gây lem lép hạt lúa trong điều kiện phòng thí nghiệm” được thực hiện từ tháng 5 năm 2012 đến tháng 11 năm 2013 tại phòng thí nghiệm Nedo, Bộ môn Bảo vệ Thực vật, Khoa Nông nghiệp & Sinh
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG
BỘ MÔN BẢO VỆ THỰC VẬT
Chứng nhận luận văn tốt nghiệp với đề tài:
“KHẢO SÁT HIỆU QUẢ CỦA MỘT SỐ LOẠI THUỐ
H HỌ V ỊCH TRÍCH THỰC VẬT ĐỐI VỚI
NẤM Trichoconis sp VÀ Aspergillus sp GÂY
LEM LÉP HẠT LÚ TRONG ĐIỀU KIỆN
PHÒNG THÍ NGHIỆM”
Do sinh viên Lê Huyền Thảo thực hiện và đề nạp
Kính trình Hội Đồng chấm luận văn tốt nghiệp xem xét
Cần Thơ, ngày tháng năm Cán bộ hướng dẫn
Th.S Lê Thanh Toàn
Trang 2
i
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG
BỘ MÔN BẢO VỆ THỰC VẬT
Hội đồng chấm luận văn tốt nghiệp đã chấp nhận luận văn tốt nghiệp Kỹ sư Bảo vệ
Thực vật với đề tài:
“KHẢO SÁT HIỆU QUẢ CỦA MỘT SỐ LOẠI THUỐ
H HỌ V ỊCH TRÍCH THỰC VẬT ĐỐI VỚI
NẤM Trichoconis sp VÀ Aspergillus sp GÂY
LEM LÉP HẠT LÚ TRONG ĐIỀU KIỆN
PHÒNG THÍ NGHIỆM” Do sinh viên Lê Huyền Thảo thực hiện và bảo vệ trước Hội đồng, ngày tháng năm Luận văn đã được Hội đồng đánh giá ở mức:………điểm Ý KIẾN HỘI ĐỒNG………
………
………
………
………
Cần Thơ, ngày tháng năm DUYỆT KHOA NN & SHƯD CHỦ TỊCH HỘI ĐỐNG CHỦ NHIỆM KHOA
Trang 3ii
TIỂU SỬ Á NHÂN
Nơi sinh: Huyện Duyên Hải – Tỉnh Trà Vinh
Quê quán: Ấp Long Khánh, Xã Long Khánh, Huyện Duyên Hải, Tỉnh Trà Vinh Quá trình học tập:
Năm 1998 – 2003: học tại trường Tiểu Học Long Khánh A
Năm 2003 – 2007: học tại trường Trung Học Cơ Sở Long Khánh A
Năm 2007 – 2010: học tại trường Trung Học Phổ Thông Long Khánh
Năm 2010– 2014: học tại trường Đại Học Cần Thơ Chuyên ngành Bảo Vệ Thực Vật, khóa 36, khoa Nông nghiệp &Sinh học Ứng dụng, trường Đại học Cần Thơ
Trang 4iii
LỜI M ĐO N
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của bản thân Các số liệu, kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình luận văn nào trước đây
Tôi xin cam đoan rằng, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn đã được cảm
ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đều được chỉ rõ nguồn gốc
Cần Thơ, ngày tháng năm
Tác giả luận văn
Lê Huyền Thảo
Trang 5iv
LỜI ẢM ƠN
Để hoàn thành đề tài tốt nghiệp này, ngoài sự cố gắng, nỗ lực của bản thân, tôi
đã nhận được rất nhiều sự quan tâm, giúp đỡ nhiệt tình của thầy cô, bạn bè và người thân
Trước tiên, tôi xin bày tỏ lời cảm ơn chân thành và lòng biết ơn sâu sắc tới Th.S Lê Thanh Toàn đã tận tình chỉ bảo, hướng dẫn và động viên tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài và hoàn thành tốt luận văn này
Tôi xin tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy cố vấn học tập, quý thầy cô trong Khoa Nông nghiệp & Sinh Học Ứng Dụng – những người đã trực tiếp giảng dạy, truyền đạt những kiến thức kinh nghiệm quí báo trong suốt thời gian tôi theo học tại trường
Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến chị Nguyễn Thị Hàn Ni, anh Nguyễn Thanh Nam và các bạn trong phòng thí nghiệm Nedo đã giúp đỡ tôi trong suốt quá trình làm luận văn Các bạn thuộc lớp Bảo vệ Thực vật khóa 36 đã nhiệt tình giúp
đỡ tôi trong suốt thời gian học tập
Cuối cùng, con xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới má suốt đời tận tụy vì sự nghiệp
và tương lai của con
LÊ HUYỀN THẢO
Trang 6v
LÊ HUYỀN THẢO, 2013 “KHẢO SÁT HIỆU QUẢ CỦA MỘT SỐ LOẠI THUỐ H HỌ V ỊCH TRÍCH THỰC VẬT ĐỐI VỚI NẤM
Trichoconis sp V Aspergillus sp GÂY LEM LÉP HẠT LÚ TRONG ĐIỀU
KIỆN PHÒNG THÍ NGHIỆM” Luận văn tốt nghiệp kỹ sư ngành Bảo vệ Thực
Vật, khoa Nông nghiệp & Sinh học Ứng dụng Trường Đại học Cần Thơ Cán bộ hướng dẫn khoa học: Th.S Lê Thanh Toàn
T M LƯỢ
Đề tài“Khảo sát hiệu quả của một số loại thuốc hóa học và dịch trích thực vật
đối với nấm Trichoconis sp và Aspergillus sp gây lem lép hạt lúa trong điều kiện
phòng thí nghiệm” được thực hiện từ tháng 5 năm 2012 đến tháng 11 năm 2013 tại phòng thí nghiệm Nedo, Bộ môn Bảo vệ Thực vật, Khoa Nông nghiệp & Sinh học Ứng dụng, Trường Đại học Cần Thơ nhằm mục tiêu: (1) Chọn ra loại thuốc và nồng
độ có khả năng ức chế tốt sự phát triển khuẩn ty nấm Trichoconis sp và Aspergillus
sp trong điều kiện in vitro (2) Chọn ra loại dịch trích thực vật và nồng độ có khả
năng ức chế tốt sự phát triển khuẩn ty nấm Trichoconis sp và Aspergillus sp trong
điều kiện in vitro
Kết quả 4 loại thuốc hóa học được sử dụng trong thí nghiệm Tilt super 300EC, Rocksai Super 525SE, Man 80WP và Comcat 150WP với 3 nồng độ khác nhau Đối
với nấm Trichoconis sp thì nghiệm thức xử lý với Tilt super 300EC, Man 80WP có
khả năng ức chế tương đương nhau và ức chế mạnh sự phát triển khuẩn ty nấm ngay nồng độ 46,9µl/100ml đối với Tilt super 300EC và 0,25g/100ml đối với Man 80WP (nồng độ bằng ½ khuyến cáo), hiệu quả ức chế trung bình là 91,85% thời điểm
168GSĐKT Đối với nấm Aspergillus sp nghiệm thức xử lý với Tilt super 300EC
có khả năng ức chế sự phát triển khuẩn ty nấm cao nhất và ức chế tốt ngay nồng độ 46,9µl/100ml, cho hiệu quả trung bình là 92,41% thời điểm 168GSĐKT
Trong 4 loại dịch trích thực vật được sử dụng làm thí nghiệm lá neem, cỏ hôi,
cỏ cứt heo và húng chanh với 3 nồng độ khác nhau là 2%, 4% và 8% Đối với nấm
Trichoconis sp thì nghiệm thức xử lý với dịch trích húng chanh ở nồng độ 4% có
khả năng ức chế sự phát triển khuẩn ty nấm tốt nhất, trung bình hiệu quả 60,72% ở
thời điểm 168GSĐKT Đối với nấm Aspergillus sp nghiệm thức xử lý với cỏ cứt
heo ở nồng độ 8% có khả năng ức chế sự phát triển khuẩn ty nấm tốt hơn các nghiệm thức còn lại, nhưng hiệu quả thấp hiệu quả trung bình là 10,68% ở thời điểm 168GSĐKT
Trang 7vi
MỤ LỤ
TIỂU SỬ CÁ NHÂN ii
LỜI CAM ĐOAN iii
LỜI CẢM ƠN iv
TÓM LƯỢC v
MỤC LỤC vi
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT ix
DANH SÁCH BẢNG x
DANH SÁCH HÌNH xi
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1.LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU 2
1.1 SƠ LƯỢC VỀ BỆNH LEM LÉP HẠT TRÊN LÚA 2
1.1.1 Triệu chứng 2
1.1.2 Tác nhân 2
1.1.2.1 Lem lép hạt do nấm 2
1.1.2.2 Lem lép hạt do vi khuẩn 3
1.1.2.3 Lem lép hạt do tuyến trùng 4
1.1.2.4 Lem lép hạt do vi rút 4
1.1.3 Phân bố và tác hại 4
1.2 SƠ LƯỢC CÁC NGHIÊN CỨU THÀNH PHẦN NẤM GÂY HẠI TRÊN HẠT LÚA 5
1.2.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới 5
1.2.2 Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam 6
1.3 SƠ LƯỢC VỀ NẤM Trichoconis padwickii VÀ Aspergillus sp GÂY BỆNH TRÊN HẠT LÚA 9
Trang 8vii
1.3.1 Nấm Trichoconis padwickii 9
1.3.2 Nấm Aspergillus sp 11
1.4 SƠ LƯỢC VỀ CÁC LOẠI DỊCH TRÍCH THỰC VẬT SỬ DỤNG TRONG THÍ NGHIỆM 13
1.4.1 Cây Neem 13
1.4.2 Cỏ hôi 15
1.4.3 Cây cỏ cứt heo 16
1.4.4 Cây húng chanh 17
1.5 SƠ LƯỢC VỀ CÁC LOẠI THUỐC HÓA HỌC SỬ DỤNG TRONG THÍ NGHỆM 18
1.5.1.Tilt super 300EC 18
1.5.2 Rocksai super 525SE 19
1.5.3.Man 80WP 20
1.5.4 Comcat 150WP 21
CHƯƠNG 2.PHƯƠNG TIỆN VÀ PHƯƠNG PHÁP 21
2.1 PHƯƠNG TIỆN THÍ NGHIỆM 21
2.1.1 Thời gian và địa điểm 21
2.1.2 Vật liệu thí nghiệm 21
2.1.3 Dụng cụ thí nghiệm 22
2.1.4 Thiết bị thí nghiệm 22
2.1.5 Công thức môi trường được dùng trong bố trí thí nghiệm: 22
2.2 PHƯƠNG PHÁP THÍ NGHIỆM 23
2.2.1 Thí nghiệm 1 Khảo sát hiệu quả của các loại thuốc hóa học đối với nấm Trichoconis sp và Aspergillus sp gây lem lép hạt lúa in vitro 23
2.2.2 Thí nghiệm 2 Khảo sát hiệu quả của các loại dịch trích thực vật đối với nấm Trichoconis sp và Aspergillus sp gây lem lép hạt lúa in vitro 24
