sinh 27

Trang 5

2.2.1 Nội dung chương trình dạy học các yếu tố hình học cho học sinh

các lớp 1, 2, 3 27

2.2.2 Nhiệm vụ dạy học các yếu tố hình học ở bậc tiểu học 27

2.2.2.1 Hình thành các biểu tượng về các hình hình học 27

2.2.2.2Phát triển trí tưởng tượng không gian, năng lực tư duy và kỹ năng thực hành hình học 28

2.2.3 Xây dựng và tổ chức hoạt động học tập hình học ở các lớp 1, 2, 3 nhằm hình thành và phát triển trí tưởng tượng không gian cho học sinh 28

2.2.3.1 Xây dựng và tổ chức hoạt động học tập với các bài toán nhận dạng, phân loại hình 29

2.2.3.2 Xây dựng và tổ chức hoạt động học tập với các bài toán về vị trí tương đối 37

2.2.3.3 Xây dựng và tổ chức hoạt động học tập với các bài toán về xếp, ghép hình, lát nền phẳng 39

2.2.3.4Xây dựng và tổ chức hoạt động học tập với các bài toán vẽ hình. 48

2.2.3.5Xây dựng và tổ chức hoạt động học tập với các bài toán về chu vi và diện tích một hình 52

2.3 Một số lưu ý với giáo viên về phương pháp dạy học trong quá trình tổ chức hoạt động học tập hình học ở các lớp 1, 2, 3 theo hướng hình thành và phát triển trí tưởng tượng không gian cho học sinh 66

CHƯƠNG 3:THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 70

3.1 Mục đích, đối tượng thực nghiệm sư phạm 70

3.1.1 Mục đích thực nghiệm 70

3.1.2 Đối tượng thực nghiệm 70

3.2 Nội dung thực nghiệm 70

3.3 Kết quả thực nghiệm 80

KẾT LUẬN 86

TÀI LIỆU THAM KHẢO 87

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Đất nước ta đang trong quá trình hội nhập quốc tế trên tất cả các mặt của đời sống xã hội Từ kinh tế, văn hóa…đến giáo dục Ngày nay, ta thường nghe nói nhiều tới cụm từ “Kinh tế tri thức”, thực sự kinh tế tri thức có vai trò ngày càng quan trọng và nổi bật trong quá trình phát triển lực lượng sản xuất

Và giáo dục vẫn luôn luôn là sự quan tâm hàng đầu, là nền tảng của sự phát triển bền vững của cả dân tộc Phát triển nguồn nhân lực đáp ứng nhu cầu xã hội hiện đại đóng vai trò chủ yếu trong việc nâng cao ý thức dân tộc, tinh thần trách nhiệm và năng lực của thế hệ hiện nay và mai sau

Quá trình hội nhập quốc tế đòi hỏi giáo dục Việt Nam phải nhanh chóng tiếp cận với các xu thế mới, những phương pháp tổ chức, nội dung giảng dạy hiện đại và tận dụng các kinh nghiệm của quốc tế để đổi mới và phát triển mạnh mẽ nhất là trong việc thực hiện nhiệm vụ đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao và có thể tiến kịp với bạn bè quốc tế

Luật giáo dục được quốc hội nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 2/12/2009 đã nêu rõ “Giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu, là sự nghiệp của đất nước và của toàn dân” Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng đã chỉ ra “Giáo dục và đào tạo khoa học, công nghệ được coi là quốc sách hàng đầu nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài.” Đại hội X của Đảng tiếp tục khẳng định giáo dục và đào tạo

là một trong những động lực thúc đẩy công nghiệp hóa, hiện đại hóa, là điều kiện để phát huy nguồn lực con người – yếu tố cơ bản để phát triển xã hội, tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững

Trang 7

Trong các bậc học phổ thông nói chung và Tiểu học nói riêng, môn toán là một môn học có vị thế quan trọng, là môn học có ưu thế trong việc góp phần phát triển năng lực tư duy, khả năng suy luận hợp lý, trí tưởng tượng không gian Để có được điều này, nội dung chương trình toán học đã, đang hướng tới là việc xây dựng nội dung chương trình logic, hợp lý, và ngày càng gắn với thực tiễn cuộc sống

Trong nội dung chương trình học các lớp 1, 2, 3, mảng kiến thức hình học thực sự là mảng kiến thức cần thiết và vô cùng thiết thực với học sinh Nó giúp học sinh phát triển năng lực tư duy, khả năng quan sát, kĩ năng thực hành hình học, trí tưởng tượng không gian, đặt nền móng vững chắc cho các em khi học môn hình học sau này ở các cấp học cao hơn Như đã nói ở trên, các tri thức khoa học ngày càng gắn với thực tiễn, và thực tiễn trong hình học chính

là các hình, các khối, các bài toán gắn với các hình không gian trong thực tế

Chính vì vậy, tôi chọn đề tài: “Dạy học yếu tố hình học ở các lớp 1, 2, 3 theo hướng hình thành và phát triển trí tưởng tượng không gian cho học sinh”

Trang 8

2 Mục đích nghiên cứu

Xây dựng và tổ chức các hoạt động học tập hình học các lớp 1, 2, 3 nhằm hình thành và phát triển trí tưởng tượng không gian cho học sinh

3 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Nghiên cứu cơ sở lí luận: Đề tài nghiên cứu cơ sở lí luận về trí tưởng tượng không gian và đặc điểm phát triển trí tưởng tượng không gian ở học sinh các lớp 1, 2, 3, các khái niệm liên quan đến trí tưởng tượng không gian

- Xây dựng một số các hoạt động học tập hình học nhằm hình thành và phát triển trí tưởng tượng không gian cho học sinh các lớp 1, 2, 3

- Thực nghiệm sư phạm nhằm kiểm nghiệm tính đúng đắn của giả thuyết khoa

học và tính khả thi của các biện pháp được đề tài nghiên cứu và đề xuất

4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

-Học sinh các lớp 1, 2, 3

-Mạch kiến thức hình học trong chương trình các lớp 1, 2, 3

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Nội dung dạy học mạch kiến thức hình học theo hướng không gian

