1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

quy hoạch nhà máy thiêu hủy chất thải rắn y tế cho 3 quận ninh kiều, bình thủy và cái răng

57 343 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 57
Dung lượng 2,34 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Các chất thải y tế có chứa đựng các yế tố truyền nhiễm là chất độc hại có trong rác y tế, các loại hóa chất và dược phẩm nguy hiểm, các chất thải phóng xạ, các vật sắt nhọn…những người t

Trang 1

KHOA MÔI TRƯỜNG & TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN

BỘ MÔN QUẢN LÝ MÔI TRƯỜNG & TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC NGÀNH QUẢN LÝ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG

QUY HOẠCH NHÀ MÁY THIÊU HỦY CHẤT THẢI RẮN Y TẾ CHO 3 QUẬN NINH KIỀU, BÌNH THỦY VÀ CÁI RĂNG

Sinh viên thực hiện BÙI THỊ TRÚC LINH 3103743

Cán bộ hướng dẫn MSc Vũ Nam

Cần Thơ, 1 /2 13

Trang 2

KHOA MÔI TRƯỜNG & TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN

BỘ MÔN QUẢN LÝ MÔI TRƯỜNG & TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC NGÀNH QUẢN LÝ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG

QUY HOẠCH NHÀ MÁY THIÊU HỦY CHẤT THẢI RẮN Y TẾ CHO 3 QUẬN NINH KIỀU, BÌNH THỦY VÀ CÁI RĂNG

Sinh viên thực hiện BÙI THỊ TRÚC LINH 3103743

Cán bộ hướng dẫn MSc Vũ Nam

Cần Thơ, 1 /2 13 3

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Trong suốt thời gian học tại trường Đại học Cần Thơ, em xin trân trọng bày tỏ lòng cảm ơn đến quý thầy cô trường Đại học Cần Thơ đã tận tình giảng dạy và truyền đạt nhiều kiến thức, kinh nghiệm quý báu cho chúng em trong suốt thời gian chúng em học tập và nghiên cứu dưới mái trường đại học Qua suốt thời gian thực hiện đề tài luận văn tốt nghiệp Em xin chân thành gởi lời biết ơn đến:

Thầy Vũ Nam – Bộ môn Quản Lý môi trường và Tài nguyên thiên nhiên, đã tận tình chỉ dạy và quan tâm giúp đỡ em hoàn thành tốt luận văn tốt nghiệp

Quý thầy, cô, anh, chị ở Bộ môn Quản lý môi trường & TNTN, Khoa Môi trường & TNTN trường Đại học Cần Thơ đã nhiệt tình giúp đỡ và tạo mọi điều kiện thuận lợi cho em trong quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn này

Cuối cùng em xin bày tỏ lòng biết ơn đến gia đình, những người thân yêu và tất

cả các bạn bè đã động viên, chia sẻ, hỗ trợ và giúp đỡ em trong suốt quá trình học tập trên giảng đường đại học và hoàn thành luận văn tốt nghiệp

Trong bài còn nhiều sai sót em rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến của thầy cô để bài luận văn hoàn chỉnh hơn

Xin chân thành cảm ơn!

Cần Thơ, 01/12/2013

Bùi Thị Trúc Linh

Trang 4

TÓM TẮT

Quản lý chất thải y tế ở thành phố Cần Thơ gặp không ít khó khăn, đặc biệt ở khâu xử lý Một số bệnh viện ở thành phố Cần Thơ đã có lò thiêu hủy rác ở quy mô nhỏ, hiệu quả xử lý chưa được theo dõi có hệ thống Các bệnh viện còn lại, cơ sở khám chữa bệnh, trạm y tế chưa thực sự minh bạch công tác quản lý chất thải y tế của mình

Năm 2012, lượng rác thải y tế của quận Ninh Kiều, Bình Thủy và Cái Răng khoảng 883 kg/ngày và sẽ đạt con số 2 tấn/ngày trong năm 2025 theo dự báo Đây là thách thức không nhỏ nếu tính tóan hết lượng rác y tế cho các quận, huyện còn lại của Cần Thơ

Đề tài “Quy hoạch nhà máy thiêu hủy chất thải rắn y tế cho 3 quận nội thành của thành phố Cần Thơ” được tiến hành nhằm đưa ra cách tiếp cận từ nhiều phía để

có được giải pháp xử lý triệt để chất thải rắn y tế, chất thải rắn độc hại khác ở thành phố Cần Thơ

