1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tìm hiểu về lế hội trò trám xã tứ xã, huyện lâm thao, tỉnh phú thọ

64 926 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 64
Dung lượng 792,02 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong dòng chảy của văn hóa dân gian truyền thống, lễ hội Trò Trám diễn ra vào đêm ngày 11 và rạng sáng ngày 12 tháng giêng hàng năm hình thành và phát triển rực rỡ trên vùng đất tổ thu

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2

KHOA LỊCH SỬ -

TRẦN QUANG ĐỨC

TÌM HIỂU VỀ LỄ HỘI TRÒ TRÁM

XÃ TỨ XÃ – HUYỆN LÂM THAO –

TỈNH PHÚ THỌ

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Chuyên ngành: Lịch sử văn hóa

Người hướng dẫn khoa học

Th.S Nguyễn Văn Vinh

HÀ NỘI, 2015

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc nhất tới Thầy giáo

Ths Nguyễn Văn Vinh - người đã tận tình chỉ bảo và giúp đỡ trong suốt quá

trình nghiên cứu thực hiện đề tài Tôi cũng xin được gửi lời cảm ơn chân thành tới các thầy, cô giáo trong khoa Lịch Sử đã cung cấp kiến thức cho tôi trong quá trình học tập tại trường Bên cạnh đó, tôi xin chân thành cảm ơn

Ủy ban nhân dân xã Tứ Xã, Phòng văn hóa thông tin huyện Lâm Thao và các cơ quan đoàn thể có liên quan đã tạo điều kiện thuận lợi nhất giúp tôi hoàn thành công trình nghiên cứu này Cuối cùng cho phép tôi được gửi lời cảm ơn tới gia đình, người thân, bạn bè đã luôn động viên, giúp đỡ tôi

Đây là công trình nghiên cứu đầu tiên của tôi và do còn nhiều hạn chế

về mặt tài liệu nên không thể tránh khỏi những thiếu sót, kính mong các thầy, cô giáo cùng các bạn sinh viên đóng góp kiến để đề tài của tôi được hoàn thiện hơn

Hà Nội ngày 04 tháng 05 năm 2015

Tác giả khóa luận

Trần Quang Đức

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Khóa luận tốt nghiệp “Tìm hiểu về lễ hội Trò Trám xã Tứ Xã - huyện

Lâm Thao - tỉnh Phú Thọ” được hoàn thành dưới sự hướng dẫn tận tình của

Thầy giáo Ths Nguyễn Văn Vinh

Tôi xin cam đoan đề tài này là kết quả nghiên cứu của riêng Tôi, không trùng với bất kỳ kết quả nào của các tác giả khác

Hà Nội, ngày 04 tháng 05 năm 2015

Tác giả khóa luận

Trần Quang Đức

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 3

3 Nhiệm vụ, mục đích, phạm vi nghiên cứu 5

4 Phương pháp nghiên cứu và nguồn tư liệu 6

5 Đóng góp của đề tài 6

6 Bố cục của đề tài 7

NỘI DUNG 8

CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU TỔNG QUAN 8

1.1 Khái quát về Tứ Xã – Lâm Thao – Phú Thọ 8

1.1.1 Vị trí địa lý 8

1.1.2 Điều kiện tự nhiên 8

1.1.3 Lịch sử 9

1.2 Khái quát về về lễ hội Trò Trám 11

1.2.1 Một số khái niệm liên quan 11

1.2.2 Địa điểm diễn ra lễ hội 13

1.2.3 Nguồn gốc của lễ hội 16

Tiểu kết 18

CHƯƠNG 2:LỄ HỘI TRÒ TRÁM Ở TỨ XÃ – LÂM THAO – PHÚ THỌ 20

2.1 Cách thức tiến hành lễ hội 20

2.1.1 Phần lễ 20

2.1.2 Phần Hội 32

2.2 Mối liên hệ tín ngưỡng của lễ hội Trò Trám trong tín ngưỡng phồn thực Việt Nam 44

2.2.1 Tín ngưỡng phồn thực Việt Nam 44

2.2.2 Nét tương đông và độc đáo của lễ hội Trò Trám 47

Tiểu kết 50

KẾT LUẬN 52

TÀI LIỆU THAM KHẢO 56

Trang 5

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Nhiều dân tộc trên thế giới cũng như Việt Nam, từ xa xưa người ta đã biết đến và tôn thờ tín ngưỡng phồn thực Phồn thực là sự sinh sôi một cách thịnh vượng giúp giống nòi được duy trì, cây cối sinh sôi, mùa màng lúa gạo, cây cỏ chim muông, dã thú… do đó các cộng đồng cần nhiều nam, nhiều nữ để tồn tại và phát triển

Các làng quê trước đây, vào hội, là có tục rước sinh thực khí nam và

nữ một cách náo nhiệt và háo hức Lễ hội phồn thực làm tươi tốt, làm thanh xuân lại các bản làng, biểu thị cho sự sống dân tộc, con người dần già còm cõi, già nua đi nhưng giống nòi luôn tồn tại mãi mãi thanh xuân

Trong dòng chảy của văn hóa dân gian truyền thống, lễ hội Trò Trám diễn ra vào đêm ngày 11 và rạng sáng ngày 12 tháng giêng hàng năm hình thành và phát triển rực rỡ trên vùng đất tổ thu hút đông đảo người dân trong vùng cũng như cả nước tới tham dự

Lễ hội Trò Trám là một di sản văn hóa mang bản sắc riêng biệt của một làng quê vùng đất Tổ Hội Trò Trám của xã Tứ Xã, huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ có từ rất lâu đời với mục đích nhớ ơn tới người có công với làng xóm, cầu mong mùa màng tốt tươi cây cối, vạn vật sinh sôi nảy nở, đời sống con người ấm no hạnh phúc Mang lại niềm vui, tiếng cười cho người dân Tứ Xã trong những dịp đầu xuân năm mới, để họ hăng say hơn trong lao động, bình yên trong cuộc đời

Bà ẵm cháu, mẹ bồng con Không đi Trò Trám là buồn cả năm

Hay:

Trang 6

Cô nào mà chẳng được xem Thì oan, thì ức, thì buồn cả năm

Lễ hội với ý nghĩa nhân sinh và quan điểm thoáng đãng chống lại những gò bó với các hủ tục phong kiến ngăn cấm tình yêu nam nữ xưa kia

Lễ hội trò Trám ra đời thỏa mãn được những mong muốn khát vọng theo quy luật vạn vật sinh sôi nảy nở của tự nhiên

Lễ hội Trò Trám hay còn gọi là lễ hội Linh tinh tình phộc ở làng Trám, xã Tứ Xã, huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ từ khi hình thành cũng không ít những lời bàn tán về tính dung tục của nó, nó vượt quá những giá trị Nho Giáo hàng ngàn năm ảnh hưởng tới Việt Nam Một phần do chiến tranh gián đoạn lễ hội chìm vào có nguy cơ quên lãng và mai một Cho tới xuân Canh Dần năm 2010, lễ hội Trò Trám của người dân Tứ Xã chính thức được hồi sinh sau vừa đúng một thập niên ngủ quên Ủy ban nhân dân tỉnh Phú Thọ, Sở văn hóa Thông tin và Truyền thông đã kí quyết định công nhận Miếu Trò, không gian văn hóa của Lễ hội là di sản Lịch sử - Văn hóa cấp Tỉnh Ngày nay, lễ hội Trò Trám và các trò diễn “Bách Nghệ Khôi Hài” đã được đưa vào biểu diễn hàng năm tại lễ hội đền Hùng để nhân dân gần xa trên cả nước biết đến

Theo nhà nghiên cứu Toan Ánh trong một bài khảo cứu miền Bắc của nước ta đã liệt kê 17 điểm có dòng lễ hội mang hình dáng tín ngưỡng phồn thực và khẳng định lễ hội Trò Trám là một lễ hội đặc sắc nhất, tuy nhiên ngày nay nó đã biến dạng và không còn tồn tại nguyên gốc và đầy đủ như xưa Chính vì lẽ đó việc nghiên cứu về lễ hội trò trám xưa và nay đã thành chủ đề giá trị cho các nhà văn hóa