5 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp quan sát: dự giờ, quan sát, ghi biên bản và rút kinh nghiệm các giờ dạy toán ở tiểu học

Trang 9

- Nghiên cứu lý luận: Nghiên cứu cơ sở phương pháp luận, các tài liệu liên quan vào việc dạy môn toán nói chung và việc dạy các bài toán mang nội dung hình học

- Phương pháp điều tra: Tiến hành đối với các giáo viên tiểu học

- Phương pháp thực nghiệm sư phạm: Tiến hành thực nghiệm sư phạm tại trường Tiểu học Việt Nam – Singapore, Ciputra, Hà Nội để bước đầu kiểm tra tính khả thi và hiệu quả của đề tài

6 Giả thuyết khoa học

Khi xây dựng và tổ chức các hoạt động học tập hình học ở các lớp 1, 2, 3 nhằm hình thành và phát triển trí tưởng tượng không gian cho học sinh sẽ góp phần nâng cao chất lượng dạy học chủ đề hình học cho học sinh, giúp học sinh có những tri thức thực tế hơn về mảng hình học

7 Những đóng góp của luận văn

Hình thành cơ sở lý luận để nâng cao chất lượng học tập mảng kiến thức hình học cho học sinh các lớp 1, 2, 3 theo hướng hình thành và phát triển trí tưởng tượng không gian cho học sinh

Đưa ra cách tiếp cận mảng kiến thức hình học gắn với thực tiễn cho học sinh các lớp 1, 2, 3

Trang 10

NỘI DUNG CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

1.1 Cơ sở lí luận

1.1.1 Khái niêm về tưởng tượng

Trong thực tiễn, nhiều khi gặp hoàn cảnh có vấn đề, nếu chỉ bằng tư duy, con người không thể giải quyết được Trong những trường hợp này, con người phải dùng một phương thức hoạt động khác, đó là nhận thức bằng tưởng tượng

Tưởng tượng là quá trình nhận thức phản ánh những sự vật và hiện tượng chưa có kinh nghiệm, bằng cách xây dựng những hình ảnh mới trên cơ sở những hình ảnh đã có

Hình ảnh mới của tưởng tượng là hình ảnh đã có của trí nhớ được gọi là biểu tượng Biểu tượng của tưởng tượng là những hình ảnh mới, khái quát do con người tự tạo ra Còn biểu tượng của trí nhớ là hình ảnh của sự vật hiện tượng trước đây đã tác động vào não nay nhớ lại, tái hiện lại Biểu tượng của tưởng tượng được tạo ra trên cơ sở những biểu tượng của trí nhớ

Tưởng tuợng của con người phụ thuộc vào những đặc điểm tâm lý của cá nhân như tri giác, tư duy, tình cảm, hứng thú, năng khiếu…Và phụ thuộc vào thực tiễn của cuộc sống, kinh nghiệm chung của xã hội loài người

1.1.2 Trí tưởng tượng không gian

1.1.2.1 Trí tưởng tượng không gian là gì?

Trong đời sống cũng như trong học tập môn toán, đặc biệt là học tập yếu

tố hình học, học sinh phải thường xuyên tiến hành các thao tác tư duy, bên cạnh đó các em cũng luôn luôn phải thực hiện một hoạt động trí óc đặc biệt nữa là trí tưởng tượng không gian

Trang 11

“Tưởng tượng không gian là một quá trình biến đổi trong óc các biểu tượng không gian đã có nhằm xây dựng các biểu tượng không gian mới” Trí tưởng tượng không gian không được coi là một thao tác tư duy, nó là một thành phần của năng lực toán học và là một hoạt động trí óc không thể thiếu khi học tập nghiên cứu về yếu tố hình học Các trò chơi xếp hình của trẻ

em như xếp ngôi nhà, đường đi đến các bài toán cắt ghép hình của học sinh tiểu học là những ví dụ tiêu biểu, học sinh không thể tự làm bằng tay ngay được mà phải nhờ trí tưởng tượng không gian hình dung ra được đường cắt và hình phải ghép mới có thể tiến hành cắt ghép được

Trí tưởng tượng không gian được phát triển theo các mức độ khác nhau ở các lứa tuổi, sự tích luỹ những kiến thức, kĩ năng, kinh nghiệm thực tiễn làm cho vốn biểu tượng không gian ngày càng phong phú Ở lứa tuổi học sinh các lớp đầu tiểu học, hoạt động tưởng tượng không gian có quan hệ mật thiết và đồng thời xảy ra với các thao tác tư duy phân tích, tổng hợp, so sánh, trừu tượng hoá và khái quát hoá Nhà giáo dục học Cruchexki trong “Tâm lí học năng lực toán học” cho biết “có 57% giáo viên cho rằng: học sinh giỏi là những học sinh có trí tưởng tượng không gian phát triển” Như vậy không phải bất cứ học sinh nào cũng có trí tưởng tượng không gian phát triển không gian rõ ràng và sinh động

Đối với học sinh các lớp 1, 2, 3, những kiến thức sẵn có và những biểu tượng không gian có được do sự quan sát trực quan trong cuộc sống hay được hình thành trong quá trình học tập khá phong phú, song còn ở mức sơ giản Những biểu tượng sẽ mang tính chất liên kết, gắn kết các biểu tượng không gian đã có và phức tạp hơn rất nhiều Do vậy có thể hình thành và phát triển các biểu tượng không gian và trí tưởng tượng không gian theo các mức độ sau:

Trang 12

+ Giới thiệu hình ảnh về các biểu tượng để học sinh nhận biết các biểu tượng qua các hình ảnh thực tế

+ Hình thành biểu tượng không gian

+Tái hiện trong óc những biểu tượng không gian, quan hệ không gian quen thuộc nhờ thiết lập sự tương ứng giữa nội dung của biểu tượng với giả thiết được đưa ra, và bắt đầu hình thành mối liên hệ giữa tri thức mới với biểu tượng không gian