Trang 5

MỤC LỤC LỜI CẢM ƠN

TÓM TẮT

MỤC LỤC

DANH SÁCH BẢNG v

DANH SÁCH HÌNH vi

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT vii

Chương 1 GIỚI THIỆU 1

1.1 Tính cấp thiết 1

1.2 Mục tiêu tổng quát 2

1.3 Mục tiêu cụ thể 2

Chương 2 LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU 3

2.1 Định nghĩa 3

2.2 Thành phần chất thải rắn y tế 3

2.2.1 Thành phần vật lý 3

2.2.2 Thành phần hóa học 4

2.2.3 Thành phần sinh học 4

2.3 Phân loại 4

2.3.1 Chất thải thông thường 4

2.3.2 Chất thải nguy hại 4

2.4 Tác động của CTRYT đến con người và môi trường 5

2.4.1 CTRYT làm giảm mỹ quan bệnh viện 6

2.4.2 Nguy cơ đối với môi trường nước 6

2.4.3 Nguy cơ đối với môi trường đất 6

2.4.4 Nguy cơ đối với môi trường không khí 6

2.4.5 Ảnh hưởng đến sức khỏe cộng đồng 7

2.5 Hiện trạng quản lý chất thải rắn y tế ở Việt Nam 10

2.5.1 Phát sinh chất thải rắn y tế 10

2.5.2 Quản lý chất thải rắn y tế hiện nay ở Việt Nam 13

2.6 Một số phương pháp xử lý rác y tế nguy hại 17

2.6.1 Thiêu hủy 17

2.6.2 Khử trùng 17

Trang 6

2.6.3 Chôn lấp 18

2.6.4 Đóng rắn 18

2.7 Tổng quan về địa điểm nghiên cứu 19

2.7.1 Khái quát về quận Ninh Kiều, TPCT 19

2.7.2 Khái quát về quận Cái Răng, TPCT 20

2.7.3 Khái quát về quận Bình Thủy, TPCT 21

Chương 3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 22

3.1 Trình tự các bước nghiên cứu 22

3.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu 22

3.3 Phương pháp nghiên cứu 22

3.3.1 Phương pháp thu thập thông tin, số liệu 22

3.3.2 Phương pháp khảo sát thực địa 22

3.3.3 Phương pháp đánh giá, phân tích tổng hợp tài liệu 22

3.3.4 Phương pháp ý kiến chuyên gia 22

3.4 Ý nghĩa của đề tài 23

Chương 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 24

4.1 Hiện trạng hệ thống quản lý CTRYT ở các bệnh viện thuộc quận Ninh Kiều, Bình Thủy và Cái Răng 24

4.1.1 Thu gom và vận chuyển 24

4.1.2 Quản lý 25

4.2 Dự báo lượng CTRYT đến năm 2025 27

4.2.1 Dự báo số lượng giường bệnh 27

4.2.2 Dự báo lượng chất thải rắn y tế 29

4.3 Quy hoạch nhà máy thiêu hủy chất thải rắn y tế 30

4.3.1 Công nghệ thiêu hủy 30

4.3.2 Quy hoạch nơi xây dựng nhà máy 34

Chương 5 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 41

5.1 Kết luận 41

5.2 Kiến nghị 42

TÀI LIỆU THAM KHẢO 43

PHỤ LỤC 44

Trang 7

DANH SÁCH BẢNG

Bảng 2.1: Nhiễm khuẩn do tiếp xúc với các loại chất thải y tế 8

Bảng 2.2: Nguồn phát sinh các loại CTR đặc thù từ hoạt động y tế 10

Bảng 2.3: Lượng chất thải rắn theo từng loại bệnh viện 12

Bảng 2.4: Lượng chất thải phát sinh tại các khoa trong bệnh viện 12

Bảng 2.5: Khối lượng chất thải y tế nguy hại phát sinh tại các bệnh viện 16

Bảng 4.1: Số lượng giường bệnh tại các quận qua các năm 27

Bảng 4.2: Dự báo số lượng giường bệnh 28

Bảng 4.3: Dự báo lượng chất thải rắn y tế của các bệnh viện 29

Bảng 4.4: Ưu, nhược điểm của một số công nghệ xử lý chất thải rắn y tế 30

Bảng 4.5: Ước tính diện tích đất cần sử dụng 34

Bảng 4.6: Phương án và cho điểm phương án 40

Trang 8

DANH SÁCH HÌNH

Hình 2.1: Thành phần CTRYT dựa trên đặc tính lý hóa 11

Hình 2.2: Thành phần chất thải y tế nguy hại 14

Hình 2.3: Mức độ phát sinh CTNH y tế theo các vùng kinh tế 15

Hình 2.4: Vị trí địa lý quận Ninh Kiều 19

Hình 2.5: Vị trí địa lý quận Cái Răng 20

Hình 2.6: Vị trí địa lý quận Bình Thủy 21

Hình 4.1: Các bước quản lý chất thải bệnh viện 25

Hình 4.2: Mô phỏng quy trình thiêu hủy rác 32

Hình 4.3: Dây chuyền thiêu hủy 32

Hình 4.4: Sơ đồ bố trí mặt bằng khu xử lý chất thải y tế 35

Hình 4.5: Khu đất dự kiến ở Thới Ngươn B - phường Phước Thới - quận Ô Môn 37

Hình 4.6: Khu đất dự kiến ở phường Long Hòa - quận Bình Thủy 38

Hình 4.7: Khu đất dự kiến ở ấp Phú Thuận A - phường Tân Phú - quận Cái Răng 39

Trang 10

Chương 1

GIỚI THIỆU 1.1 Tính cấp thiết

Hiện tại chất thải bệnh viện đang trở thành vấn đề môi trường và xã hội cấp bách ở nước ta, nhiều bệnh viện trở thành nguồn gây ô nhiễm cho khu dân cư xung quanh, gây dư luận cho cộng đồng Các chất thải y tế có chứa đựng các yế tố truyền nhiễm là chất độc hại có trong rác y tế, các loại hóa chất và dược phẩm nguy hiểm, các chất thải phóng xạ, các vật sắt nhọn…những người tiếp xúc với chất thải y tế nguy hại đều có nguy cơ nhiễm bệnh tiềm tàng, bao gồm những người làm việc trong các cơ sở

y tế, những người bên ngoài làm việc thu gom chất thải y tế và những người trong cộng đồng bị phơi nhiễm với chất thải do sự sai sót trong khâu quản lý chất thải Các chất thải y tế này có chứa các chất hữu cơ nhiễm mầm bệnh gây bệnh tật nghiêm trọng, gây ô nhiễm cho môi trường xung quanh bệnh viện, ảnh hưởng xấu đến sức khỏe người dân

Theo thống kê từ Cục quản lý Môi trường Y tế, Việt Nam có khoảng 13.640 cơ

sở y tế các loại là nguồn phát sinh một lượng lớn chất thải y tế Trong đó chất thải rắn

y tế nguy hại phát sinh khoảng 42 tấn/ngày, dự kiến đến năm 2015 có trên 70 tấn/ngày

và năm 2020 có trên 93 tấn/ngày Chất thải y tế đang không ngừng gia tăng, tuy nhiên hiện nay mới chỉ có 44% số bệnh viện có các quy trình xử lý chất thải, còn 56% vẫn chưa áp dụng các quy trình xử lý chất thải đạt tiêu chuẩn Vì vậy đây là một trong những vấn dề lo ngại sâu sắc của các nhà quản lý môi trường và xã hội

Tính đến năm 2010, thành phố Cần Thơ có 106 cơ sở với 2979 giường bệnh Theo thống kê sơ bộ, toàn Thành phố Cần Thơ chỉ có các bệnh viện: Đa khoa Trung Ương Cần Thơ, 121, Lao và Bệnh phổi Thành phố Cần Thơ và 5 bệnh viện tuyến quận, huyện có lò đốt chất thải y tế, hầu hết các bệnh viện còn lại cùng hàng trăm cơ

sở khám chữa bệnh tư nhân, trạm y tế đều chưa có lò xử lý chất thải y tế

Theo dự báo lượng chất thải y tế sẽ tăng nhanh trong thời gian tới Vì vậy, xử lý rác y tế tập trung, đạt chuẩn ở thành phố Cần Thơ đang là vấn đề cấp thiết góp phần giảm thiểu những tác động, ảnh hưởng của chất thải y tế nhằm bảo vệ môi trường sống

Trang 12

Chương 2

LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU 2.1 Định nghĩa

Chất thải y tế là chất thải phát sinh trong các cơ sở y tế, từ các hoạt động khám

bệnh, chữa bệnh, các dịch vụ chăm sóc sức khỏe, xét nghiệm, chuẩn đoán, các hoạt động trong công tác phòng bệnh, các hoạt động nghiên cứu và đào tạo về y sinh học

Theo Quy chế Quản lý Chất thải Y tế, 2007:

Chất thải y tế là vật chất ở thể rắn, lỏng và khí được thải ra từ các cơ sở y tế

bao gồm chất thải y tế nguy hại và chất thải thông thường

Chất thải y tế nguy hại là chất thải y tế chứa yếu tố nguy hại cho sức khỏe

con người và môi trường như dễ lây nhiễm, gây ngộ độc, phóng xạ, dễ cháy, dễ nổ, dễ