Trang 9viii
2.2.3 Thí nghiệm 3 Đánh giá hiệu quả của các loại thuốc hóa học và dịch trích
thực vật đối với nấm Trichoconis sp và Aspergillus sp gây lem lép hạt lúa in
vitro 26
CHƯƠNG 3.KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 27
3.1 HIỆU QUẢ ĐỐI KHÁNG IN VITRO CỦA 4 LOẠI THUỐC HÓA HỌC LÊN SỰ PHÁT TRIỂN CỦA NẤM Trichoconis sp.VÀ Aspergillus sp GÂY BỆNH LEM LÉP HẠT LÚA 27
3.1.1 Nấm Trichoconis sp 27
3.1.2 Nấm Aspergillus sp 34
3.2 HIỆU QUẢ ĐỐI KHÁNG IN VITRO CỦA 4 LOẠI DỊCH TRÍCH THỰC VẬT LÊN SỰ PHÁT TRIỂN CỦA NẤM Trichoconis sp VÀ Aspergillus sp GÂY BỆNH LEM LÉP HẠT LÚA 41
3.2.1 Nấm Trichoconis sp 41
3.2.2 Nấm Aspergillus sp 48
3.3 HIỆU QUẢ ĐỐI KHÁNG IN VITRO CỦA 2 LOẠI THUỐC HÓA HỌC VÀ 2 LOẠI DỊCH TRÍCH THỰC VẬT ĐƯỢC CHỌN LÊN SỰ PHÁT TRIỂN CỦA NẤM Trichoconis sp VÀAspergillus sp GÂY BỆNH LEM LÉP HẠT LÚA 55
3.3.1 Nấm Trichoconis sp 55
3.3.2 Nấm Aspergillus sp 59
3.3.3 Hiệu quả ức chế số lượng bào tử nấm Aspergillus sp của các loại thuốc hóa học và dịch trích thực vật sau 12 ngày đặt khuẩn ty 63
CHƯƠNG 4 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 64
4.1 KẾT LUẬN 64
4.2 ĐỀ NGHỊ 64
TÀI LIỆU THAM KHẢO 65
Trang 10ix
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
Trang 11Bảng 3.1 Ảnh hưởng của các loại thuốc hóa học lên sự phát triển đường kính (cm) của
khuẩn ty nấm Trichoconis sp trong điều kiện in vitro
24
Bảng 3.2 Hiệu quả ức chế (%) sự phát triển khuẩn ty nấm Trichoconis sp của các loại
thuốc hóa học trong điều kiện in vitro
26
Bảng 3.3 Ảnh hưởng của các loại thuốc hóa học lên sự phát triển đường kính (cm) của
khuẩn ty nấm Aspergillus sp trong điều kiện in vitro
31
Bảng 3.4 Hiệu quả ức chế (%) sự phát triển khuẩn ty nấm Aspergillussp của các loại
thuốc hóa học trong điều kiện in vitro
33
Bảng 3.5 Ảnh hưởng của các loại dịch trích thực vật lên sự phát triển đường kính (cm)
của khuẩn ty nấm Trichoconis sp trong điều kiện in vitro
38
Bảng 3.6 Hiệu quả ức chế (%) sự phát triển khuẩn ty nấm Trichoconis sp của các loại
dịch trích thực vật trong điều kiện in vitro
40
Bảng 3.7 Ảnh hưởng của các loại dịch trích thực vật lên sự phát triển đường kính (cm)
của khuẩn ty nấm Aspergillus sp trong điều kiện in vitro
45
Bảng 3.8 Hiệu quả ức chế (%) sự phát triển khuẩn ty nấm Aspergillussp của các loại
dịch trích thực vật trong điều kiện in vitro
47
Bảng 3.9 Ảnh hưởng của các loại thuốc hóa học và dịch trích thực vật lên sự phát triển
đường kính (cm) của khuẩn ty nấm Trichoconis sp trong điều kiện in vitro
52
Bảng 3.10 Hiệu quả ức chế (%) sự phát triển khuẩn ty nấm Trichoconis sp của các loại
thuốc hóa học và dịch trích thực vật trong điều kiện in vitro
52
Bảng 3.11 Ảnh hưởng của các loại thuốc hóa học và dịch trích thực vật lên sự phát triển
đường kính (cm) của khuẩn ty nấm Aspergillus sp trong điều kiện in vitro
55
Bảng 3.12 Hiệu quả ức chế (%) sự phát triển khuẩn ty nấm Aspergillus sp của các loại
thuốc hóa học và dịch trích thực vật trong điều kiện in vitro
55
Trang 12xi
Bảng 3.13 Hiệu quả của một số loại thuốc hóa học và dịch trích thực vật lên sự hình
thành bào tử nấm Aspergillus sp trong điều kiện in vitro
Hình 2.1 Sơ đồ bố trí thử nghiệm hiệu quả của thuốc hóa học đối với nấm
Trichoconis sp (hoặc Aspergillus sp.) gây lem lép hạt lúa
20
Hình 2.2 Sơ đồ bố trí thử nghiệm hiệu quả của dịch trích thực vật đối với nấm
Trichoconis sp (hoặc Aspergillus sp.) gây lem lép hạt lúa
21
Hình 3.1 Sự phát triển khuẩn ty nấm Trichoconis sp của các nghiệm thức Man
80WP và Rocksai super 525SE sau năm ngày thử thuốc 28
Hình 3.2 Sự phát triển khuẩn ty nấm Trichoconis sp của các nghiệm thức Tilt super
Hình 3.3 Sự phát triển khuẩn ty nấm Aspergillus sp của các nghiệm thức Man 80WP
Hình 3.4 Sự phát triển khuẩn ty nấm Aspergillus sp của các nghiệm thức Tilt super
Hình 3.5 Sự phát triển khuẩn ty nấm Trichoconis sp của các nghiệm thức dịch trích
Hình 3.6 Sự phát triển khuẩn ty nấm Trichoconis sp của các nghiệm thức dịch trích
Hình 3.7 Sự phát triển khuẩn ty nấm Aspergillus sp của các nghiệm thức dịch trích
Trang 13xii
Hình 3.8 Sự phát triển khuẩn ty nấm Aspergillus sp của các nghiệm thức dịch trích
Hình 3.9
Sự phát triển khuẩn ty nấm Trichoconis sp của các nghiệm thức thuốc hóa
học và dịch trích thực vật sau bảy ngày thử thuốc
56
Hình 3.10 Sự phát triển khuẩn ty nấm Aspergillus sp của các nghiệm thức thuốc hóa
học và dịch trích thực vật sau bảy ngày thử thuốc
Trang 141
MỞ ĐẦU
Lúa (Oryzae sativa L.) là một trong những cây lương thực quan trọng hàng
đầu thế giới và là nguồn sinh sống chủ yếu cho đa số người Châu Á, khu vực đông dân nhất thế giới Việt Nam một nước chủ lực về sản suất nông nghiệp, đặc biệt là sản suất lương thực Trong những năm qua, một trong những yếu tố quan trọng để tăng sản suất lúa gạo là sử dụng các giống mới năng suất cao và thâm canh tăng vụ, trồng dày, sử dụng nhiều phân bón Đây cũng là một nguyên nhân làm phá vỡ cân bằng sinh học giữa cây trồng và sâu bệnh hại Ở Việt Nam, qua kết quả điều tra từ năm 1995 đến nay cho thấy tất cả các nấm gây bệnh và hầu hết các bệnh gây hại đến năng suất chất lượng lúa trên đồng ruộng đều là các bệnh có khả năng tồn tại và
truyền qua hạt giống như bệnh đốm nâu (do nấm Bipolarisoryzae), bệnh đốm vòng (do nấm Alternaria padwickii), bệnh lúa von (do nấm Fusarium moniliforme), bệnh đạo ôn (do nấm Pyricularia oryzae), bệnh thối bẹ (do nấm Sarocladium oryzae)…
Trong số các bệnh gây hại cho lúa, bệnh lem lép hạt là một trong những bệnh quan trọng nhất, không những ảnh hưởng đến chất lượng hạt, năng suất mà còn ảnh hưởng đến xuất khẩu lúa gạo ở nước ta (Nguyễn Kim Vân và ctv., 2006) Bệnh lem lép hạt lúa hiện diện hầu hết ở các vùng trồng lúa và đặc biệt gây hại nghiêm trọng
ở các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long, nhất là vụ Hè Thu Mặt khác, trong sản suất nông nghiệp nói chung và sản suất lúa gạo nói riêng, chất lượng hạt giống và mức
độ sạch bệnh của hạt giống luôn được quan tâm hàng đầu, liên quan lớn đến mức độ nảy mầm, sự phát triển của cây và tình hình bệnh hại sau này trên cây lúa Các đề tài nghiên cứu thành phần nấm gây hại trên hạt lúa tại các tỉnh ĐBSCL như Pham Van Du và ctv (2001), Huynh Van Nghiep và ctv (2001), Ho Van Chien và ctv (2001), Hồ Văn Thơ (2007), Huỳnh Thị Diễm (2011), Trần Thị Thu Thủy (2011)…đều cho biết có nhiều loài nấm hiện diện trên hạt lúa Trong đó, nấm
Alternaria sp và Aspergillus sp là một trong những loài nấm xuất hiện phổ biến trên hạt lúa Nấm Alternaria sp có khả năng xâm nhiễm trên đồng ruộng gây ra các
vết đốm cháy trên lá (gây bệnh đốm vòng trên lúa), không những thế nó còn gây bệnh lem lép hạt sau khi thu hoạch với tỷ lệ nhiễm rất cao từ 39 – 80% (Nguyễn
Kim Vân và ctv., 2006) Nấm Aspergillus sp là một trong những loài nấm mốc chủ
yếu gây hại trong kho lưu trữ Nấm tiết độc tố tồn tại trong hạt gây ảnh hưởng xấu đến sức khỏe con người, đặc biệt là độc tố aflatoxin gây ngộ độc cấp tính và mãn tính cho người và gia súc (Nguyễn Thơ, 2003) Hiện nay, việc phòng trừ bệnh có nguồn gốc từ hạt chủ yếu là sử dụng thuốc hóa học Bên cạnh đó, hướng nghiên cứu
về sử dụng các loại dịch trích thực vật để ức chế nấm gây bệnh trên hạt đang được nghiên cứu ở nhiều nước trên thế giới Do đó, đề tài “Khảo sát hiệu quả của một số
