TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA MÔI TRƯỜNG & TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN BỘ MÔN QUẢN LÝ MÔI TRƯỜNG & TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC NGÀNH QUẢN LÝ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG VA
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA MÔI TRƯỜNG & TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN
BỘ MÔN QUẢN LÝ MÔI TRƯỜNG & TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC NGÀNH QUẢN LÝ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG
VAI TRÒ CỦA QUẦN THỂ DƠI TRONG VIỆC
PHÁT TRIỂN DU LỊCH CỦA TỈNH SÓC TRĂNG
Sinh viên thực hiện PHẠM HOÀNG TUẤN ANH 3103799
Cán bộ hướng dẫn ThS LÊ VĂN DŨ
Cần Thơ, 12/2013
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA MÔI TRƯỜNG & TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN
BỘ MÔN QUẢN LÝ MÔI TRƯỜNG & TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC NGÀNH QUẢN LÝ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG
VAI TRÒ CỦA QUẦN THỂ DƠI TRONG VIỆC
PHÁT TRIỂN DU LỊCH CỦA TỈNH SÓC TRĂNG
Sinh viên thực hiện PHẠM HOÀNG TUẤN ANH 3103799
Cán bộ hướng dẫn ThS LÊ VĂN DŨ
Cần Thơ, 12/2013
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trong suốt quá trình học tập và hoàn thành luận văn này, tôi đã nhận được sự hướng dẫn, giúp đỡ quý báu của các thầy cô, các anh chị và các bạn Với lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc tôi xin được bày tỏ lới cảm ơn chân thành tới:
Ban giám hiệu, Phòng đào tạo đại học, Bộ môn Quản lý môi trường trường Đại Học Cần Thơ đã tạo mọi điều kiện thuận lợi giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và hoàn thành luận văn
Thầy Lê Văn Dũ, đã hết lòng giúp đỡ, dạy bảo, và tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt quá trình hoàn thành luận văn tốt nghiệp
Cô Bùi Thị Bích Liên, cố vấn học tập lớp Quản lý môi trường 36 đã tận tình giúp đỡ, dạy bảo tôi và các bạn trong suốt khóa học
Cùng toàn thể các Thầy Cô, anh chị tại khoa Môi trường và Tài nguyên thiên nhiên đã hướng dẫn, chỉ bảo và tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình làm việc học tập và thu thập số liệu để tôi có thể hoàn thành được luận văn
Xin chân thành cảm ơn các Thầy Cô trong hội đồng chấm luận văn đã cho tôi những đóng góp quý báu để hoàn chỉnh luận văn này
Xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến Ban trị sự chùa Dơi, Ủy ban nhân dân Phường 3 – thành phố Sóc Trăng, Sở Văn hóa thể thao và du lịch tỉnh Sóc Trăng đã nhiệt tình giúp đỡ tôi trong quá trình thu thập số liệu để hoàn thành luận văn
Xin gửi lời cảm ơn tới các bạn trong lớp Quản lý môi trường 36 đã động viên và giúp đỡ tôi trong những lúc tôi gặp khó khăn
Sau cùng tối xin chân thành cảm ơn bố mẹ anh chị em đã luôn ở bên cạnh động viên và giúp đỡ tôi học tập làm việc và hoàn thành luận văn
Cần Thơ, ngày…….tháng……năm 2013
Sinh viên thực hiện
Phạm Hoàng Tuấn Anh
Trang 4MỤC LỤC
Trang LỜI CẢM ƠN
MỤC LỤC
DANH MỤC HÌNH i
DANH MỤC BIỂU BẢNG ii
DANH MỤC KÝ HIỆU ii
CHƯƠNG 1: ĐẶT VẤN ĐỀ 1
1.1 SỰ CẦN THIẾT THỰC HIỆN ĐỀ TÀI 1
1.2 MỤC TIÊU ĐỀ TÀI 2
1.2.1 Mục tiêu tổng quát 2
1.2.2 Mục tiêu cụ thể 2
1.3 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 2
CHƯƠNG 2: LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU 3
2.1.1 Thành phố Sóc Trăng 3
2.1.2 Phường 3 TPST 4
2.2 TỔNG QUAN VỀ DU LỊCH TỈNH SÓC TRĂNG 5
2.3 TỔNG QUAN VỀ CHÙA DƠI 7
2.4 QUẦN THỂ DƠI TẠI CHÙA 12
CHƯƠNG 3: NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 15
3.1 ĐỊA ĐIỂM VÀ THỜI GIAN NGHIÊN CỨU 15
3.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 15
3.2.1 Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp 15
3.2.2 Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp 15
3.3 PHƯƠNG PHÁP XỬ LÝ SỐ LIỆU 15
CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 16
4.1 THÔNG TIN CHUNG VỀ KẾT QUẢ PHỎNG VẤN 16
4.1.1 Đặc điểm đối tượng tham gia phỏng vấn 16
4.1.2 Thông tin về tôn giáo, dân tộc và thành phần 17
4.1.3 Thông tin về nghề nghiệp 18
4.1.4 Mục đích và số lần đến xem dơi 18
4.2 NGUYÊN NHÂN SỐ LƯỢNG DƠI SUY GIẢM 19
4.3 KHẢO SÁT MỨC ĐỘ QUAN TÂM CỦA KHÁCH DU LỊCH VỀ CÁC VĂN BẢN CẤM SĂN BẮT VÀ BẢO TỒN DƠI 26
Trang 54.4 CÔNG TÁC QUẢN LÝ, TÔN TẠO DI TÍCH TẠI CHÙA 27
4.4.1 Công tác quản lý tại chùa 27
4.4.2 Hiện trạng khu Sala (nơi ở của sư cả và ban trị sự chùa, nơi thờ cúng), biện pháp bảo quản 29
4.4.3 Phần nền hành lanh Sala 29
4.4.4 Phần vách Sala 29
4.4.5 Phần cửa Sala 30
4.4.6 Phần mái Sala 31
4.5 THUẬN LỢI VÀ KHÓ KHĂN TRONG CÔNG TÁC QUẢN LÝ 32
4.5.1 Thuận lợi 32
4.5.2 Khó khăn 32
4.6 SO SÁNH VỀ LƯỢT KHÁCH VỚI CÁC ĐỊA ĐIỂM DU LỊCH KHÁC 33
4.7 ĐỀ XUẤT CỦA KHÁCH DU LỊCH 33
4.7.1 Đề xuất bảo vệ đơi 33