ăn mòn hoặc có đặc tính nguy hại khác nếu những chất thải này không được tiêu hủy

an toàn

2.2 Thành phần chất thải rắn y tế

CTRYT phát sinh trong bệnh viện chủ yếu do các hoạt động chuyên môn và phụ thuộc vào số giường bệnh, số bệnh nhân nằm điều trị và còn một lượng chất thải sinh hoạt phát sinh từ nhân viên y tế trong bệnh viện Đối với các bệnh viện ở Việt Nam, do đặc điểm có một số lượng đáng kể người nhà bệnh nhân, người thăm hỏi, một vài dịch vụ khác như nhà hang, ăn uống, sách báo… mà số lượng người vãng lai này khá hơn, nhiều khi tương đương số lượng bệnh nhân nằm viện Chính vì hiện trạng này làm cho lượng phát sinh chất thải rắn trong bệnh viện tăng lên, đặc điểm thành phần chất thải rắn bệnh viện cũng thay đổi theo Kết quả này dẫn tới sự quá tải của các

hệ thống thu gom và xử lý chất thải vốn được thiết kế theo số giường bệnh

2.2.1 Thành phần vật lý

 Đồ bông vải sợi: bông gạc, băng, quần áo cũ, khăn lau, vải trải…

 Đồ giấy: hộp đựng dụng cụ, giấy gói, giấy thải từ nhà vệ sinh…

 Đồ thủy tinh: chai lọ, ống tiêm, bơm tiêm thủy tinh, ống nghiệm…

 Đồ nhựa: hộp đựng, bơm tiêm, dây truyền máu, túi đựng hàng…

 Đồ kim loại: kim tiêm, dao mổ, hộp đựng…

 Bệnh phẩm, máu mủ dính ở băng gạc…

 Rác rưởi, lá cây, đất đá…

Trang 13

2.2.2 Thành phần hóa học

 Những chất vô cơ: kim loại, bột bó, chai lọ thủy tinh, sỏi đá, hóa chất, chất thử

 Những chất hữu cơ: đồ vải sợi, giấy, phần cơ thể, đồ nhựa

 Nếu phân tích nguyên tố thì gồm những thành phần: C, H, O, N, S, Cl và một

2.3.1 Chất thải thông thường

Các chất thải ra từ hoạt động sinh hoạt, hoạt động hành chính, một số vật liệu không có yếu tố nguy hại (chai dịch truyền chứa đựng dung dịch huyết thanh ngọt, huyết thanh mặn…; các loại bao gói nilon và một số chất nhựa khác; một số vật liệu giấy, thủy tinh không dính máu, dịch truyền…)

2.3.2 Chất thải nguy hại

Phế thải phẫu thuật, bông, gạc, chất thải bệnh nhân, chất phóng xạ, hóa chất độc hại, thuốc quá hạn…

Theo Quy chế Quản lý chất thải y tế của Bộ y tế: căn cứ vào các đặc điểm lý học, hóa học, sinh học và tính chất nguy hại, chất thải trong các cơ sở y tế được phân thành 5 nhóm sau:

Trang 14

Nhóm E: bệnh phẩm Nhóm này bao gồm các mô và cơ quan người, động vật, một phần nào đó trên cơ thể bị cắt bỏ do phẫu thuật (cần lưu ý là đối với nhóm chất thải này thì ngay cả khi chúng không chứa nguồn lây nhiễm nhưng vẫn có khả năng gây tác động tâm lý rất mạnh)

Nhóm chất thải phóng xạ

Nhóm chất thải phóng xạ phát sinh từ các hoạt động chuẩn đoán, hóa trị liệu

và nghiên cứu như ống tiêm, bơm tiêm, giấy thấm, gạc sát khuẩn có sử dụng hoặc bị nhiễm các đồng vị phóng xạ

- Chất thải phóng xạ rắn gồm các vật liệu sử dụng trong các xét nghiệm, chuẩn đoán, điều trị như ống tiêm, kim tiêm, bơm tiêm, chai lọ phóng xạ…

- Chất thải phóng xạ lỏng gồm dung dịch có chứa nhân phóng xạ phát sinh trong quá trình chuẩn đoán, điều trị như nước tiểu người bệnh, các chất bài tiết, nước súc rửa các dụng cụ có chứa chất phóng xạ

- Chất thải phóng xạ khí gồm các chất khí dùng trong lâm sàng như xe, các khí thoát ra từ các kho chứa chất phóng xạ

Nhóm chất thải hóa học

Chất thải hóa học bao gồm các hóa chất có thể không gây nguy hại như đường, axit béo, axit amin, một số loại muối… và hóa chất có thể gây nguy hại như Forman dehyde, hóa chất quang học, các dung môi, hóa chất dùng để tiệt khuẩn y tế và dung dịch làm sạch, khử khuẩn, các hóa chất dùng trong khử trùng tẩy uế, thanh trùng…

 Nhóm các bình chứa khí nén có áp suất

Nhóm này bao gồm các bình chứa khí nén có áp suất như bình đựng oxy,

CO2, bình gas, các bình chứa khí một lần… Đa số các bình chứa khí nén này thường

dễ nổ, dễ cháy, nguy cơ tai nạn cao nếu không được tiêu hủy đúng quy cách

 Nhóm chất thải sinh họat

Nhóm này có đặc điểm chung như chất thải sinh hoạt thông thường từ hộ gia đình gồm giấy loại, vải loại, vật liệu đóng bao, đóng gói, thức ăn còn thừa, thực phẩm thải bỏ và các chất thải ngoại cảnh như các loại lá, hoa quả rụng…

2.4 Tác động của CTRYT đến con người và môi trường

CTRYT xét về mức độ dơ bẩn và độc hại có thể quy vào loại ô nhiễm bậc nhất trong số các loại chất thải rắn của xã hội và tất nhiên nó sẽ gây ra nhiều tác động xấu đến môi trường và sức khỏe cộng đồng

Trang 15

2.4.1 CTRYT làm giảm mỹ quan bệnh viện

Việc vận chuyển các loại CTR từ các khoa phòng của các bệnh viện đến nơi tập trung, phân loại, xử lý cũng là điều đáng được quan tâm, nhất là với một số bệnh viện cao tầng

Nếu vận chuyển chất thải từ các tầng trên xuống đất bằng các phương tiện thủ công và sử dụng cầu thang bộ làm tuyến đường vận chuyển chính thì cản trở lưu thông của các bệnh viện và sự va chạm giữa người đi bộ với dụng cụ vận chuyển chất thải Tùy theo mức độ va chạm mà có thể dẫn đến tình trạng đổ vỡ hoặc rơi rớt CTR dọc theo cầu thang làm mất mỹ quan của bệnh viện