loại thuốc hóa học và dịch trích thực vật đối với nấm Trichoconis sp và Aspergillus
Trang 152
sp gây bệnh lem lép hạt lúa trong điều kiện phòng thí nghiệm” đã được thực hiện nhằm mục tiêu:
Chọn ra loại thuốc với nồng độ có khả năng ức chế tốt sự phát triển khuẩn ty
nấm Trichoconis sp và Aspergillus sp trong điều kiện in vitro
Chọn ra loại dịch trích thực vật với nồng độ có khả năng ức chế tốt sự phát
triển khuẩn ty nấm Trichoconis sp và Aspergillus sp trong điều kiện in vitro
HƯƠNG 1
LƯỢ KHẢO T I LIỆU 1.1 SƠ LƯỢ VỀ BỆNH LEM LÉP HẠT TRÊN LÚ
1.1.1 Triệu chứng
Bệnh lem lép hạt có triệu chứng đa dạng (từ vàng nhạt, nâu xám đến chấm đen), vỏ trấu và hạt có thể bị tổn thương làm ảnh hưởng đến chất lượng của hạt lúa (Misra và ctv., 1994; Ou, 1983; Groth và Lee, 2002) Triệu chứng trên vỏ hạt thay đổi tùy loài sinh vật và tùy mức độ nhiễm Đôi khi, triệu chứng là những vết đen nhỏ (quả thể của nấm trên vùng vỏ bình thường hay trên vùng vỏ bị bạc màu), hoặc cũng có thể là vùng nâu đen lớn bao phủ cả vỏ hạt Tâm vết bệnh có màu nâu nhạt hay xám, viền nâu sậm Hạt gạo bên trong đổi sang màu đen, đỏ, cam, xanh… tùy loài nấm (Võ Thanh Hoàng, 1993)
Triệu chứng đặc trưng trên hạt cũng có thể được nhận biết đối với một số loại
mầm bệnh như Monascus purpureus Went làm hạt biến thành màu đỏ (Uyeda, 1901
và Aoi, 1921), Wolkia decolorans (Van der Wolk) Ramsbottom làm đổi màu vàng trên hạt (Van der Wolk, 1913), Penicillium puberulum Bain làm hạt đổi màu vàng cam (Schroeder, 1963), Erwinia herbicola (Lohnis) Dye thối đen hạt, màu hồng nhạt do Fusarium, màu xanh và màu vàng bởi Aspergillus và Penicillium spp (trích
Các tác nhân nấm gây bệnh trên lúa được nghiên cứu rất sớm bởi Ou (1983),
có khoảng 56 loài nấm gây hại trên lúa (thân, lá, bẹ lá và hạt) Trong đó có khoảng
43 loài nấm có nguồn gốc từ hạt và có thể lây truyền qua hạt, báo cáo bởi Ou
Trang 163
(1985), Richardson (1979, 1981) và Neergaard (1979) (trích dẫn Mew và Misra, 1994) Tương tự, Mew và Misra (1994) cho biết có rất nhiều loại nấm là tác nhân gây bệnh trên hạt lúa Cách xâm nhiễm là khác nhau giữa các loài, chủng, điều kiện sinh thái và với sự thích ứng của nấm với môi trường Các loại nấm thường xâm
nhiễm trên hạt là Alternaria padwickii, Bipolaris oryzae, Cercospora janseana,Curvularia lunata, Ephelis oryzae, Fusarium moniliforme, Microdochium oryzae, Nakataea sigmoidea, Pyricularia oryzae, Rhizoctonia solani, Sarocladium oryzae, Tilletia barclayana, và Ustilaginoidea virens
Các loại nấm gây hại hạt thường được chia làm hai nhóm: thứ nhất là nhóm
nấm gây hại các thân lá, nhiễm vào hạt trước khi thu hoạch như Bipolaris oryzae, Cochliobolus miyabeanus (Drechslera oryzae), Pyricularia oryzae, Alternaria padwickii, Gibberella fujikuroi, Nigrospora spp., Epicocum spp., Curvularia spp., Phoma sorghina, Alternaria spp và Helicoceras spp Thứ hai là nhóm nấm mốc
trong kho lưu trữ, hoại sinh, nhiễm vào hạt sau thu hoạch, trong quá trình tồn trữ,
phổ biến nhất là Aspergillus spp., Penicilium spp., Mucor spp và Rhizopus spp
(Ou, 1985)
1.1.2.2 Lem lép hạt do vi khuẩn
Nhiều loại vi khuẩn được ghi nhận là gây hại trên hạt lúa ở nhiều nơi trên thế
giới Vi khuẩn Erwinia herbicola và Pseudomonas spp được cho là có liên quan
đến sự đổi màu của 28 – 32% lượng hạt giống (Baldacci và Corbetta 1964; Mew và
Misra, 1994) Ngoài ra, vi khuẩn Pseudomonas avenae cũng được ghi nhận gây sự
biến đổi màu hạt (Kadota và Ohuchi, 1983) Tương tự, tại Mỹ, tác nhân gây thối vỏ
và biến màu hạt được cho là do Pseudomonas fuscovaginae và Pseudomonas glumae (Zeigler và Alvarez, 1987; Zeigler và Alvarez , 1989) Bên cạnh đó, Goto
và ctv (1987) cũng phát hiện vi khuẩn P syringae, P fluorescens and Burkholderia glumae gây ra triệu chứng đổi màu hạt (trích dẫn bởi Yuan, 2004)
Ở Việt Nam, Nguyễn Kim Vân và ctv (2004) cho biết có 5 loài vi khuẩn gây
hại trên hạt tại vùng Hà Nội là Acidovorax avenae, Burkholderia glumae, Xanthomonas oryzae, Xanthomonas oryzicola và một loài vi khuẩn mới xuất hiện trên hạt lúa là Pantoea agglomerans Nghiên cứu được thực hiện bởi NIPP phát hiện có hai loài vi khuẩn gây lem lép hạt Xanthomonas sp và Pseudomonas glumae
(Nguyen Van Tuat, 2001) Huynh Van Nghiep và ctv (2001) đã ghi nhận triệu
chứng thối hạt, biến màu hạt ở các tỉnh ĐBCSL do vi khuẩn Acidovorax avenae sp avanae và Burkholderia glumae
Trang 174
1.1.2.3 Lem lép hạt do tuyến trùng
Một số loài tuyến trùng có thể gây hại trên hạt lúa Ou (1983) đã ghi nhận 2
loài tuyến trùng Ditylenchus angustus (bệnh tiêm đọt sần) và Aphelenchoides besseyi (bệnh khô đầu lá lúa) cũng gây bệnh lem lép hạt Đến năm 2001, tại Việt Nam, Ho Van Chien và ctv đã tìm thấy 3 loài tuyến trùng Ditylenchus angustus, Tylenchus sp và Aphelenchoides besseyi trên hạt đổi màu từ kết quả khảo sát 351
mẫu hạt giống của 18 tỉnh miền Nam Việt Nam
1.1.2.4 Lem lép hạt do vi rút
Rice ragged stunt virus không chỉ là tác nhân gây bệnh lùn xoắn lá trên lúa,
nếu bệnh nặng lúc lúa trổ sẽ bị nghẹn và bông lúa sẽ bị lép rất nhiều không cho hạt
chắc Bệnh lùn lúa cỏ do Rice grassy stunt virus cũng gây lem lép hạt (Hồ Văn
Trang 185
1.2 SƠ LƯỢ CÁC NGHIÊN ỨU TH NH PHẦN NẤM GÂY HẠI TRÊN HẠT LÚ
1.2.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới
Hiệp hội kiểm tra hạt giống quốc tế (ISTA) năm 1985 đã tiến hành kiểm tra 500.000 mẫu giống, được IRRI tổng kết có hơn 80 loài nấm gây bệnh trên hạt lúa,
trong đó các loài nấm xuất hiện thường xuyên là Alternaria padwickii, Bipolaris oryzae, Curvularia lunata, Curvularia oryzae, Fusarium semitectum, F monilifome, Microdochium oryzae, Phoma spp., Sarocladium oryzae…(Mew và Gonzales,
Ở Malaysia, Zainum và ctv (1977) đã báo cáo phân lập được 33 loài nấm trên
23 giống lúa, trong đó Trichoconis padwickii là phổ biến nhất Majumdar và ctv
(1976) báo cáo tại India có 5 loài nấm xâm nhiễm trên hạt bao gồm
Helminthosporium oryzae, Curvularia lunata, Cocholobolus lunatus, Altenaria tenuis, Epicoccum sp (Imolehin, 1983)
Năm 1983, Imolehin báo cáo phân lập nấm gây hại trên hạt lúa, tại 9 vùng cao
và 7 vùng đồng bằng ở Nigeria bằng phương pháp Blotter, tìm thấy các loài nấm:
Helminthosporium oryzae (50%), Fusarium moniliforme (16%), Aspergillus sp (9%), kế đến là Rhizopus arrhizus, Penicillium, Geotrichum, Alternaria sp và Curvularia
Một cuộc kiểm dịch lúa giống tại Nigeria từ năm 1975 – 1982, xác định các
loài nấm gây hại trên hạt điển hình là Drechslera oryzae, Fusarium moniliforme, Tilletia barclayana, Phoma glumarum, Cercospora oryzae, Pyricularia oryzae, Clletotrichum dermatium (Aluko, 1988)
Mia and Mathur (1983) tìm thấy các loài nấm gây hạt trên hạt tại Bangladesh
bao gồm Bipolaris oryzae, Microdochiurn oryzae, Fusarium moniliforme, và Trichoconis padwickii, Sarocladium oryzae, Curvularia lunata, Nigrospora oryzae, Tilletia barclayana, Pyrenochaeta oryzae, Cercospora janseana, Ustilaginoidea
Trang 196
virens và Purpurescens epicoccum Một nghiên cứu khác đối với hạt lúa trong kho tại Bangladesh xác định thêm hai loài nấm là Aspergillus và Penicillium (Mian và
Fakir 1989; trích dẫn Taher Mia và Nahar, 2001)
Mew và Misra (1994) cho biết trong những năm 1984-1986, IRRI đã phân lập được 20 loài nấm từ 4.744 mẫu hạt giống lúa bằng phương pháp Blotters, trong đó
có những loài nấm xuất hiện phổ biến trong các mẫu kiểm tra với tỉ lệ cao là:
Trichoniella padwickii (96,9%), Curvularia spp (87,8%), Sarocladium oryzae (55,6%), Phoma spp (39,8%), Nigrospora oryzae (38,3%), Gerlachia oryzae (28,7%), Drechslera oryzae (24,4%), Fusarium moliniforme (21,8%) Cũng tại
IRRI từ năm 1987 – 1990, dùng phương pháp Blotters thử nghiệm trên 1400 mẫu
hạt giống, tìm thấy các loài nấm gây hại trên, trong đó Alternaria padwickii là phổ biến nhất, kế đến Curvulariaspp., Sarocladium oryzae, Microdochium oryzae., Fusarium moniliforme, Drechsclera oryzae, Pyricularia oryzae, Tilletia barclayana
Năm 1999, một nghiên cứu tại phòng thí nghiệm trường Đại Học Peradeniya
để định lượng tác động của các cấp độ biến đổi màu trên hạt lúa tới chất lượng hạt giống và khả năng nảy mầm, kết qua cho thấy ở cấp độ 0 – 5% bị nhiễm bởi
Fusarium spp., Helminthosporiumspp và Pyricularia spp., trên 70% có sự xuất hiện của Muco và Aspergillus (Mettananadak và ctv., 1999)
Một cuộc khảo sát nấm gây bệnh trên hạt tại tỉnh Nueva Ecija ở Philippines, mùa mưa trong năm (1995) bởi Merca và ctv (2001) thí nghiệm tiến hành bằng
phương pháp Blotter Ghi nhận thành phần nấm gồm Trichoconis padwickii (23,4%), kế đến là Curvularia spp (7,4%), Drechslera oryzae (1,8%), Sarocladium oryzae (0,9%), Gerlachia oryzae (0,1%), Fusarium moniliforme (0,6%) Cùng thời
điểm cuộc khảo sát tại tỉnh lloilo ở Philipines, thành phần nấm gây hại gồm:
Alternaria padwickii (22%), Curvularia spp (7%), Sarocladiumoryzae (0,67%), Gerlachia oryzae (0,3%), Drechslera oryzae (4,9%), Fusariummoniliforme (1,24%), Phoma spp (0,9%)
1.2.2 Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam
Theo Võ Thanh Hoàng (1993) kết quả phân lập 2000 hạt lúa bệnh thu thập ở huyện Cai Lậy (Tiền Giang) trong vụ Hè - Thu và Thu - Đông 1991, cho thấy có 9
loài nấm hiện diện, trong đó phổ biến nhất là Helminthosporium oryzae, Fusarium moniliforme, Trichoconis padwickii và Curvularia lunata
Trần Văn Hai (1999) xác định tác nhân gây lem lép hạt lúa tại các tỉnh ĐBSCL
từ năm 1995 – 1997 Trong vụ Thu - Đông 1995 có 3 loài nấm là Fusarium
Trang 207
moniliforme, Alternaria padwickii và Curvularia lunata Trong vụ Hè - Thu 1996 xác định thêm loài Helminthosporium oryzae, trong vụ Hè - Thu 1997, xác định thêm một số loài nấm mới, tổng cộng có 11 loài: Curvularia lunata, Aspergillus spp., Alternaria sp., Mucor sp., Tilletia barclayana, Rhizopus sp., Penicillium sp., Helminthosporium oryzae, Pyricularia oryzae, Fusarium moniliforme và Ustilago
Khảo sát ảnh hưởng của sự biến màu hạt tới chất lượng hạt giống, Phạm Văn
Dư và ctv (2001) xác định được 9 loài nấm trên 60 mẫu của 12 giống lúa ở Long
An bằng phương pháp Blotter bao gồm Cuvurlaria spp (13,4%) là phổ biến nhất, Alternaria padwickii (12%), Bipolaris oryzae (4,9%), Sarocladium oryzae (1,9%), Fusarium graminum (1,5%), Tilletia barclayana (0,16%), Phoma sorghina (0,1%), Cephalosporium oryzae (0,34%), Ustilaginoidea virens (0,05%) Tại Cần Thơ, xác định được 8 loài nấm trên hai giống (IR50404, IR64): Alternaria padwickii, Bipolaris oryzae, Fusarium moniliforme, Fusarium pallidoroseum, Fusarium subglutinans, Microdochium oryzae, Nigrospora oryzae, Phoma sp và Sarocladium
oryzae
Phân tích lúa giống lưu trữ ở miền Nam, Ho Van Chien và ctv.(2001) đã xác
định được 11 loài nấm sống trên các mẫu giống lúa tại 18 tỉnh Trong đó Alternaria sp., Curvularia lunata, và Aspergillus spp tần số tương ứng là 31%, 55%, và 52%
là xuất hiện cao nhất, kế đến là Penicillium sp., Mucor sp., Rhizopus, Ustilago sp., Tilletia barclayana, Pyricularia oryzae, Helminthosporium oryzae, Fusarium moniliforme
Nguyễn Vân Kim (2006), nghiên cứu xác định tác nhân gây bệnh nấm trên các hạt giống lúa trong năm 2004 tại một số tỉnh phía Bắc Việt Nam, phát hiện 18 loài
nấm bao gồm Alternaria sp., Alternaria padwickii, Aspergillus flavus, Bipolaris oryzae, Cercospora janseana, Cladosporium clodosporioides, Curvularia lunata, Fusarium moniliforme, Microdochium oryzae, Nigrospora oryzae, Penicillium digitatum, Rhizoctonia solani
Kết quả nghiên cứu thành phần nấm gây bệnh trên 60 mẫu lúa thu thập được tại 3 tỉnh An Giang, Cần Thơ và Tiền Giang, theo phương pháp Blotter, phương
Trang 218
pháp này được thực hiện theo tiêu chuẩn của Hội kiểm nghiệm hạt giống Quốc tế
(ISTA, 1999) cho thấy, 100% mẫu hạt nhiễm nấm Alternaria padwickii, Bipolaris oryzae, Curvularia lunata, 63,66% mẫu nhiễm Fusariummoniliforme và 23,33% mẫu nhiễm Sacrocladium oryzae (Đinh Việt Tú, 2006)
Trần Thị Thu Thủy (2011), xác định thành phần nấm gây bệnh lem lép hạt, mẫu bệnh được thu thập tại các tỉnh ĐBSCL bao gồm Long An, Tiền Giang, Vĩnh Long, Trà Vinh, An Giang, Đồng Tháp, Hậu Giang và Sóc Trăng trong vụ Đông Xuân 2005-2006 và Hè Thu 2006 Hạt lúa bệnh được ủ bằng phương pháp Blotter
và để dưới ánh sáng đèn néon hoặc ánh sáng cận cực tím Kết quả ghi nhận có 11
loài nấm hiện diện được xác định là Fusarium spp., Helminthosporium oryzae, Curvularia lunata, Diplodia sp., Trichoconis padwickii, Trichothecium sp., Nigrospora oryzae, Cercospora oryzae, Tilletia barclayana, Pyricularia oryzae và Alternaria sp
Huỳnh Thị Diễm (2011) đã xác định thành phần và mức độ nhiễm nấm trên 12 giống lúa: VĐ 20, Jasmine 85, IR 50404, OM 4900, OM 576, OM 6561, OM 3536,
OM 2514, Nếp 46 chùm, OM 5472, OM 4218, OM 1490, thu thập tại 3 tỉnh ĐBSCL: Đồng Tháp, Tiền Giang và Long An Thành phần nấm bao gồm:
Alternaria padwickii, Curvularialunata, Aspergillus sp., Rhizopus sp., Pencillium sp., Fusarium sp., Mucor sp Trong đó giống OM 5472 có tỷ lệ nhiễm nấm nặng nhất với tỷ lệ bệnh tổng số là 91%, trong đó tỷ lệ nhiễm nấm Rhizopus sp cao nhất
Nguyễn Thanh Nam (2011), giám định thành phần nấm gây hại trên hạt lúa ở tỉnh Hậu Giang bằng phương pháp chuẩn Blotter (ISTA, 1985) và đặt dưới ánh sáng
đèn néon, gồm có 17 loài nấm: Fusarium moniliforme, Curvularia spp., Bipolaris oryzae, Trichothecium sp., Alternaria padwickii, Pinatubo oryzae, Chaetomium globosus, Nigrospora sp., Tilletia barclayana, Ustilaginoidae virens, Sarocladium oryzae, Penicillium sp., Aspergillus sp., Rhizopus sp., Tetraploa aristata, Pithomyces sp và Pyricularia oryzae
Trang 22bệnh và đặt tên là Trichoconis caudate Sau đó, Gauguly (1947) cũng tìm thấy ở Ấn
Độ và đổi tên thành Trichoconis padwickii Đến năm (1971), Ellis đã đổi tên nấm là Alternaria padwickii (trích dẫn Ou, 1983)
Triệu chứng
Trên vỏ hạt có đốm màu nâu vàng hay trắng bạc viền vết bệnh có màu nâu sẫm, tâm vết bệnh có đốm đen nhỏ, nấm xâm nhiễm vào bên trong hạt làm biến màu hạt, hạt bị lép và dễ vỡ khi xay (Mew và Gonzales, 2002)
Nấm xuất hiện trên bề mặt hạt và tấn công vào nội nhũ, phôi mầm, lớp cám và mày của hạt lúa (Ou, 1983; Cheeran và Raj, 1966), hạch nấm được tìm thấy trong nội nhũ (Ganguly, 1947) Nấm làm giảm sự nảy mầm của hạt, hóa nâu lá bao mầm (Kauraw và Ou, 1985) Cơ chế xâm nhiễm của nấm đã được Tamura (1976) giải thích như sau: cây lúa nở hoa, nấm sản sinh bào tử vào bên trong các mày, khi hàm lượng diệp lục trong lớp biểu bì của hạt giảm, chất cytolinin giảm và axit abscisic tăng, kích thích nảy mầm và nhiễm vào bên trong hạt (Kato và ctv., 1988)
Mathur và Agarwal (1989), Mew và Gonzales (2002) đã ghi nhận vết bệnh trên lá ban đầu có màu nâu tối, sau đó vết bệnh chuyển sang màu trắng, tâm vết bệnh có hạch nấm màu đen