+ Hình thành biểu tượng không gian mới cụ thể, chính xác và có thể mô

tả bằng ngôn ngữ những tính chất, quan hệ không gian của biểu tượng không gian mới

+ Có sự tổng hợp các biểu tượng không gian theo hệ thống để dễ nhớ và phân biệt các biểu tượng không gian, có sự hoạt động trí óc với các biểu tượng không gian thông qua hệ thống bài tập

Với các đặc điểm trên, phương hướng cơ bản để hình thành và phát triển trí tưởng tượng không gian cho học sinh tiểu học trong học tập hình học là: + Giới thiệu hình ảnh về các biểu tượng để học sinh nhận biết các biểu tượng qua các hình ảnh thực tế

+ Hình thành biểu tượng không gian, khái quát hoá hệ thống biểu tượng không gian theo những mục đích học tập khác nhau

+ Thường xuyên thực hiện các hoạt động trí óc với biểu tượng không gian, nâng dần độ phức tạp của các hình biểu diễn, biết liên hệ và ứng dụng vào thực tiễn của cuộc sống

1.1.2.2 Dạy học trực quan với trí tưởng tượng không gian

Toán học là một khái niệm mang tính trừu tượng cao độ, nhưng để đạt được những kết quả trừu tượng đó người học toán phải tư duy trên những cái

cụ thể Bản thân các tri thức khoa học nói chung và tri thức toán học nói riêng

là sự thống nhất giữa cái cụ thể và cái trừu tượng Muốn cho việc dạy học đạt

Trang 13

hiệu quả tốt thì cần khuyến khích và tạo điều kiện cho học sinh thường xuyên tiến hành hai quá trình thuận nghịch nhưng liên hệ mật thiết với nhau là trừu tượng hoá và cụ thể hoá

Việc chiếm lĩnh một nội dung trừu tượng cần kèm theo sự minh hoạ nó với những cái cụ thể Mặt khác khi làm việc với những cái cụ thể cần hướng

về những cái trừu tượng, có như vậy mới gạt bỏ những dấu hiệu không bản chất, gạt bỏ được những cái cá biệt để nắm được quy luật

Trong dạy học toán, trực quan đóng vai trò quan trọng vừa là phương tiện gợi động cơ hoạt động, vừa giúp giáo viên trình bày dễ hiểu các kiến thức khi đưa ra được minh hoạ từ những vật liệu thực tế và học sinh sẽ dễ dàng tiếp thu các kiến thức mà không bị thụ động Đặc biệt trong những giai đoạn đầu của việc tiếp thu kiến thức mới người ta đảm bảo cho học sinh một chỗ dựa cảm tính rộng rãi, rồi chỗ dựa cảm tính đó dần dần bị thay thế và cuối cùng khi đã tạo ra tiền đề cho việc hình thành khái niệm và thao tác trừu tượng thì trực quan biến mất hoàn toàn Như vậy việc sử dụng trực quan trong dạy học toán cần chú ý những nét đặc thù là: Trực quan chỉ là chỗ dựa để dự đoán, khám phá chứ không phải là phương tiện chứng minh những mệnh đề toán học, cần làm cho học sinh tránh ngộ nhận những điều phát hiện nhờ trực giác, hình thành cho người học nhu cầu và thói quen chứng minh chặt chẽ những phát hiện như vậy

Do đó vận dụng phương tiện trực quan trong dạy học Toán đòi hỏi phải thực hiện các yêu cầu sau:

+ Không dùng phương tiện trực quan một cách tràn lan, không lạm dụng

mà chỉ sử dụng chúng ở những chỗ học sinh gặp khó khăn khi lĩnh hội những cái trừu tượng

+ Khi sử dụng phương tiện trực quan luôn phải hướng học sinh suy nghĩ cái trừu tượng và đích cuối cùng là phải vươn tới cái trừu tượng

Trang 14

+ Khi sử dụng phương tiện trực quan hỗ trợ học sinh làm việc với một tri thức trừu tượng người thầy cần phải có kế hoạch để tới lúc học trò có thể hoạt động với tri thức trừu tượng ngay cả khi đã mất đi chỗ dựa trực quan

Dạy học trực quan có một vai trò quan trọng trong việc phát triển trí tưởng tượng không gian cho học sinh Bởi lẽ vận dụng trực quan trong dạy học toán đáp ứng nhu cầu của con đường nhận thức “từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng” Không có sự mô tả bằng những cái cụ thể thì những kiến thức trừu tượng chỉ còn là hình thức sáo rỗng Trực quan giúp học sinh kiểm tra tính chính xác của tư duy, của tưởng tượng, là nguồn nguyên liệu giàu có của trí tưởng tượng không gian, làm cho trí tưởng tượng không gian thêm phong phú, mang tính thực tiễn chính xác và lôgic

Trong dạy học hình học theo hướng phát triển trí tưởng tượng không gian thì trực quan đóng một vai trò đặc biệt vì học sinh lần đầu tiên tiếp xúc với một đối tượng mang tính trừu tượng cao, đánh dấu một bước ngoặt về sự phát triển của tư duy và trí tưởng tượng không gian

Người giáo viên cần phải hiểu khái niệm trực quan trong dạy học một cách chính xác Dạy học trực quan là dạy học dựa trên các hình tượng, trên những cái đã biết của học sinh Công cụ trực quan không chỉ là những đồ vật

tự làm hay có trong thực tế mà hình vẽ, đồ thị, các phần mềm dạy học hay những kiến thức đã biết cũng chính là những công cụ trực quan dùng để chiếm lĩnh những tri thức mới trừu tượng hơn Chẳng hạn Hình học phẳng là những công cụ trực quan của Hình học không gian, do đó trong dạy học Hình học không gian cần quan tâm thiết lập mối quan hệ giữa Hình học không gian (cái trừu tượng) với Hình học phẳng (cái cụ thể) giúp học sinh đưa bài toán Hình học không gian về bài toán phẳng quen thuộc