4.7.2 Đề xuất về vấn đề thực hiện các văn bản cấm săn bắt và bảo tồn dơi: 34
CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 35
5.1 KẾT LUẬN 35
5.2 KIẾN NGHỊ 36
TÀI LIỆU THAM KHẢO 37 PHỤ LỤC
Trang 6DANH MỤC HÌNH
Hình 2.1: Vị trí chùa dơi 7
Hình 2.2: Cổng vào chùa Dơi 7
Hình 2.3: Khu chánh điện 8
Hình 4.1: Thông tin nghề nghiệp của khách du lịch 18
Hình 4.2: Tỷ lệ (%) mục đích của du khách khi đến chùa 18
Hình 4.3: Chặt cây trong chùa 22
Hình 4.4: Khu du lịch, nhà hàng hoạt động trước cổng chùa 22
Hình 4.5: Môi trường ẩm thấp, nước đọng trong khu vực dơi cư trú 23
Hình 4.6: Lối đi cho du khách xem dơi 24
Hình 4.7: Đốt rác, lá cây trong khuôn viên chùa 24
Hình 4.8: Rác thải vức bừa bãi trong khuôn viên chùa 25
Hình 4.9: Các em học sinh và các chiến sỹ cùng tham gia Lễ Khởi động dự án 28
Hình 4.10: Khu Sala 29
Hình 4.11: Phần vách Sala 30
Hình 4.12: Phần cửa Sala sau khi phục chế 30
Hình 4.13: Tượng chim thần Ga-Ru-Đa 31
Hình 4.14: Lượt khách du lịch đến chùa dơi, chùa Kh’leang và khu di tích Taberd 33
Trang 7DANH MỤC BIỂU BẢNG
Bảng 2.1: Khách du lịch đến Sóc Trăng 2001 – 2012 6
Bảng 4.1: Độ tuổi và giới tính 16
Bảng 4.2: Dân tộc, tôn giáo và thành phần 17
Bảng 4.3: Số lần đến của du khách 19
Bảng 4.4: Nguyên nhân suy giảm số lượng dơi 20
Bảng 4.5: Hiểu biết của du khách về văn bản cấm săn bắt dơi trước khi đến chùa 26
Bảng 4.6: Phổ biến quy định về cấm săn bắt dơi cho du khách 26
Bảng 4.7: Đánh giá của du khách về việc thực thi các văn bản 27
Bảng 4.8: Ý kiến của du khách về việc ban hành các văn bản mới 27
Bảng 4.9: Đề xuất nhằm bảo vệ dơi của khách du lịch 33
Bảng 4.10: Đề xuất của khách du lịch về thực hiện các văn bản 34
Trang 8DANH MỤC KÝ HIỆU
(Viện nghiên cứu phát triển ĐBSCL)
Trang 9ĐẶT VẤN ĐỀ
SỰ CẦN THIẾT THỰC HIỆN ĐỀ TÀI
Hiện nay, du lịch được coi là một ngành quan trọng, góp phần vào sự phát triển kinh tế của Việt Nam và thế giới Cùng với dòng chảy thời đại, các loại hình du lịch cũng ngày càng đa dạng và phong phú Từ những hoạt động nghỉ ngơi, giải trí thông thường, ngành du lịch đang hướng tới phát triển khám phá tài nguyên sinh vật
Việt Nam được đánh giá là có nguồn tài nguyên sinh vật phong phú, cùng với đó, những hoạt động du lịch sinh thái phát triển mạnh Những khu vực có các loài động vật quý hiểm, đặc trưng hoặc đứng trước nguy cơ tuyệt chủng, những khu bảo tồn động vật hoang dã đang kết hợp thêm các hoạt động kinh doanh du lịch Từ những nguồn có sẵn cộng với việc cung cấp các dịch vụ du lịch, các khu du lịch này đang góp phần không nhỏ vào việc thúc đẩy kinh tế khu vực Khách du lịch tìm đến những nơi đó để tìm hiểu về các loài động thực vật quý hiếm, nhìn tận mắt những loài vật đặc biệt, là biểu tượng cho một vùng và được sống hòa mình cùng với thiên nhiên Một trong những loài đặc trưng tại ĐBSCL là dơi quạ tại chùa Dơi tỉnh Sóc Trăng, loài dơi này được coi là một loài quý hiếm ở Việt Nam và thế giới
Chùa Dơi (Mahatup), một ngôi chùa Khmer cổ tại Sóc Trăng, là điểm đến hấp dẫn và quen thuộc đối với du khách gần xa Đến chùa, ngoài ý nghĩa đến thắp nén nhang cầu nguyện cho gia đình, xã hội an lành và hạnh phúc còn thưởng thức nét đẹp cổ kính của ngôi chùa Nét đẹp và sức thu hút của chùa Dơi là cảnh quan gần gũi với thiên nhiên, với một quần thể kiến trúc mở, hoà quyện với môi trường sống của con người Thực vật, động vật nơi đây đã gắn bó với con người từ lâu đời Hơn nữa, cộng đồng dân
cư ở đây có sự giao lưu giữa ba dân tộc Kinh, Khmer và Hoa kết hợp với tinh hoa văn hoá, nghệ thuật trong cuộc sống Ngoài ra, chùa Dơi còn là trung tâm sinh hoạt giáo dục và tổ chức các lễ hội tôn giáo truyền thống của đồng bào Khmer, vừa là tụ điểm sinh hoạt văn hoá của cộng đồng cư dân địa phương Ngoài khám phá những nét văn hóa độc đáo, đa phần du khách không tránh khỏi ngạc nhiên khi được chiêm ngưỡng những chú dơi buông mình treo lủng lẳng dưới những tán cây cổ thụ, một nét đẹp, nét đặc trưng chỉ
có ở chùa Dơi
Gần đây, do điều kiện tự nhiên thay đổi cũng như do con người săn bắt, số lượng dơi cư trú tại chùa đã sụt giảm nghiêm trọng trong vài năm trở lại đây, điều này làm giảm sự hấp dẫn của chùa Dơi đối với khách du lịch Vì vậy, ngành du lịch Sóc Trăng cần xác định rõ vai trò của quần thể dơi trong việc thu hút khách du lịch, từ đó đưa ra những biện pháp thích hợp để bảo vệ đi đôi với phục vụ tham quan Do đó, thực hiện đề
tài “Vai trò của quần thể dơi trong việc phát triển du lịch của tỉnh Sóc Trăng” là cần
thiết trong tình trạng hiện nay
Trang 10MỤC TIÊU ĐỀ TÀI
Mục tiêu tổng quát
Điều tra, đánh giá vai trò của quần thể dơi trong du lịch tại chùa Dơi, Sóc Trăng
Mục tiêu cụ thể
− Xác định nguyên nhân suy giảm đàn dơi
− Xác định sự quan tâm của du khách đối với quần thể dơi khi tham quan chùa Dơi