Trang 7

Phường Trám được không ít các học giả, các nhà văn hóa, sinh viên, học sinh… quan tâm tới lễ hội, tín ngưỡng phồn thực trong lễ hội được tin tưởng và lựa chọn là bảo tàng sống về văn hóa phồn thực của Việt Nam, cũng như của Đông Nam Á

Lễ hội Trò Trám là một lễ hội vô cùng đặc sắc của người dân Tứ Xã

Nó mang đậm tín ngưỡng phồn thực – nét đặc trưng của nền văn minh lúa nước Đặc biệt được thể hiện trong lễ mật, mang một màu sắc linh thiêng với tâm nguyện của nhà nông cầu mong sự an bình, sự sinh sôi nảy nở cho con người, cây trồng vật nuôi và cầu cho mùa màng tươi tốt bội thu

Tất cả những lý do trên từ phương diện lý luận và thực tiễn khiến tôi

hướng đến “ Tìm hiểu về lễ hội Trò Trám xã Tứ Xã - huyện Lâm Thao - tỉnh

Phú Thọ” Hy vọng rằng khóa luận này sẽ cung cấp thêm thông tin về lễ hội

Trò Trám và vị trí của nó trong lòng người dân xã Tứ Xã nói riêng và tỉnh Phú Thọ nói chung

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Trò Trám là lễ hội văn hóa có ý nghĩa trong đời sống tâm linh của người dân Tứ Xã – Lâm Thao – Phú Thọ, đặc biệt với giá trị phồn thực của lễ hội còn có ý nghĩa tới gái trị văn hóa của Việt Nam Vì vậy đã có rất nhiều tác giả có những công trình nghiên cứu về lễ hội Trò Trám Những tác phẩm này bằng nhiều cách tiếp cận khác nhau sẽ cung cấp cho chúng ta những tư liệu quý báu mà đề tài kế thừa và phát triển

Bài nghiên cứu Tiếp cận hội Trò Trám trong mối quan hệ với các tầng

văn hóa mà nó bắt nguồn Tác giả Phan Đăng Nhật đã chứng minh được lễ

hội Trò Trám với những nghi thức và ý niệm của nó, là một vết tích còn được bảo lưu tương đối nguyên vẹn của tầng văn hóa nguyên thủy trong đời sống tinh thần của cư dân nông nghiệp truyền thống

Trang 8

Cuốn Văn hóa phồn thực Việt Nam của tác giả Lý khắc Cung xuất bản

năm 2010 đề cập và nghiên cứu lễ hội Trò Trám thông qua yếu tố phồn thực của một trong những lễ hội văn hóa độc đáo của Việt Nam cùng với quá các

lễ hội khác trên cả nước

Tài liệu Trò Trám viết vào năm 1972 Đây là bản đánh máy của cụ

Dương Văn Thâm, một trong những người dân bản địa trực tiếp tham gia vào công việc tổ chức lễ hội thường niên cũng như bảo tồn và giữ gìn Lễ hội truyền thống Bản đánh máy có trình bày đầy đủ các nghi thức của lễ hội Trò Trám, cùng ý nghĩa của các mục lễ hội Các phần và thứ tự của các nghi thức đã diễn ra trong quá khứ như thế nào và đến ngày nay nó còn được bảo tồn ra sao? Tuy nhiên còn chưa đi sâu phân tích và so sánh yếu tố Phồn thực trong Hội Trám với các địa phương khác cũng như với các quốc gia thờ tín ngưỡng Phồn thực khác trên thế giới

Cuốn Văn hóa Nõ Nường của tác giả Dương Đình Minh Sơn với sự đề

cập tới khá chi tiết nghiên cứu lễ hội Trò Trám thông qua nghiên cứu về những nét tiêu biểu của tín ngưỡng phồn thực trong các lễ hội văn hóa Việt Nam

Cuốn Trò diễn trong lễ hội dân gian của người Việt ở châu thổ Bắc

Bộ của tác giả Đặng Hoài Thu được xuất bản năm 2010 Trong cuốn sách

này tác giả có đề cập tới một số lễ hội có trò diễn tương đối độc đáo ở vùng châu thổ Bắc Bộ, lễ hội Trò Trám cũng là lễ hội tương đối độc đáo được đề cập tới

Các tài liệu nêu trên sẽ là nguồn tư liệu tham khảo vô cùng quan trọng, là các dã chứng giúp tôi khai thác và hoàn thành bài nghiên cứu của mình

Trang 9

3 Nhiệm vụ, mục đích, phạm vi nghiên cứu

3.1 Phạm vi nghiên cứu

Thời gian: Nghiên cứu lễ hội truyền thống từ xưa đến nay

Không gian: Phường Trám thuộc xã Tứ xã – huyện Lâm Thao – tỉnh Phú Thọ

3.2 Mục đích

Với đề tài nghiên cứu này, tôi muốn đề cập tới :

Nguồn gốc – thời gian ra đời của lễ hội Trò Trám

Tìm hiểu từng phần, giai đoạn diễn ra trong lễ hội như Lễ mật, lễ rước lúa thần và phần trình làng Bách nghệ khôi hài (hay còn gọi là Tứ dân chi nghiệp)

3.3 Nhiệm vụ

Đề tài nghiên cứu về địa điểm diễn ra lễ hội Trò Trám, tìm ra những giá trị riêng của khu vực ảnh hưởng tới sự khác biệt của lễ hội Trò Trám so với các lễ hội, Trò diễn trong cả nước

Đề tài tập trung nghiên cứu tới lễ hội Trò Trám và những hình thức lễ nghi, các trò diễn độc gắn liền với tín ngưỡng phồn thực độc đáo

Nghiên cứu điểm tương đồng giữa lễ hội Trò Trám với những lễ hội Phồn thực diễn ra trong cả nước, ngoài khu vực để rút ra một điểm chung

nhất và ảnh hưởng với đối tượng nghiên cứu

Nghiên cứu chi tiết về lễ hội từ đó nêu bật nét độc đáo của Lễ hội Trò Trám với những giá trị nổi bật về nét văn hóa tín ngưỡng phồn thực được thể hiện trong lễ hội Trong quá trình nghiên cứu tôi sẽ làm rõ và nổi bật những

Trang 10

nét tương đồng và khác biệt của lễ hội Trò Trám với các địa phương khác trong tỉnh hay khu vực trên cả nước

4 Phương pháp nghiên cứu và nguồn tư liệu

- Phương pháp thu thập và xử lý tư liệu để có được một lượng thông tin đầy đủ về mọi mặt: lịch sử, văn hóa, Văn bia, câu đối còn lưu lại trên miếu Trám, sách vở, tạp chí, bài viết trên báo, tài liệu được cung cấp bởi những người có vai trò bảo lưu và duy trì hội Trám tại địa phương, các hoạt động du lịch liên quan đến việc khai thác các tài nguyên du lịch nhân văn, cần phải tiến hành thu thập thông tin từ sách, báo, tạp chí và các nguồn tư liệu khác Sau đó xử lý, chọn lọc các tư liệu đó đưa vào bài viết một cách phù hợp nhất

- Phương pháp phân tích, đánh giá, so sánh từ các nguồn tư liệu thu thập được và qua khảo sát thực tế, tôi phân tích, so sánh và đưa ra những nhận định, đánh giá để làm nổi bật về các biểu hiện và giá trị của tín ngưỡng phồn thực còn được bảo lưu trong lễ hội Trò Trám – Lâm Thao – Phú Thọ

so với những địa phương trong nước cũng như với các quốc gia khác trên thế giới

- Phương pháp phỏng vấn trực tiếp: Phỏng vấn những người quản lý

di tích miếu, những bậc cao niên trực tiếp tham gia vào quá trình tổ chức, gìn giữ và bảo lưu những giá trị cổ truyền của lễ hội địa phương