Bước chuyển tiếp từ hình học phẳng lên hình học không gian là thực

sự khó khăn đối với học sinh, do đó cần thiết phải sử dụng công cụ trực

Trang 15

quan trong dạy học, đặc biệt là ở giai đoạn đầu của việc tiếp thu những khái niệm mới

Có thể thực hiện nguyên tắc trực quan trong dạy học toán bằng những phương pháp sau:

Sử dụng những hiểu biết của học sinh (kiến thức cũ)

Các kiến thức toán học ở giai đoạn nào đó là trừu tượng đối với người học nhưng ở giai đoạn khác lại trở thành cụ thể

Chúng ta nhận thấy vai trò quan trọng của dạy học trực quan trong việc phát triển trí tưởng tượng không gian cho học sinh, nhờ có những điểm tựa trực quan mà khi quan sát một hình biểu diễn của Hình học không gian, người học có thể tưởng tượng ngay một không gian trước mắt bao gồm những phần trông thấy, phần bị khuất, phần bên trong, phần bên ngoài… đánh dấu sự phát triển thêm một bước của trí tưởng tượng không gian của học sinh

Thực tiễn cũng cho thấy đa số học sinh không học tốt các yếu tố không gian là do trí tưởng tượng không gian kém, các biểu tượng không gian mờ nhạt Mặt khác sự phức tạp dần lên của hình biểu diễn khiến các em càng khó hình dung đúng hình và tiến hành tư duy trên hình Vì vậy khi dạy học Hình học, giáo viên cần chỉ cho học sinh cách lựa chọn hình biểu diễn tốt và các cách biến đổi để dễ dàng tư duy tìm lời giai bài toán như tách bộ phận phẳng

ra khỏi không gian, chia nhỏ hình…

Trang 16

1.1.2.3 Vai trò của trí tưởng tượng không gian

Trí tưởng tượng không gian cũng là một hoạt động trí óc thường xuyên được tiến hành trong học tập và trong thực tiễn cuộc sống của con người Không có trí tưởng tượng không gian thì không có sự sáng tạo nào hết Bởi vì cái được sáng tạo là cái mới, cái chưa có nên phải tưởng tượng ra nó Còn các nhà khoa học lại cho rằng trong khoa học sáng tạo, “trí tưởng tượng quan trọng hơn hiểu biết”

Toán học là khoa học trừu tượng, để chiếm lĩnh được những tri thức trừu tượng đó đòi hỏi người học phải có trí tưởng tượng không gian phát triển Mặt khác, giáo dục toán nhằm phát triển suy luận và vun trồng cho học sinh những khả năng trừu tượng hóa, nó mang đến tính chặt chẽ trong tư duy và chính xác trong diễn đạt, nó đưa lại những hiểu biết và những kĩ năng trong lĩnh vực số và hình, kích thích trí tưởng tượng

Ngay từ bậc tiểu học nếu học sinh không được chuẩn bị những khả năng tối thiểu về trí tưởng tượng không gian thì cũng khó có khả năng tiếp thu những kiến thức hình học đơn giản Đặc biệt để học tốt mảng kiến thức hình học theo hướng không gian người học phải có trí tưởng tượng không gian tốt, mềm dẻo và linh hoạt Ngược lại mỗi bài toán hình học theo hướng không gian đòi hỏi rất nhiều thao tác tư duy như: phân tích, so sánh, tư duy trừu tượng, … kết hợp với sự phát huy cao độ của trí tưởng tượng không gian Do

đó, bộ môn mảng kiến thức hình học theo hướng không gian chính là mảnh đất màu mỡ để nuôi dưỡng và phát triển trí tượng không gian

Vì vậy trong dạy học, giáo viên cần chú trọng quan tâm bồi dưỡng những kĩ năng cần thiết để phát triển trí tưởng tượng không gian cho học sinh như: Kĩ năng quan sát tinh tế, ở nhiều góc độ, kĩ năng vẽ hình biểu diễn, và các thao tác tư duy trên hình biểu diễn

Trang 17

1.2 Cơ sở thực tiễn

Trong nội dung chương trình toán hiện hành, tôi nhận thấy các kiến thức

về hình học không gian của các lớp 1, 2, 3 được chia thành các dạng toán sau:

Lớp 1:

+ Nhận dạng hình: Hình vuông, hình tròn, hình tam giác (Tổng quát)

Ví dụ 1: Bài 1 - Trang 10 - Sách giáo khoa Toán 1

Đề bài: Tô màu vào các hình: cùng hình dạng thì cùng một màu

Hình 1

Trang 18

+ Vị trí tương đối của một điểm trong không gian

Ví dụ 2: Bài 1 – Trang 133 - Bài Điểm ở trong, điểm ở ngoài một hình:

Đúng ghi đ, sai ghi s:

Trang 19

+ Xếp hình, ghép hình, lát nền phẳng (Theo mẫu)

Ví dụ 5: Bài 5 – Sách giáo khoa Toán 2 – Trang 135

Đề bài: Xếp 4 hình tam giác thành hình vuông (xem hình vẽ)

Hình 5

+ Vị trí tương đối của ba điểm (Thẳng hàng, không thẳng hàng)

Ví dụ 6: Bài 2 – trang 73 – Sách giáo khoa Toán

Đề bài: Nêu tên ba điểm thẳng hàng (dùng thước thẳng để kiểm tra):

Hình 6

Trang 20

+ Tính chu vi hình tam giác, hình tứ giác

Ví dụ 7: Bài 2 – trang 131 – Sách giáo khoa Toán 2

Đề bài: Tính chu vi tam giác ABC, biết độ dài các cạnh là:

AB = 2cm, BC = 5cm, AC = 4 cm

Hình 7

Lớp 3:

+ Nhận dạng hình (Theo đặc điểm về góc, cạnh)