− Đề xuất biện pháp bảo vệ quần thể dơi
NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
− Thu thập, tổng hợp các tài liệu, dữ liệu, số liệu liên quan đến chùa Dơi
− Điều tra số liệu về vai trò của quần thể dơi trong du lịch chùa Dơi
− Đề xuất các biện pháp phù hợp để bảo vệ đàn dơi
Trang 11LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU Thành phố Sóc Trăng
Vị trí địa lý
Thành phố Sóc Trăng thuộc tỉnh Sóc Trăng, Sóc Trăng là tỉnh thuộc khu vực ĐBSCL, nằm ở cuối lưu vực sông Mê Kông, giáp các tỉnh Trà Vinh, Vĩnh Long, Hậu Giang, Bạc Liêu và biển Đông… Sóc Trăng có bờ biển tự nhiên dài 72 km, 30.000ha bãi bồi với 02 cửa sông lớn là sông Hậu và sông Mỹ Thanh, có nguồn hải sản đáng kể bao gồm cá đáy, cá nổi và cá tôm Ngành hải sản của tỉnh có điều kiện phát triển Ngoài hải sản, với mặt biển thông thoáng, tỉnh có nhiều thuận lợi phát triển giao thông vận tải,
du lịch cũng như phát triển tổng hợp kinh tế biển, đây là thế mạnh của tỉnh Sản phẩm khai thác từ biển và ven biển là tiềm năng và nguồn lợi to lớn tạo điều kiện thu hút các nhà đầu tư
Thành phố Sóc Trăng năm trong vùng ĐBSCL, vùng sản xuất nông nghiệp lớn nhất, nông nghiệp ĐBSCL làm nên phần lớn lúa gạo, cây trái và tôm cá cho cả nước
Từ vị trí địa lý như vậy, thành phố Sóc Trăng có lợi thế ở vào vị trí có nhiều thuận lợi để phát triển kinh tế xã hội Với vị trí là trung tâm của vùng lãnh thổ rộng lớn ĐBSCL, thành phố Sóc Trăng còn có điều kiện để phát triển mạnh công nghiệp và dịch vụ, du lịch
Khí hậu thời tiết
Thành phố Sóc Trăng nằm trong vùng có chế độ khí hậu nhiệt đới gió mùa, có 2 mùa mưa nắng rõ rệt Mùa mưa có gió mùa Tây Nam; mùa khô có gió mùa Đông Bắc
Nhiệt độ trung bình hàng tháng: 27ºC – 28ºC
Số giờ nắng trong năm khoảng: 2.400 – 2.500 giờ
Mưa hàng năm: 2100-2200mm
Độ ẩm không khí trung bình: 84–85%
Khí hậu thời tiết trên địa bàn thành phố Sóc Trăng có nhiều thuận lợi cho cây trồng sinh trưởng và phát triển quanh năm, cho phép bố trí đa dạng hoá cây trồng vật nuôi, đặc biệt thích hợp với các loại cây lâu năm có giá trị kinh tế cao, thích hợp với làm việc, nghỉ ngơi của người dân Nhìn chung các yếu tố khí hậu thời tiết cơ bản thuận lợi cho sản xuất và đời sống nhân dân
Tài nguyên đất đai
Sóc Trăng là vùng đất trẻ được hình thành qua nhiều năm lấn biển nên địa hình bao gồm phần đất bằng, xen kẽ là những vùng trũng và các giồng cát với cao trình phổ biến ở mức 0,5 - 1,0 m so với mặt biển, nghiêng từ Tây bắc xuống Đông Nam và có hai
Trang 12tiểu vùng địa hành chính: Vùng ven sông Hậu với độ cao 1,0 – 1,2 m bao gồm vùng đất bằng và những giồng cát hình cánh cung tiếp nối nhau chạy sâu vào giữa tỉnh; vùng trũng phía nam tỉnh với độ cao 0 - 0,5 m thường bị ngập úng dài ngày trong mùa lũ
Ngoài ra, Sóc Trăng còn có những khu vực nằm giữa các giồng cát, không hình thành vùng tập trung với độ cao trung bình 0 - 0,5 m
Thành phố Sóc Trăng nằm ở trung tâm tỉnh, địa chất công trình ảnh hưởng tới phát triển các khu vực chức năng đô thị Qua địa chất xây dựng một số công trình cho thấy cấu tạo nền đất có thành phần chủ yếu là sét, bùn sét, trộn lẫn nhiều tạp chất hữu
cơ, thường có mầu đen, xám đen Nền địa chất khá ổn định, sức chịu tải của nền đất thấp, nhỏ hơn 0,5 kg/cm2 Nền đất thích hợp với xây dụng các công trình có tải trọng không cao
Đất đai thành phố có đủ điều kiện để phát triển công nghiệp, xây dựng đô thị các khu dân cư tập trung
Tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân giai đoạn năm 2006- 2010 là 15,93% Trong đó: khu vực I là 3,49%; khu vực II tăng 7,92%; khu vực III tăng 35,25% Cơ cấu kinh tế khu vực I là 5,03%; khu vực II là 42,25%; khu vực III là 52,72%, cơ cấu kinh tế so với năm 2005 có sự chuyển dịch giảm 25,68% ở khu vực II và tăng 28,36% ở khu vực III, phù hợp với xu thế phát triển của đô thị
GDP bình quân đầu người tăng nhanh, từ 1.157USD tăng lên 1.863 USD Kết cấu hạ tầng trong những năm qua đã được quan tâm đầu tư từng bước phục vụ cho phát triển kinh tế, đời sống nhân dân đã được cải thiện, quốc phòng và an ninh được giữ vũng
Trang 13bàn khóm 9 – phường 3 Khóm 9 có dân cư là 418 hộ, 2030 khẩu (trong đó: dân tộc Kinh 285 hộ, chiếm tỷ lệ 14,09%; dân tộc Hoa 110 hộ, chiếm tỷ lệ 5,41%; dân tộc Khmer
1635 hộ, chiếm tỷ lệ 80,5%) phần đông là dân đồng bào Khmer, sống chủ yếu bằng nông nghiệp, bên cạnh đó vẫn còn một số hộ sống bằng nghề đan lát, buôn bán,…
(Nguồn: Ủy ban nhân dân phường 3 – TPST)
TỔNG QUAN VỀ DU LỊCH TỈNH SÓC TRĂNG
Cùng với những đặc trưng chung của vùng đất Nam bộ về du lịch như du lịch sông nước miệt vườn, đàn ca tài tử, làng nghề, Sóc Trăng vẫn có các tiềm năng riêng để phát triển du lịch, nhất là du lịch văn hóa lễ hội, tìm hiểu phong tục tập quán các loại hình nghệ thuật văn hóa, thể thao truyền thống của 3 dân tộc Kinh, Khmer, Hoa Sóc Trăng còn có điều kiện để phát triển loại hình du lịch sinh thái nghỉ dưỡng với ưu thế là