Phương pháp quan sát: Trực tiếp quan sát các địa điểm cách thức tiến hành thông qua quá trình tham dự vào lễ hội

5 Đóng góp của đề tài

Đề tài được thực hiện sẽ có những đóng góp sau:

Trang 11

Đây là công trình nghiên cứu một cách chuyên sâu về lễ hội Trò Trám trong mối quan hệ với đời sống kinh tế và tín ngưỡng của người dân xã Tứ

Xã - huyện Lâm Thao - tỉnh Phú Thọ

Chỉ ra được sự ảnh hưởng của lễ hội Trò Trám trong đời sống của người dân Tứ Xã và vị trí của lễ hội trong lòng người dân

Bổ sung nguồn tài liệu nghiên cứu về văn hóa lễ hội Việt Nam, những

lễ hội dân gian truyền thống có nguồn gốc từ lâu đời còn duy trì tới ngày nay

ở tỉnh Phú Thọ nói riêng và ở Việt Nam nói chung

Bổ sung nguồn kiến thức cho kho tàng tín ngưỡng phồn thực thông qua các lễ nghi văn hóa trong các lễ hội, so sánh những điểm giống và khác nhau giữa lễ hội Trò Trám với các lễ hội khác trong cả nước

6 Bố cục của đề tài

Đề tài bên cạnh phần mở đầu, phần kết luận, tài liệu tham khảo thì phần nội dung đi vào nghiên cứu hai nội dung chính tập trung ở hai chương: Chương 1: Giới thiệu tổng quan

Chương 2: Lễ hội Trò Trám ở Tứ Xã – Lâm Thao – Phú Thọ

Trang 12

NỘI DUNG CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU TỔNG QUAN

1.1 KHÁI QUÁT VỀ TỨ XÃ – LÂM THAO – PHÚ THỌ

Kẻ Gáp là nơi hợp lưu của ba con sông lớn, sông (Hồng – Lô – Đà),

là nơi gặp gỡ của người phương Nam với người phương Bắc, là nơi giao lưu

của hai nền văn hóa Lạc Việt và văn hóa Tiền Hoa Hạ bởi thế nơi đây được xem là nằm trong cái nôi của nền văn minh sông Hồng

1.1.2 Điều kiện tự nhiên

- Xã Tứ Xã chịu ảnh hưởng của chế độ khí hậu nhiệt đới gió mùa nóng ẩm, mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10 và mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau Đặc điểm chính về khí hậu thời tiết của huyện như sau Nhiệt độ bình quân cả năm 23 C, trong đó nhiệt độ trung bình tháng cao nhất

là 29 C, nhiệt độ trung bình tháng thấp nhất là 14 C

Trang 13

- Lượng mưa bình quân hằng năm 1.720 mm nhưng phân bố không đồng đều Mùa mưa thường bắt đầu từ tháng 5 cho đến tháng 10, lượng mưa chiếm khoảng 85% tổng lượng mưa cả năm, đặc biệt tập trung vào các tháng

7, 8, 9 nên thường gây úng ngập cục bộ ở các vùng thấp trũng Các tháng 11 đến tháng 4 lượng mưa ít, chiếm 15% lượng mưa cả năm

- Độ ẩm không khí bình quân cả năm khoảng 85%, tuy nhiên trong mùa khô, độ ẩm trung bình giảm khá mạnh chỉ còn khoảng 77%

- Gió: Hướng gió chủ đạo mùa hè là hướng Đông và hướng Đông Nam, mùa đông là hướng Đông Bắc; tốc độ gió trung bình là 1,6m/s

- Lốc xoáy có 2 - 3 cơn trong một năm và thường đi kèm các cơn mưa lớn từ 200 - 300 mm gây thiệt hại đến sản xuất và đời sống của nhân dân

- Đất đai Tứ Xã chịu sự bồi đắp chính của hệ thống sông Hồng hằng năm nên rất màu mỡ, thích hợp với trồng hoa màu và trồng lúa nước, góp phần thúc đẩy nền kinh tế nông nghiệp phát triển Cây cối quanh năm xanh tốt, lại có hệ thống sông ngòi góp phần phát triển nền kinh tê nuôi trồng đánh bắt thủy sản

Tóm lại, với đặc điểm địa hình đa dạng, khí hậu nhiệt đới gió mùa có pha cận nhiệt đới là lợi thế để phát triển nền nông nghiệp đa dạng với nhiều cây trồng, vật nuôi có giá trị kinh tế, đáp ứng được nhu cầu đa dạng của thị trường

1.1.3 Lịch sử

Làng Tứ Xã xưa gọi là Kẻ Gáp, thời xa xưa thuộc về phủ Tam Đới,

Xứ Đoài, trấn Sơn Tây, có thời gian nằm ở huyện Sơn Vi Sang thời Nguyễn làng được chia thuộc địa dư của tỉnh Hưng Hóa và sau này là tỉnh Phú Thọ

Trang 14

Dấu tích làng cổ được tìm thấy ở hai quả đồi Gò Mun và Gò Chiền Hiện vật thu được chiếm 50% công cụ sản xuất là rìu, giáo, mũi tên, lưỡi câu đã có ngạnh rất sắc Nghề nông đã tìm thấy lưỡi hái gặt lúa đầu tiên trên nước ta bằng đồng

“Vào Thời Hùng Vương, làng nói chung có tên gọi là Ko Lang (về sau mới đổi tên thành kẻ, chạ, động…) Khi tiếng Việt chưa có thanh điệu thì đọc Lang, Láng, Làng đều chỉ nơi gần nước Sau này, làng Tứ Xã vẫn có nhiều láng, đó là những đầm hồ Láng Cả, Láng Vòi, Láng Thờ, láng Thủn… Địa hình bị chia cắt bởi các sông suối đầm lầy, xen kẽ với các chiền gò, vùng đồi

gò thấp của Phú Thọ.” [6 ; tr.225]

Tứ Xã thuộc vùng chiếm diện tích trồng lúa nước là nghề sinh sống chủ yếu Bên cạnh đó, ngoài làm ruộng, dân làng còn có nghề đánh bắt cá tôm bằng nhiều cách, cất vó, đánh lờ, đánh rậm, úp nơm… Dân làng còn có nghề mộc tinh xảo, đàn ông thường gánh gồng đi làm ở nơi xa với tay nghề điêu luyện

Tứ Xã lâu nay tồn tại một số dòng họ lớn như các họ Nguyễn, Văn, Bùi, Ngô, Chử… Những họ lớn thường nắm giữ các ngôi vị chủ chốt trong làng thời phong kiến

Làng Tứ Xã là một trong những làng cổ nhất tỉnh Phú Thọ Trong làng có rất nhiều đình chùa, miếu mạo cổ như đình Đài, đình Chấn, đình

Đông, chùa Tổng… “Các nhà sử học, nhà khảo cổ học đã phát hiện và khai

quật tại đây nhiều di chỉ thuộc văn hóa Phùng Nguyên có di chỉ ở Mã Nguộm xóm Kiều; thuộc văn hóa Đồng Đậu ở di chỉ gò Đồng Đậu II Nhưng biểu hiện rõ nhất là văn hóa Gò Mun”.[6; tr.226]

Trang 15

Bên cạnh những di vật cổ thời đại Hùng Vương được tìm thấy ở khu

di tích Gò Mun vào những năm 60 người Tứ Xã còn tự hào về nhiều tập tục

cổ, các lễ hội đa dạng phong phú khác thường Trong làng tổ chức nhiều phường hội như phường Chèo, phường Chặng, phường Trâu, phường Bè… hội Tư Văn, hội Đồng Môn, hội Bản Binh… với nhiều lễ hội như lễ hội Cầu

tế ở đền Xa Lộc, lễ hội Tín ngưỡng thờ ông tổ nghề mộc, lễ hội Đánh quan Giáp Mương và đặc sắc nhất với lễ hội Trò Trám