Ví dụ 8: Bài 1 – Trang 85 – Sách giáo khoa Toán 3

Đề bài: Trong các hình dưới đây, hình nào là hình vuông

Hình 8

+ Vẽ hình theo mẫu

Ví dụ 9: Bài 5 – trang 18 – Sách giáo khoa Toán 3

Đề bài: Vẽ hình theo mẫu:

Trang 21

Hình 9

+ Xếp hình, ghép hình, lát nền phẳng (Theo mẫu)

Ví dụ 10: Bài 4 – Trang 82 – Sách giáo khoa Toán 3

Hình 10

Trang 22

+ Nhận biết, vẽ góc vuông (Bằng ê ke)

Ví dụ 11: Bài 3 – Trang 43 – Sách giáo khoa Toán 3

Đề bài: Hai miếng bìa nào có thể ghép lại đƣợc một góc vuông nhƣ hình

a Tính diện tích mỗi hình chữ nhật có trong hình vẽ

b Tính diện tích hình H

Trang 23

Hình 12

+ Điểm ở giữa, trung điểm của đoạn thẳng

Ví dụ 13: Bài 2 – trang 98 – Sách giáo khoa Toán 3

Đề bài: Câu nào đúng, câu nào sai?

Hình 13

a O là trung điểm của đoạn thẳng AB

b M là trung điểm của đoạn thẳng CD

c H là trung điểm của đoạn thẳng EG

d M là điểm ở giữa hai điểm C và D

e H là điểm ở giữa hai điểm E và G

Trang 24

Như vậy, các kiến thức về hình học, đặc biệt là các kiến thức phát triển trí tưởng tượng không gian cho học sinh còn tương đối dơn giản Qua thực tế giảng dạy tôi thấy, học sinh các lớp này thường rất hứng thú và tỏ ra hào hứng với những bài toán hình học, đặc biệt là các bài toán hình học gắn với thực tiễn, phát triển trí tưởng tượng không gian của các em Nhưng tôi cũng nhận thấy rằng, chương trình hiện hành còn khá nặng nề về phần tính toán, mảng nội dung hình học chưa thực sự được quan tâm Có rất ít các bài học hình học riêng rẽ mà phần nhiều được lồng ghép trong các phần bài tập của các bài học

đại số thông thường Và một điều dễ nhận thấy là hầu hết tất cả các bài tập

hình học thường là yêu cầu học sinh làm theo mẫu, chưa cho học sinh được quyền tự sáng tạo, kiến thức còn chưa gắn với thực tế cuộc sống

Chẳng hạn, các bài xếp, ghép hình theo mẫu:

Ví dụ 14: Bài tập 5 – Sách giáo khoa Toán 2 – Trang 149

Đề bài: Xếp 4 hình tam giác thành hình tứ giác (Xem hình vẽ):

Hình 14

Với bài tập trên, học sinh cũng đã được thực hành, xếp, ghép hình Trong quá trình thực hành, có phát triển được trí tưởng tưởng không gian song còn ở mức độ làm theo Nếu giáo viên có thêm yêu cầu đó là từ bốn hình tam giác trên, các con hãy xếp thành hình một con vật hoặc một đồ vật bất kì mà con

Trang 25

tưởng tương ra, chắc chắn học sinh sẽ rất hứng thú và có thể xếp được các

hình thù khác nhau, chẳng hạn hình con chó, cây thông, cái kẹo…

Hình con chó

Hình 15

Hình cái kẹo

Hình 16

Trang 26

CHƯƠNG II: CÁC HOẠT ĐỘNG HỌC TẬP HÌNH HỌC NHẰM HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN TRÍ TƯỞNG TƯỢNG KHÔNG GIAN CHO HỌC SINH CÁC LỚP 1, 2, 3 THÔNG QUA

VIỆC DẠY HỌC CÁC YẾU TỐ HÌNH HỌC

2.1 Những yêu cầu cơ bản đối với hoạt động học tập hình học các lớp 1, 2,

3 theo hướng hình thành và phát triển trí tưởng tượng không gian cho học sinh

Đối với lứa tuổi đầu cấp I, học sinh vừa bước từ bậc học mầm non – bậc học mà hoạt động chủ yếu là vui chơi sang một cấp học mà giờ đây các giờ học nhiều hơn, kiến thức được nâng cao hơn, hoạt động vui chơi không phát triển, xuống hàng thứ yếu sau hoạt động học tập Điều đó ảnh hưởng đến hệ thần kinh của các em Đặc điểm tâm lý còn biểu hiện đặc trưng nhân cách của học sinh Tiểu học nhất là lớp 1, các em vẫn còn hồn nhiên ngây thơ nhiều khả năng phát triển Việc nhận thức tri thức với học sinh cấp I mang nặng màu sắc cảm tính, cùng quá trình phát triển tâm lý, tình cảm đó được phát triển trên cơ

sở nhận thức ngày càng đúng đắn Lứa tuổi các em dễ tin, tin vào thầy cô mình, tin vào sách, tin những điều nhà trường, gia đình dạy dỗ, giáo dục Trẻ say mê học tập chưa phải đã nhận thức được trách nhiệm với xã hội mà chủ yếu là những động cơ mang tính chất tình cảm như trẻ học được điểm tốt, được thầy cô khen, được bạn mến, bố mệ yêu, Bởi vậy khi dạy trẻ toán học nói chung và các yếu tố hình học nói riêng, cần phải thật cụ thể, chi tiết mà điều này với việc dạy hình học không gian là rất khó Do đó, yêu cầu cơ bản khi dạy cho trẻ là việc dạy cần được tiến hành thường xuyên, liên tục, có sự nâng cao dần về kiến thức Ở lứa tuổi này các em đã có nhận thức riêng lẻ khá phát triển đặc biệt là thị giác Xong trẻ mới chỉ nhận biết và gọi tên hình dạng, màu sắc của sự vật, trẻ chú ý đến chi tiết ngẫu nhiên, chưa có khả năng