có các dãy cù lao dãy cù lao dọc theo sông Hậu dài hơn 50 km ra tận biển Đông, những cánh rừng ngập mặn ven biển Sóc Trăng còn có các làng nghề truyền thống như đan đát, làm muối, bánh pía, lạp xưởng, dệt chiếu, có thể khai thác du lịch
Sóc Trăng có 08 di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia và trên 20 di tích lịch sử văn hóa cấp tỉnh là những điểm đến không thể thiếu khi du khách đến Sóc Trăng, nổi bật : là chùa Dơi, chùa Kh’leang, chùa Đất Sét, Khu Di tích Đón đoàn tù Chính trị Côn Đảo, Khu Căn cứ Tỉnh ủy rừng tràm Mỹ Phước,v.v…
Ngoài ra, Sóc Trăng cũng có nhiều loại hình văn hóa nghệ thuật dân tộc đặc sắc:
Là sân khấu Rô Băm, sân khấu Dù kê, các điệu múa dân gian của dân tộc Khmer, dân tộc Hoa Tỉnh cũng rất quan tâm bảo tồn và phát huy những loại hình văn hóa nghệ thuật độc đáo này để phát triển văn hóa dân tộc và phục vụ du lịch
Định hướng phát triển du lịch Sóc Trăng từ nay đến năm 2020: Theo quyết định số 526/QĐHC-CTUBND của Chủ tịch UBND tỉnh ngày 26/5/2008 là ưu tiên phát triển các loại hình du lịch văn hóa lễ hội, du lịch sinh thái nghỉ dưỡng, phát huy lợi thế của sông nước, vùng biển để tổ chức các mô hình dịch vụ vui chơi giải trí hấp dẫn Hiện nay Sóc Trăng có nhiều hoạt động văn hóa lễ hội diễn ra hàng năm của 3 dân tộc Kinh - Khmer - Hoa gắn liền với đời sống văn hóa tâm linh như lễ hội Ooc – om - boc và đua ghe Ngo, lễ cúng Phước Biển, lễ hội Nghinh Ông, lễ hội Cúng Dừa, các lễ hội cúng đình
ở các địa phương trong tỉnh,
Một số dự án đã được UBND tỉnh phê duyệt như: Dự án tàu cao tốc từ Kinh Ba (huyện Trần Đề) đi Côn Đảo với kinh phí 60 tỷ đồng, dự án Khu du lịch nhà hàng khách sạn, gần điểm du lịch chùa Dơi Các dự án khác như: dự án Khu du lịch Song Phụng (huyện Long Phú), dự án khu du lịch sinh thái Hồ Bể (huyện Vĩnh Châu), dự án khu du lịch Mỏ Ó (huyện Trần Đề), dự án khu du lịch sinh thái nghỉ đưỡng An Thạnh Nam (huyện Cù Lao Dung), dự án dân cư nghỉ dưỡng ở An Lạc Thôn (huyện Kế Sách) đang được xem xét, giới thiệu kêu gọi các doanh nghiệp trong và ngoài tỉnh tham gia đầu tư
Trang 14Những dự án trên khi được triển khai và đi vào hoạt động sẽ là những điểm đến hấp dẫn thu hút du khách về với vùng đất Sóc Trăng hiền hòa, thân thiện và mến
Luợt khách trong nước
Tổng ngày khách lưu trú
Ngày khách quốc tế
Ngày khách trong nước
Tổng lượt khách tham quan
Lượt khách trong nước
Lượt khách quốc tế
Trang 15TỔNG QUAN VỀ CHÙA DƠI
Trang 16Chùa Dơi có tên thật được phiên âm từ tiếng Khmer là Wathserâytêchô – Mahatup, thường được gọi là “chùa Mã Tộc” hay chùa Dơi, vì trong chùa có nhiều dơi sinh sống Chùa Dơi là khu di tích lịch sử văn hóa cấp Quốc gia (loại Nghệ thuật – kiến trúc), được Bộ Văn hóa thông tin công nhận vào ngày 26/2/1999
Chùa Dơi là một tổng thể kiến trúc gồm có: Ngôi chánh điện, Sala, nhà hội của
sư sãi và tín đồ, phòng khách, phòng ở của sư trụ trì và các vị sư khác, các tháp để tro người chết, … Các công trình toạ lạc trong một khuôn viên rộng có nhiều cây cổ thụ, diện tích khoảng 04 hecta Nhìn chung toàn bộ quần thể kiến trúc cân đối, bố cục hài hoà, gọn gàng, những đường nét uyển chuyển đầy ấn tượng, toát lên tinh thần lao động cần cù và sáng tạo qua đôi bàn tay khéo léo của người Khmer
Hình 2.3: Khu chánh điện
Theo biên dịch tiếng Khmer, Maha là lớn, túp là kháng cự, mahatúp được dịch là trận kháng cự lớn Ngày xưa, vùng đất này đã diễn ra một trận đánh ác liệt của phong trào nông dân nổi dậy chống thực dân phong kiến, ở nơi khác cũng diễn ra các trận chiến
ác liệt nhưng đều thất bại, chỉ có vùng đất ở chùa Dơi được giành chiến thắng và sau đó người dân tập trung về đây sinh sống Từ đó họ tin rằng vùng đất này là vùng đất lành, nên dựng cột xây chùa thờ Phật để sinh hoạt tôn giáo cho phum sóc của mình
Theo thư tịch cổ của Chùa còn để lại có ghi chép: Chùa được khởi công xây dựng vào từ năm 1569 dương lịch, do ông Thạch Út đứng ra xây dựng và đã trải qua 19 đời Đại Đức Từ trước đến nay chùa được trùng tu nhiều lần Sau lần hỏa hoạn vào tháng 8 năm 2007, chánh điện chùa đã được xây dựng như hiện nay vào tháng 4 năm 2009
Trang 17Kiến trúc Chùa Dơi cũng giống như bao kiến trúc Chùa Khmer khác ở Đồng bằng sông Cửu Long Về họa tiết trang trí, điêu khắc, hội họa mang sắc thái văn hoá Khmer
cổ
Trong khuôn viên chùa ngoài điện thờ và đàn dơi qua còn có hồ cá phóng sinh với nhiều loài cá quý, rùa được đồng bào Phật tử tứ phương mang về thả Bên cạnh đó còn có dàn nhạc ngũ âm được các nghệ nhân người Khmer đánh hằng ngày tạo không khí vui tai và cũng là một nét văn hóa đặc sắc tại các chùa Khmer