Ở rễ và lá mầm, nấm gây thối rễ, vết bệnh màu nâu đen và có sự liên kết của vết bệnh, trung tâm vết bệnh xuất hiện khối bào tử liti màu đen, bệnh nặng làm mạ héo chết, bệnh nhẹ có thể phục hồi (Misra và Mew, 1994)
Phân loại và đặc điểm hình thái nấm Trichoconis padwickii
Trichoconis padwickii thuộc ngành nấm bất toàn Deuteromycotina, lớp Hypomycetes, bộ Moniliales (Alexopoulos và Mims, 1979, trích dẫn từ Cao Ngọc
Điệp và ctv., 2005) (Barnet và Hunter, 1998)
Mathur và Agarwal (1989) cho biết: Ganguly (1947) và CMI descriptions of Pathogenic fungi and bacteria No.345 (1972) đã mô tả sợi nấm có vách ngăn ngang, trong suốt khi còn non và chuyển sang màu vàng kem khi trưởng thành Cuống bào
tử đính không phân biệt rõ với sợi nấm trưởng thành và thường phình to ở đỉnh Bào
tử đính thẳng hoặc cong, có hình thoi có mỏ, có 3–5 vách ngăn với phần phụ dài,
Trang 2310
bào tử ban đầu trong suốt sau đổi thành màu vàng rơm đến nâu vàng, vách dày, bắt đầu từ tế bào thứ hai hoặc thứ ba lớn hơn so với phần còn lại, dài 95 – 170µm (130µm)(bao gồm cả phần phụ ), chiều rộng ở phần rộng nhất 11 – 20µm (15,7µm),
và 1,5 – 5µm (2,7µm) rộng ở trung tâm phần phụ Bên cạnh đó, Misra và Mew (1994) còn cho biết sợi nấm dày 3 – 6nm, có vách ngăn ngang và khoảng cách giữa các vách ngăn thông thường 20 – 25nm, cuống bào tử đính 100 – 175× 3– 6nm (sưng to ở đỉnh và có một móc nhỏ ở đầu) Bào tử hình thoi đến hình bầu dục, có từ
3 – 5 thông thường là 4 vách ngăn ngang, thắt eo ở vách
Màu sắc khuẩn lạc thay đổi tùy theo môi trường nuôi cấy, bào tử phát sinh đơn
lẻ từ sợi nấm với 5 – 6vách ngăn ngang, kích thướt 40 – 55×9 – 11mm, tính từ giữa đầu đến vách ngăn cuối cùng, tế bào trung tâm lớn, tạo ra hình elip hẹp, viền màu
nâu (Pitt và Hocking, 2009) Theo Jain (1975) thì bào tử nấm khác với Alternaria là
chỉ có vách ngăn ngang và phần phụ rất dài Khuẩn lạc trên môi trường PDA có màu hồng nhạt đến màu nâu xám tối đạt 4,1cm đường kính sau 5 ngày ủ ở 250
C, mặt sau môi trường nấm có màu đen xanh viền hồng nhạt mô tả của Merca và Mew (1994) Mặt sau có màu tím theo Mathur và Agarwal (1989)
Mew và Gonzales (2002) đã ghi nhận sự phát triển khuẩn lạc trên môi trường PDA (28 – 300C) đường kính đạt được 4,32cm trong 5 ngày Khuẩn lạc có khoanh màu hơi xám, viền ngoài hơi trắng, mặt sau của môi trường khuẩn ty có màu đen, viền có màu nhạt hơn Ở 210C dưới ánh sáng đèn cận cực tím và sáng tối xen kẽ (12h) khuẩn ty phát triển nhanh với đường kính 4,14cm trong 5 ngày Khuẩn ty có khoanh màu rõ rệt từ màu vàng sang màu xam xanh có viền trắng 0,5cm, mặt sau có màu đen
Lưu tồn:
Bệnh có nguồn gốc từ hạt, bệnh xuất hiện trên đồng ruộng và cả trong kho lưu trữ theo Misra và Mew (1994) Cũng theo Ou (1983) cho biết phân lập được từ nấm 60% hạt bị biến màu ở Thái và có lẽ đó là nguồn bệnh ban đầu quan trọng
Tisdale (1992) cho rằng chắc chắn nấm sống qua đông trong đất và rơm rạ lúa, gây bệnh cho lúa trong vụ sau (trích dẫn Ou, 1983)
Padwich (1950) đã thấy chính loại nấm này gây hại trên lá của một loại cỏ trong ruộng lúa (trích dẫn từ Ou, 1983).Theo Đặng Vũ Thị Thanh (2008) cho biết nấm tồn tại trong đất, cây cỏ, tàn dư cây bệnh là nguồn lan truyền bệnh cho vụ sau
Phân bố và tác hại:
Theo Smith và ctv (2003), đốm lá gây ra bởi tác nhân A padwickii (Ganguly)
M B Ellis, phổ biến các ruộng lúa trên thế giới
Trang 2411
Mathur và Agarwal (1989) cho biết bệnh đốm vòng xuất hiện rộng rãi ở Châu Phi, Châu Á, Autrauslia, Châu Đại Dương, phía Bắc và Nam nước Mỹ Bệnh đốm vòng trên lúa được đánh giá thấp vì đốm lá không gây nhiều thiệt hại nhiều về kinh
tế Tuy nhiên, thiệt hại đáng kể khi nấm xâm nhiễm vào hạt giống Các nhà khoa học đã báo cáo phần trăm hạt giống bị nhiễm rất cao ở Ấn Độ: Padmanabhan (1949) ghi nhận 51-76%, Cheeran và Raj (1966) trên 80%, Sharma và Siddiqui (1978), Reddy và Khare (1978) ghi nhận 40- 46%
IRRI (1989 – 1997) xác định tần số xuất hiện A padwickii với tần số phát hiện
mức độ lây nhiễm rất cao 80 – 90%, ở Châu Á nhiệt đới bệnh đốm vòng hầu như được quan sát thấy xuất hiện trên đồng ruộng (trích dẫn từ Mew và Gonzales, 2002)
Tại ĐBSCL bệnh có thể chiếm 20% tổng số hạt lem lép của lúa Hè - Thu và Thu - Đông (Trần Văn Hai, 1997)
1.3.2 Nấm Aspergillus sp
Triệu chứng
Aspergillus sp là một trong các nhóm nấm mốc gây bệnh trên cây trồng (Cao
Ngọc Điệp, 2005, Christensen và Kaufmann 1968, Sauer và ctv.,1984) Có nhiều
loài Aspergillus sp đã được ghi nhận gây hại trên cây trồng
Theo Roger (1953), Aspergillus flavus có khả năng gây hại cho cây trồng trên
đồng ruộng, nhưng chủ yếu nấm thường phát sinh gây hại cho nông sản trong thời
kì bảo quản Hạt bị hại thường có một lớp mốc màu vàng (trích dẫn Đặng Vũ Thị Thanh, 2008)
Aspergillus niger gây thối mốc đen (Frutchey, 1936) Một ghi nhận khác bởi
Taubenhaus (1920) cho biết nấm làm đổi màu hạt và mục nát hạt (McGee, 1988)
Phân loại và đặc điểm hình thái nấm Aspergillus sp
Aspergillus thuộc ngành nấm nang Ascomycotina, lớp Plectomycetes, bộ Eurotaceae (Cao Ngọc Điệp, 2005), nhưng theo Barnett và Hunter (1998) phân loại Aspergillus thuộc bộ Moniliaceae, lớp Moniliales, ngành Deuteromycetes
Cao Ngọc Điệp (2005) cho biết Aspergillus có các bào tử đính không có túi
bao bọc, khuẩn ty phân nhánh, có vách ngăn ngang hoàn chỉnh, nhiều khuẩn ty phát triển trên bề mặt cơ chất để hấp thu chất dinh dưỡng, đặc biệt ở vách ngăn có một lỗ nhỏ để cho tế bào chất thông thương qua lại, khuẩn ty đứt thành khúc và mỗi khúc
Trang 2512
hay đoạn có thể phát triển cho một khuẩn ty mới Khuẩn ty hình thành cọng bào tử đính và bào tử đính Túi hay bọng là tế bào đa nhân và có thể bình đính lên Thể bình là cấu trúc đa nhân và trên đỉnh thể bình tạo thành một chuỗi bào tử đính Barnett và Hunter (1998) đã mô tả cuống bào tử đính thẳng đứng, đơn bào, tận cùng là một bọng hình cầu hoặc hình chùy, cuống bào tử mang thể bình hoặc tỏa ra
từ đỉnh, bào tử đính trên thể bình, có màu sắc khác nhau và bào tử đính thành chuỗi
Pitt và Hocking (2009) cũng đã mô tả chi Aspergillus: Nấm là một chi đặc trưng của lớp Hyphomycets, bởi sự hình thành cọng bào tử đính, cọng bào tử đính
thường phình ở đỉnh và có mang một túi Túi có dạng gần giống hình cầu, nhưng có thể thay đổi tùy loài Túi mang thể bình là đặc trưng của loài, ở tất cả giai đoạn sinh trưởng của nấm luôn hiện diện thể bình và metulae Bào tử được hình thành trên thể
bình Có 2 đặc điểm đặc trưng nhất của Aspergillus nhưng không phải tất cả các loài
đều có: Thứ nhất cọng bào tử hình thành từ tế bào chân (footcell) của sợi nấm Thứ hai cọng bào tử không có vách và không xuất phát từ tế bào chân, do đó túi, cọng bào tử và cả tế bào chân tạo thành một tế bào đơn lẻ rất lớn Để xác định được loài thì phải dựa vào màu sắc khuẩn lạc
Phân bố và thiệt hại:
Aspergillus xuất hiện phổ biến trong các thực phẩm lưu trữ như lúa, các loại
hạt, đậu và gia vị, phổ biến ở vùng cận nhiệt đới hơn ở vùng ôn đới (Pitt và Hocking, 2009)
Handoo và Aulakh (1979) cùng với Hesseltine và ctv (1976) đều ghi nhận
Aspergillus flavus là nấm có nguồn gốc từ hạt rất phổ biến, xuất hiện trong kho lưu
trữ, mức độ lây nhiễm lên đến 79% Nấm có thể làm giảm tỉ lệ nảy mầm (Lopez và Christensen, 1967) (trích dẫn McGee, 1988)
Nấm mốc vàng (A flavus) hại lạc, đậu tương và hạt sen, lúa (Vũ Triệu Mân và ctv., 2007) Trên lúa, tần số xuất hiện của nấm A.flavus gây biến màu hạt là 22%
(Teunisson, 1954; trích dẫn Mew và Misra, 1994)
Theo Lê Lương Tề (2007), nấm làm biến đổi màu sắc, mùi vị, giảm chất lượng đặc biệt là chất dinh dưỡng như tinh bột, đường, Protein, axit amin, lipit, vitamin của lương thực trong đó có lúa gạo, ngoài ra còn tạo điều kiện cho các vi sinh vật khác phát triển
Trang 2613
1.4 SƠ LƯỢ VỀ Á LOẠI Ị H TRÍ H THỰ VẬT SỬ ỤNG TRONG THÍ NGHIỆM
Xoan là một cây to cao, có thể
đạt tới 25–30m nhưng thông thường chỉ thấy Hình 1.1 Cây neem
10 – 15m là được khai thác.Vỏ thân xù xì, nhiều chỗ lồi lõm, với nhiều vết khía dọc (Đỗ Tất Lợi, 2003)
Theo Đỗ Tất Lợi (2003), Đỗ Huy Bích và ctv (2004) và Võ Văn Chi (2004) lá cây xoan là lá kép hình lông chim lẻ, mọc so le, gồm 6 – 7 đôi lá chét mọc đối, hình mác, dài 6 – 8cm, rộng 2 – 3cm, phiến lệch, nhẵn, đầu nhọn, mép khía răng
Theo Võ Văn Chi (2004) thì cây xoan có hoa xếp thành chùy, mọc ở nách lá, màu tím nhạt, thơm hắc Đỗ Huy Bích và ctv.(2004) cụm hoa mọc ở kẽ lá, ngắn hơn
lá, gồm nhiều hoa xếp thành những xim nhỏ, cuống có lông, lá bắc ngắn, sớm rụng, hoa màu trắng thơm, mặt ngoài có lông, tràng 5 cánh thuôn hẹp, uốn cong, nhị 10, phình ở gốc
Cũng theo Đỗ Huy Bích và ctv (2004) quả xoan kết quả vào tháng 3, chín vào tháng 12, khi còn non màu xanh, khi chín có màu vàng, trong quả có một hạt màu nâu
Thành phần hóa học:
Vỏ thân chứa các chất đắng nimbin, acid nimbidic, deacetylnimbin, kulinon, kulacton, kulolacton, methylkulonat.6β hydroxyl 4 stigmasten 3 – on; 6 β hydroxyl – 4 – campesten – 3 – on Một chất tetranorterpenoid là vilasinin cũng được phân
Trang 2714
lập và xác định cấu trúc, 3 chất tricyclic diterpenoid là nimbosodinon, nimbisonol
và dimethylnimbionon; 2 chất diterpenoid là margoson và margosolin đã được xác định cấu trúc Vỏ còn có các polysaccharid các dẫn chất polyacetat như margosinon
Hạt xoan chứa 45% dầu với các chỉ số như: chỉ số sà phòng 195,6, chỉ số iod 69,2, chỉ số acid 11,2, thành phần chất béo chủ yếu là acid oleic (khoảng 53%) stearic (khoảng 18%) và acid palmitic (khoảng 14%), một lượng nhỏ các acid linoleic và arachidic Dầu hạt có các chất tetranor triterpenoid như epoxyazadirachdion, azaditradion; azadiron, meliantriol, deacetylnimbin, meldenin, vipnin, limbocinin và limbocidin và các glucosid của stigmasterol.Một chất tác dụng trừ sâu là azadirachtin cũng được phân lập từ hạt
Vỏ hạt còn có tetracydic triterpenoid azadirol, các tetranor triterpenoid azadirachtin H và I, K cùng với nimbolid; Ohchinoid B, 6 deacetyl nimbin, azadiradion, nimbin và solannin Chất đắng nimbidinin và acid nimbidic, các chất trinortriterpenoid; limbonin epoxy azadiradion
Theo Đỗ Tất Lợi (2003) thì trong quả chứa một ankaoid là araidin và một chất dầu (60%).Thành phần dầu có diêm sinh làm cho dầu có mùi tỏi.Hồ Sùng Gia đã ghi nhận thành phần cho công dụng của quả xoan là một thứ nhựa trung tính, tính chất của nhựa chưa được ổn định chỉ có thể bảo quản dưới một năm.Lá chứa một ankaoid gọi là paraisin, một ít rutin và nhiều chất khổ vị tố, nimbin và một lượng nhỏ nimbinin
Trang 28Cây nhỏ, cao 1 – 2m, mọc thành bụi, phân nhiều cành nằm ngang Thân tròn,
màu rất nhạt có rãnh và lông nhỏ mịn Lá mọc đối, hình gần tam giác, dài 6 – 9cm,
rộng 2 – 4cm, gốc thuôn vát, đầu nhọn, mép có răng cƣa to, vò ra có mùi hăng hắc,
hai mặt lá cùng màu có lông mịn
Cụm hoa mọc ở đầu cành thành ngù kép, gồm nhiều hoa có mùi thơm, tụ hợp
thành hình đầu dài khoảng 1cm, màu vàng lục; lá bắc xếp thành 3 – 4 hàng, hơi có
lông, mào lông có sợi đều; tràng hoa loe dần từ gốc, bao phấn không có tai Quả bế,
hình tròn, có 5 cạnh, có lông Mùa hoa quả: tháng 1 – 3 Thành phần hóa học (Đỗ
Huy Bích và ctv., 2004)
Cỏ lào chứa tinh dầu, tannin, flavonoid, coumarin, alkaloid
Lá chứa 0,16% tinh dầu bao gồm 2,6% α – pinen, 0,6% sabinen, 2,6% β –
pinen, 0,9% myrcen, α – terpinen, 0,5% limonene, 0,5%(Z) – β – ocimen, 0,5% (E)
– β – ocimen, 0,1% (Z) – sabinen hydrat, camphor, 4,9% geijeren đồng phân, 42,5%
geijeren, 0,2% terpinen – 4 – ol, α – terpineol, 3,5% bornyl acetat, 0,4% δ – elemen,
1% α – copaen, 0,2% β – bourbonen, 1,4% β – elemen, 0,4% geijerol, 7,4% β –
caryophylen, 1,9% α – humunlen, 12,5% β – cubeben, 1,3% γ – elemen hoặc
germecren B, 0,5% alcol sesquiterpen, 2,1% δ – cadien, 2% elemon, 0,9% α –
ionon, caryophylen oxyd, 0,2% viridiflorol, 0,3% epi – globulol, 0,2% δ – cadinon
(toreyol), 0,6% α – cadinon, isophytol
Hoa cỏ lào chứa 4,43% α – pinen, 0,19% sabinen, 1,65% β – pinen, 0,57% β –
myrcen, 1,13% p.cymen, 0,45% limonene, 0,31% cis – β – ocimen, 2,20% trans – β
– ocimen, 0,41% δ – terpinen, 0,59% sabinen hydrat, 0,39% đồng phân của geyren,
7,98% geyren, 22,93% bornyl acetat, 0,78% δ – elemen, α – copaen, 0,54% β –
clemen, 0,42% geyrol, 9,21% β – caryophylen, 2,37% α – humulen, 20,10% β –
cubeben, 1,03% γ – germacren, 1,08% α – cardinal
Trang 2916
Nguyễn Thị Diễm Trang và ctv (1993) đã chứng minh phần trên mặt đất của
cỏ lào chứa odoratin, 2’, 4 – hihydroxy – 5,6,7 trimethoxychalcon và 4’ – hydroxyl 5,6,7 trimethoxy flavanon (Đỗ Huy Bích và ctv., 2004)
Công dụng:
Dùng chữa tiêu chảy, kiết lỵ, đau nhức xương, ghẻ lở, phòng và trị đỉa cắn.một chế phẩm từ cao lá cỏ lào chữa một số bệnh về răng miệng Cỏ lào còn được dùng chữa bỏng và vết thương phần mềm Ngoài ra lá giã nát dùng cầm máu, làm liền sẹo (Đỗ Huy Bích và ctv., 2004)
Võ Văn Chi (2004) cho biết cây thảo mọc
hằng năm, cao chừng 25 – 50cm Lá mọc đối,
hình trứng, mép có răng cưa tròn Toàn thân và
lá đều có lông
Hình 1.3 Cây cỏ cứt heo
Hoa nhỏ, màu tím hay xanh trắng, xếp thành đầu và tập hợp thành ngù.Quả bế
có ba sống dọc, màu đen Cây mọc ven đồi, ven rừng, ven đường, các bãi hoang, bờ ruộng ẩm ướt
Thành phần hóa học (Đỗ Huy Bích, 2004):
+ Chứa tinh dầu: trong tinh dầu có 51 thành phần, trong đó có 13 chất monoterpen hydrocarbon (5%), 7 chất monoterpen có oxy (1,4%), 16 chất sesquiterpen hydrocarbon (4,3%), 4 chất sesquiterpen cso oxy (0,8%), 3 chất phenylpropanoid và benzenoid (2,33%), 6 chất chromen (85,2%), 2 chất chroman (0,9%) Flavonoid, alkaloid thuộc nhóm pyrolizidin: 9 – angeloylretronecin, lycopsamin Các hợp chất khác: Friedelin, β – sitosterol, stigmasterol, stigmast – 7 – en – 3 – ol, α – spinasterol
Trang 3017
+ Cây cứt lợn Việt Nam chứa tinh dầu (0,7 – 2%), carotenoid, phytosterol, tannin,
saponin, hợp chất uronic Hàm lượng saponin thô trong thân và lá là 4,7% Tinh dầu
hơi sánh đặc, chứa ageratochromen, 6 – demethoxyageratochromen và β –
caryophylen chiếm 77% trong các thành phần trong tinh dầu
Công dụng: phần cây trên mặt đất có tinh dầu chứa phenol, được sử dụng làm
thuốc Chống viêm, chống phù nề, chống dị ứng trong trường hợp: sổ mũi, viêm
xoang mũi Chảy máu ngoài do chấn thương, bị thương sưng đau Mụn nhọt, ngứa
lở, eczema Làm thuốc chữa rong huyết sau khi sinh đẻ
1.4.4 Cây húng chanh
Tên gọi khác: Rau tần dày lá, rau thơm
lông, dương tử tô
Tên khoa học: Coleus amboinicus lour
Thuộc họ: Bạc hà (Lamiaceae)
Đặc điểm:
Đỗ Huy Bích và ctv (2004) mô tả, cây
thảo, sống lâu năm, cao 20 – 50cm Thân
mọc đứng hay ngả, phần sát gốc hóa gỗ Lá
mọc đối, dày, mọng nước, hình trứng rộng,
gốc hình nêm, đầu hơi nhọn hoặc tù, dài 3 – 6cm, rộng 2 – 5cm, mép khía răng tròn Hình 1.4 Cây húng chanh
Theo Đỗ tất Lợi (2003) và Đỗ Huy Bích và ctv.(2004) hoa có màu tím, nhỏ, mọc
thành hoa tự, tận cùng dài gồm các vòng hoa mọc sít nhau (20 – 30 hoa)
Theo Võ Văn Chi (2004) hoa mọc ở ngọn, gồm nhiều vòng hoa, cách xa nhau,
hoa nhỏ; đài hình chuông, 2 môi, môi trên một thùy lớn, môi dưới 4 thùy
Quả bế tư, nhỏ, hình cầu, màu nâu Toàn cây có lông rất nhỏ và mùi thơm như
chanh, mùa hoa quả tháng 3 – 5 (Đỗ Huy Bích và ctv., 2004)
Thành phần hóa học:
Theo Đỗ Tất Lợi (2003)húng chanh có chứa chất màu đỏ gọi là colein và một
ít tinh dầu mùi thơm nhẹ Thành phần chủ yếu của tinh dầu là chất cacvacrola.Đỗ
Huy Bích và ctv (2004) cho biết có tác giả chứng minh trong tinh dầu chính chứa
Thymol 41,30% Lá húng chanh chứa 0,002 – 0,003% tinh dầu trong đó có
carvacrol 39,5%, γ – terpinen 19%, α – terpinen 16,8
Trang 3118
Công dụng:
Ngoài công dụng làm gia vị, húng chanh dùng để chữa cảm cúm, chữa ho Dùng ngoài da bằng cách giã nát đắp lên những vết do rết và bò cạp cắn (Đỗ Tất Lợi, 1999) Theo Võ Văn Chi (2004) húng chanh còn dùng trị sốt cao, sốt không ra
mồ hôi, nôn ra máu, đổ máu cam, khản tiếng
1.5 SƠ LƯỢ VỀ Á LOẠI THUỐ H HỌ SỬ ỤNG TRONG THÍ NGHỆM
1.5.1.Tilt super 300EC
Hoạt chất: Difenoconazole 150 g/l và Propiconazole 150 g/l
Thuốc trừ nấm hỗn hợp, nhóm độc II, tương đối độc với cá, ít độc với ong, TGCL 7 ngày Tác dụng nội hấp, phổ tác dụng rộng (Phạm Văn Biên và ctv., 2000) Đặc điểm của hoạt chất (Lê Trường và ctv., 2005)
250C là 15mg/l, trong etanol 330, axeton 610, toluene 490, noctanol 95 (tất cả g/l,
250C).bền vững ở nhiệt độ <1500C, không bị thủy phân
Độ độc: LD50 đối với chuột >1453; chuột nhắt > 2000mg/kg; LD50 qua miệng vịt trời > 2150mg/kg; LC50 cho chim cút > 4760ppm, vịt trời 5000ppm; LD50 tiếp xúc với ong >100µg/ong Trong cơ thể động vật: sau khi qua miệng bị phân hủy nhanh và bị bài tiết theo phân và nước tiểu Không có dấu hiệu tích lũy trong cơ thể Trong cây: chuyển theo hai hướng; hướng tryazol chuyển thành đến triazolylalanin
và axit triazol axetic, hướng khác là sự hydroxyl hóa vòng phenyl và tiếp theo là phản ứng liên hợp Trong đất: không di chuyển trong đất, bị hấp thụ Khả năng rửa trôi yếu DT50 do quang phân là 145 ngày
Phương thức tác động: Kìm hãm quá trình khử methyl của sterol, kìm hãm sinh tổng hợp ergosterol ở màng tế bào, làm ngừng sự phát triển của nấm Thuốc có
thể chống lại nhiều loại nấm thuộc lớp nấm đảm, túi, bất toàn như: Alternaria, Ascochyta, Phoma, Septoria, Cercospora …
Trang 3219
+ Propiconazale
Tên hóa học: (±) – 1 – [2 – (2,4 – diclophenyl) – 4 – propyl – 1,3 – dioxolan –
2 – yl – metyl] – 1H – 1,2,4 – triazol (IUPAC)
Thuốc nhóm: triazol
Đặc tính lý học: TLPT.342,2, CTPT.C15H17Cl2N3O2 Dạng lỏng nhớt, màu hơi vàng không mùi.Tan trong nước 100mg/l (200C), tan hoàn toàn trong ethanol, axeton, toluene (25oC), không bị hủy phân ở nhiệt độ <320oC
Độ độc: LD50 qua miệng chuột > 1517mg/kg, LD50 qua miệng chim cút 2223, vịt trời >2510mg/kg Không độc với ong Trong động vật: sau khi xâm nhập qua miệng bị hấp thụ nhanh chóng, nhưng cũng nhanh chóng bị thải hầu hết ra ngoài Trong cây: thuốc trải qua nhiều quá trình thoái biến khác nhau, nhưng các chất chuyển hóa hầu hết liên hợp thành các glucosit ở trong cây Trong đất: DT50 đất háo khí 40 – 70 ngày Con đường phân rã chủ yếu là hydroxyl hóa mạch bên propyl và vòng dioxalan
Cơ chế tác động của thuốc: Thuốc trừ bệnh nội hấp mạnh và thấm sâu nhanh Phát huy tác dụng trừ bệnh nhanh chóng (Trần Văn Hai, 2005)
Công dụng: Trừ bệnh lem lép hạt, đốm vằn, vàng lá hại lúa, đốm lá đậu phộng (lạc), rỉ sắt cà phê, đốm lá trà (chè) (Trần Văn Hai, 2005)
1.5.2 Rocksai super 525SE
Hoạt chất: Tricyclazole 400g/kg và Propiconazole 25g/kg
Đặc điểm của hoạt chất (Lê Trường và ctv., 2005)
<52oC, tương đối bền với tia cực tím, độ nóng chảy là 1870C
Độ độc: LD50 qua miệng chuột 314, chó >50mg/kg LD50 qua miệng chim cút
>100mg/kg, cá LC50 (48h) với cá hồi 7,3mg/l Trong cơ thể động vật bị chuyển hóa nhanh Trong cây chất chuyển hóa chủ yếu là chất tương tự hydroxymetyl Trong đất và môi trường tồn tại ngắn
Trang 3320
Phương thức tác động: kìm hãm sinh tổng hợp melanin Thuốc trừ nấm nội hấp, xâm nhập nhanh qua rễ và vận chuyển trong cây
+ Propiconazale (tương tự như Tilt super 300EC)
Cơ chế tác động của thuốc: Rocksai Super 525SE chứa 2 hoạt chất trừ nấm bệnh mạnh, có tính lưu dẫn, được cây lúa hấp thụ nhanh nên cho hiệu quả cao và chống lại sự rửa trôi rất tốt Hai hoạt chất trong thuốc Rocksai Super 525SE có 2 cơ chế tác động khác nhau, nên nấm bệnh khó hình thành tính kháng (Web Công Ty Hóa Nông Lúa Vàng)
Công dụng: Đặc trị bệnh đạo ôn lá và đạo ôn cổ bông hại lúa
1.5.3.Man 80WP
Hoạt chất: Mancozeb (Lê Trường và ctv., 2005)
Tên hóa học: phức hợp mangan ethylen bis (dithiocacbamat) (polyme) với muối kẽm (IUPAC)
Thuốc nhóm: Alkylen bis (Dithiocacbamat)
Đặc tính lý học: là phức chất của kẽm và maneb chứa 20% mangan và 2.55% kẽm, ở dạng muối, dạng bột vàng xám Tan trong nước 6.2ppm (pH 7,5; 25oC), không tan hầu hết trong các dung môi hữu cơ Nhưng tan trong dung dịch các chất tạo phức Bền trong điều kiện bảo quản khô bình thường Bị phân hủy chậm bởi nhiệt độ và ẩm độ Mancozeb nguyên chất không bền
Độ độc: LD50 qua miệng chuột >5000mg/kg, LD50 qua da chuột >10000 LC50(48h) với cá vàng 9,0; cá hồi 2.2; cá chép 4,0mg/l LD50 tiếp xúc với ong 0,193mg/ong Nhóm độc IV, TGCL 7 ngày
Trong cây nhanh chóng tạo những chất chuyển hóa trung gian etylenthiourea, etylenthiuram monosunfit, etylenthiuram disunfit và lưu huỳnh., cuối cùng chuyển thành các sản phẩm tự nhiên (glyxin) Trong đất bị phân hủy khá nhanh trong môi trường, DT50 trong đất khoảng 6 – 15 ngày Thuốc trừ nấm, tác động tiếp xúc, phổ tác động rộng
Công dụng: Phòng trị các bệnh mốc sương, đốm lá hại cà chua, khoai tây, bệnh sương mai, thán thư hại rau, chè, bệnh đốm lá, mốc xanh hại thuốc lá (Phạm Văn Biên và ctv., 2000)
Trang 34HƯƠNG 2 PHƯƠNG TIỆN V PHƯƠNG PHÁP 2.1 PHƯƠNG TIỆN THÍ NGHIỆM
2.1.1 Thời gian và địa điểm
- Thí nghiệm được thực hiện từ tháng 5/2013 đến tháng 11/2013
- Thí nghiệm đánh giá độ hiệu lực của 4 loại thuốc hóa học và 4 loại dịch trích
thực vật đối với hai loại nấm Trichoconis sp và Aspergillus sp được bố trí tại
phòng thí nghiệm Nedo, khoa Nông nghiệp & Sinh học Ứng dụng – trường Đại học Cần Thơ
Trang 351 Tilt super 300EC 46,9µl/100ml 93,8µl/100ml 187,6µ/100ml
2 Rocksai super 525SE 62,5µl/100ml 125µl/100ml 250µl/100ml
* Ghi chú:Nồng độ A bằng ½ khuyết cáo Nồng độ B bằng khuyết cáo Nồng độ C gấp đôi khuyết cáo
- Nguồn nấm Trichoconis sp và Aspergillus sp được cung cấp từ Bộ môn Bảo
vệ Thực vật, Khoa Nông nghiệp và SHƯD - Trường Đại học Cần Thơ
2.1.3 ng c thí nghiệm
Đĩa petri, beaker, bình tam giác, ống tiêm, dụng cụ lọc vi khuẩn (đường kính
lỗ lọc 0,2µm), chai thủy tinh, giấy thấm, que cấy nấm, ống đục khoanh nấm, kéo, kẹp, micropipette, đèn cồn,…
2.1.4 Thiết bị thí nghiệm
Tủ úm, tủ thanh trùng ướt, tủ thanh trùng khô, kính hiển vi, máy đo pH, lam đếm, cân điện tử, microwave, tủ cấy, kính hiển vi…
2.1.5 ông thức môi trường đư c dùng trong bố trí thí nghiệm:
Môi trường Potato Dextrose Agar (Shurtleff và Averre, 1999; trích dẫn Nguyễn Thanh Nam, 2012)
Khoai tây: 200 gram
Đường Dextrose: 20 gram Agar: 20 gram Nước cất: 1000 ml pH: 6.5 – 6.8
Trang 3623
2.2 PHƯƠNG PHÁP THÍ NGHIỆM
2.2.1 Thí nghiệm 1 Khảo sát hiệu quả của các loại thuốc h a học đối với
nấmTrichoconis sp.và Aspergillus sp gây lem l p hạt l a in vitro
M c đích: Đánh giá hiệu quả của các loại thuốc hóa học đối với nấm
Trichoconis sp và Aspergillus sp gây lem lép hạt lúa
Thực hiện thí nghiệm:
- Thí nghiệm được bố trí theo thể thức hoàn toàn ngẫu nhiên gồm 13 nghiệm thức (12 nghiệm thức sử dụng thuốc hóa học và 1 nghiệm thức đối chứng), 5 lần lặp lại Loại thuốc và nồng độ thuốc được trình bày trong Bảng 2.1 Nghiệm thức đối chứng là môi trường PDA không chứa thuốc hóa học
- Chuẩn bị nguồn nấm Trichoconis sp và Aspergillus sp.: nấm được nuôi cấy
trong đĩa petri khoảng 10 ngày trước khi tiến hành thí nghiệm Khuẩn ty nấm sẽ được đục thành các khoanh có đường kính 5mm khi thực hiện thí nghiệm
- Các loại thuốc hóa học được tính toán liều lượng sao cho khi hòa tan vào chai thủy tinh chứa 100ml môi trường PDA sẽ đạt được nồng độ đã định sẵn Nấu tan môi trường PDA Khi chai môi trường đạt nhiệt độ khoảng 55-60oC (có thể cầm được chai môi trường bằng tay) thì đưa lượng thuốc hóa học đã chuẩn bị vào chai, lắc chai môi trường để thuốc hòa tan đều vào môi trường Sau đó, môi trường trong chai sẽ được đổ vào các đĩa Petri (10ml môi trường/ đĩa petri) Sau khi môi trường đặc lại, đặt các khoanh khuẩn ty nấm đã chuẩn bị vào giữa đĩa petri (Hình 2.1)
Cách bố trí trên đĩa peptri:
Hình 2.1: Sơ đ bố trí th nghiệm hiệu quả của thuốc hóa học đối với nấm Trichoconis sp
ho c Aspergillus sp gây lem l p hạt l a
Khoanh khuẩn ty nấm gây bệnh lem lép hạt (đường kính 5mm)
Môi trường đã có thuốc hóa học theo nồng độ tính sẵn
Trang 3724
h tiêu ghi nhận: Ghi nhận đường kính khuẩn lạc của nấm vào các thời điểm
24, 48, 72, 96, 120, 144, 168 giờ sau đặt khoanh khuẩn ty hoặc chỉ tiêu được ngừng ghi nhận khi khuẩn lạc của nghiệm thức đối chứng phát triển đến mép đĩa petri Hiệu quả của thuốc được tính theo công thức:
(ĐKKTđc – ĐKKTi)
HQT(%) = x 100
ĐKKTđc
Trong đó: ĐKKTđc: Đường kính khuẩn lạc của nghiệm thức đối chứng
ĐKKTi: Đường kính khuẩn lạc của nghiệm thức thuốc i
Qua kết quả thí nghiệm 1 sẽ chọn ra 2 nghiệm thức cho hiệu quả ức chế sự phát triển khuẩn ty nấm cao nhất để thực hiện cho thí nghiệm
2.2.2 Thí nghiệm 2 Khảo sát hiệu quả của các loại dịch trích thực vật đối với
nấm Trichoconis sp và Aspergillus sp gây lem l p hạt l a in vitro
M c đích: Đánh giá hiệu quả của các loại dịch trích thực vật đối với nấm
Trichoconis sp và Aspergillus sp gây lem lép hạt lúa
Thực hiện thí nghiệm:
- Thí nghiệm được bố trí theo thể thức hoàn toàn ngẫu nhiên gồm 13 nghiệm thức (12 nghiệm thức sử dụng dịch trích thực vật và 1 nghiệm thức đối chứng), 5 lần lặp lại Loại dịch trích thực vật và nồng độ dịch trích được trình bày trong Bảng 2.1 Nghiệm thức đối chứng là môi trường PDA không chứa dịch trích thực vật
-Chuẩn bị nguồn nấm Trichoconis sp.và Aspergillus sp.: tương tự thí nghiệm 1
- Các loại thực vật sau khi thu về sẽ được rửa sạch đất cát, sau đó được trích với nước cất bằng cách tính nồng độ theo trọng lượng lá tươi/ thể tích, kế tiếp cho vào máy xay sinh tố xay nhuyễn, lượt bỏ phần xác thu phần nước trích Sau cùng rót phần dịch trích thu được qua dụng cụ lọc (có đường kính lỗ lọc 0,2µm) vào 1 cốc thủy tinh đã thanh trùng khô, thao tác được tiến hành trong tủ cấy Nấu tan môi trường PDA Khi chai môi trường đạt nhiệt độ khoảng 55-60oC (có thể cầm được chai môi trường bằng tay) chiết dịch trích thực vật đã chuẩn bị sẵn vào chai môi trường, lắc chai môi trường để dịch trích hòa tan đều vào môi trường Sau đó, môi trường trong chai sẽ được chiết vào các đĩa Petri (chiết 10ml môi trường/ đĩa petri)
Trang 3825
Sau khi môi trường đặc lại, đặt các khoanh khuẩn ty nấm đã chuẩn bị vào chính giữa đĩa petri (Hình 2.2)
Cách bố trí trên đĩa peptri:
Hình 2.2: Sơ đ bố trí th nghiệm hiệu quả của dịch trích thực vật đối với nấm Trichoconis
sp ho c Aspergillus sp gây lem l p hạt l a
h tiêu ghi nhận: Ghi nhận đường kính khuẩn lạc của nấm vào các thời điểm
24, 48, 72, 96, 120, 144, 168 giờ sau đặt khoanh khuẩn ty hoặc chỉ tiêu sẽ được ngừng ghi nhận khi khuẩn lạc của nghiệm thức đối chứng phát triển đến mép đĩa petri
Hiệu quả của thuốc được tính theo công thức:
(ĐKKTđc – ĐKKTi) HQT(%) = x 100
ĐKKTđc
Trong đó: ĐKKTđc: Đường kính khuẩn lạc của nghiệm thức đối chứng
ĐKKTi: Đường kính khuẩn lạc của nghiệm thức thuốc i Qua kết quả thí nghiệm 2 sẽ chọn ra 2 nghiệm thức cho hiệu quả ức chế sự phát triển khuẩn ty nấm cao nhất để thực hiện cho thí nghiệm 3
Khoanh khuẩn ty nấm gây bệnh lem lép hạt (đường kính 5mm)
Môi trường đã có dịch trích thực vật theo nồng độ tính sẵn
Trang 3926
2.2.3 Thí nghiệm 3 Đánh giá hiệu quả của các loại thuốc h a học và dịch
trích thực vật đối với nấm Trichoconis sp và Aspergillus sp gây lem l p hạt l a
in vitro
M c đích: Đánh giá hiệu quả của các loại thuốc hóa học và dịch trích thực vật
đã được chọn đối với nấm Trichoconissp và Aspergillus sp gây lem lép hạt lúa
- Chuẩn bị nguồn nấm Trichoconis sp.và Aspergillus sp.: tương tự thí nghiệm 1
- Cách tiến hành các nghiệm thức thuốc hóa học tương tự thí nghiệm 1, đối với các nghiệm thức dịch trích thực vật cũng tương tự thí nghiệm 2
h tiêu ghi nhận: tương tự thí nghiệm 1 và 2
Trang 40Bảng 3.1 ghi nhận ảnh hưởng của các loại thuốc hóa học lên sự phát triển
đường kính khuẩn ty nấm Trichoconis sp trong điều kiện in vitro Ở thời điểm 48
và 72 giờ sau đặt khoanh khuẩn ty (GSĐKT), ngoại trừ nghiệm thức xử lý Comcat 150WP nồng độ (0,064g/100ml), các nghiệm thức xử lý thuốc hóa học còn lại đều cho đường kính khuẩn ty nấm nhỏ hơn có ý nghĩa thống kê so với nghiệm thức đối chứng không xử lý Trung bình đường kính khuẩn ty của các nghiệm thức xử lý hiệu quả lần lượt khoảng 0,5 – 1,3 cm (48 GSĐKT) và 0,5 – 2,1 cm (72 GSĐKT), của nghiệm thức đối chứng là 1,5 cm (48 GSĐKT) và 2,1 cm (72 GSĐKT) Kết quả
về hiệu quả cũng được ghi nhận tương tự ở hai thời điểm 96 và 120 GSĐKT Đến thời điểm 144 GSĐKT, nghiệm thức xử lý với Comcat 150WP ở hai nồng độ (0,032g/100ml) và (0,064g/ml) không còn thể hiện khả năng ức chế sự phát triển đường kính khuẩn ty nấm, trung bình đường kính khuẩn ty nấm ở nghiệm thức này không khác biệt ý nghĩa về mặt thống kê so với nghiệm thức đối chứng không xử
lý Các nghiệm thức còn lại vẫn tiếp tục thể hiện hiệu quả ức chế sự phát triển khuẩn ty nấm Ở thời điểm khảo sát cuối cùng (160 GSĐKT), nghiệm thức xử lý Comcat 150WP ở cả ba nồng độ không còn thể hiện khả năng ức chế sự phát triển khuẩn ty nấm, trong khi các nghiệm thức xử lý với Tilt super 300EC, Rocksai Super 525SE và Man 800WP vẫn tiếp tục thể hiện khả năng ức chế sự phát triển khuẩn ty nấm Trichoconis sp Đường kính khuẩn ty nấm của các nghiệm thức ở thời điểm này lần lượt là Tilt super 300EC nồng độ (46,9µl/100ml) (0,58cm), Tilt super 300EC nồng độ (93,8µl/100ml) (0,52cm), Tilt super 300EC nồng độ (187,6µl/100ml) (0,52cm), Rocksai Super 525SE nồng độ (62,5µl/100ml) (2,32cm), Rocksai Super 525SE nồng độ (125µl/100ml) (1,60cm), Rocksai Super 525SE nồng độ (250µl/100ml) (0,76cm) và Man 80WP nồng độ (0,016g/100ml) (0,52cm), Man 80WP nồng độ (0,032g/100ml) (0,5cm), Man 80WP nồng độ (0,064g/100ml) (0,5cm), của đối chứng là 5,54cm