Trang 27

quan sát tinh tế, tri giác thiếu mục đích, kế hoạch rõ ràng Trong nhận thức thế giới ở lứa tuổi này chuyển từ tính cụ thể trực quan khi tư duy và tưởng tượng sang tính trừu tượng, khái quát, tưởng tượng của các em phong phú hơn với tuổi mẫu giáo Xong quá trình đó còn tản mạn, ít có tổ chức, hình ảnh tưởng tượng chưa được gọt giũa, còn hay thay đổi chưa được bền vững Lứa tuổi các em dễ cảm xúc trước thế giới, các sự vật và hiện tượng cụ thể hấp dẫn, lời triết lý khô khan, thiếu hình ảnh sinh động, khó gây cảm xúc ở trẻ Trẻ đầu cấp thể hiện cường độ cảm xúc mạnh mẽ dễ xúc động, khó làm chủ tình cảm của mình, tình cảm của các em chưa bền vững Quá ttrình học tập được điều khiển có ý thức, các em thường hay ghi nhớ máy móc, thường học đúng từng câu, từng chữ, chưa biết tổ chức việc ghi nhớ có ý nghiã, chưa biết

sử dụng sơ đồ lôgíc

Vì vậy, việc tổ chức các hoạt động học tập hình học được tổ chức qua các bước từ quan sát và hành động trên các mẫu vật, tích lũy kiến thức, kinh nghiệm nhằm hình thành những biểu tượng hình học, rèn luyện những kĩ năng cần thiết như: nhận dạng, thể hiện các hình, tô màu, vẽ hình, cắt ghép hình, gấp hình, đo đạc và tính toán

Việc dạy học hình học cần gắn với thực tiễn, tận dụng được vốn hiểu biết

sẵn có của học sinh vào quá trình học tập

Một yêu cầu quan trọng khi tổ chức các hoạt động học tập hình học là thu hút được sự chú ý của học sinh, các hoạt động tạo cơ hội cho học sinh được thực hành, được làm Chỉ có như vậy, việc dạy học hình học mới đạt kết quả cao, hiệu quả tốt

Trang 28

2.1 Xây dựng và tổ chức hoạt động học tập hình học ở các lớp 1, 2, 3 nhằm hình thành và phát triển trí tưởng tượng không gian cho học sinh 2.2.1 Nội dung chương trình dạy học các yếu tố hình học cho học sinh các lớp 1, 2, 3

Lớp 1: Nhận biết các hình: hình vuông, hình tam giác Giới thiệu về

điểm, đoạn thẳng, điểm ở trong hay ngoài một hình Thực hành vẽ hình tam giác từ ba điểm không thẳng hàng

Đơn vị đo độ dài xăng-ti-mét Đo và ước lượng độ dài

Lớp 2: Tiếp tục các bài toán về hình vuông và hình tam giác (thêm yếu tố

đỉnh tam giác, đo độ dài đoạn thẳng) Hình chữ nhật, đường gấp khúc, học sinh vẽ hình trên giấy ô vuông với đơn vị ô vuông cho trước

- Học sinh học cách chuyển đơn vị đo độ dài, thực hiện phép tính với số

đo độ dài, thực hành và ước lượng đo độ dài để hỗ trợ cho việc tính chu vi tam giác giữa các đơn vị đo Đo và ước lượng độ dài

- Giới thiệu về lít Đong, đo, ước lượng theo lít

Lớp 3:

- Giới thiệu về đỉnh, góc, cạnh của các hình đã học

- Đo độ dài, cộng trừ các đoạn thẳng

- Nhận biết các hình đơn giản: điểm, đoạn thẳng, đường thẳng, đường gấp khúc, hình vuông, hình chữ nhật, hình tứ giác, hình tròn Chu vi hình tam giác, hình tứ giác Giới thiệu về góc vuông và góc không vuông, giới thiệu về

ê ke, vẽ góc bằng thước thẳng và êke Lập bảng các đơn vị đo độ dài

- Đơn vị đo diện tích: xăng-ti-mét vuông

2.2.2 Nhiệm vụ dạy học các yếu tố hình học ở bậc tiểu học

2.2.2.1 Hình thành các biểu tượng về các hình hình học

- Các đối tượng hình học được mô tả theo những đặc điểm của chúng giúp cho học sinh phân biệt được những dấu hiệu bản chất và dấu hiệu không bản chất của hình

Trang 29

- Tùy theo thời kì học tập, học sinh nhận dạng hình phân biệt (đơn hình) hoặc nhận dạng hình trong những hình có chứa nhiều đối tượng hình học khác nhau (cấu hình) Học sinh vẽ, tạo được những hình hình học trên giấy kẻ ô vuông hoặc trên giấy không kẻ ô vuông Một số tính chất của hình sẽ dần dần được phát hiện nhờ những thao tác qua các hoạt động hình học như đo đạc,

2.2.3 Xây dựng và tổ chức hoạt động học tập hình học ở các lớp 1, 2, 3 nhằm hình thành và phát triển trí tưởng tượng không gian cho học sinh

Ở các lớp 1, 2, 3 tựu chung lại, các dạng bài hình học để phát triển trí tưởng tượng không gian cho học sinh bao gồm:

Trang 30

Sau đây, tôi xin đưa ra một số ý kiến để xây dựng và tổ chức hoạt động học tập hình học ở các lớp 1, 2, 3 nhằm hình thành và phát triển trí tưởng tượng không gian cho học sinh theo các dạng bài hình học được nêu trên

2.2.3.1 Xây dựng và tổ chức hoạt động học tập với các bài toán nhận dạng, phân loại hình

Như đã nêu trên, các bài toán nhận dạng hình trong chương trình toán lớp 1, 2, 3 hiện nay, chủ yếu tập trung vào việc giúp học sinh nhận dạng và phân biêt các hình đơn giản Giáo viên bằng cách này hay cách khác, nhưng phương pháp thường thấy để dạy học phần này đó là:

Trước hết, giáo viên cho học sinh quan sát, tiếp xúc với hình ảnh trực quan, các đồ vật có hình dáng của các hình cần nhận biết: Hình vuông, hình tròn, hình tam giác, hình chữ nhật, hình tứ giác…Gọi tên, giới thiệu tên các hình tới học sinh

Chuyển từ việc nhận dạng các hình qua các đồ vật, hình ảnh trực quan sang các hình được vẽ trên giấy

Làm các bài tập nhận dạng hình như tô màu hình, đếm hình, kẻ thêm các đoạn thẳng để được hình thích hợp…

Đối với học sinh lớp 2, 3, khi yêu cầu nhận dạng hình đã có bước chuyển tiếp khó hơn đó là nhận dạng hình dựa vào đặc điểm của cạnh (Lớp 2), các đặc điểm về góc, cạnh (Lớp 3) thì trước tiên học sinh cũng cần phân biệt được các hình ở dạng tổng quát, trên cơ sở đó, quay ngược lại đối chiếu vói các đặc điểm về cạnh, về góc và hoàn toàn có thể tự tìm ra được quy luật, về đặc điểm nhận dạng đặc trưng của các hình

Như vậy, việc dạy học theo các bước trên, đảm bảo nguyên tắc dạy học

từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng Đảm bảo được sự logic đối với

Trang 31

nhận thức của trẻ Nhưng ở đây, có thể thấy, với cách làm này, ta đảm bảo được sự an toàn về kiến thức, trẻ nào cũng sẽ nhận biết được các hình mà cô giới thiệu song để trẻ phát huy được sự sáng tạo, phát triển được trí tưởng tượng không gian của học sinh thì giáo viên cần phải làm được nhiều hơn, tổ chức được nhiều hoạt động hơn trong quá trình học tập Chẳng hạn:

Khi dạy học sinh nhận biết hình tam giác (Lớp 1) Giáo viên có thể tổ chức các hoạt động học tập như sau:

Bước 1: Đưa ra các hình ảnh trực quan của các vật có hình dạng của hình tam giác như biển báo giao thông, thước ê ke, lá cờ…và giới thiệu, các đồ vật trên có hình tam giác Hình 17

(Không phải hình tam giác nào cũng giống nhau)

Giáo viên đưa hình ảnh trực quan: có tam giác cân, đều, vuông, thường, màu sắc khác nhau, kích thước khác nhau, xoay hình Việc làm này giúp học sinh có cái nhìn đa chiều về việc nhận dạng hình tam giác

Trang 33

Sau khi học sinh xếp xong, hỏi lại: Con cần dùng những hình gì để xếp được hình ngôi nhà?

Bước 6: Với các hình đã biết, xếp hình tùy ý và giới thiệu với bạn bên cạnh về hình mình xếp được

Trên đây là một ví dụ cụ thể về việc tổ chức các hoạt động học tập để phát huy trí tưởng tượng không gian của học sinh trong một bài học cụ thể Dưới đây, tôi xin đưa ra một số các hoạt động khác có thể vận dụng trong quá trình dạy học các bài toán nhận dạng ở lớp 1, 2, 3 nhằm hình thành và phát triển trí tưởng tượng không gian cho trẻ

Hoạt động 1: Tô màu hình

Hoạt động tô màu hình giúp học sinh phân biệt được các hình hình học một cách tiêng rẽ hay trong một cấu hình

Ví dụ15: Hình nào giống nhau thì tô cùng một màu:

Hình 21

Ví dụ 16: Hãy tô màu theo yêu cầu sau:

Trang 34

Con hãy miêu tả các hình cùng màu đó giống nhau nhƣ thế nào?

Hình 22

Ví dụ 17:

a Tô màu xanh vào hình chữ nhật, màu đỏ vào hình tam giác

Hình 23

Trang 35

b Điền “ở trên” hay ở dưới vào…

Hình tam giác………… hình chữ nhật

Hình chữ nhật……… … hình tam giác

Hoạt động 2: Trò chơi “ai nhanh hơn, ai nhớ hơn”

Giáo viên hoặc học sinh nêu ra 1 hình hình học đã học, các học sinh khác tìm tất cả các đồ vật có hình dạng giống hoặc gần giống với hình đó

Hình tròn: vòng tay, đồng hồ, hộp bánh, cái gương, đồng xu, cái bánh,… Hình vuông: viên gạch hoa, hộp quà

Hình chữ nhật: quyển vở, cửa sổ, cái bảng,…

Hình tam giác: biển báo giao thông, ngọn núi, cái cờ, …

Hoạt động 4: Chiếc hộp kì diệu

Đặt các hình như hình tròn, hình vuông, hình chữ nhật, hình tam giác, tứ giác trong túi và yêu cầu 1 học sinh lên chọn một hình bất kì (Chỉ học sinh đó

và giáo viên biết) Học sinh phải đưa ra những miêu tả, những gợi ý cho các học sinh dưới lớp đoán xem đó là hình gì

Hoạt động 5: Xếp que kem (Xếp que diêm)

Yêu cầu học sinh từ các que diêm, xếp hình theo mẫu

Trang 36

Từ các hình học sinh ghép đƣợc, yêu cầu học sinh di chuyển một vài que diêm để đƣợc các hình khác

Khuyến khích học sinh tạo ra các hình theo ý thích từ que diêm Câu hỏi:

“Hình con tạo là hình gì? Nó có bao nhiêu que? Điều gì xảy ra khi con bỏ bớt

đi một que diêm? Nó có dạng hình khác không?”

Giơ cho học sinh xem một phần của một hình Câu hỏi: “Hình này bị mất

đi một phần, cô không biết hình ban đầu là hình gì Con thử vẽ một phần bị mất đó Tại sao con nghĩ nó sẽ nhƣ vậy? Nó có thể khác đƣợc không?”

Ví dụ 18: Một phần của hình tam giác:

Hình 24

Trang 37

Hoạt động 8: Đoán hình

Sử dụng máy chiếu tạo hiệu ứng cho một hình hiện ra dần dần Khuyến khích trẻ đoán hình trong mỗi di chuyển hiện ra Câu hỏi: “Con xem đó là hình gì? Tại sao con nghĩ nó là hình chữ nhật? Tại sao con không nghĩ nó là hình tam giác nữa, tại sao con không nghĩ nó là hình vuông?”

Trang 38

Hoạt động 10: Vẽ và tô màu tranh sử dụng các hình đã học

Cho học sinh tự do vẽ những đồ vật, con vật, vẽ tranh hay hình tưởng tượng của riêng mình chỉ sử dụng các hình đã học (Không cần dùng thước) Sau khi trẻ vẽ và tô màu xong, tạo điều kiện cho trẻ được lên nói trước lớp về ý tưởng của mình, hỏi trẻ đã dùng những hình gì cho bức vẽ của mình Điều này phát huy tối đa khả năng tưởng tượng cũng như tạo được hứng thú học tập của trẻ

2.2.3.2 Xây dựng và tổ chức hoạt động học tập với các bài toán về vị trí tương đối

Khi nói đến vị trí tương đối, không thể không nhắc tới vị trí tương đối của một vật, một chủ thể trong không gian, trước khi xét tới vị trí không gian,

ta cần phải xác định được chủ thể và khách thể của việc so sánh vị trí tương đối hay nói cách khác ta cần biết được vật nào làm vật mốc, vật nào làm vật

để xét vị trí tương đối

Vậy, khi dạy về vị trí tương đối của một vật, giáo viên cần lưu ý tới việc đặt câu hỏi rõ ràng, trong đó nêu rõ được vật nào là chủ thể, vật nào là khách thể để so sánh vị trí tương đối, tránh gây hiểu lầm, lung túng cho học sinh Trong quá trình tổ chức các hoạt động, khuyến khích sử dụng các từ ngữ chỉ vị trí tương đối trong không gian: "ở trong", "ở ngoài", "bên trái", "bên phải", "ở trên" "ở dưới", "đằng trước", "đằng sau", và các hướng di chuyển như "phía trước", "phía sau", "đầu tiên đi thẳng gặp bưu điện rồi rẽ phải", nên khuyến khích học sinh phát triển các ngôn ngữ hàng ngày

Dưới đây, tôi xin đưa ra một số hoạt động giúp trẻ có thể phân biệt được

vị trí tương đối của một vật trong không gian:

Hoạt động 1: Đoán ý đồng đội

Hoạt động này được thực hiện theo nhóm đôi Giáo viên phát cho mỗi học sinh một bức tranh trong đó bố trí các đồ vật, cây cối….ở vị trí giống nhau

Trang 39

Hai học sinh một nhóm sẽ đứng đối diện nhau Học sinh thứ nhất chọn khoanh vào một vật, sử dụng các từ ngữ chỉ vị trí tương đối để học sinh còn lại có thể tìm và gọi tên đúng được vật cần tìm Chẳng hạn “Đồ vật của tớ nằm giữa hai ngôi nhà, đằng sau chiếc xô”…

Hoạt động 2: Trò chơi ném bóng

Giáo viên phát cho mỗi học sinh một quả bóng nhỏ có ghi tên học sinh Cùng ném bóng về một phía, sau khi ném, hỏi: “Bạn nào ném xa nhất, bạn nào ném gần nhất Bóng của bạn nào gần nhất bóng của bạn Phương, bóng của bạn nào ở xa nhất với cô, bóng của bạn nào ở giữa bóng của An và Hoa”…Rất nhiều câu hỏi về vị trí giáo viên có thể sử dụng trong hoạt động này Hoặc có thể chơi thêm trò chơi tìm bóng dựa vào câu hỏi của cô

Hoạt động 3: Đoán hình

Giáo viên cử một học sinh lên để làm người di chuyển, học sinh được yêu cầu tạo hình hình học đơn giản bằng cách "vẽ" ra các cạnh của chúng Chẳng hạn, yêu cầu học sinh đi về phía trước 5 bước, quay phải bước 5 bước nữa, những học sinh khác theo dõi bước đi của bạn, đoán hình tạo được Trong quá trình đó khuyến khích học sinh suy nghĩ về tính chất của các hình (hình vuông, hình chữ nhật, hình tam giác) Hỏi học sinh: “Đường bạn vừa đi thì tạo ra có dạng hình nào? Chỉ dẫn để tạo hình vuông khác với chỉ dẫn để tạo hình chữ nhật ở chỗ nào?”

Hoạt động 4: Hiểu ý đồng đội

Học sinh làm việc theo cặp đôi, một bạn miêu tả các chi tiết sẽ vẽ: Bức tranh của tớ có một ngôi nhà ở giữa, một cái cây ở phía trước ngôi nhà, một ngọn núi ở sau nhà, mặt trời đang mọc trên đỉnh núi, một dòng sông ở phía bên phải ngôi nhà….thi xem cặp đội nào có các bức tranh giống nhau nhất (Về vị trí tương đối của các chi tiết trong tranh)

Trang 40

Hoạt động 5: Bài tập về vị trí

Hình phía trước, phía sau

Cách chơi: Lớp chia thành 2 đội, quan sát từng bức tranh và xác định hình nào ở phía trước hình nào, hình nào ở sau hình nào

Luật chơi: Chỉ sử dụng từ ở phía trước hay phía sau

Hình 26

Hoạt động 6: Tham quan trường học

Cho học sinh thăm quan các phòng học trong trường Sau khi tham quan xung quanh trường, hỏi học sinh: “Con xem phòng nào nằm giữa phòng học

Ngày đăng: 24/09/2015, 12:10

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình con chó. - Dạy học yếu tố hình học ở các lớp 1, 2, 3 theo hướng hình thành và phát triển trí tưởng tượng không gian cho học sinh
Hình con chó (Trang 25)
Hình bình hành đƣợc cắt để chuyển thành hình chữ nhật, cách 1 - Dạy học yếu tố hình học ở các lớp 1, 2, 3 theo hướng hình thành và phát triển trí tưởng tượng không gian cho học sinh
Hình b ình hành đƣợc cắt để chuyển thành hình chữ nhật, cách 1 (Trang 65)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w