Theo lời kể của các già làng về lịch sử hình thành của Chùa đã trải qua 19 đời Đại Đức Các văn bản còn lại, được ghi trên lá thốt nốt, trải qua nhiều năm tháng đã bị mục nát và chỉ còn lại một số, cho đến hiện nay chỉ biết được 08 đời Đại Đức sau này (từ đời thứ 12 đến đời thứ 19):
Đời thứ 12: Ông Lâm Men
Đời thứ 13: Ông Tham
Đời thứ 14: Ông Ngô Sển
Đời thứ 15: Ông Sâm
Đời thứ 16: Ông Lét
Đời thứ 17: Ông Thạch Chia
Đời thứ 18: Ông Thạch Kiều Đốc
Đời thứ 19: Ông Kim Rên
Vị trụ trì hiện nay là Hòa Thượng Kim Rên, Phó Đại Đức là Thượng tọa Lâm
Tú Linh
Từ những hiện tượng gần như là huyền bí của đàn dơi ở “Chùa Dơi”, tiếng đồn vang xa, khách thập phương ai cũng muốn tới viếng thăm để tận mắt chứng kiến Từ thời chiến tranh chống Mỹ “Chùa Dơi” đã vang tiếng với những điều huyền bí , cho nên khuôn viên Chùa lúc ấy cách ly với cảnh sinh hoạt bên ngoài Vì vậy, cán bộ của ta thường lui tới hoạt động cách mạng
Cho đến ngày nay “Chùa Dơi” rất nổi tiếng, vì phong cảnh hữu tình, gần gũi với thiên nhiên, có quần thể kiến trúc tôn giáo chính thống của dân tộc Khmer và bầy dơi huyền bí (theo quan điểm tín ngưỡng của từng dân tộc) đã thôi thúc khách tham quan đến viếng Chùa ngày càng đông đúc
Theo quan niệm của người Hoa thì con dơi là điềm phúc, còn gọi là phước; phúc (phước) của người Hoa là: “Phước – Lộc – Thọ” Trong đó, ông Phúc (Phước) ứng với con dơi, ông Lộc ứng với con nai, ông Thọ ứng với cây Tùng, cho nên người Hoa xem hình tượng con dơi như là phúc (phước) Nhưng con dơi ở “Chùa Dơi” đậu quay đầu ngược xuống đó là chữ phúc (phước) treo ngược, là: “Phú táo” tiếng phát âm của người
Trang 18Hoa (tức là: “Phúc đáo” nghĩa là phúc đến rồi) Vấn đề này cũng được ông Trần Bình viết bài đăng trên “Kiến thức ngày nay” (Xuân Quý Dậu năm 1993 trang 62 – 63) Cho nên khách tham quan phần nhiều là người Hoa, người Hoa ở Sóc Trăng cũng quan niệm như thế.
Năm 1990 chiếc tàu thám hiểm đại dương, do ông YVES.COUS TEAUX là thuyền trưởng và con ông là JACK COUS TEAUX đã đến chùa Dơi để nghiên cứu về động vật sống trong môi trường thiên nhiên Ông COUS TEAUX đã cho máy bay trực thăng bay đảo trên những tán cây trong khuôn viên chùa, đàn dơi bay lên rợp cả một góc trời, đoàn nhân viên của ông YVER COUS TEAUX đã ghi hình ảnh bằng camera và máy ảnh để làm tài liệu nghiên cứu
Đây cũng là một sự kiện lạ mà không ở chùa nào có được, heo năm móng và dơi
là những động vật rất gần gũi với chùa, dơi không những treo mình trên cây mà còn được các vị sư chăm sóc và thuần hóa Khoảng năm 1980 vị Đại Đức đời thứ 17 là ông Thạch Chia có tài nuôi và thuần chủng dơi, dơi luôn quấn quít bên ông như những chú chó, chú mèo mà người ta thường nuôi trong nhà Đặc biệt là khi ông đi vắng, dơi ở lại phòng khách của ông
Đến khuôn viên chùa, ta nhìn thấy cổng chùa về hướng Tây – Bắc, cổng chùa được xây dựng theo kiến trúc tôn giáo trang trí các hoạ tiết các hoa văn hình cánh sen và hoa cà ri cách điệu
Công trình kiến trúc tiêu biểu trong quần thể kiến trúc “Chùa Dơi” là ngôi chính điện Ngôi chính điện được xây dựng từ năm 1569 bằng gỗ, trên mái được lợp lá dừa nước, từ trước đến nay chùa được trùng tu nhiều lần Đặc biệt, năm 1960 ngôi chính điện được thay đổi toàn bộ chất liệu, Bê tông đã thay thế gỗ, mái ngói thay lá dừa nước Chiều dài 20 m 8, chiều rộng 11 m 3; ngôi chính điện được xây dựng trên nền cao hơn mặt đất tự nhiên 1 m bao quanh là đá kết xi – măng nền rộng 30 m 7, dài 37 m Sân chính điện được trát xi-măng, có vòng rào lan can và 04 ngõ vào Vòng rào lan can cách ngôi nhà chính điện mỗi hướng là 2 m 20 Nền chính điện cao hơn sân chính điện 0,7
m Mặt bằng chính điện hình chữ nhật trải dài theo hướng Đông Tây Cửa chính quay ra hướng đông Phần mái chính điện là một kết cấu đặc biệt, gồn 04 hệ thống mái chồng lên nhau, với khoảng cách nhất định Trên 04 mái chồng lên nhau đều có trang trí hình tượng con rồng ở các góc Hình tượng rồng của người Khmer khác với người Hoa và người Việt, đầu rồng có sừng uốn lượn, mảnh mai, thân rồng theo mô típ của loài cá Poon - Co, nên rồng không có chân, trên lưng giương những đao mác nhọn, cong về phía đuôi, hình tượng rồng được bố trí theo chiều dài đòn dong Mái tiếp giáp với cột trang trí hình tượng chim Cay - No, thể hiện sức mạnh như chống đỡ cả bầu trời và che chở cho con người ở trần gian Bên trong chánh điện có tượng Phật sơn son thiếp vàng, cao khoảng 2m, trên bệ thờ cao khoảng 1,5m được đắp nổi nhiều hoa văn hình cánh sen Ngoài tượng Phật lớn còn có nhiều tượng Phật nhỏ khác
Trang 19Trên bệ thờ được làm bằng gỗ sơn son thiếp vàng, trang trí hoa văn hình chim muông, hoa lá theo mô típ đình, chùa truyền thống của người Việt.