Xã Tứ Xã thuộc huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ Tứ Xã xưa kia là một vùng quê nghèo có truyền thống hiếu học, có người đỗ đạt cao như Nguyễn Quang Thành đỗ tiến sĩ năm 24 tuổi (1680 dưới thời vua Lê Hy Tông) làm quan đến chức Ngự sử , hoặc quan võ Chử Đức Cương trấn ải biên thùy đươc phong tới chức quận công và có nhiều ông Cử, ông Cống khác như Nhất nguyên Nguyễn Tất An người đã soạn nên bào văn tế Miếu Trò còn đến ngày nay… Ngoài ra còn có cháu chắt Quan nghè Nguyễn Quang Thành là Nguyễn Quang Hòa biệt danh “Tổng Cóc” một văn nhân hào hoa giàu có trong chuyện tình với thi sĩ Hồ Xuân Hương

Có thể nói xã Tứ Xã – Lâm Thao – Phú Thọ là một vùng đất địa linh nhân kiệt với không ít các danh nhân, sự ảnh hưởng của lễ hội Trò Trám đóng góp phần không nhỏ tới tư tưởng phóng khoáng, tinh thần lạc quan yêu đời, tinh thần hiếu học vươn lên của một làng quê nghèo vùng đất tổ

1.2 KHÁI QUÁT VỀ LỄ HỘI TRÒ TRÁM

1.2.1 Một số khái niệm liên quan

“Lễ là những nghi thức tiến hành nhằm đánh dấu hoặc kỉ niệm một sự

việc, sự kiện có ý nghĩa nào đó” [ 7 , tr.540 ] Các nghi thức của lễ nhằm

biểu hiện lòng tôn kính của con người đối với thần linh, phản ánh những ước

Trang 16

mơ chính đáng của con người trước cuộc sống mà bản thân họ chưa có khả năng thực hiện

“Hội là cuộc vui tổ chức cho đông đảo người tham dự, theo phong tục

hoặc nhân dịp đặc biệt” [ 7; tr.443 ] Hội là nét sinh hoạt văn hóa tôn giáo

nghệ thuật của cộng đồng xuất phát từ nhu cầu cuộc sống, sự tồn tại và phát triển của cộng đồng,sự bình yên cho từng cá nhân, hạnh phúc cho từng dòng

họ, từng gia đình Sự sinh sôi nảy nở của gia súc, sự bội thu của những mùa màng mà bao đời nay đã quy tụ vào niềm mơ ước chung với bốn chữ "Nhân

- Khang - Vật - Thịnh"

Mối quan hệ “Lễ” và “Hội”: Qua các lễ hội truyền thống ở Việt Nam ta

có thể rút ra được mối quan hệ khăng khít giữa “Lễ” và Hội”

Trong thực tế “Lễ” và “Hội” khó tách rời nhau, chúng luôn hoà quyện với nhau Hội là từ chỉ thành phần ngoài lễ hay hội có thể coi là hình thức của lễ Vì vậy cuộc lễ nào mà không có hội kèm theo thì không gọi là lễ và ngược lại không có hội nào không kèm theo lễ Nếu chỉ có hội mà không có

lễ thì mất vẻ trang nghiêm, có lễ mà không có hội thì không còn vui nữa

Tín ngưỡng là niềm tin của con người vào một thế lực siêu nhiên thần

bí mà con người chưa thể giải thích được, thần thánh hóa các sự vật đó

Phồn thực: Phồn = nhiều, thực = nảy nở và ''Phồn thực'' là sinh sản để

duy trì và phát triển giống nòi

Ngay từ đầu, duy trì và phát triển sự sống đã là một nhu cầu thiết yếu nhất của con người Đối với văn hoá nông nghiệp, việc này lại càng hệ trọng Để duy trì cuộc sống, con người cần phải lao động, sản xuất và để duy trì giống nòi thì con người phải sinh nở Hai hình thức: Sản xuất lúa gạo (Để duy trì cuộc sống) và sản xuất con người (để kế tục giống nòi) này có bản chất giống nhau

Trang 17

Đó là sự kết hợp của hai yếu tố khác loại (đất và trời, mẹ và cha) Theo PGS Phan Đăng Nhật đó là tín ngưỡng cổ xưa nguyên thủy, người xưa cho rằng các bộ phận sinh dục có một sức mạnh thiêng liêng làm đất đai màu mỡ tươi tốt, cây cối sinh sôi mạnh mẽ, từ ý niệm ấy cư dân xưa tôn sùng sinh thực khí và đồng thời tồn tại với tư cách một tín ngưỡng mang cái tên tín ngưỡng phồn thực hoặc phồn sinh, nó là biểu hiện điển hình của cư dân nông nghiệp

Có thể nhận thấy một điều, tín ngưỡng phồn thực, thờ sinh thực khí , cũng như hành vi giao phối đã chiếm một vị trí quan trong trong đời sống của nhân dân, đặc biệt là các cư dân nông nghiệp, với những ý niệm tốt đẹp đáng trân trọng và thiêng liêng về sự phát triển, sinh sôi, điều mà bất cứ ai

và bất cứ thời đại nào cũng mong muốn

Trò diễn : “Theo Folklore Việt Nam không có kịch, nhưng có nhiều

trò Nhiều màn biểu diễn xưa kia trong các hội hè, múa hát phục vụ vẫn được gọi là trò Từ những hoạt cảnh, đã xó những vở diễn theo một tích, một chuyện nào đó, nhưng cũng chưa thành một tác phẩm sân khấu hẳn hoi, song đã có tên riêng, để cảm tưởng là một vở diễn độc lập Trò Ngô, trong Bách nghệ khôi hài là trò vui, trò nhại” [ 16, tr.64]

1.2.2 Địa điểm diễn ra lễ hội

Địa điểm chính diễn ra lễ hội đó chính là Miếu Trò và Điếm Trám:

Dựa theo lời kể của các vị cao niên trong làng : miếu Trò được khởi

dựng từ thời Hùng Vương thứ 18, thờ nữ thần và bộ phận sinh dục nam và

nữ, dân địa phương gọi là " Vật linh " Đây là ngôi miếu duy nhất trên mảnh

đất cổ Tứ Xã thờ vật linh nõ nường gắn liền với các tín ngưỡng cổ xưa

Vật liệu làm miếu lúc đầu chỉ là tre, gỗ, mái lợp cỏ tranh, trải qua bao thời gian mưa nắng, miếu đã bị hỏng và trùng tu, tu sửa nhiều lần Đến năm

Trang 18

1945, miếu bị bom của thực dân Pháp phá hỏng Trong giai đoạn 1945 –

1990, miếu Trò chỉ là phế tích, nhưng trong tâm thức của người dân vẫn nhớ nét văn hóa và công ơn tiên tổ của làng mình Vào ngày sóc, vọng của tháng dân làng thường xuyên tới thắp hương trên nền miếu cũ

Miếu Trò là một ngôi miếu cổ được dựng trên một quả gò đất cao nằm trong rừng trám của xã Tứ Xã, huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ, trước miếu

có cổng xây bề thế, trên cột cổng có đôi Nghê Chầu biểu thị đực – cái, bốn mái miếu lợp ngói vảy rồng, đao mái miếu uốn cong bay bổng Hàng năm, vào đầu xuân diễn ra hội Trò nên có tên là miếu Trò Miếu Trò nằm ngay cạnh phường Trám một phía giáp làng, ba phía giáp đồng nước phong cảnh đẹp có thể nói là sơn thủy hữu tình

Trải qua năm tháng miếu Trò xưa cũ nát năm 1993 những người con của quê hương Tứ Xã, đặc biệt là những người con quê hương xóm Trám đã ủng hộ tiến hành phục dựng, tu sửa Ngôi miếu mới nay được giữ nguyên trạng, trước miếu thờ có câu đối bằng chữ hán phiên âm như sau:

Miếu mạo ức nên trường tại Anh linh vạn cổ như tân

Tạm dịch là:

Ngôi miếu này trải qua ngàn năm vẫn trường tồn

Khí chất linh thiêng muôn đời vẫn tươi mới

Hai bên cột miếu có câu đối:

Hách quyết thanh, trác quyết linh, hãm tai ngữ hoạn Cảm tất thông, cầu tất ứng, bảo vật hộ dân

Tạm dịch là:

Trang 19

Công danh hiển hách lẫy lừng, linh thiêng danh tiếng, ngăn tai trừ họa

Cảm ắt thông, cầu ắt được, che chở cho dân

Bốn vế đối này được trích trong “ Cổ Lãm viên tế văn” Tức là bài văn

tế của phường Cổ Lãm Cụ thể bài văn tế như sau:

“Tác giả Nguyễn Tất An

Băng xương cốt cách

Kim ngọc tinh thần

Nhược thủy danh châu quí khách

Bồng lai hải đảo tiên nhân

Miếu mạo ức niên trường tại

Anh lịnh vạn cổ như tân

Linh niên đông quí

Kính trần phi lễ Cựu lệ tái trần Nguyên thủy giám cách Tiết dĩ hòa thuần

Vi sĩ vi nông

Vi công vi thương

Hề nghiệp hàm toại Viết phú viết quí Viết thọ viết minh

Hề phúc vinh thân Thực nại âm phù Chi đại đức giã Phục vi hưởng Tiết yếu mạnh xuân

[ 3, tr.133-134 ]”

Trang 20

Lược nghĩa của bài văn tế như sau:

“Băng xương”, hình ảnh của một vùng đất lạ, đầy sương tuyết chưa

có đường đi, phải băng qua đó Ý nói người kiên quyết, từng trải, dạn dày gió sương, tìm tòi khám phá cái mới, dám đến nhưng nơi chưa có dấu chân người Đó là cốt cách Còn tinh thần thì như kim ngọc: trong sáng, lung linh hào quang lan tỏa Bài văn tế có cách đây hơn 300 năm, cho chúng ta thấy đang nói về hai bậc tổ phụ và tổ mẫu: Quý khách tiên nhân ở chốn bồng lai hải đảo Đồng thời đó còn là Bảo vật, hộ dân, “cảm sẽ thông” và “cầu sẽ ứng”… cả bài văn tế toát lên tinh thần ca ngợi con người - Bậc tiên cổ của người Lạc Việt được hóa thành hai vật linh là Nõ và Nường

Bên trong miếu Trò, có trạm khắc hoa văn tinh sảo do chính đôi tay khéo léo của những người thợ Tứ Xã, sinh ra từ cái nôi của ông tổ nghề mộc

là Lỗ Bang Tiên Thánh Bức hoành phi với hang đại tự “Tối Linh Từ” có

nghĩa là miếu thờ thần rất là linh thiêng

Điếm Trám nằm trung tâm của phường Trám cách miếu Trò 100m về phía đông, điếm là nơi diễn ra các lễ nghi trong nghi thức rước lúa thần và cũng là nơi mà thường ngày người dân phường Trám tụ họp và sinh hoạt tập thể Cả miếu Trò và điếm Trám đều thờ chung một vị nữ thần là bà “ Đụ Đị”

Xóm Trám hay Phường Trám nằm cách đền Hùng 5km về phía Đông Nam và nằm bên tả ngạn sông Thao, trước đây chưa có đê ngăn lũ thì đây là vũng trũng nước mỗi năm chỉ trồng được một vụ lúa, quanh năm sinh sống bằng nghề đánh bắt cá

1.2.3 Nguồn gốc của lễ hội

Theo truyền thuyết: vào thời Hồng Bàng, Ko Lang chỉ là một vùng đất trũng, bị chia cắt bởi các con suối, đầm lầy xen kẽ với những triền gò Do

Trang 21

vậy mà cư dân ở đây thưa thớt Vào một ngày, có một vị quan võ tên Ngô Quang Điện trong một lần đi qua vùng đất này, ông nhận thấy đây là vùng đất tốt, thế đẹp mà ông gọi là đất " Ngưu Miên " (con trâu ngủ), nơi đây thuận lợi cho vạn vật sinh trưởng,cây cối tốt tươi, người dân sẽ được ấm no, hạnh phúc

Sau đó, ông đã kêu gọi người dân ở đây cho ông xin một vạt áo đất Khi ấy mọi người không hiểu ông có thể làm gì chỉ với một vạt áo đất ấy? Tuy thế, người dân đã đồng ý cho ông, nhưng lạ thay khi ông giơ vạt áo của mình ra thì nó lại kéo ra rất dài (chiếm hơn 1/2 diện tích đất xã Tứ Xã ngày nay) Ở dải đất đó, ông đã chiêu dân lập ấp, dựng lên nhà cửa để sinh sống Tại chùa Vân Cáp vẫn còn một đôi câu đối thờ ông:

Thời A Hồng Bàng thiên dân, hóa dân thành thịnh ấp

Công Thùy Tứ Xã đông thổ, tây thổ lẫm anh thanh

Tạm dịch:

Thời vua Hùng, ông qui dân thành xóm làng thịnh vượng

Công lao của ông ở Tứ Xã to lớn, vang lừng khắp chốn đông tây

Tương truyền, ông có hai người con gái xinh đẹp và tài giỏi là: Ngô Thị Thanh và Ngô Thị Tịnh Sau này khi lớn lên, bà Ngô Thị Thanh vì thương dân nghèo khổ nên đã không đi lấy chồng mà ở lại khai hoang, dạy dân cấy lúa, quay tơ, dệt vải,… Hàng năm, bà cùng với cha của mình tổ chức hội Trò để khuyến khích nhân dân lao động và vận động thu hút người

về ở xóm

Bà Ngô Thị Thanh là người đã có công lao to lớn trong việc dạy dân làm ăn và ổn định cuộc sống Và để tưởng nhớ công ơn đó, người dân trong xóm đã mở hội hàng năm vào dịp đầu xuân Lễ hội ấy, không chỉ để tưởng

Trang 22

nhớ công ơn của bà, mà còn đồng thời tái hiện lại đời sống sinh hoạt điển hình của cư dân nông nghiệp lúa nước, sau những vụ mùa lao động mệt nhọc

họ tìm đến lễ hội để thư giãn, nghỉ ngơi nhưng quan trọng hơn họ tổ chức lễ hội để cầu mong sự an bình, sự sinh sôi nảy nở cho con người, cây trồng, vật nuôi và cầu cho mùa màng tươi tốt bội thu

Lễ hội Trò Trám là sự tiếp nối giữa văn hóa xưa và nay, giữa cái cũ và cái mới, là niềm tin vào cuộc sống, lòng biết ơn tưởng nhớ tới người có công lập làng, lập ấp, dạy dân làm ăn, sinh sống của người dân Tứ Xã nói riêng và đúng như đạo lý “Uống nước nhớ nguồn - Ăn quả nhớ kẻ trồng cây” của người dân Việt Nam nói chung

Tiểu kết

Lễ hội cổ truyền của dân tộc ta đã có từ bao đời nay, nó cũng đã chứng kiến nước ta phải trải qua bao nỗi khó khăn vất vả mới được như ngày hôm nay Các lễ hội văn hóa dân gian ở các vùng miền khác nhau thì mang những hình thức đặc trưng riêng của vùng đó tạo nên sự đa dạng phong phú trong tổng thể văn hóa dân tộc Việt Nam Lễ hội mang ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với tinh thần người dân nông nghiệp, nó gạt đi những nỗi lo toan, muộn phiền, bộn bề của cuộc sống mưu sinh vất vả, chống chọi

với thiên nhiên khắc nghiệt để tiếp tục sống và duy trì nòi giống

Tứ Xã huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ một trong những xã có đặc trưng tiêu biểu của vùng đồng bằng, trung du Bắc Bộ với nền kinh tế nông nghiệp trồng lúa nước Có lịch sử lâu đời từ nền văn hóa Gò Mun cách đây hàng ngàn năm từ thủa bình minh của loài người trên lãnh thổ Việt Nam Với điều kiện tự nhiên thiên nhiên thuận lợi đất đai phì nhiêu, màu mỡ phù hợp với nền kinh tế lúa nước nên người dân đã định cư tại nơi đây hình thành nên một làng có truyền thống văn hóa lâu đời