2.4.2 Nguy cơ đối với môi trường nước

Nguồn nước có thể bị nhiễm bẩn do các chất độc hại có trong chất thải bệnh viện Chúng có thể chứa các vi sinh vật gây bệnh, chứa kim loại nặng mà phần lớn là thủy ngân từ nhiệt kế và bạc từ quá trình tráng rửa phim X quang Dược phẩm nếu bỏ

đi không qua xử lý cũng có thể gây ra các tác nhân độc hại ngấm vào nguồn nước Ngoài ra, độ ngấm tạo ra do chất thải y tế có nguy cơ gây ô nhiễm nguồn nước bởi nồng độ BOD cao

Khi chôn lấp chất thải y tế không đúng kỹ thuật và không hợp vệ sinh Đặc biệt

là chất thải y tế được chôn lấp chung với chất thải sinh hoạt có thể gây ô nhiễm nguồn nước ngầm

2.4.3 Nguy cơ đối với môi trường đất

Tiêu hủy không an toàn chất thải nguy hại như tro lò đốt hay bùn của hệ thống

xử lý nước thải rất có vấn đề khi các chất gây ô nhiễm từ bãi rác có khả năng thoát ra, gây ô nhiễm đất và nguồn nước

2.4.4 Nguy cơ đối với môi trường không khí

Nguy cơ ô nhiễm không khí tăng lên khi phần lớn chất thải nguy hại được thiêu hủy trong điều kiện không đạt yêu cầu Việc thiêu hủy không đủ nhiệt độ trong khi rác thải đưa vào quá nhiều sẽ gây ra nhiều khói đen Việc đốt chất thải y tế đựng trong túi nilon PVC cùng với các loại dược phẩm nhất định có thể tạo ra khí axit, thường là HCl

và SO2 Trong quá trình đốt cháy với nhiệt độ thấp, thành phần Halogen (F, Cl, Br, I) trong chất thải có thể chuyển thành hydrochloride (HCl) Chất này tạo ra nguy cơ hình thành chất dioxin, một chất cực kì độc hại thậm chí chỉ với một lượng xâm nhập nhỏ Các kim loại nặng dễ bay hơi như thủy ngân cũng có thể thoát ra từ lò thiêu rác của bệnh viện

Trang 16

2.4.5 Ảnh hưởng đến sức khỏe cộng đồng

Những đối tượng có nguy cơ bị lây bệnh:

 Bác sĩ, y tá, hộ lý và các nhân viên hành chính của bệnh viện, những người trực tiếp thực hiện các công việc như tiêm, thay băng…

 Những người thực hiện phân loại, thu gom và vận chuyển CTRYT tại nguồn

về nơi tập kết của bệnh viện

 Bệnh nhân điều trị nội trú và ngoại trú

 Khách tới thăm hoặc người nhà bệnh nhân

 Những công nhân làm việc trong các dịch vụ hỗ trợ bệnh viện phục vụ cho các cơ sở khám chữa bệnh, điều trị, chẳng hạn như giặt ủi, lao công, vận chuyển bệnh nhân, vệ sinh tẩy uế

 Những người làm việc trong các cơ sở xử lý chất thải (tại các bãi đổ rác, các

lò đốt rác)

CTRYT nguy hại phát sinh từ các cơ sở dịch vụ y tế tư nhân quy mô nhỏ lẻ, nằm rải rác cũng là nguồn thải có tiềm năng gây rủi ro về môi trường và sức khỏe do nguồn chất thải này thường khó kiểm soát và ít khi được chú ý tới

2.4.5.1 Ảnh hưởng của các loại chất thải truyền nhiễm và các vật sắc nhọn

Các tác nhân gây bệnh có thể xâm nhập vào cơ thể người thông qua các cách thức sau:

 Qua da, qua một vết thủng, trầy xước hoặc vết cắt trên da do vật sắc nhọn gây tổn thương

 Qua các niêm mạc, màng nhầy

 Qua đường hô hấp do xông, hít thở phải

 Qua đường tiêu hóa do nuốt, ăn phải

Trong các cơ sở y tế, tính kháng đa thuốc kháng sinh của các vi khuẩn đối với hàng loạt họ kháng sinh và các hóa chất sát khuẩn cũng có thể tạo ra những mối nguy

cơ do sự quản lý yếu kém chất thải y tế Điều này đã được chứng minh, chẳng hạn các plasmid từ các động vật thí nghiệm có trong chất thải y tế được truyền cho vi khuẩn gốc qua hệ thống xử lý chất thải Hơn nữa, vi khuẩn E.coli kháng thuốc đã cho thấy nó vẫn còn sống trong môi trường bùn hoạt tính mặc dù ở đó có vẻ như không phải là môi trường thuận lợi cho loài sinh vật này trong điều kiện thông thường của hệ thống xử lý

và tiêu hủy chất thải y tế

Đối với những bệnh có khả năng truyền nhiễm, nguy hiểm do virus gây ra như HIV/AIDS, viêm gan B hoặc C, những nhân viên y tế, đặc biệt các y tá, hộ lý là những

Trang 17

người có nguy cơ nhiễm cao nhất qua các vết thương do các vật sắc nhọn bị nhiễm máu bệnh nhân gây nên Các nhân viên hành chính của bệnh viện cũng như ngoài bệnh viện ở các trạm xử lý chất thải của địa phương, khu vực cũng có nguy cơ đáng kể, chẳng hạn như những nhân viên quét dọn vệ sinh, những người bới rác tại các bãi đổ rác mặc dù chưa có nhiều bằng chứng ghi nhận những nguy cơ này (do chưa có sự quan tâm đúng mức tới các đối tượng này)

Bảng 2.1: Nhiễm khuẩn do tiếp xúc với các loại chất thải y tế

Loại nhiễm khuẩn Vi sinh vật gây bệnh Dạng chất thải y tế

Nhiễm khuẩn tiêu hóa

Nhóm Enterobacteria:

Shigella, Salmonella: Vibrio cholerae, các loại giun sán

Phân hoặc chất nôn

Nhiễm khuẩn hô hấp Vi khuẩn lao, virus sởi,

streptococcus, pneumoniac Các loại dịch tiết, đờm

Nhiễm khuẩn sinh dục Neiserreria gonorrhoeac,

virus herpes Dịch tiết sinh dục

Bệnh than Bacillus antharacis Chất tiết của da (mồ hôi,

chất nhờn…)

Viêm màng não Não mô cầu (neisseria

Sốt xuất huyết Các virus: junin, lassa,

ebola,Marburg

Tất cả các sản phẩm máu

và dịch tiết

Nhiễm khuẩn huyết do

Nhiễm khuẩn huyết do

các loại vi khuẩn khác

nhau

Nhóm tụ cầu khuẩn Enterobacter; Enterococus;