Đặc biệt phía dưới bệ thờ ở hai bên tượng Phật có hai họa tiết hình con dơi đối xứng nhau Trần chính điện được trang trí bằng những mảng tranh sơn dầu hình tiên nữ đang múa trên bầu trời, làm tăng thêm phần sinh động và trang nghiêm cho nội thất
Đối diện với ngôi chính điện về hướng Tây là dãy nhà Sa – La (nhà hội của sư sãi), phòng của sư trụ trì, phòng khách và rải rác xung quanh ngôi chính điện là những tháp đựng cốt tro người chết, mỗi tháp mang dáng kiểu khác nhau Nhìn chung toàn bộ quần thể kiến trúc cân đối nhau một cách hài hoà, làm chúng ta liên tưởng đó là cả một rừng hoa văn với những bố cục hài hoà, gọn gàng, những đường nét uyển chuyển đầy
ấn tượng… toát lên tinh thần lao động cần cù và sáng tạo qua đôi bàn tay khéo léo của người Khmer
Xung quanh quần thể kiến trúc của chùa là những tán cây cổ thụ, được các vị sư săn sóc hàng ngày, để khách đến tham quan và chiêm ngưỡng những chú dơi treo mình lủng lẳng trên các nhánh cây trong khuôn viên chùa, du khách cứ ngỡ ngàng tưởng như cây trái trúng mùa với những chùm quả nặng trĩu Không khí mát mẻ, thanh tịnh chỉ có tiếng gió xào xạc và thỉnh thoảng xen vào tiếng kêu chí chít của những chú dơi con tìm mẹ… Tất cả tạo thành một bản hoà tấu với nhạc điệu du dương của thiên nhiên làm say
mê lòng người
Hiện nay, các hiện vật trong chùa dơi còn chủ yếu là tượng các Phật như: tượng Phật Thích Ca ngồi thiền định cao 2 m bằng xi-măng và nhiều bức tượng nhỏ khác bằng xi-măng và vật liệu khác do phật tử cúng chùa Ngoài ra còn có khung cửa võng (bao lam) bằng gỗ sơn son thiếp vàng chạm trổ hình chim muông, hoa lá, đặc biệt có hoạ tiết hình những chú dơi; một cái giường chạm hoa lá tinh sảo, sơn son thiếp vàng; hai tủ lớn
có chạm hoa văn theo mô típ cổ truyền của người Khmer Đặc biệt hơn cả là trong sảnh của đại dức trụ trì và phòng khách còn có bức tượng của một đại đức đã viên tịch, với kích thước giống y như người thật trong tư thế thiền định làm bằng xi – măng đã làm cho gian phòng khách ấm cúng và sinh động, hấp dẫn
Chùa Dơi với quần thể kiến trúc đẹp, có giá trị thẩm mỹ cao Ngoài chức năng thoả mãn nhu cầu sinh hoạt của đời sống tâm linh, còn hướng con người đến chân – thiện – mỹ, làm điều hay lẽ phải, làm việc thiện, tích phúc cho đời Ở đây chúng ta thấy
rõ nghệ thuật tạo hình Khmer đồng bằng sông Cửu Long, trong đó chùa Dơi là một minh chứng, mang tính tôn giáo Nhưng Phật giáo Nam tông trong xã hội Khmer hiện nay không phải là tôn giáo thoát tục, lánh xa cuộc đời mà hoà nhập vào cuộc sống đời thường với phương châm “tốt đạo, đẹp đời”
Cái đẹp và sức thu hút của chùa Dơi là cảnh quan gần gũi với thiên nhiên, với một quần thể kiến trúc mở, hoà quyện với môi trường sống của con người - thực vật - động vật nơi đây đã gắn bó với con người từ lâu đời Hơn nữa, cộng đồng dân cư ở đây
Trang 20có sự giao lưu giữa ba dân tộc Việt – Khmer – Hoa kết hợp với tinh hoa văn hoá, nghệ thuật trong cuộc sống, học hỏi lẫn nhau cùng phát triển Ngoài ra, Chùa Dơi còn là trung tâm sinh hoạt giáo dục - văn hoá và các lễ thức cúng kiếng, lễ hội của đồng bào Khmer, vừa là tụ điểm sinh hoạt văn hoá của cộng đồng cư dân địa phương Ngày 12 tháng 02 năm 1999, Bộ Văn hóa – Thông tin đã ra Quyết định số 05/1999/QĐ-BVHTT công nhận Chùa Dơi là di tích nghệ thuật cấp quốc gia.