Trang 23

Người công lao quan trọng thuộc về ông Ngô Quang Điện và con gái ông là bà Ngô Thị Thanh, người có công dựng làng lập ấp, dạy dân trồng lúa nước, chăn nuôi và công của bà Ngô Thị Thanh con gái của ông đã tiếp tục dạy dân làm ăn và dạy dân tổ chức lễ hội Trò Đó cũng chính là nguồn gốc

ra đời và duy trì một lễ hội có từ rất lâu đời cho đến ngày nay mặc dù đã có một thời gian gián đoạn do chiến tranh vệ quốc

Miếu Trò và Điếm Trám, là hai địa điểm chính diễn ra các hình thức

lễ nghi trong hội Trò Trám, được xây dựng cách đây khá lâu và phục dựng lại vào năm 1993 với sự đóng góp của người dân Xóm Trám Năm 2010 Lễ hội Trò Trám được công nhận là di sản văn hóa cấp tỉnh và Miếu Trò, Điếm Trám cũng được công nhận là di tích văn hóa cấp tỉnh Chính những điều kiện thuận lợi ấy đã góp phần làm nên lễ hội ngày nay

Trang 24

Miếu Trò thờ vật linh - sinh thực khí tên tục là bà “Đụ Đị”, tên nôm

Nõ Nường, tên chữ là Ngô Thị Thanh, biệt danh là bà chúa Trò gọi với biệt danh như vậy bởi tương truyền, Bà là người dạy cho người xóm Trám biết làm nhà ở, khai khẩn đất hoang để cấy lúa và Bà còn dạy cho người xóm Trám biết làm Trò để mua vui trong những ngày xuân nông nhàn, rảnh rỗi, khuyến khích lao động và thu hút thêm người về xóm Trám Đó là những huyền thoại về người Việt Cổ từ những giai đoạn đầu tiên thời văn hóa tiền

cổ Gò Mun và quá trình thành lập nên Xóm Trám ngày nay Trong bài khấn, văn tế đọc của lễ Mật tại Miếu Trò cũng đã nói lên đôi chút về sự tích này.:

Bà Đụ Đị là vật hèm trừ tà đuổi ma, tiêu diệt hiểm họa, cầu yên cầu phúc, cầu lộc, cầu tài

Lễ Mật là lễ lấy giờ được làm vào nửa đêm ngày 11 và rạng sáng ngày

12 tháng giêng Đây là phần lễ quan trọng thể hiện sự thiêng liêng Nhằm mục đích mời thần về dự lễ hội, hưởng lễ vật cầu cho mùa màng bội thu, cây cối vạn vật sinh sôi nảy nở, nhằm thể hiện lòng biết ơn với thần, cầu thần bảo hộ cho con cháu an khang, thịnh vượng:

Năm nào cũng vậy, vào đêm 11 tháng giêng, cánh cửa miếu mở ra hai

"Nõ - Nường" được người ta đưa lên sập thờ, có ván xôi, con gà, hoa quả, hương khói Ông Từ cầu khấn cho mùa màng tốt tươi, mưa thuận gió hòa, con người khỏe mạnh, sinh lực dồi dào, đất nước phát triển, dân giàu nước

Trang 25

mạnh, nòi giống cường thịnh, làng xóm đông vui sầm uất, gia đình hạnh phúc, con đàn cháu đống Buổi lễ diễn ra trước sự chứng kiến của hàng trăm người dân, già có, trẻ có trong những bộ lễ phục

Theo quan niệm của dân gian, chung trong việc thờ cúng sinh thực khí của tín ngưỡng phồn thực thì chỉ thông qua các nghi lễ trò diễn, thần linh mới giáng hạ để đến với con người, hay nói cách khác, con người dùng nghi

lễ tôn giáo tín ngưỡng để thông quan với thần linh chính vì lẽ đó hình thức lễ nghĩ trong lễ Mật cũng có ý nghĩa như một hình thức ma thuật nhằm cầu mong cho sự sinh sôi nảy nở, mùa màng tốt tươi của người dân phường

Trám

Nửa đêm Mười một tháng Giêng Mật giao một lễ thiêng liêng mở đầu

Trước đây (năm 1945), một người cao tuổi có uy tín trong làng đứng

ra cử một cụ ông từ 60 tuổi trở lên, khỏe mạnh, nhà không có tang, gia đình phú quý, có con trai và trong năm đó tuổi ứng vào cung sao Thái Dương hay Mộc Đức (không lấy tuổi 64 – cung Thái Âm) Nay ông Từ của miếu đảm nhận phần lễ

Chủ tế xưa là người đức độ, có phẩm hàm, chức tước và có uy tín trong làng, giúp việc cho chủ tế là Bồi tế, Nội Tán và Chấp Sự, hai bên có Đông Sướng và Tây Sướng đứng đối nhau bên cạnh hương áng mặc áo vàng sướng lên nghi thức buổi tế Lễ tế Thần không thể thiếu phường bát âm đàn nhị trống, phách cùng tấu lên nhạc lễ Lễ tế thần được diễn ra tại miếu Trò, sau khi hành lễ, các đồ lễ được hạ xuống để tất cả mọi người tham gia lễ hội cùng thưởng thức, bánh trái đề là vật phẩm do người dân trong làng làm ra nên có có ý nghĩa quan trọng thể hiện tình đoàn kết gắn bó thêm sâu đậm

Trang 26

Tất cả mọi người trong hội ngồi lại nhâm nhi ly rượu đầu xuân chúc nhau những gì tốt đẹp đúng như câu thơ:

Chết chôn nhà xa Sống làm nhà xóm Trám

Nghi lễ lấy giờ ngoài ông từ ra còn có khoảng 8 – 10 người thanh niên (chưa lập gia đình) do các cụ trong ban quản lí di tích chỉ định trước có mặt tại miếu Trò mang theo một chiêng, hai trống con để làm lễ lấy giờ ngày nay còn gọi là linh tinh tình phộc Những thanh niên này phải có lý lịch trong sạch, khôi ngô tuấn tú, gia đình hòa thuận đề huề, gia đình không có tang ma… và được sự bàn bạc tuyển chọn trước đó mấy hôm với sự nhất chí của dân làng

Về ý nghĩa lễ lấy giờ, có người cho rằng đó là cái mốc thời gian để báo hiệu một ngày cũ sắp qua đi, ngày mới gần tới, đánh đấu ngày hội của phường Có người lại cho đó là một buổi lễ theo tín ngưỡng "sinh thực khí"

Các thành viên tham gia nghi lễ lấy giờ có mặt ở miếu Trám trước 12 giờ đêm Gần đến giờ cụ từ vào thắp năm nén hương cúng vái làm lễ " thập vái " và đứng lên quỳ xuống mười lần rồi cắm hương lên bàn thờ Vị thần được nhắc đến trong lễ lấy giờ chính là nữ thần Ngô Thị Thanh Để tỏ lòng thành kính cụ Từ khấn nhỏ trong miệng nội dung bài khấn:

"Duy, Việt Nam quốc, Phú Thọ tỉnh, Lâm Thao huyện, Tứ Xã xã, Giáp Hạ thôn Hôm nay là ngày 12 tháng Giêng, năm…, dân làng Tứ Xã, già trẻ, gái trai sắm lễ vật, hương, vàng, hoa, chè, tửu, oản phẩm… dâng lên đức Chúa Bà trong một năm qua đã phù giúp dân làng được người an, vật thịnh, mùa màng bội thu Năm nay, con thay mặt dân làng, khấu đầu bái thỉnh chư Phật, thánh thần, chúa Bà trừ tà, bắt ma, đuổi quỷ, phù hộ cho quốc thái, dân

Trang 27

an, mùa màng bội thu, vạn vật sinh sôi phát triển và xin phép Chúa Bà cho dân làng chúng con mở hội làm vui

Nam mô A Di Đà Phật (3 lần)"