Streptococcus spp;

Klebssiella

Máu

Trang 18

Nấm Candida Cadida albican Máu

Viêm gan B, C Virus viêm gan B,C Máu, dịch thể

2.4.5.2 Ảnh hưởng của các chất thải hóa chất và dược phẩm

Các chất thải hóa chất và dược phẩm có thể gây độc, ăn mòn, gây sốc và ảnh hưởng đến di truyền Các dược sỹ, bác sỹ, y tá, kỹ thuật viên, cán bộ hành chính có thể

có nguy cơ mắc bệnh đưởng hô hấp, bệnh ngoài da do tiếp xúc với các hóa chất dạng lỏng hay bay hơi, dạng phun sương và các dung dịch khác Để hạn chế tới mức thấp nhất loại nguy cơ bệnh nghề nghiệp này bên cạnh việc giảm tối đa lượng hóa chất phải

sử dụng, các bệnh viện cần phải trang bị phương tiện bảo hộ cho tất cả những người tiếp xúc với hóa chất như quần áo, găng tay, khẩu trang…Còn đối với những nơi bảo quản loại hóa chất này cần phải thiết kế hệ thống thông gió phù hợp, cần phải huấn luyện các biện pháp phòng hộ và các trường hợp cấp cứu cho những người có liên quan

2.4.5.3 Ảnh hưởng của các chất thải gây độc gen tế bào

Đối với nhân viên y tế do nhu cầu công việc phải tiếp xúc và xử lý loại chất thải gây độc tế bào mà mức độ ảnh hưởng và chịu tác động từ các rủi ro tiềm tàng sẽ phụ thuộc vào các yếu tố như tính chất, liều lượng gây độc của chất độc và khoảng thời gian tiếp xúc Quá trình tiếp xúc với các chất độc có trong công tác y tế có thể xảy ra trong lúc chuẩn bị, trong quá trình điều trị bằng các thuốc đặc biệt hoặc bằng phương pháp hóa trị liệu Những phương thức tiếp xúc chính là hít phải hóa chất có tính nhiễm độc ở dạng bụi hoặc hơi qua đường hô hấp, bị hấp thụ qua da do tiếp xúc trực tiếp, qua đường tiêu hóa do ăn phải thực phẩm nhiễm thuốc Độc tính đối với tế bào của nhiều loại thuốc chống ung thư là tác động đến các chu kỳ đặc biệt của tế bào, nhằm vào các quá trình tổng hợp AND hoặc quá trình phân bào nguyên phân Chúng cũng có thể gây

ra chóng mặt, buồn nôn, đau đầu hoặc viêm da

2.4.5.4 Ảnh hưởng của chất thải phóng xạ

Loại bệnh và hội chứng gây ra do chất thải phóng xạ được xác định bởi các chất thải, đối tượng và phạm vi tiếp xúc Chất thải phóng xạ cũng như chất thải dược phẩm

là một loại độc hại tới tế bào, gen và cũng có thể ảnh hưởng tới các yếu tố di truyền Tiếp xúc với các nguồn phóng xạ có hoạt tính cao, ví dụ như: các nguồn phóng xạ của các phương tiện chuẩn đoán như máy X-quang, máy chụp cắt lớp…có thể gây ra một loạt các tổn thương chẳng hạn như phá hủy các mô, nhiều khi gây bỏng cấp tính (với một số trường hợp mức độ bị ảnh hưởng trầm trọng tới mức phải dẫn tới việc xử lý loại bỏ hoặc cắt cục các phần cơ thể bị ảnh hưởng)

Trang 19

2.4.5.5 Tính nhạy cảm xã hội

Bên cạnh việc lo ngại đối với những nguy cơ lây bệnh của chất thải rắn y tế tác động lên sức khỏe cộng đồng thường cũng rất nhạy cảm với những ấn tượng tâm lý, ghê sợ đặc biệt là khi nhìn thấy các loại chất thải thuộc về giải phẫu như dạ dày, các khối u, bào thai nhi, máu, chi thể

2.5 Hiện trạng quản lý chất thải rắn y tế ở Việt Nam

2.5.1 Phát sinh chất thải rắn y tế

2.5.1.1 Nguồn phát thải

Nguồn phát sinh chất thải y tế chủ yếu là từ các bệnh viện; các cơ sở y tế khác như: trung tâm vận chuyển cấp cứu, phòng khám sản phụ khoa, nhà hộ sinh, phòng khám ngoại trú, trung tâm lọc máu ; các trung tâm xét nghiệm và nghiên cứu y sinh học; ngân hàng máu Hầu hết các CTR y tế đều có tính chất độc hại và tính đặc thù khác với các loại CTR khác

Bảng 2.2: Nguồn phát sinh các loại CTR đặc thù từ hoạt động y tế

Chất thải bị nhiễm bẩn Các thành phần thải ra sau khi dùng cho bệnh nhân, các

chất thải từ quá trình lau cọ sàn nhà…

Chất thải đặc biệt Các chất phóng xạ, hóa chất dược… từ các khoa khám,

chữa bệnh, hoạt động thực nghiệm, khoa dược…

(Nguồn: Báo cáo môi trường quốc gia 2011, Bộ TNMT)

CTR y tế phát sinh ngày càng gia tăng ở hầu hết các địa phương, xuất phát từ một số nguyên nhân như: gia tăng số lượng cơ sở y tế và tăng số giường bệnh; tăng cường sử dụng các sản phẩm dùng một lần trong y tế; dân số gia tăng, người dân ngày càng được tiếp cận nhiều hơn với dịch vụ y tế

Trang 20

2.5.1.2 Thành phần chất thải rắn y tế

Xét về các thành phần chất thải dựa trên đặc tính lý hóa thì tỷ lệ các thành phần

có thể tái chế là khá cao, chiếm trên 25% tổng lượng CTRYT, chưa kể 52% CTRYT là các chất hữu cơ

(Nguồn: Kết quả điều tra của dự án hợp tác giữa Bộ Y tế và WHO, 2009)

Hình 2.1: Thành phần CTRYT dựa trên đặc tính lý hóa

Trong thành phần CTRYT có lượng lớn chất hữu cơ và thường có độ ẩm tương đối cao, ngoài ra, còn có thành phần nhựa chiếm khoảng 10% Vì vậy, chọn công nghệ

và tiến hành thiêu hủy triệt để nhằm không phát sinh khí độc hại

2.5.1.3 Lượng phát sinh chất thải rắn y tế

Theo nghiên cứu điều tra mới nhất của Cục Khám chữa bệnh - Bộ Y tế và Viện Kiến trúc, Quy hoạch Đô thị và Nông thôn - Bộ Xây dựng, năm 2009 - 2010, tổng lượng CTRYT trong toàn quốc khoảng 100 - 140 tấn/ngày, trong đó có 16 - 30 tấn/ngày là CTRYT nguy hại Lượng CTR trung bình là 0,86 kg/giường/ngày, trong đó CTRYT nguy hại tính trung bình là 0,14 - 0,2 kg/giường/ngày

CTRYT phát sinh ngày càng gia tăng ở hầu hết các địa phương, xuất phát từ một số nguyên nhân như: gia tăng số lượng cơ sở y tế và tăng số giường bệnh; tăng cường sử dụng các sản phẩm dùng một lần trong y tế; dân số gia tăng, người dân ngày càng được tiếp cận nhiều hơn với dịch vụ y tế

Trang 21

Bảng 2.3: Lượng chất thải rắn theo từng loại bệnh viện

(kg/giường bệnh/ngày)

Bệnh viện đại học và y dược 4,1 – 8,7

BV

TW

BV Tỉnh

BV Huyện

Trung bình

BV

TW

BV Tỉnh

BV Huyện

Trung bình Bệnh viện 0,97 0,88 0,73

Trang 22

Trung bình 0,72 0,7 0,56 0,14 0,13 0,09

(Nguồn: Quy hoạch quản lý chất thải y tế, Bộ Y tế, 2009)

2.5.2 Quản lý chất thải rắn y tế hiện nay ở Việt Nam

2.5.2.1 Phân loại, thu gom và vận chuyển CTRYT

Theo kết quả khảo sát 834 bệnh viện của Viện Y học Lao động và Vệ sinh Môi trường năm 2006 và báo cáo của các Sở Y tế từ các địa phương từ 2007-2009 cho thấy 95,6% bệnh viện phân loại chất thải y tế tại nguồn, chỉ có 4,4% bệnh viện chưa thực hiện Các bệnh viện tuyến trung ương, tuyến tỉnh thực hiện phân loại chất thải rắn y tế tại nguồn tốt hơn các bệnh viện tuyến huyện và bệnh viện ngành Có 91,1% đã sử dụng dụng cụ tách riêng vật sắc nhọn Tuy nhiên, việc phân loại còn chưa theo đúng quy cách như còn lẫn nhiều chất thải sinh hoạt vào chất thải y tế gây tốn kém trong việc xử lý (Theo báo cáo kiểm tra của các tỉnh và nhận xét của đoàn kiểm tra liên Bộ)

Hệ thống ký hiệu, màu sắc của túi và thùng đựng chất thải chưa đúng quy chế quản lý chất thải bệnh viện, còn tùy vào điều kiện của từng bệnh viện Chỉ có 63,6%

sử dụng túi nhựa làm bằng nhựa PE, PP, 29,3% sử dụng túi có thành dày theo đúng quy chế

Theo báo cáo của bộ y tế (2009) tỷ lệ thu gom CTR hàng ngày ở các bệnh viện đạt 90,9% Tuy nhiên, phương tiện thu gom chất thải còn thiếu và chưa đồng bộ, hầu hết chưa đạt yêu cầu của quy chế quản lý chất thải y tế Chỉ có 53% số bệnh viện chất thải được vận chuyển trong xe có nắp đậy, có 53,4% bệnh viện có nơi lưu giữ chất thải

có mái che, trong đó có 45,3% đạt yêu cầu theo quy chế quản lý chất thải y tế

2.5.2.2 Xử lý và tái chế CTRYT thông thường

CTRYT không nguy hại ở hầu hết các tỉnh, thành phố đều do Công ty môi trường đô thị thu gom, vận chuyển và được xử lý tại các khu xử lý CTR tập trung của địa phương

Một số vật liệu từ chất thải bệnh viện như: chai dịch truyền chứa dung dịch huyết thanh ngọt (đường glucose 5%, 20%), huyết thanh mặn (NaCl 0,9%), các dung dịch acide amine, các loại muối khác; các loại bao gói nilon và một số chất nhựa khác; một số vật liệu giấy, thuỷ tinh hoàn toàn không có yếu tố nguy hại, có thể tái chế để hạn chế việc thiêu hủy chất thải gây ô nhiễm

Năm 2010, đã phát hiện nhiều hiện tượng đưa CTRYT ra ngoài bán, tái chế trái phép thành các vật dụng thường ngày Việc tái sử dụng các găng tay cao su, các vật liệu nhựa đã và đang tạo ra nhiều rủi ro cho những người trực tiếp tham gia như các nhân viên thu gom, những người thu mua và những người tái chế phế liệu

Trang 23

2.5.2.3 Chất thải rắn y tế nguy hại

Phát sinh chất thải y tế nguy hại

Lượng CTNH y tế phát sinh không đồng đều tại các địa phương, chủ yếu tập trung ở các tỉnh, thành phố lớn Các tỉnh có mức thải CTNH lớn (> 500 tấn/năm) tính trong cả nước theo thứ tự như sau: thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội, Thanh Hóa, Đồng Nai, Vĩnh Phúc, Đà Nẵng, Khánh Hòa, Thừa Thiên Huế, An Giang, Cần Thơ, Nghệ

An, Phú Thọ, Hải Phòng, Long An

Theo số liệu điều tra của Cục Khám chữa bệnh - Bộ Y tế và Viện Kiến trúc, Quy hoạch Đô thị và Nông thôn - Bộ Xây dựng thực hiện năm 2009 - 2010, cũng như

số liệu tổng kết của Tổ chức Y tế thế giới (WHO) về thành phần CTRYT tại các nước đang phát triển có thể thấy lượng CTRYT nguy hại chiếm 22,5%, trong đó phần lớn là CTR lây nhiễm

(Nguồn: Cục Khám chữa bệnh; Bộ Y tế; Viện Kiến trúc, Quy hoạch đô thị và nông thôn, Bộ Xây dựng, 2010)

Hình 2.2: Thành phần chất thải y tế nguy hại

Trang 24

Xét theo 7 vùng kinh tế trong cả nước (trong đó vùng Đông Bắc và vùng Tây Bắc Bắc Bộ được gộp chung vào 1 vùng), vùng Đông Nam Bộ phát sinh lượng thải nguy hại lớn nhất trong cả nước với tổng lượng thải là 10.502,8 tấn/năm (chiếm 32%), tiếp đến là vùng Đồng bằng sông Hồng (chiếm 21%)

(Nguồn: Cục Khám chữa bệnh; Bộ Y tế; Viện Kiến trúc; Quy hoạch đô thị và nông thôn, Bộ Xây dựng, 2010)

Hình 2.3: Mức độ phát sinh CTNH y tế theo các vùng kinh tế

Lượng CTNH y tế phát sinh khác nhau giữa các loại cơ sở y tế khác nhau Các nghiên cứu cho thấy các bệnh viện tuyến trung ương và tại các thành phố lớn có tỷ

lệ phát sinh CTNH y tế cao nhất Tính trong 36 bệnh viện thuộc Bộ Y tế, tổng lượng CTNH y tế cần được xử lý trong 1 ngày là 5.122 kg, chiếm 16,2% tổng lượng CTRYT Trong đó, lượng CTNH y tế tính trung bình theo giường bệnh là 0,25 kg/ giường/ngày

Trang 25

Bảng 2.5: Khối lượng chất thải y tế nguy hại phát sinh tại các bệnh viện

ĐVT: kg/giường bệnh/ngày

Bệnh viện chuyên khoa

Bệnh viện chuyên khoa

(Nguồn: Bộ Y tế, 2010)

 Xử lý và tiêu hủy chất thải y tế nguy hại

Khối lượng CTRYT nguy hại được xử lý đạt tiêu chuẩn chiếm 68% tổng lượng phát sinh CTRYT nguy hại trên toàn quốc CTRYT xử lý không đạt chuẩn (32%) là nguyên nhân gây ô nhiễm môi trường và ảnh hưởng tới sức khỏe cộng đồng Các thành phố lớn như Tp Hồ Chí Minh và Hà Nội đã có xí nghiệp xử lý CTRYT nguy hại vận hành tốt, tổ chức thu gom và xử lý, tiêu huỷ CTRYT nguy hại cho toàn

bộ cơ sở y tế trên địa bàn Một số thành phố lớn đã bố trí lò đốt CTYT nguy hại tập trung tại khu xử lý chung của thành phố Các cơ sở trực thuộc Bộ Y tế có mức độ đầu

tư xử lý CTRYT nguy hại cao hơn hẳn các cơ sở tuyến địa phương Bên cạnh lí do về công nghệ và trình độ quản lý, thì thiếu kinh phí vận hành là yếu tố quan trọng dẫn đến các lò đốt hoạt động phân tán không đạt hiệu quả

Tính riêng vùng Đồng bằng sông Cửu Long có số lò đốt hoạt động tốt là 64 lò (58%) Có 10/13 tỉnh đã bố trí xử lý CTRYT tại khu xử lý CTR chung của tỉnh và thành phố (Nguồn: Quy hoạch tổng thể hệ thống xử lý CTR y tế nguy hại đến năm 2025 - Bộ Xây

dựng, 2010).

Đến năm 2006, hơn 500 lò đốt đã được lắp đặt tại các cơ sở y tế tại Việt Nam, tập trung chủ yếu ở các thành phố lớn Tuy nhiên, trong số đó có tới hơn 33% số lò không được hoạt động do nhiều lý do khác nhau

Với tuyến y tế cấp tỉnh, CTRYT phần lớn được thuê xử lý, công tác tự xử lý bằng lò đốt chiếm số lượng không nhiều Còn với tuyến y tế cấp huyện, công tác xử lý chất thải y tế hết sức đa dạng, phong phú với nhiều loại hình khác nhau và khó có thể kiểm soát

Trang 26

Nhìn chung các lò đốt CTRYT nguy hại còn nhiều hạn chế, tập trung vào các vấn đề sau: Chi phí đầu tư, hiệu suất vận hành, chi phí xử lý khí thải lớn Hơn nữa, do chất đốt thường được sử dụng là dầu Diezel nên rất khó đảm bảo đủ và đúng yêu cầu nhiệt độ khi vận hành (nhiệt trị của dầu thấp và bắt buộc phải lưu thông khí khi đốt)

Hiện nay có hai loại công nghệ thân thiện với môi trường chủ yếu được lựa chọn thay thế các lò đốt chất thải y tế là công nghệ khử khuẩn bằng nhiệt ẩm (autoclave) và công nghệ có sử dụng vi sóng Trong đó, công nghệ sử dụng vi sóng kết hợp hơi nước bão hòa là loại công nghệ tiên tiến nhất hiện nay bởi có hiệu quả khử tiệt khuẩn cao và thời gian xử lý nhanh, hiện đang được áp dụng tại Trung tâm y tế Viesovpetro Vũng Tàu Định hướng trong tương lai sẽ hạn chế việc sử dụng các lò đốt

để xử lý chất thải y tế nguy hại, từng bước thay thế chúng bằng các thiết bị sử dụng công nghệ khử khuẩn bằng nhiệt ướt, vi sóng hoặc các phương pháp tiên tiến khác

2.6 Một số phương pháp xử lý rác y tế nguy hại

2.6.1 Thiêu hủy

Thiêu hủy là phương pháp thành công nhất đảm bảo phá hủy các đặc tính độc hại của chất thải y tế, giảm thiểu thể tích rác đến 95%, tiêu diệt hoàn toàn vi khuẩn gây bệnh ở nhiệt độ (1050 – 11000C), không đòi hỏi mặt bằng lớn và ít gây ô nhiễm môi trường Tuy nhiên, trong điều kiện hiện nay thì chi phí cho xử lý rác bằng phương pháp thiêu hủy còn quá cao và cần phải lắp đặt hệ thống xử lý khí sau lò đốt để quá trình xử lý không thải ra khí gây ảnh hưởng tới khu vực dân cư xung quanh

2.6.2 Khử trùng

Theo phương pháp này, các chất thải có khả năng lây nhiễm trước khi thải ra môi trường như chất thải sinh hoạt thông thường phải đem đi khử trùng Ở các nước phát triển, việc khử trùng còn được coi là công đoạn đầu của việc thu gom chất thải y

tế nhằm hạn chế khả năng gây tai nạn của chất thải

 Khử trùng bằng hóa chất: hóa chất thường dùng là Clo, hypoclorit Đây là phương pháp đơn giản và rẻ tiền, nhưng có nhược điểm là không tiêu diệt được hết lượng vi khuẩn trong rác nếu thời gian tiếp xúc ngắn Ngoài ra, một số vi khuẩn có khả năng bền vững với hóa chất xử lý hoặc Clo chỉ là chất khử trùng hữu hiệu khi không

có các chất hữu cơ… Do vậy, hiệu quả của phương pháp khử trùng không cao

 Khử trùng bằng nhiệt và áp suất cao: đây là phương pháp khử trùng hiệu quả cao nhưng thiết bị để xử lý đắt tiền và đòi hỏi chế độ vận hành, bảo dưỡng cao

Trang 27

2.6.3 Chôn lấp

Đây là phương pháp dễ làm, ít tốn kém nhưng lại chiếm nhiều diện tích xây dựng Thực chất, phương pháp này không giải quyết triệt để rác thải Chất thải sau khi chôn lấp vẫn có thể phát tán đi những nơi khác nhờ các loài chuột, côn trùng hoặc nó

có thể thấm xuống đất theo nước mưa và gây ô nhiễm nguồn nước ở những vùng xung quanh Do đặc tính nguy hại của chất thải bệnh viện, phương pháp này chỉ áp dụng cho chất thải rắn sinh hoạt của bệnh viện và tro của chất thải bệnh viện sau quá trình xử lý bằng phương pháp thiêu hủy

Tuy nhiên, phương pháp này được dùng phổ biến ở nhiều nơi nhất là các nước đang phát triển Chất thải được chuyển đến bãi chôn lấp thành từng ô có lớp phủ, lớp lót trên và dưới ô chôn lấp để ngăn ngừa chất thải phát tán theo gió hoặc ngấm vào lòng đất

2.6.4 Đóng rắn

Quá trình đóng rắn chất thải cùng với chất cố dịnh xi măng, vôi Thông thường người ta trộn hỗn hợp rác y tế nguy hại 65%, vôi 15%, xi măng 15%, nước 5% Hỗn hợp này được nén thành khối, trong một số trường hợp nó được dùng làm vật liệu xây dựng

Trong thực hành tại bệnh viện, đối với một số chất thải y tế có dạng sắc nhọn như kim tiêm, lưỡi dao mổ, kim khâu… Người ta cũng thường áp dụng phương pháp thu gom và chờ xử lý

Trang 28

2.7 Tổng quan về địa điểm nghiên cứu

2.7.1 Khái quát về quận Ninh Kiều, TPCT

2.7.1.1 Vị trí địa lý

Quận Ninh Kiều được thành lập ngày 02/01/2004, theo Nghị định số 05/2004/NĐ-CP

Hình 2.4: Vị trí địa lý quận Ninh Kiều

 Đông giáp tỉnh Vĩnh Long

 Tây giáp huyện Phong Điền

 Nam giáp huyện Phong Điền và quận Cái Răng

 Bắc giáp quận Bình Thủy

2.7.1.2 Đơn vị hành chánh

Đối với TPCT, Ninh kiều là một trung tâm kinh tế có tổng diện tích là 2.926,46

ha với 246.743 người (theo Niên giám thống kê TPCT năm 2010) Toàn quận được chia làm 13 phường: An Phú, An Nghiệp, An Hội, An Lạc, An Hoà, An Cư, An Bình,

An Khánh, Hưng Lợi, Cái Khế, Xuân Khánh, Thới Bình, Tân An

Ngày đăng: 23/09/2015, 23:15

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 2.1: Thành phần CTRYT dựa trên đặc tính lý hóa. - quy hoạch nhà máy thiêu hủy chất thải rắn y tế cho 3 quận ninh kiều, bình thủy và cái răng
Hình 2.1 Thành phần CTRYT dựa trên đặc tính lý hóa (Trang 20)
Hình 2.2: Thành phần chất thải y tế nguy hại. - quy hoạch nhà máy thiêu hủy chất thải rắn y tế cho 3 quận ninh kiều, bình thủy và cái răng
Hình 2.2 Thành phần chất thải y tế nguy hại (Trang 23)
Hình 2.3: Mức độ phát sinh CTNH y tế theo các vùng kinh tế. - quy hoạch nhà máy thiêu hủy chất thải rắn y tế cho 3 quận ninh kiều, bình thủy và cái răng
Hình 2.3 Mức độ phát sinh CTNH y tế theo các vùng kinh tế (Trang 24)
Hình 2.4: Vị trí địa lý quận Ninh Kiều. - quy hoạch nhà máy thiêu hủy chất thải rắn y tế cho 3 quận ninh kiều, bình thủy và cái răng
Hình 2.4 Vị trí địa lý quận Ninh Kiều (Trang 28)
Hình 2.5: Vị trí địa lý quận Cái Răng. - quy hoạch nhà máy thiêu hủy chất thải rắn y tế cho 3 quận ninh kiều, bình thủy và cái răng
Hình 2.5 Vị trí địa lý quận Cái Răng (Trang 29)
Hình 2.6: Vị trí địa lý quận Bình Thủy. - quy hoạch nhà máy thiêu hủy chất thải rắn y tế cho 3 quận ninh kiều, bình thủy và cái răng
Hình 2.6 Vị trí địa lý quận Bình Thủy (Trang 30)
Hình 4.1: Các bước quản lý chất thải bệnh viện. - quy hoạch nhà máy thiêu hủy chất thải rắn y tế cho 3 quận ninh kiều, bình thủy và cái răng
Hình 4.1 Các bước quản lý chất thải bệnh viện (Trang 34)
Hình 4.2: Mô phỏng quy trình thiêu hủy rác. - quy hoạch nhà máy thiêu hủy chất thải rắn y tế cho 3 quận ninh kiều, bình thủy và cái răng
Hình 4.2 Mô phỏng quy trình thiêu hủy rác (Trang 41)
Hình 4.3: Dây chuyền thiêu hủy. - quy hoạch nhà máy thiêu hủy chất thải rắn y tế cho 3 quận ninh kiều, bình thủy và cái răng
Hình 4.3 Dây chuyền thiêu hủy (Trang 41)
Hình 4.4: Sơ đồ bố trí mặt bằng khu xử lý chất thải y tế. - quy hoạch nhà máy thiêu hủy chất thải rắn y tế cho 3 quận ninh kiều, bình thủy và cái răng
Hình 4.4 Sơ đồ bố trí mặt bằng khu xử lý chất thải y tế (Trang 44)
Hình 4.5: Khu đất dự kiến ở Thới Ngươn B - phường Phước Thới - quận Ô Môn. - quy hoạch nhà máy thiêu hủy chất thải rắn y tế cho 3 quận ninh kiều, bình thủy và cái răng
Hình 4.5 Khu đất dự kiến ở Thới Ngươn B - phường Phước Thới - quận Ô Môn (Trang 46)
Hình 4.6: Khu đất dự kiến ở phường Long Hòa - quận Bình Thủy. - quy hoạch nhà máy thiêu hủy chất thải rắn y tế cho 3 quận ninh kiều, bình thủy và cái răng
Hình 4.6 Khu đất dự kiến ở phường Long Hòa - quận Bình Thủy (Trang 47)
Hình 4.7: Khu đất dự kiến ở ấp Phú Thuận A - phường Tân Phú –  quận Cái Răng. - quy hoạch nhà máy thiêu hủy chất thải rắn y tế cho 3 quận ninh kiều, bình thủy và cái răng
Hình 4.7 Khu đất dự kiến ở ấp Phú Thuận A - phường Tân Phú – quận Cái Răng (Trang 48)
PHỤ LỤC 3: HÌNH ẢNH CÓ LIÊN QUAN. - quy hoạch nhà máy thiêu hủy chất thải rắn y tế cho 3 quận ninh kiều, bình thủy và cái răng
3 HÌNH ẢNH CÓ LIÊN QUAN (Trang 56)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w