Chùa Dơi là một môi trường sinh thái kết hợp hài hoà giữa thiên nhiên, văn hoá
và cuộc sống đời thường Chùa còn là một thắng cảnh, một địa điểm du lịch, tham quan và hành hương viếng Phật nổi tiếng của du khách trong và ngoài tỉnh
(Nguồn: Sở Giáo dục – Đào tạo Sóc Trăng – website: http://soctrang.edu.vn)
QUẦN THỂ DƠI TẠI CHÙA
Dơi tại chùa Dơi gồm 02 loại chủ yếu :dơi ngựa lớn, dơi ngựa Thái Lan (hay còn gọi là dơi quạ) Trong đó, dơi ngựa lớn hay dơi ngựa lớn Việt Nam nằm trong danh mục thuộc Nghị định 32/2006/NĐ-CP về quản lý thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp quý hiếm
Theo lời kể của thượng tọa Lâm Tú Linh, phó trụ trì chùa Dơi thì những năm trước đây, khi đến khuôn viên chùa Dơi đã thấy từng đàn dơi tụ tập từ hàng rào, rồi trên những ngọn cây Cao điểm nhất, đàn dơi tại chùa Dơi lên đến khoảng 10.000 con Thời điểm năm 1991 - 1992 nhìn cây nào trong chùa cũng có dơi, giờ chỉ còn 20% - 30% so với trước
Như lời kể của các già làng thì loài dơi sống nơi đây từ trước đến lúc bắt đầu xây dựng Chùa Theo một số người Khmer đặc tả loài dơi ở đây như sau:
Dơi là họ thú có cánh bay, những con lớn nặng từ 700 – 1.000g, cánh của chúng căng về hai phía dài từ 1,1 m – 1,5 m, tốc độ bay nhanh nhất từ 50 – 60 km/h Dơi có một số đặc điểm khác với loài chim, dơi là động vật có vú, vú nằm hai bên nách cánh,
có mỏ giống như loài chó Phóc, miệng có răng rất bén để gặm nhấm Thức ăn của Dơi là trái cây, không ăn lúa hay thịt cá Dơi đi ăn vào ban đêm, ban ngày thì ngủ Theo thường lệ hằng năm, bước vào mùa khô, thời tiết nóng nực, thiếu nước, trái cây ít, điều kiện sinh sống khó khăn, chúng thường tổ chức đi ăn ở xa, những nơi có nhiều trái cây và nước ngọt Đôi khi chúng đi tìm thức ăn ở quá xa, không thể bay về chùa trước lúc bình minh, dơi phải ngủ lại nơi đó, và đường về được tiếp nối từng chặng đường của tối hôm sau Những lúc thời tiết như thế thì đàn dơi chỉ còn lại ở chùa 1/3 đàn để giữ chỗ Khoảng cuối tháng tư, khi thời tiết thay đổi, tiếng sấm đầu mùa mưa báo hiệu, lác đác đây đó mưa rơi, cây trái phát triển, dơi thay màu lông Lúc đó dơi quay về chùa chuẩn bị cho mùa sinh sản Từ đó, bà con xung quanh vùng xem chu kỳ sinh sản của dơi như thời điểm vào mùa – họ chuẩn bị giống má, đắp bờ, nhổ cỏ, cày ải, cuốc bẩm chờ mưa để gieo hạt
Trang 21Dơi không ấp trứng như loài chim khác, nên chúng không xây tổ Dơi có hai chân, mỗi bàn chân có 5 ngón và có móc nhọn cong như móc câu, trên bả vai mỗi cánh
có một lưỡi móc, chúng không đứng đậu như những loài chim khác, mà dùng hai chân móc lấy cành cây quay lộn đầu xuống treo mình lủng lẳng, kết lại với nhau như những chùm trái cây, lúc nào muốn thải phân hay nước thải chúng dùng sức bật mạnh hai phía cánh tung thân lên, mở móc cánh cấu chặt cành cây giữ thăng bằng và bắt đầu tuôn nước thải hoặc phân xuống, khi xong chúng lại trở lại trạng thái bình thường
Dơi sinh sản vào đầu tháng năm dương lịch, khi sắp đẻ thì một cánh móc lấy nhánh cây, một cánh đỡ lấy con ôm vào lồng ngực Đẻ xong vài giờ dơi con bắt đầu mở mắt, lúc đó chúng đã biết đói, bú mẹ như chó con mới lọt lòng và trong đêm đó dơi mẹ vẫn đi kiếm ăn bình thường, con chúng mang theo, ôm ghì sát vào lồng ngực Dơi con lớn rất nhanh, hơn một tháng tuổi chúng đã biết nắm níu nhánh cây, đồng thời cánh của chúng cũng bắt đầu mọc và mở rộng ra, sức nặng dơi con tăng dần lên Lúc này, dơi mẹ không còn đủ sức để mang con nữa và tập cho dơi con nắm níu nhánh cây rồi để chúng
ở lại, không mang theo khi dơi mẹ đi ăn Với bản năng sẵn có, dơi con tập chuyền từ nhánh cây gần đến nhánh cây xa, qua tập luyện nhiều lần, chúng từ từ biết vỗ cánh để bay Chuyến bay đầu tiên của chúng nhằm từ cây thấp, khoảng cách vài ba mét, đến lúc vững vàng thì bay sang ngang và bay cao hơn Chúng tập bay ban đêm chứ không tập bay ban ngày, nhất là những đêm trăng sáng, chúng tập bay đan xen nhau trông rất đẹp Thỉnh thoảng trong lúc tập bay có một vài con bị rơi xuống đất không bay lên được, chúng lê tìm nơi nào có cây cao, dùng móc cánh ở bả vai câu chặt nhánh cây và dùng sức mạnh của hai cánh đưa hai chân câu chặt nhánh cây, sau đó chúng buông thòng trúc đầu xuống, dồn sức bật mạnh, mở rộng hai cánh bay đi Còn khi dơi mẹ xuống cứu con bị rớt xuống đất, một cánh chúng ôm ghì chặt lấy con áp vào lồng ngực, một cánh chống xuống đất bò nghiêng, cố tìm đến nơi có cây cao để cất cánh
Dơi cũng biết yêu thương nhau, nhất là dơi mẹ Trước khi đi ăn dơi mẹ cho con
bú và lúc trở về chúng đều nhớ đem mồi về cho con Sau thời gian chào đời và tập luyện, bước vào tháng thứ 3 dơi con bắt đầu biết bay, nhưng không đủ sức đi ăn xa, dơi mẹ dẫn con đi ăn những nơi gần Nhờ sự ôm ấp chăm sóc của dơi mẹ, dần dần dơi con bắt đầu trưởng thành gia nhập vào bầy đàn một cách nhanh chóng, cứ thế đàn dơi ngày càng được bổ sung Hiện nay không ai tính được đàn dơi của “chùa Dơi” này có bao nhiêu con, chỉ ước lượng khoảng vài vạn con, dơi sinh sản thì thấy, nhưng tuổi thọ của chúng được bao lâu thì không ai theo dõi và biết được chính xác, vì chúng không trở về đầy đủ Thỉnh thoảng các nhà sư phát hiện thấy lác đác có vài con bỏ xác, có thể do con người săn bắt và làm chúng bị thương, kiệt sức mà chết; hoặc cành cây bị gãy bất thình lình, những con không may đập đầu vào vật cứng mà chết
Dơi có phản xạ rất kỳ diệu, chúng có khả năng tiếp nhận, dự đoán được qua những tín hiệu, hiện tượng nào đó có thể xảy ra gây nguy hiểm đến sinh mạng của mình, dơi là động vật sống có nề nếp, có bầy đàn