Cụ Từ khấn xong, bái tạ ba vái rồi cắm hương lên bàn thờ, mọi người

có mặt trong buổi lễ lần lượt vào thắp hương Thắp xong mọi người ngồi đợi đến " giờ mật " làm lễ lấy vật linh ra trình trò

Lấy giờ cũng chính là thời điểm diễn ra "Lễ Mật" Đúng giờ Tý (1 giờ), cụ từ thắp ba nén hương, vái ba vái, sau đó, lên khám thờ mang vật linh xuống đặt lên miếng vải đỏ để trên mâm bồng tại hương án ( mỗi năm

vật linh chỉ được lấy ra một lần vào ngày hội ) ''Xưa kia, khi chưa có điều

kiện mua đồng hồ để xem giờ, người dân thường có hai cách tính giờ như sau: một là dựa vào tiếng gà gáy ở các canh để đoán giờ, hai là nhìn lên trời xem sao… Nay có đồng hồ nên hình thức tính giờ như trên không còn nữa"

[15; tr.7]

Vật linh được nhân dân ở đây tôn thờ thành vật báu và được thờ trang nghiêm trong miếu Trò Việc thờ vật linh trong lễ hội Trò Trám mang dấu ấn của tín ngưỡng phồn thực Vật linh được thờ vị trí cao trên ban thờ sau một tấm rèm đỏ che phủ

Vật linh chính là hai bộ phận sinh dục của nữ (gọi là Nõ) và của nam (gọi là Nường) Cả hai vật linh được tạo dáng và có kích thước giống như thật Nõ có kích thước 27cm x 5cm, có hình mu rùa, ở giữa khoét lỗ, Nường

có kích thước 25cm x 10cm, tròn lẳn Vật linh được quét dầu bóng, phết sơn màu cánh dán nhạt

Xưa kia Nõ được làm từ mo cau, Nường được làm từ gốc tre, không quét sơn Lễ song sẽ tung ra sân cho mọi người dự hội sờ vào lấy khước,

Trang 28

cuối cùng mang ra khuấy nước đồng ruộng để cầu cho cây cối tươi tốt, mùa màng bội thu

Từ năm 1945 trở về trước, mỗi khi mở hội đều phải làm vật linh mới, cái cũ bỏ đi Nõ làm bằng mo cau hoặc bẹ cây măng đã mọc cao, ra cành lá, người đi lấy dùng dao rạch một miếng nhỏ (không khoét lỗ) để khi Nường đưa vào vừa với lỗ rạch của Nõ Nường được làm bằng gốc cây tre đực, thân cây già, vàng óng, nhiều rễ Tre chặt để nguyên rễ ở đầu gốc, phần ngọn đập rập tựa như bao quy đầu để khi cụ Từ vứt ra mọi người tranh nhau cầm vào lấy may

Từ năm 1993, vật linh được làm bằng gỗ mít (vì loại gỗ này không bị mọt, nứt, vênh ) và được dùng từ thời gian đó đến nay

Làm vật linh để thờ phải qua nhiều nghi lễ và các điều kiêng kị, bởi vật linh là vật thiêng của cả làng

"Người ta tin rằng, đó là một vị thần rất linh thiêng đã sáng tạo ra loài người."[15; tr.3]

, Do vậy người được chọn đi lấy gỗ làm vật linh phải là người khỏe

mạnh, gia đình nhiều con cháu, cuộc sống ấm no hạnh phúc

Gỗ mít làm vật linh cung phải tuyển chọn và ướm sao cho phù hợp, chọn ngày lành tháng tốt rồi mới đi lấy Việc đi lấy gỗ và làm bởi một người

và hạn chế không cho ai thấy nếu có ai biết thì rất có thể phải đi làm lại từ đầu, chọn lại ngày để giữ giá trị tôn nghiêm, linh thiêng của vật báu:

“ Gỗ chọn làm vật linh thường được ướm trước rồi mới chọn ngày đi lấy Chỉ một người làm vật linh đi lấy gỗ và khi lấy về phải gói kín không cho ai thấy…nếu gặp người quen hỏi là đi đâu thì không được nói: Đi lấy gỗ

về làm vật linh Nếu nói vật linh sẽ “mất thiêng” [15; tr.4]

Trang 29

Người đi lấy gỗ làm vật linh phải ăn chay, kiêng ăn nước mắm, mắm tôm, tỏi, không sát sinh, không ngủ chung với phụ nữ, không đi đám ma, quần áo sạch sẽ Còn về ăn chay hay kiêng cữ bao nhiêu thời gian thì không thấy qui định rõ chỉ biết là có thể 1, 2 ngày hoặc lâu hơn

Vật linh được làm ở trong buồng tối hay ngoài gốc cây nơi không có người qua lại, dụng cụ làm vật linh dùng bằng dao để đẽo, vót cho nhẵn

Làm xong người đẽo vật linh mang lên Miếu Trám làm lễ an vị, sau

đó cất vào hòm sắc, phủ vải đỏ lên trên

Việc chọn người làm vật linh cũng như những kiêng kị cho thấy một

sự linh thiêng trang trọng, hai bộ phận sinh dục nam và nữ nó thể hiện cho

sự sinh sôi nảy nở và ngay từ buổi sơ khai loài người biết quý trọng và thần thánh hóa nó, thờ phụng nó coi nó như là sự khởi nguồn của mọi sự sống và phát triển

Lễ Mật còn được gọi là lễ Kín, có tên gọi đó là bởi cách tiến hành nghi thức lúc ấy Lễ Mật bắt đầu tất cả đèn điện đều bị tắt bỏ hết, nghi thức tiến hành hoàn toàn trong bóng tối, trong miếu Trám chỉ có ông Từ và một đôi nam nữ thanh niên được phép ở lại và nghi thức lễ mật chỉ được phép tham gia của ba người này mà không còn ai được phép chứng kiến Lễ kín được diễn ra trong không khí trang nghiêm thành kính những người ngồi đến xem thì ngồi ở ngoài, nghe âm thanh chạm nhau của Nõ Nường là biết được hay không

Đôi nam nữ được chọn thực hiện trong lễ mật cũng phải được chọn lựa Xưa kia người được chọn phải được sinh ra trong một gia đình lễ giáo,

là người chưa có vợ hoặc chưa có chồng Tuy nhiên theo thời gian có nhiều thay đổi và cho đến ngày nay đôi nam nữ được chọn trong lễ mật không nhất thiết phải là chưa có chồng, có vợ mà có thể là một đôi vợ chồng, những

Trang 30

người đã lập gia đình Ngày nay, đôi nam nữ này được bầu chọn bởi dân làng, không quan trọng là có chồng, có vợ chưa Có những năm thường là cặp nam – nữ trung tuổi làm

Để tiến hành lễ Kín, trước hết cụ từ hát điệu chầu văn bài hát thờ Bài hát thờ không chỉ nói lên ý nguyện, mà còn là niềm tự hào về văn hóa về quê hương của người dân, mong muốn gìn giữ và dựng xây một vùng quê giàu mạnh, cảnh vật phong phú tốt tươi:

Phường ta quy củ mấy lên tròn

Bờ hồ tích thủy phường còn giàu to Nước thượng Mun chảy đóng ven gò Ngã ba cửa Miếu rộng to muôn phần Đôi ngọn nước vần vần chảy khắp Bến ven gò dồn dập phong ba Ngắm xem phong cảnh phường ta Hướng Miếu thì để ngôi là rộng xinh Hội phường ta vui vẻ linh đình

Đôi ngọn nước giao tình

Sau bài hát thờ, lễ mật chính thức được diễn ra một cách trang nghiêm ngay bên trong Miếu Trám “Chủ tế đưa cho trai một chiếc dùi gỗ hình dương tính, trao cho nữ một chiếc mu rùa hình âm tính Đôi trai gái sau câu sướng của chủ tế “linh tinh tình phộc” phải vươn người lên, dơ cao rùi gỗ

mu rùa, miệng hát rồi chạm mạnh vào nhau cho khớp:

Bên ấy có nứng cung chăng

Trang 31

Bên này lủng lẳng như giằng cối xay.” [ 8; tr.226]

Nam đóng khố, cởi trần, đầu chít khăn đỏ, cầm nõ, nữ mặc yếm, váy ngắn thâm, đầu vấn khăn, cầm nường Sau khi làm lễ khấn thần miếu xong,

cụ Từ xin âm dương rồi hô khẩu lệnh: Linh tinh tình phộc! (hô ba lần) Lúc này, tất cả đèn, nến trong và ngoài miếu đều tắt hết Sau mỗi câu khẩu lệnh:

“Linh tinh tình phộc”, đôi nam nữ cầm “Nõ - Nường” làm các thao tác hoạt động tính giao Mỗi lần hai vật âm dương chạm nhau, chiêng trống lại nổi lên, dân làng đứng xung quanh miếu lại reo hò vui vẻ - không khí tĩnh mịch giữa đêm khuya được sống dậy tưng bừng

Đây chính là hình thức đôi nam nữ giao hợp với nhau, người nam giới cầm bộ phận sinh dục nam, nữ giới cầm bộ phận sinh dục nữ rồi hai người chạm hai vật đó vào nhau cho khớp Nghi lễ này diễn ra ba lần, nếu cả ba lần đâm đều chúng thì năm đó làm ăn may mắn, mùa màng tươi tốt Nếu đâm chệch thì là điềm báo năm đó sẽ mất mùa, lụt bão xảy ra, hoặc trong làng có điều gì không may Sau đó cụ từ hô to ba lần “tháo khoán”

Đôi nam nữ trao vật linh cho cụ từ, chờ hiệu lệnh của người cầm trịch đánh chiêng và cùng với thanh niên tham gia lễ lấy giờ cũng có mặt trước hương án, chờ khi có hiệu lệnh cất lên sẽ chạy xung quanh miếu ba vòng:

“Lễ linh tinh tình phộc xong, người cầm trịch đánh trống cái, cụ từ nhận vật linh từ tay đôi nam nữ đặt lên mâm bồng, sau đó cho vào hòm để lên hương án” [ 3, tr.130] Khi chạy phải chạy từ phải sang trái đôi nam nữ cầm vật

linh chạy trước, tiếp theo là tốp thanh niên trong làng Họ vừa chạy, vừa khua chiêng, đánh trống để xua đuổi tà ma quỷ quái Chạy hết ba vòng mới người trở lại chỗ cũ, đèn bật sáng và mọi người tham gia văn nghệ: hát ghẹo, hát ví, đánh tổ tôm và chờ đến sáng

Trang 32

Trước đây sau nghi lễ lấy giờ xong là đến nghi lễ "tháo khoán" rất vui Mọi người tham gia dự lễ lấy giờ tối hôm 11, có thể ra đồi cây trám, cây si, cây đa (nay trồng thêm cây bạch đàn) ở phía sau Miếu Trò để nô đùa, nói chuyện tình tứ hoặc từng đôi nam nữ có thể tự do quan hệ tình ái với nhau Trong ngày hội, đôi nam nữ nào quan hệ với nhau có chửa, không bị làng lên án và cho đó là điềm may của gia đình, của làng, của đôi nam nữ Nếu yêu nhau mà chửa trước không phải ngày hội thì bị dân làng cười chê, cho là

hư đốn, dâm dục Những đứa con được sinh ra từ lễ hội được mọi người quý trọng và coi như sản phẩm của thần linh ban cho, đó là điều may mắn cho gia đình

Những trăn trở của người già gặp lại nhau để nhớ lại một thời gắn bó

đã phôi pha bởi lễ giáo phong kiến đã không cho họ thành vợ chồng và giờ đây là lúc để họ nhớ lại một thời thanh xuân, một thời trai tráng, xuân sắc Giống như vậy, trong lễ hội Trò Trám xưa đây là lúc các đôi trai gái nam nữ

do bị ngăn cấm yêu đưởng bởi lễ giáo, bởi “ Môn đăng, hộ đối” có dịp trao cho nhau tình yêu, cho nhau những cảm xúc mà trước đây họ không được làm vậy

Nghi lễ "tháo khoán" ngày nay đã có nhiều thay đổi và chỉ là tượng trưng Các đôi trai gái nam nữ thanh niên thậm chí có cả những đôi vợ chồng bên ngoài miếu nô đùa nói chuyện tình tứ nhưng không quan hệ tình ái như trước nữa Các thanh niên ngày nay, trong giờ tháo khoán đôi khi chỉ là trêu chọc nhau một cách vui đùa, động chạm có chừng mực phù hợp với nét văn hóa đương đại, không quá thô tục và vẫn gữ được nét độc đáo truyền thống

Có những chàng trai cô gái đên đây đã tìm và xác định cho mình một đối tượng từ chiều tối, chờ đợi cho tới khi tháo khoán để tình tứ có chuẩn mực mà không làm nguy hại cho đôi bên, cũng có những cô gái đên dự lễ

Ngày đăng: 24/09/2015, 10:23

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
12. Thanh Tùng, (1963), Trở lại Lâm thao, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trở lại Lâm thao
Tác giả: Thanh Tùng
Nhà XB: Nxb Khoa học Xã hội
Năm: 1963
13. Trần Quốc Vƣợng, (1998), Cơ sở văn hóa Việt Nam, Nxb Văn hóa thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở văn hóa Việt Nam
Tác giả: Trần Quốc Vƣợng
Nhà XB: Nxb Văn hóa thông tin
Năm: 1998
14. Vũ Anh Tú, ( 2013), Tín ngưỡng phồn thực trong văn hóa dân gian người Vệt ở châu thổ Bắc Bộ, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vũ Anh Tú, ( 2013), "Tín ngưỡng phồn thực trong văn hóa dân gian người Vệt ở châu thổ Bắc Bộ
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
15. Vũ Hồng Thuật, (2000), Lễ hội Trò Trám, tài liệu đánh máy, Phú Thọ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lễ hội Trò Trám
Tác giả: Vũ Hồng Thuật
Nhà XB: tài liệu đánh máy
Năm: 2000
16. Vũ Ngọc Khánh, (2003), Văn hóa dân dan Việt Nam, Nxb Nghệ An, Nghệ An Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa dân dan Việt Nam
Tác giả: Vũ Ngọc Khánh
Nhà XB: Nxb Nghệ An
Năm: 2003
17. Nhiều tác giả, (2005), Lễ hội truyền thống vùng đất Tổ, sở văn hóa thông tin tỉnh Phú Thọ.II. Tài liệu Internet Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lễ hội truyền thống vùng đất Tổ
Tác giả: Nhiều tác giả
Nhà XB: sở văn hóa thông tin tỉnh Phú Thọ
Năm: 2005

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình ảnh Miếu Trò - Tìm hiểu về lế hội trò trám xã tứ xã, huyện lâm thao, tỉnh phú thọ
nh ảnh Miếu Trò (Trang 62)
Hình ảnh diễn “Tứ dân tri nghiệp” tại hội Đền Hùng - Tìm hiểu về lế hội trò trám xã tứ xã, huyện lâm thao, tỉnh phú thọ
nh ảnh diễn “Tứ dân tri nghiệp” tại hội Đền Hùng (Trang 62)
Hình ảnh cho lễ Rước Lúa Thần - Tìm hiểu về lế hội trò trám xã tứ xã, huyện lâm thao, tỉnh phú thọ
nh ảnh cho lễ Rước Lúa Thần (Trang 63)
Hình ảnh nghi thức “Linh tinh tình phộc” - Tìm hiểu về lế hội trò trám xã tứ xã, huyện lâm thao, tỉnh phú thọ
nh ảnh nghi thức “Linh tinh tình phộc” (Trang 63)
Hình ảnh người dân phường Trám tụ họp tại miếu Trò - Tìm hiểu về lế hội trò trám xã tứ xã, huyện lâm thao, tỉnh phú thọ
nh ảnh người dân phường Trám tụ họp tại miếu Trò (Trang 64)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w