Trang 22Khi đi kiếm ăn, dơi đầu đàn bay lên dẫn đầu, sau đó là những con dơi khác lần lượt bay theo nhập đàn, chúng vừa bay vừa xếp hàng, lượn vài vòng trên bầu trời khu vực chùa, như cầu khẩn đức Phật ban phước lành trước khi đi kiếm ăn Quang cảnh hoàng hôn ở “chùa Dơi” rất rộn ràng, chi chít tiếng dơi gọi đàn, xào xạt tiếng vỗ cánh
va chạm vào cành cây, tạo nên không khí khẩn trương; từng đàn dơi lượn bay trên bầu trời hoàng hôn, sau vài lần lượn bay chúng dần dần lẫn vào bóng đêm, chúng bay theo hướng đã định, bay theo đường nào thì về đường ấy Khi thời tiết tốt thì dơi bay cao, thời tiết xấu thì dơi bay thấp Dơi đi ăn suốt cả đêm đến bình minh thì trở về, dơi không bao giờ bay qua nóc ngôi chánh điện (lúc đi cũng như lúc về) Đặc biệt hơn là dơi chỉ đậu trên những tán cây của khuôn viên chùa, những tán cây bên ngoài khu dân cư sát ngay chùa thì chúng không đậu; sự việc trên được các sư giải thích: đó là chuyện thường thôi, vì trong khuôn viên của chùa quang cảnh yên tịnh, con dơi thích nghi với môi trường hoang dã gần gũi với thiên nhiên, còn bên ngoài bị vây đuổi, săn bắt nên nó không trú ngụ và có một điều mà không ai lý giải được là dơi không ăn trái cây vùng lân cận cũng như trái cây trong khuôn viên chùa, mà phải đi ăn rất xa
(Nguồn: Sở Giáo dục – Đào tạo Sóc Trăng – website: http://soctrang.edu.vn)
Trang 23NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ĐỊA ĐIỂM VÀ THỜI GIAN NGHIÊN CỨU
− Địa điểm thực hiện đề tài: Chùa Dơi, thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng
− Thời gian thực hiện: 08/2013 – 11/2013
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp
− Thu thập các số liệu sẵn có liên quan đến lịch sử, quá trình hoạt động chùa Dơi trên sách vở, báo chí, và thông qua các nhà sư trong chùa
− Thu thập các kết quả nghiên cứu của các chương trình, đề tài khoa học, có liên quan đến tập tính và nguyên nhân suy giảm đàn dơi
Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp
− Phối hợp với cán bộ Phòng Tài nguyên và Môi trường tỉnh Sóc Trăng, các cơ quan chức năng, dân cư xung quanh, nhà sư trong chùa để tìm hiểu về số lượng, thành phần và nguyên nhân gây sụt giảm loài dơi
− Điều tra sự quan tâm của du khách đối với dơi trong chùa:
ngẫu nhiên
Số lượng: 30 phiếu
− Điều tra hiện trạng du lịch tại chùa Dơi: phỏng vấn trực tiếp cán bộ địa phương bằng phiếu phỏng vấn
Trang 24KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN THÔNG TIN CHUNG VỀ KẾT QUẢ PHỎNG VẤN
Đề tài nghiên cứu được khảo sát tại địa bàn khóm 9, phường 3, thành phố Sóc Trăng và tiến hành phỏng vấn một cách ngẫu nhiên khách du lịch tham quan chùa Dơi (chùa Mahatup) Kết quả điều tra được 30 mẫu (n=30), tương đương 30 khách du lịch đã tham gia trả lời phỏng vấn Đặc điểm của khách du lịch tham gia trả lời phỏng vấn
cụ thể như sau:
Đặc điểm đối tượng tham gia phỏng vấn
Người tham gia phỏng vấn có tuổi thấp nhất là 17 tuổi và người cao tuổi nhất là
60 tuổi Phần lớn người tham gia phỏng vấn trong độ tuổi từ 17 đến 35 tuổi chiếm 66,7%
Trang 25Thông tin về tôn giáo, dân tộc và thành phần
Bảng 4.2: Dân tộc, tôn giáo và thành phần
du lịch không theo đạo chiếm tới 57%, còn lại 43% theo đạo Phật, có thể thấy họ không hoàn toàn đến đây vì tính ngưỡng, không tập trung vào việc cũng bái, xem bói hoặc nghe thuyết pháp mà tham quan chùa và chiêm ngưỡng các di sản văn hóa dân tộc
Khách ngoài tỉnh chỉ chiếm 40%, 60% còn lại là khách trong tỉnh có thể thấy danh tiếng và hoạt động văn hóa của chùa còn thu hút khách du lịch và Phật tử đến từ phương xa
Trang 26Thông tin về nghề nghiệp
Hình 4.1: Thông tin nghề nghiệp của khách du lịch
Qua kết quả khảo sát cho thấy khách du lịch cũng gồm nhiều ngành nghề khác nhau được nêu trong hình 4.1 Đa phần là sinh viên với tỷ lệ 37% Những người còn lại thu nhập là từ tiền lương, tiền hoạt động kinh doanh và buôn bán trong đó chủ yếu là tiền lương làm việc nhà nước Còn lại 10% sống bằng nghề nông, làm vườn Từ số liệu trên cho thấy những người đến tham quan chùa đa dạng về thành phần và ngành nghề Điều này chứng tỏ chùa có sức hút đối với nhiều đối tượng tham quan
Trang 27Theo khảo sát, du khách đến đây hoàn toàn chỉ để cúng bái chỉ chiếm 10%, trong khi đó có tới 50% đến đây chỉ để xem dơi, và có 30% có mục đích cúng bái lẫn xem dơi
Có thể nói đàn dơi đóng vai trò quan trọng trong việc thu hút khách du lịch
Số khách đến đây lần đầu chiếm 17%, hầu hết họ biết đến chùa dơi nhờ vào người
đi trước truyền lại, chỉ có một số ít thông qua báo đài Từ đó càng cho thấy công tác quảng cáo vẫn còn yếu kém Những người đến đây từ 2 – 10 lần chiếm 50% chứng tỏ chùa dơi vẫn có tiềm năng để thu hút khách du lịch đã từng đến đây Những người đến đây hằng ngày chiếm 6% chủ yếu là dân cư sinh sống gần chùa đến đây cũng bái hằng ngày
Theo khảo sát người dân và ý kiến của thượng tọa Lâm Tú Linh thì dơi thường tập trung sinh sản vào đầu mùa mưa do thời tiết dễ chịu và nguồn thức ăn dồi dào Vào lúc này thì lượng khách du lịch đến xem dơi sẽ đông hơn vì số lượng dơi tăng mạnh và theo dõi được quá trình sinh sản và nuôi con của dơi Ngoài ra, dơi về chùa đông hơn vào những ngày 30 tối trời hơn ngày rằm nên khách du lịch cũng sắp xếp thời gian đến chùa để thấy được dơi nhiều hơn
NGUYÊN NHÂN SỐ LƯỢNG DƠI SUY GIẢM
Ý kiến ghi nhận từ thượng tọa Lâm Tú Linh và người dân đều cho rằng số lượng dơi đã giảm nhiều so với trước kia và suy giảm nghiêm trọng trong khoảng 10 năm trở lại đây
Kết quả khảo sát nguyên nhân suy giảm số lượng dơi được nêu trong bảng 4.4: