Kết quả khảo sát cho thấy hầu hết người dân tại xã Vị Thủy và xã Vị Tân đều sử dụng nước sông ao hồ cho mục đích sinh hoạt lần lượt chiếm tỉ lệ 59% và 55%; nước mưa là nguồn nước ăn uống
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA MÔI TRƯỜNG VÀ TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN
NGUYỄN THỊ KIM THƯ
Luận văn tốt nghiệp Đại học Chuyên ngành Khoa học Môi Trường
KHẢO SÁT TÌNH HÌNH SỬ DỤNG NƯỚC CỦA NGƯỜI DÂN XÃ VỊ THỦY, HUYỆN VỊ THỦY
VÀ XÃ VỊ TÂN, THÀNH PHỐ VỊ THANH
TỈNH HẬU GIANG
Cán bộ hướng dẫn
Ths Nguyễn Thị Như Ngọc Ths Đinh Diệp Anh Tuấn
Cần Thơ, 2013
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA MÔI TRƯỜNG VÀ TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN
NGUYỄN THỊ KIM THƯ
Luận văn tốt nghiệp Đại học Chuyên ngành Khoa học Môi Trường
KHẢO SÁT TÌNH HÌNH SỬ DỤNG NƯỚC CỦA NGƯỜI DÂN XÃ VỊ THỦY, HUYỆN VỊ THỦY
VÀ XÃ VỊ TÂN, THÀNH PHỐ VỊ THANH
TỈNH HẬU GIANG
Cán bộ hướng dẫn
Ths Nguyễn Thị Như Ngọc Ths Đinh Diệp Anh Tuấn
Cần Thơ, 2013
Trang 3PHÊ DUYỆT CỦA HỘI ĐỒNG
Luận văn kèm theo đây, với tựa đề “Khảo sát tình hình sử dụng nước của
người dân xã Vị Thủy, huyện Vị Thủy và xã Vị Tân, thành phố Vị Thanh tỉnh Hậu
Giang”, do Nguyễn Thị Kim Thư thực hiện và báo cáo đã được hội đồng chấm luận
văn thông qua
Ths Nguyễn Thị Như Ngọc
Trang 4LỜI CẢM TẠ
Em xin trân trọng bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến quý Thầy, Cô trường Đại học Cần Thơ đã tận tình giảng dạy, truyền đạt những kiến thức và kinh nghiệm quý báu cho em trong suốt thời gian học tập và nghiên cứu dưới mái trường Đại học
Em xin chân thành cảm ơn:
Cô Nguyễn Thị Như Ngọc và Thầy Đinh Diệp Anh Tuấn đã tận tình chỉ bảo
và giúp đỡ em hoàn thành luận văn tốt nghiệp
Quý Thầy, Cô và các anh chị cán bộ thuộc Bộ môn Khoa học môi trường, Khoa Môi trường và TNTN đã hết lòng quan tâm, giúp đỡ em trong thời gian học tập và thực hiện luận văn
Ban Chủ nhiệm Dự án HSF, Đức và Viện Nghiện cứu Biến đổi khí hậu đã hỗ trợ kinh phí cho em thực hiện đề tài
Xin trân trọng ghi nhớ sự nhiệt tình, cảm thông và giúp đỡ của tất cả các bạn lớp Khoa học Môi trường khóa 36 trong suốt thời gian cùng ngồi chung giảng đường Đại học
Xin chân thành cảm ơn!
Nguyễn Thị Kim Thư
Trang 5TÓM LƯỢC
Nghiên cứu “Khảo sát tình hình sử dụng nước của người dân xã Vị Thủy, huyện Vị Thủy và xã Vị Tân, TP Vị Thanh, tỉnh Hậu Giang” được thực hiện từ tháng 8/2013 đến tháng 11/2013
Kết quả khảo sát cho thấy hầu hết người dân tại xã Vị Thủy và xã Vị Tân đều
sử dụng nước sông ao hồ cho mục đích sinh hoạt lần lượt chiếm tỉ lệ 59% và 55%; nước mưa là nguồn nước ăn uống chính được các hộ dân thu hứng sử dụng với 62,86% tại xã Vị Thủy và 75% tại xã Vị Tân
Đề tài tiến hành thu mẫu 3 đợt nguồn nước mặt và nước dưới đất và đạt được kết quả như sau:
Nguồn nước mặt được thu trực tiếp từ kênh sau khi xử lý bằng phèn và hóa chất PAC tuy cải thiện được chất lượng nguồn nước nhưng vẫn không đạt QCVN 02:2009/BYT đối với một số chỉ tiêu độ đục và pH Tuy nhiên, số lượng vi khuẩn
E coli và tổng coliform đạt QCVN 02:2009/BYT
Kết quả phân tích nguồn nước dưới đất tại xã Vị Thủy và xã Vị Tân cho thấy giếng khoan 40 m có chất lượng nước tương đối tốt hơn giếng khoan 70 m
Từ khóa: Nước mặt, nước dưới đất, chất lượng nướ
Trang 6MỤC LỤC
PHÊ DUYỆT CỦA HỘI ĐỒNG i
LỜI CẢM TẠ ii
TÓM LƯỢC iii
DANH SÁCH BẢNG viii
DANH SÁCH HÌNH ix
DANH SÁCH TỪ VIẾT TẮT x
CHƯƠNG 1 MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 2 LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU 3
2.1 Tổng quan về tài nguyên nước 3
2.1.1 Nước mặt 3
2.1.2 Nước dưới đất 4
2.1.3 Một số điểm khác nhau cơ bản giữa nước mặt và nước dưới đất 5
2.1.4 Tầm quan trọng của nước đối với sự sống 5
2.2 Tập quán sử dụng nước của người dân nông thôn 6
2.2.1 Thói quen sử dụng nước của người dân 6
2.2.2 Cách xử lí nước dùng cho sinh hoạt và ăn uống của người dân 7
2.4 Một số nghiên cứu về nước mặt và nước dưới đất ở ĐBSCL 7
2.4 Ô nhiễm tài nguyên nước 8
2.4.1 Khái niệm ô nhiễm tài nguyên nước 8
2.4.2 Các khuynh hướng thay đổi chất lượng và gây ô nhiễm nước do hoạt động của con người 9
2.4.3 Các nguồn gây ô nhiễm nước trên địa bàn tỉnh Hậu Giang 9
2.5 Ảnh hưởng của ô nhiễm nguồn nước đến sức khỏe con người 11
2.6 Một số chỉ tiêu cơ bản để đánh giá chất lượng nước 12
2.6.1 pH 12
Trang 72.6.2 Độ đục 13
2.6.3 Tổng chất rắn hòa tan (TDS) 13
2.6.4 Chất rắn lơ lửng (SS) 14
2.6.5 Độ cứng 14
2.6.6 Sắt 15
2.6.7 Chỉ tiêu vi sinh 15
2.7 Một vài đặc điểm về thủy văn và đất ở tỉnh Hậu Giang 16
2.7.1 Thủy văn 16
2.7.2 Tài nguyên đất 17
2.8 Tác động của biến đổi khí hậu đến tài nguyên nước tỉnh Hậu Giang 17
2.9 Sơ lược về xã Vị Thủy, huyện Vị Thủy tỉnh Hậu Giang 18
2.9.1 Tình hình sử dụng nước sạch, nước hợp vệ sinh xã Vị Thủy, huyện Vị Thủy tỉnh Hậu Giang 19
2.9.2 Nhu cầu sử dụng nước trong thời gian tới 19
2.10 Sơ lược về xã Vị Tân, thành phố Vị Thanh tỉnh Hậu Giang 19
2.10.1 Tình hình sử dụng nước sạch, nước hợp vệ sinh xã Vị Tân, thành phố Vị Thanh tỉnh Hậu Giang 19
2.10.2 Nhu cầu sử dụng nước trong thời gian tới 20
CHƯƠNG 3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 21
3.1 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 21
3.2 Phương tiện nghiên cứu 21
3.3 Phương pháp nghiên cứu 21
3.3.1 Phân tích hiện trạng sử dụng nước sạch ở xã Vị Thủy, huyện Vị Thủy và xã Vị Tân, thành phố Vị Thanh tỉnh Hậu Giang 21
3.3.2 Chu kỳ thu mẫu 21
3.3.3 Số lượng mẫu 22
3.3.4 Phương pháp thu và bảo quản mẫu 23
Trang 83.3.5 Phương pháp phân tích mẫu 24
3.3.6 Phương pháp xử lý số liệu 25
CHƯƠNG 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 26
4.1 Hiện trạng sử dụng nước của các hộ dân 26
4.1.1 Thông tin về các hộ phỏng vấn 26
4.1.2 Các nguồn nước được sử dụng cho mục đích sinh hoạt 26
4.1.3 Các nguồn nước được sử dụng cho mục đích ăn uống 27
4.1.4 Phương cách xử lý nước uống của người dân 28
4.1.5 Nhận xét của người dân về chất lượng các nguồn nước đang được sử dụng 29
4.2 Biến động một số chỉ tiêu chất lượng nước mặt tại xã Vị Thủy và xã Vị Tân, tỉnh Hậu Giang 32
4.2.1 pH 32
4.2.2 Độ đục 33
4.2.3 Tổng chất rắn hoàn tan (TDS) 35
4.2.4 Chất rắn lơ lửng (SS) 36
4.2.5 Chỉ tiêu vi sinh 37
4.3 Biến động một số chỉ tiêu chất lượng nước dưới đất tại xã Vị Thủy và xã Vị Tân, tỉnh Hậu Giang 39
4.3.1 pH 39
4.3.2 Độ đục 40
4.3.4 Độ cứng 42
4.3.5 Sắt tổng 44
4.5 Nhận xét về chất lượng nguồn nước sinh hoạt tại xã Vị Thủy, huyện Vị Thủy và xã Vị Tân, thành phố Vị Thanh tỉnh Hậu Giang 45
CHƯƠNG 5 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 47
5.1 Kết luận 47
Trang 95.2 Kiến nghị 47 TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 10DANH SÁCH BẢNG
Trang Bảng 2.1 Một số điểm khác nhau cơ bản giữa nước mặt và nước dưới đất 5 Bảng 2.2 Hệ số phát sinh nước thải của một số nguồn thải 10 Bảng 2.3 Một số bệnh liên quan đến ô nhiễm nguồn nước 12 Bảng 3.1 Phương pháp bảo quản mẫu và thời gian lưu mẫu một số chỉ tiêu 24 Bảng 3.2 Phương pháp phân tích một số chỉ tiêu nước 24
Trang 11DANH SÁCH HÌNH
Trang Hình 4.1 Các nguồn nước sử dụng cho mục đích sinh hoạt 27 Hình 4.2 Các nguồn nước sử dụng cho mục đích ăn uống 28 Hình 4.3 Các hình thức xử lý nước uống của người dân 29 Hình 4.4 Giá trị trung bình pH của mẫu nước mặt 33 Hình 4.5 Giá trị trung bình độ đục của mẫu nước mặt 34 Hình 4.6 Giá trị trung bình TDS của mẫu nước mặt 35 Hình 4.7 Giá trị trung bình SS của mẫu nước mặt 37 Hình 4.8 Giá trị trung bình pH của mẫu nước dưới đất 40 Hình 4.9 Giá trị trung bình độ đục mẫu nước dưới đất 41 Hình 4.10 Hàm lượng TDS trung bình của mẫu nước dưới đất 42 Hình 4.11 Độ cứng trung bình của mẫu nước dưới đất 43 Hình 4.12 Hàm lượng trung bình sắt tổng mẫu nước dưới đất 44
Trang 12DANH SÁCH TỪ VIẾT TẮT
ĐBSCL: Đồng bằng sông Cửu Long
KPH: Không phát hiện
PAC: Polyaluminium chloride
QCVN: Quy chuẩn Việt Nam
UBND: Ủy ban nhân dân
UNICEP: United Nations International Children’s Emergency Fund: Quỹ
nhi đồng Liên hiệp quốc
Trang 13CHƯƠNG 1
MỞ ĐẦU
Nước sạch là một nhu cầu căn bản nhất của con người và là trọng tâm của các mục tiêu phát triển thiên niên kỷ Nước sạch góp phần nâng cao sức khỏe, giảm thiểu bệnh tật, tăng sức lao động, cải thiện điều kiện sống và mang lại cuộc sống văn minh đang là đòi hỏi bức bách và là chiến lược phát triển lâu dài của nhiều quốc gia trên thế giới Việt Nam đã sớm nhận thức được tầm quan trọng đó nên chương trình quốc gia về cung cấp nước sạch và vệ sinh môi trường đã được chính phủ phê duyệt với mục tiêu phấn đấu của chương trình là tới năm 2015 sẽ có 85% dân số nông thôn được sử dụng nước sạch hợp vệ sinh và đến năm 2020 tất cả cư dân nông thôn đều sử dụng nước sạch đạt tiêu chuẩn quốc gia với số lượng ít nhất 60 lít/người/ngày (Bộ y tế, 2011)
Hậu Giang đang từng bước chuyển mình, tốc độ phát triển kinh tế đang được đẩy mạnh với nhiều hoạt động kinh tế đa dạng, hình thành các khu/cụm công nghiệp, thu hút đầu tư phát triển hạ tầng giao thông, đô thị, công nghiệp, dịch vụ… Cùng với việc đẩy mạnh phát triển kinh tế và quá trình đô thị hóa cũng đã và đang đặt ra nhiều thách thức về môi trường Tài nguyên nước phong phú nhưng còn nhiều bộ phận dân cư thiếu nước sạch cho sinh hoạt, môi trường đô thị và nông thôn ngày càng bị ô nhiễm do nước thải, rác thải từ hoạt động sản xuất kinh doanh, dịch
vụ và của cộng đồng thải ra môi trường không qua xử lý đã làm chất lượng các thành phần môi trường đang có xu hướng suy giảm, đặc biệt là môi trường nước Tình trạng ô nhiễm của các sông ngòi, ao hồ, kênh rạch đã và đang khiến cho nguồn nước sử dụng cho ăn uống và sinh hoạt của người dân khu vực này trở nên ô nhiễm trầm trọng
Địa bàn xã Vị Thủy, huyện Vị Thủy và xã Vị Tân, thành phố Vị Thanh tuy được ban chỉ đạo Chương trình quốc gia về xây dựng nông thôn mới tỉnh Hậu Giang chọn làm điểm chỉ đạo của tỉnh nhưng hiện nay tỉ lệ hộ dân được sử dụng nguồn nước hợp vệ sinh, nước sạch vẫn còn rất thấp so với các xã khác trên địa bàn tỉnh Phần lớn người dân có cuộc sống khó khăn, số hộ thuộc diện nghèo và cận nghèo còn khá phổ biến Người dân sống chủ yếu ở các vùng nông thôn, tập trung theo tuyến kênh rạch, sản xuất nông nghiệp, chăn nuôi và trồng trọt là chủ yếu, thu nhập của người dân khu vực này còn thấp Tập tính sử dụng nguồn nước sông, ao
hồ sẵn có và nước mưa phục vụ cho nhu cầu ăn uống và vệ sinh hàng ngày hiện nay còn khá phổ biến Việc sử dụng nguồn nước không đảm bảo tiêu chuẩn vệ sinh là nguyên nhân trực tiếp và chủ yếu khiến cho nhiều loại bệnh liên quan đến nguồn nước phát triển và ngày càng lan rộng Trước thực trạng đó, đề tài “Khảo sát tình
Trang 14hình sử dụng nước của người dân tại xã Vị Thủy, huyện Vị Thủy và xã Vị Tân,
thành phố Vị Thanh tỉnh Hậu Giang” cần thiết được thực hiện
Mục tiêu đề tài
Khảo sát và đánh giá chất lượng nguồn nước được sử dụng tại xã Vị Thủy, huyện Vị Thủy và xã Vị Tân, thành phố Vị Thanh tỉnh Hậu Giang làm cơ sở đề xuất một số giải pháp xử lí nước phục vụ nhu cầu sinh hoạt cho người dân nghèo tỉnh Hậu Giang
Nội dung nghiên cứu
Phân tích hiện trạng sử dụng nước của người dân tại xã Vị Thủy thuộc huyện
Vị Thủy và xã Vị Tân thuộc thành phố Vị Thanh, tỉnh Hậu Giang
Thu và phân tích một số chỉ tiêu nước mặt như: pH, độ đục, chất rắn lơ lửng
(SS), tổng chất rắn hòa tan (TDS), vi khuẩn E.coli và tổng coliform
Thu và phân tích một số chỉ tiêu nước dưới đất như: pH, độ đục, tổng chất rắn hòa tan (TDS), độ cứng và sắt tổng
Trang 15CHƯƠNG 2 LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU 2.1 Tổng quan về tài nguyên nước
Tài nguyên nước là lượng nước trong sông, ao, hồ, đầm lầy, biển, đại dương
và trong khí quyển, sinh quyển Tài nguyên nước bao gồm các nguồn nước mặt, nước mưa, nước dưới đất và nước biển (Nguyễn Thanh Sơn, 2005)
Nước là một dạng tài nguyên quý giá và được coi là vĩnh cửu Ở đâu có nước thì ở đó có sự sống Nước được sử dụng rộng rãi trong sản xuất nông nghiệp, công nghiệp, thủy điện, giao thông vận tải, chăn nuôi thủy sản Nước bao phủ hơn 70%
bề mặt trái đất, trong đó nước tồn tại ở đại dương chiếm 97%, trong số 3% nước ngọt thì tồn tại ở thể băng chiếm đến 75% Nhìn chung nước ở các sông ngòi và các lưu vực nước ngọt ước tính khoảng 0,02% Nước tồn tại ở dạng nước ngầm và nước thổ nhưỡng chiếm khoảng 58% và có khoảng 0,06% lượng nước sạch sử dụng cho các mục đích của con người (Lê Huy Bá, 2003)
Cũng như các nguồn nước tự nhiên khác, thành phần và chất lượng nước mặt chịu ảnh hưởng của các yếu tố tự nhiên, nguồn gốc xuất xứ, các điều kiện xung quanh và các tác động của con người khi khai thác sử dụng nguồn nước Nước dùng cho sinh hoạt, trong công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ sau khi sử dụng đều trở thành nước thải bị ô nhiễm bởi các mức độ khác nhau vì được đưa trở lại các nguồn nước, nếu không xử lí sẽ làm ô nhiễm môi trường Thông thường trong nước mặt thường tìm thấy các thành phần sau:
- Các chất hòa tan dưới dạng các ion và phân tử, có nguồn gốc vô cơ hoặc hữu
số liệu của Cục quản lí tài nguyên nước (2010), tổng trữ lượng nước mặt của Việt
Trang 16Nam đạt khoảng hơn 830 – 840 tỷ m3, trong đó có hơn 60% lượng nước được sinh
ra từ nước ngoài Bên cạnh đó, do Việt Nam nằm ở hạ nguồn nên lưu lượng nước phụ thuộc nhiều vào thượng nguồn nằm ở ngoài biên giới Việt Nam
Nhìn chung 6 tháng mùa mưa có trữ lượng nước dồi dào và chất lượng tốt hơn mùa khô Mùa mưa lưu lượng dòng chảy lớn, độ đục cao, đầu mùa mưa nước sông thường bị ô nhiễm do nước mưa chảy tràn cuốn trôi nhiều rác cỏ, các tạp chất hữu cơ Gần cuối mùa mưa, nước ở cửa sông chảy mạnh do lũ Mùa khô hàm lượng các chất khoáng hòa tan có thể giảm Nước trong các ao hồ có chất lượng không giống nhau, phụ thuộc vào dân sinh hoạt và sản xuất xung quanh chúng
2.1.2 Nước dưới đất
Nước dưới đất là một dạng nước trong đất, tích trữ trong đất đá trầm tích bời rời như cặn, sạn, cát, trong các khe nứt, có thể khai thác trong các hoạt động của con người Đặc điểm chung của nước ngầm là khả năng di chuyển nhanh trong các lớp đất xốp, tạo thành dòng chảy ngầm theo địa hình Theo độ sâu phân bố, có thể chia nước ngầm thành nước ngầm tầng mặt và nước ngầm tầng sâu
Nước dưới đất tầng mặt không có lớp ngăn vách với địa hình bề mặt Loại nước dưới đất tầng mặt rất dễ bị ô nhiễm
Nước dưới đất tầng sâu nằm trong lớp đất đá xốp, phía trên và dưới đều được ngăn cách bởi một lớp không thấm nước, một lớp nước dưới đất tầng sâu thường có
3 vùng: vùng thu nhận nước, vùng chuyển tải nước và vùng khai thác nước có áp Khoảng cách giữa vùng thu nhận và vùng khai thác nước thường xa, từ vài chục đến vài trăm km Đây là loại nước dưới đất có chất lượng tốt và lưu lượng ổn định
Đối với các hệ thống cấp nước cộng đồng thì nguồn nước dưới đất luôn luôn
là nguồn nước được ưa thích Bởi vì các nguồn nước mặt thường xuyên bị ô nhiễm
và lưu lượng khai thác phải phụ thuộc vào sự biến động theo mùa Nguồn nước dưới đất ít chịu ảnh hưởng bởi các tác động của con người Chất lượng nước dưới đất thường tốt hơn chất lượng nước mặt Trong nước dưới đất hầu như không có các hạt keo hay các hạt lơ lửng, vi sinh, vi trùng gây bệnh
Các nguồn nước dưới đất hầu như không có chứa rong tảo, một trong những nguyên nhân gây ô nhiễm nguồn nước Thành phần đáng quan tâm trong nước dưới đất là các chất hòa tan do ảnh hưởng của điều kiện địa tầng, thời tiết, các quá trình phong hóa và sinh hóa trong khu vực Ở những vùng có điều kiện phong hóa tốt, có nhiều chất bẩn và lượng mưa lớn thì chất lượng nước dưới đất dễ bị ô nhiễm bởi các chất hòa tan, các chất hữu cơ, mùn lâu ngày theo nước mưa thấm vào đất
(Nguồn: http://vi.wikipedia.org/wiki/)
Trang 172.1.3 Một số điểm khác nhau cơ bản giữa nước mặt và nước dưới đất
Bảng 2.1 Một số điểm khác nhau cơ bản giữa nước mặt và nước dưới đất
Chất khoáng hòa tan Thay đổi theo lượng đất,
lượng mưa
Ít thay đổi, cao hơn nước bề mặt ở một số vùng
Hàm lượng sắt, Mangan Rất thấp trừ dưới đáy hồ Thường xuyên có
Khí CO2 hòa tan Thường thấp hoặc gần
như bằng không
Thường xuyên xuất hiện ở nồng độ cao Oxy hòa tan Gần như bão hòa Thường không tồn tại Khí NH3 Xuất hiện ở các nguồn
Thấp hoặc hầu như không có
Các vi sinh vật Vi trùng (nhiều loại gây
bệnh) virus các loại và tảo
Các vi trùng do sắt gây
ra thường xuất hiện Dung môi chứa Clo Rất hiếm có Có mặt thường xuyên
(www.gree.vn)
2.1.4 Tầm quan trọng của nước đối với sự sống
Nước là thành phần không thể thiếu của môi trường sinh thái toàn cầu, nó duy trì sự sống cho con người và sinh vật Nước sinh hoạt được dùng cho nhiều nhu cầu cần thiết cho đời sống con người như ăn, uống, tắm giặt và các hoạt động sống khác Bên cạnh những vai trò thiết thực đó, nước cũng là môi trường trung gian
Trang 18chứa các độc chất và lan truyền mầm bệnh, dịch bệnh gây nguy hại cho sức khỏe con người nếu như nguồn nước cấp sinh hoạt không được quản lý tốt
Nước được coi như một thực phẩm cần thiết cho đời sống và nhu cầu sinh lí của cơ thể người Trong cơ thể người nước chiếm một tỉ lệ rất lớn 63% Nước còn
là yếu tố điều hòa thân nhiệt, điều hòa áp lực thẩm thấu, ảnh hưởng đến quá trình chuyển hóa các chất
- Nhu cầu nước uống của người lớn (60 kg): 2 lít/ngày
- Nhu cầu nước uống của thiếu niên (10 kg): 1 lít/ngày
- Nhu cầu nước uống của trẻ em (5 kg): 0,75 lít/ngày
Khi hoạt động nhiều thì nhu cầu cao hơn, có khi đến 3 – 4 lít/ngày
Nước cung cấp cho cơ thể những yếu tố cần thiết như: F, I, Mn, Zn Khi thiếu hay thừa những nguyên tố vi lượng này sẽ dẫn đến bệnh lý
Tiêu chuẩn về số lượng nước cho sinh hoạt
Nước dùng cho ăn uống và sinh hoạt phải đảm bảo 2 yêu cầu cơ bản:
- Đủ về số lượng: tiêu chuẩn từ 60 – 100 lít cho một người một ngày
- Đảm bảo an toàn về chất lượng: không có các yếu tố gây độc hại Căn cứ vào nhu cầu sử dụng nước, vào khả năng cung cấp nước từng vùng Sau đây là những tiêu chuẩn lượng nước cung cấp cho một người một ngày
Thành phố lớn: 100 lít/ngày
Thành phố vừa: 60 lít/ngày
Thị trấn và nông thôn: 40 lít/ngày
Hải đảo và vùng núi cao: 10 lít/ngày
(Nguyễn Văn Chương Tiến, 2010) 2.2 Tập quán sử dụng nước của người dân nông thôn
2.2.1 Thói quen sử dụng nước của người dân
Theo Đào Công Tiến (2001) trích bởi Đoàn Thị Trúc Linh (2010), tùy thuộc vào điều kiện tự nhiên và kinh tế, các vùng nông thôn ĐBSCL nói chung và vùng ngập lũ nói riêng đang tồn tại một số tập quán sử dụng nước sinh hoạt sau đây:
Trang 19- Thứ nhất, hứng nước mưa và chứa trong các lu, vại hoặc bể chứa nước để ăn uống tắm giặt và dùng cho một số mục đích sinh hoạt
- Thứ hai, sử dụng nước sông cho mục đích sinh hoạt Tập quán này rất phổ biến ở các vùng mà dân cư sống dọc theo hai bên kênh rạch Vào mùa khô khi nguồn dự trữ nước mưa bị cạn kiệt, người dân có thói quen sử dụng nước sông để tắm rửa, giặc giũ và vệ sinh chuồng trại bất chấp chất lượng nước ra sao, ngoại trừ trường hợp nước sông quá mặn không thể sử dụng nước
- Thứ ba, sử dụng nước ao, hồ, đìa để sinh hoạt Tập quán này gắn liền với điều kiện phân bố dân cư dọc theo các trục giao thông nông thôn mà không có sông rạch ở gần đó và rất phổ biến đối với các hộ gia đình xây cất đơn trong đồng ruộng
- Thứ tư, là tập quán sử dụng nước giếng Nhiều người dân cho rằng việc sử dụng nước giếng là rất an toàn nên đã uống trực tiếp nước giếng khoan mà không biết bất cứ một công đoạn xử lí hay đun sôi nào
2.2.2 Cách xử lí nước dùng cho sinh hoạt và ăn uống của người dân
Đối với nước dùng cho sinh hoạt: phần lớn người dân thường sử dụng nước lắng phèn dành cho tắm giặt, một số hộ sử dụng nước lắng tự nhiên hoặc lấy từ nước giếng khoan lên hay trực tiếp tắm giặt trên sông ngòi, kênh rạch
Đối với nước dùng trong ăn uống: người dân thường lấy nước sông hoặc giếng khoan kết hợp lắng cặn bằng phèn nhôm Sau đó sử dụng biện pháp xử lí nước như: đun sôi hay lọc trước khi ăn uống hoặc mua các bình nước uống từ các
cơ sở cung cấp nước nhỏ lẻ
(Nguồn: Cục y tế dự phòng, 2005)
2.4 Một số nghiên cứu về nước mặt và nước dưới đất ở ĐBSCL
Nước dưới đất ở ĐBSCL được đánh giá có trữ lượng khai thác khoảng một triệu m3/ngày đêm Nước ngầm ở đây phân bố không đều, nơi nhiều nơi ít, nơi nông, nơi sâu Nhu cầu sử dụng nước dưới đất ở ĐBSCL ngày càng tăng tuy nhiên các nguồn nước dưới đất có thể khai thác được thường bị nhiễm sắt, độ cứng cao và
có mùi hôi…
Theo báo cáo hiện trạng môi trường Cần Thơ (2002) trích bởi Đỗ Thị Mai Dung (2008), về chất lượng nước hầu hết các mẫu nước dưới đất có hàm lượng clorua vượt quá tiêu chuẩn nước dưới đất (TCVN 5944 – 1995) Trong đó các huyện Long Mỹ và thị xã Vị Thanh đều có hàm lượng clorua rất cao (>1000 mg/l)
và hàm lượng sunfat từ 300 – 500 mg/l cao hơn tiêu chuẩn Việt Nam từ 1,5 – 2 lần Khoảng 50% số mẫu ở huyện Châu Thành và Vị Thủy có độ cứng vượt quá tiêu
Trang 20chuẩn Việt Nam từ 2 – 5 lần, hàm lượng sắt tổng cộng theo kết quả quan trắc năm
2001 đa số đều vượt tiêu chuẩn Việt Nam Kết quả giám sát chất lượng nước dưới đất 1999 – 2002 trên 42 giếng ở hai huyện này thì hàm lượng sắt từ 1 – 7 mg/l, độ cứng từ 300 – 600 mg/l các chỉ tiêu này đều vượt tiêu chuẩn vệ sinh của nước cấp cho ăn uống và sinh hoạt Theo kết quả quan trắc môi trường nước dưới đất tỉnh Hậu Giang (2012), tại 8 giếng khoan (độ sâu 18,5 – 34 m) thì có 4/8 giếng có kết quả sắt tổng nằm trong giới hạn cho phép của QCVN 09:2008/BTNMT (5,0 mg/l), 4/8 giếng có nồng độ sắt tăng cao vượt giá trị so với quy chuẩn quy định, 3/8 giếng
có độ cứng tổng nằm ở mức cho phép (500mg/l)
Một trong những đặc điểm về chất lượng nước mặt của ĐBSCL là độ đục nước sông khá lớn Lượng cát bùn tập trung 80 - 90% tổng lượng cát bùn năm vào mùa lũ (Nguyễn Thanh Sơn, 2005) Theo kết quả quan trắc môi trường nước mặt tỉnh Hậu Giang (2012) nhìn chung nguồn nước mặt trên các con sông, rạch chính của tỉnh hiện đã bị ô nhiễm hữu cơ và vi sinh thể hiện qua các thông số: sắt tổng số, BOD5, COD, N-NO2, N-NH4, P-PO4, TSS, Coliforms có kết quả ở mức cao so với quy chuẩn 08:2008/BTNMT quy định Cụ thể ở một số điểm: tại kênh xáng Xà No đoạn chảy qua khu vực thành phố Vị Thanh có giá trị pH nằm trong giới hạn cho phép, giá trị coliform đều ở mức cao hơn giá trị quy chuẩn quy định (QCVN 08:2008/BTNMT), thông số độ đục dao động từ 56 – 196 NTU Tại kênh xáng Nàng Mau đoạn chảy qua huyện Vị Thủy có độ đục dao động từ 59 – 131 NTU
2.4 Ô nhiễm tài nguyên nước
2.4.1 Khái niệm ô nhiễm tài nguyên nước
Ô nhiễm tài nguyên nước là hiện tượng các vùng nước như sông, hồ, biển, nước ngầm bị các hoạt động của con người làm nhiễm các chất có thể gây hại cho con người và cuộc sống các sinh vật trong tự nhiên
Ô nhiễm tài nguyên nước là sự thay đổi thành phần và chất lượng nước không đáp ứng cho các mục đích sử dụng khác nhau, vượt quá tiêu chuẩn cho phép
và có ảnh hưởng xấu đến đời sống con người và sinh vật
Hiến chương châu Âu về nước đã định nghĩa: "Ô nhiễm nước là sự biến đổi nói chung do con người đối với chất lượng nước, làm nhiễm bẩn nước và gây nguy hiểm cho con người, cho công nghiệp, nông nghiệp, cho động vật nuôi và các loài hoang dã."
- Ô nhiễm nước có nguồn gốc tự nhiên: do mưa, tuyết tan, gió bão, lũ lụt đưa vào môi trường nước chất thải bẩn, các sinh vật và vi sinh vật có hại kể cả xác chết của chúng
Trang 21- Ô nhiễm có nguồn gốc nhân tạo: quá trình thải các chất độc hại chủ yếu dưới dạng lỏng, khí như các chất thải sinh hoạt, công nghiệp, nông ngiệp, giao thông và môi trường nước
(Nguồn: http://vi.wikipedia.org/wiki/)
2.4.2 Các khuynh hướng thay đổi chất lượng và gây ô nhiễm nước do hoạt động của con người
Giảm chất lượng nước ngọt do tăng hàm lượng SO42-, NO3- trong nước
Tăng hàm lượng các ion Ca, Mg, Si…trong nước dưới đất và nước sông hồ
do nước mưa hòa tan, phong hóa các quặng cacbonat
Tăng hàm lượng các ion kim loại nặng trong nước tự nhiên như Pb, Cd, Hg, As…
Tăng hàm lượng các muối trong nước mặt do nước thải công nghiệp, sinh hoạt, nước mưa, rác thải…
Tăng hàm lượng các chất hữu cơ do các chất khó bị phân hủy sinh học, thuốc trừ sâu…
Giảm nồng độ oxy hòa tan trong nước tự nhiên do quá trình oxy hòa tan có liên quan đến quá trình phú dưỡng các nguồn chứa nước và khoáng hóa các hợp chất hữu cơ
Giảm độ trong của nước
(Nguồn: http://vi.wikipedia.org/wiki/)
2.4.3 Các nguồn gây ô nhiễm nước trên địa bàn tỉnh Hậu Giang
Các nguồn gây ô nhiễm nước mặt
Các nguồn gây ô nhiễm nước mặt trên địa bàn tỉnh hiện nay chủ yếu là nước thải từ các khu dân cư, khu đô thị tập trung, các khu công nghiệp/cụm công nghiệp, các trại chăn nuôi, giết mổ gia súc gia cầm và chế biến thủy hải sản, nước thải từ các bệnh viện, trung tâm y tế, nước rỉ từ các bãi chôn lấp rác,
Theo kết quả thực hiện nhiệm vụ “Điều tra, thống kê các nguồn nước thải, đánh giá hiện trạng, dự báo và đề xuất các biện pháp quản lý và bảo vệ môi trường trên địa bàn tỉnh Hậu Giang” vào năm 2008 của Sở Tài nguyên và Môi trường, hệ
số phát sinh nước thải đối với các nguồn thải chính trên địa bàn tỉnh như sau:
Trang 22Bảng 2.2 Hệ số phát sinh nước thải của một số nguồn thải
3.1 Chế biến lương thực, thực phẩm m3/cơ sở.ngày 101,500
4 Trại chăn nuôi, giết mổ gia súc, gia
cầm
m3/tấn thịt sống.ngày 3,000
(Nguồn: Báo cáo giám sát môi trường tỉnh Hậu Giang, 2010)
Các nguồn gây ô nhiễm nước dưới đất
Hiện nay trên địa bàn tỉnh Hậu Giang nhìn chung có rất nhiều nguyên nhân gây ra ô nhiễm mạch nước dưới đất như:
- Các tác nhân tự nhiên như: nhiễm mặn, nhiễm phèn, hàm lượng Fe, Mn và một số kim loại khác
- Các tác nhân nhân tạo như: nồng độ kim loại nặng cao, hàm lượng NO3-,
NO2, NH4+, PO43- vượt quy chuẩn cho phép, ô nhiễm bởi vi sinh vật
- Suy thoái trữ lượng nước dưới đất biểu hiện bởi giảm công suất khai thác, hạ thấp mực nước ngầm, lún đất
- Nguồn gây ô nhiễm nước dưới đất trên địa bàn tỉnh Hậu Giang có thể phân thành 2 nguồn chính: nguồn tự nhiên và nguồn nhân tạo
+ Nguồn tự nhiên: Do điều kiện tự nhiên, một số địa phương trong tỉnh như Hỏa Tiến, Hỏa Lựu, Vĩnh Viễn A, Lương Nghĩa, thường xảy ra tình trạng bị nước mặn xâm nhập hoặc bị nhiễm phèn làm giảm chất lượng nguồn nước dưới đất
+ Nguồn nhân tạo: Việc sử dụng nước dưới đất của người dân ngày càng trở nên phổ biến đặc biệt là khu vực nông thôn Việc khai thác và sử dụng nước dưới
Trang 23đất không đúng kỹ thuật hoặc các lỗ khoan không sử dụng, hư hỏng không được trám lấp sẽ là nguyên nhân chính gây ô nhiễm nguồn nước dưới đất trên địa bàn tỉnh hiện nay Bởi đây sẽ là nơi các loại hóa chất, chất độc hại, chất thải, vi sinh vật gây bệnh từ mặt đất có thể bị rò rỉ, ngấm vào nguồn nước dưới đất
(Nguồn: Báo cáo giám sát môi trường tỉnh Hậu Giang, 2010)
2.5 Ảnh hưởng của ô nhiễm nguồn nước đến sức khỏe con người
Ảnh hưởng chung của ô nhiễm nguồn nước là mắc các bệnh cấp và mãn tính liên quan đến ô nhiễm nước như viêm màng kết, tiêu chảy, ung thư…ngày càng tăng Ngoài ra ô nhiễm nguồn nước còn gây tổn thất lớn cho các ngành sản xuất kinh doanh, các hộ nuôi trồng thủy sản
Tổ chức y tế thế giới (WHO) công bố mỗi năm Việt Nam có hơn 20.000 người tử vong do điều kiện nước sạch và vệ sinh nghèo nàn, thấp kém Theo thống
kê của Bộ Y tế, hơn 80% các bệnh truyền nhiễm ở nước ta liên quan đến nguồn nước Các bệnh chủ yếu là: tiêu chảy, thương hàn, giun sán,…nguyên nhân chủ yếu
là nhiễm bẩn hữu cơ và vi sinh vật, từ đó tác động trực tiếp đến sức khỏe con người đặc biệt là ở người già và trẻ em (http://nanosky.org) Theo báo cáo hiện trạng quốc gia (2010), ô nhiễm môi trường nước tác động trực tiếp đến sức khỏe, có đến 88% trường hợp bệnh tiêu chảy là do thiếu nước sạch
Mặc dù nhà nước ta đã có nhiều nổ lực trong những năm qua nhưng vẫn còn khoảng 17 triệu trẻ em (khoảng 52%) không có nước sạch sử dụng, và 20 triệu trẻ
em (khoảng 59%) không được tiếp cận với các phương tiện vệ sinh Thiếu nước sạch và vệ sinh ảnh hưởng rất lớn đến tình trạng sức khỏe của trẻ em ở Việt Nam (44% trẻ em bị nhiễm giun và 27% trẻ em dưới 5 tuổi bị suy dinh dưỡng) Số này còn cao hơn trong cộng đồng các dân tộc thiểu số và các vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới và hải đảo Cụ thể 87% cộng đồng các dân tộc thiểu số không được tiếp cận với nước sạch, 10% trẻ em khu vực nội thành chưa tiếp cận được các phương tiện vệ sinh so với 40% ở khu vực nông thôn (UNICEP, 2008)
Trang 24
Bảng 2.3 Một số bệnh liên quan đến ô nhiễm nguồn nước
Uống nước bị nhiễm phân (do làm nhà cầu,
chuồng trại chăn nuôi xả phân, nước tiểu,
rác rến sinh hoạt, nước thải không xử lí vào
ao hồ, sông rạch,…)
Dịch tả (Cholera)
Kiết lỵ do que khuẩn (Bacillary dysentery)
Tiêu chảy (Diarrhoeal) Thương hàn (Typhoid) Viêm gan siêu vi (Hepatitis) Tiếp xúc với nước bẩn ở da, mắt (tắm rửa,
tiếp xúc, làm việc trong môi trường nước
bẩn,…)
Đau mắt hột (Trachoma) Ghẻ ngứa (Scabies) Mụn cóc (Yaws) Nấm da (Tinea) Nhiễm sinh vật sống trong nước xâm nhập
qua da (tắm, đi chân không, vết thương
ngoài da,…) vào bụng (do ăn không nấu kỹ
các loại cá, sò ốc, tôm, cua, rau,…)
Bệnh sán máng (Schistosomiasis) Giun lãi (Guinea worm)
Giun móc (Ankylostrioni) Sán dây (Clonorchirs) Sán (Diphyclobothisas)
Do côn trùng sinh sản trong nước (muỗi,
Giun chỉ
(Lê Anh Tuấn, 2002)
2.6 Một số chỉ tiêu cơ bản để đánh giá chất lượng nước
2.6.1 pH
pH là đại lượng toán học biểu thị nồng độ hoạt tính ion H+
trong nước (pH = -log[H+]), đặc trưng cho tính axit và tính kiềm của nước, là chỉ tiêu cần kiểm tra đối với chất lương nước cấp sinh hoạt Đồng thời giá trị pH cho phép ta quyết định phương pháp xử lý nước thích hợp Sự thay đổi các giá trị pH trong nước có thể dẫn đến những thay đổi về thành phần các chất trong nước do quá trình hòa tan hoặc kết tủa, thúc đẩy hoặc ngăn chặn các phản ứng hóa học, sinh học xảy ra trong nước (Đặng Kim Chi, 1998)
Trong nước uống, pH hầu như rất ít ảnh hưởng đến sức khỏe, trừ khi cho trẻ nhỏ uống trực tiếp trong thời gian tương đối dài (ảnh hưởng đến hệ men tiêu hóa) Tuy nhiên tính axit của nước có thể làm gia tăng các ion kim loại từ các vật chứa, gián tiếp ảnh hưởng xấu đến sức khỏe (Đoàn Chí Linh, 2010)
Trang 25Theo quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng nước sinh hoạt ban hành theo thông tư số 05/2009/TT-BYT ngày 17//2009 giá trị pH cho phép nằm trong khoảng 6,0 – 8 5
2.6.2 Độ đục
Độ đục của nước được hình thành bởi các chất lơ lửng như: đất cát, phù sa, chất mùn, chất hữu cơ, chất sắt,…có trong nước, là nơi trú ẩn của các vi sinh vật gây bệnh, các hóa chất, thuốc trừ sâu và các kim loại nặng,… Hiệu lực khử trùng sẽ
bị giảm mạnh nếu nước có độ đục cao, vì chất khử trùng không thể tiếp cận với vi khuẩn do hàng rào cản vật lý hoặc tạo ra các phản ứng hóa học với các chất gây đục làm giảm khả năng khử trùng Do vậy, theo tiêu chuẩn về nước sạch thì nước uống phải trong, việc sử dụng nước đục sẽ gây hại cho sức khỏe (Nguyễn Kim Hồng, 2002)
Độ đục là một chỉ tiêu quan trong trong cấp nước sinh hoạt do bốn nguyên nhân chủ yếu:
- Mỹ quan: độ đục càng lớn giá trị thẩm mỹ của nước càng giảm Mặt khác bất
kì độ đục nào cũng được xem là gắn liền với khả năng ô nhiễm nước thải, do đó đây
là một nguy hại về mặt y tế
- Khả năng lọc: độ đục càng lớn làm tăng chi phí lọc
- Quá trình khử trùng: độ đục làm tăng khả năng diệt trùng của hóa chất
- Hiệu quả khử trùng: sẽ bị giảm mạnh nếu nước có độ đục cao, vì chất khử trùng không thể tiếp cận với vi khuẩn do hàng rào cản vật lý hoặc tạo ra các phản ứng hóa học với các chất gây đục làm giảm khả năng khử trùng Do vậy, theo tiêu chuẩn về nước sạch thì nước uống phải trong, việc sử dụng nước đục sẽ gây nguy hại cho sức khỏe
Theo quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng nước sinh hoạt ban hành theo thông tư số 05/2009/TT-BYT ngày 17//2009 giá trị độ đục cho phép tối đa là 5 NTU
2.6.3 Tổng chất rắn hòa tan (TDS)
TDS là tổng số các ion mang điện tích, bao gồm khoáng chất, muối hoặc kim loại tồn tại trong một khối lượng nước nhất định TDS thường được lấy làm cơ sở ban đầu để xác định mức độ sạch, tinh khiết của nguồn nước (Lê Văn Khoa và Hoàng Xuân Cơ, 2001)
Trang 26Hàm lượng tổng chất rắn hòa tan trong nước uống đòi hỏi phải <500 mg/L, một số vùng khô khan còn sử dụng nước có hàm lượng tổng chất rắn lên đến 1000 mg/L để uống (Trần Sỹ Nam, 2011)
2.6.4 Chất rắn lơ lửng (SS)
Chất rắn lơ lửng là các hạt chất vô cơ hoặc hữu cơ lơ lửng trong nước có kích thước từ 10-1
đến 10-2 µm như khoáng sét, bụi, than, mùn… Sự có mặt của chất rắn
lơ lửng trong nước gây cho nước đục, thay đổi màu sắc và các tính chất khác Để xác định lượng chất rắn lơ lửng, người ta thường lắng sau đó lọc tách ra phần chất lắng, sấy khô và cân (Lê Văn Khoa và Hoàng Xuân Cơ, 2001)
Ngoài ra chất rắn lơ lửng là một trong những chỉ tiêu để đánh giá lượng ô nhiễm của nước và cũng là yếu tố quan trọng gây ảnh hưởng đến hệ sinh thái thủy sinh vật trong thủy vực Ngoài ra, còn được sử dụng để đánh giá hiệu quả của hệ thống xử lý (Trần Sỹ Nam, 2011)
Hàm lượng cặn trong nước ngầm nhỏ, thường vào khoảng 30 – 50 mg/l Nước sông có hàm lượng cặn dao động khá lớn, khoảng 20 – 5.000 mg/l có khi đạt đến 30.000 mg/l trong mùa mưa lũ (Lê Anh Tuấn, 2002)
2.6.5 Độ cứng
Độ cứng của nước là đặc tính do sự hòa tan các cation kim loại đa hóa trị trong nước, trong đó chủ yếu là các thành phần calcium (Ca2+) và magnesium (Mg2+) Nước có độ cứng cao gây khó khăn cho việc sử dụng cho ăn uống và sinh hoạt: tốn nhiều xà phòng khi giặt rửa, nấu thức ăn lâu chín, gây đóng cặn nồi hơi và giảm chất lượng sản phẩm… Nhìn chung, nước ngầm có độ cứng cao hơn nước mặt
Độ cứng của nước tính theo CaCO3 được phân loại là:
- Nước có độ cứng nhỏ hơn 75 mg/L theo CaCO3: nước mềm
- Nước có độ cứng từ 75 đến nhỏ hơn 150 mg/L theo CaCO3: nước hơi cứng
- Nước có độ cứng từ 150 đến nhỏ hơn 300 mg/L theo CaCO3: nước cứng
- Nước có độ cứng lớn hơn 300 mg/L theo CaCO3: nước rất cứng
Trang 27- Độ cứng vĩnh cửu (độ cứng noncarbonated): các cation gây độ cứng đi cùng với anion Cl-
, SO42-, NO3- Kết quả phân tích từng loại độ cứng sẽ cung cấp các thông tin để có thể lựa chọn giải pháp làm mềm nước thích hợp và kinh tế
Theo quyết định 02/2009/QĐ-BYT về tiêu chuẩn nước sạch thì độ cứng cho phép tối đa là 350 mg/L
(Trần Sỹ Nam, 2011)
2.6.6 Sắt
Sắt là nguyên tố thường gặp trong nước tự nhiên Nước bề mặt có hàm lượng sắt khoảng 0,7 mg/L Trong nước ngầm, hàm lượng sắt từ 0,5 – 10 mg/L, và có thể lên tới 50 mg/L Giếng khơi có hàm lượng sắt hòa tan thấp hơn giếng khoan, thường nhỏ hơn 5 mg/L Sắt ít gây hại cho sức khỏe, tuy nhiên nó cũng ảnh hưởng đến người sử dụng và trong sản xuất: với hàm lượng sắt cao hơn 0,5 mg/L sẽ làm cho nước có mùi tanh khó chịu và nổi ván bề mặt, làm vàng quần áo khi giặt, hư hỏng sản phẩm của các ngành dệt…Sắt còn gây đóng cặn trong đường ống và các thiết bị trao đổi nhiệt (Nguyễn Kim Hồng, 2002)
Theo QCVN 02:2009/BYT về chất lượng nước sinh hoạt hàm lượng sắt tổng cho phép tối đa là 0,5 mg/L
2.6.7 Chỉ tiêu vi sinh
Vi khuẩn E coli
Vi khuẩn Escherichia coli (E coli) dùng để chỉ một nhóm vi khuẩn sống
trong đường tiêu hóa (ruột) của con người và động vật Chúng rất cần thiết cho quá trình tiêu hóa thức ăn và chiếm khoảng 11% trong tổng số coliform
Trong chất thải của người và động vật luôn có loại vi khuẩn E coli sinh sống
và phát triển Sự có mặt của E coli trong nước chứng tỏ nguồn nước đã bị ô nhiễm bởi phân, rác… và có khả năng tồn tại các loại vi trùng gây bệnh Số lượng E coli
nhiều hay ít tùy thuộc vào mức nhiễm bẩn của nguồn nước Do đó trong thực tế
người ta dùng vi khuẩn E coli để đánh giá mức nhiễm bẩn của nguồn nước (Lê
Xuân Phương, 2005)
Hầu hết các dòng E coli không gây hại và đóng vai trò quan trọng trong việc ổn định sinh lý đường ruột, khoảng từ 2 – 8% vi khuẩn E coli tồn tại trong
nước là nguồn sinh bệnh đường ruột gây nên tiêu chảy, trong đó nhóm cực kỳ gây
nguy hiểm là nhóm E coli gây tiêu chảy ra máu (viêm đại tràng xuất huyết) Biểu
hiện lâm sàng thay đổi từ nhẹ đến rất nặng, có thể gây chết người phụ thuộc vào
Trang 28mức độ ô nhiễm, dòng gây ô nhiễm và khả năng đáp ứng của từng người (Trần Linh Thước, 2002)
Tổng coliform
Coliform là các vi khuẩn hình que gram âm thuộc họ vi khuẩn đường ruột (Enterobacteriaceae) có khả năng lên men lactose ở nhiệt độ 37oC, coliform có khả năng sống ngoài đường ruột của động vật (tự nhiên), đặc biệt trong môi trường khí hậu nóng
Nhóm coliform chịu nhiệt phát triển được ở nhiệt độ 44 ± 0.5oC Trong nhóm này có tới 95% là coliform chịu nhiệt có nguồn gốc từ phân người và các động vật máu nóng, còn lại 5% coliform chịu nhiệt là các coliform có nguồn gốc tự nhiên từ đất, nước, xác động vật thối rữa (Nguyễn Văn Việt, 2009)
Những vi khuẩn nhóm này rất hữu dụng trong việc xác định chất lượng nước giống như những sinh vật chỉ thị Tổng số coliform là chỉ thị tốt nhất cho hiệu quả
xử lý của nhà máy xử lý nước thải Hay nói cách khác, chúng rất có ích cho việc đánh giá tính an toàn của nước thải sau xử lý (Đoàn Chí Linh, 2010)
QCVN 02:2009/BYT quy định giới hạn cho phép tổng số coliform trong nước là 150 vi khuẩn/100mL và coliform chịu nhiệt là 20 vi khuẩn/100mL
2.7 Một vài đặc điểm về thủy văn và đất ở tỉnh Hậu Giang
2.7.1 Thủy văn
Tỉnh Hậu Giang có hệ thống sông rạch chằng chịt, nối liền nhau với tổng chiều dài khoảng 2.300 km Mật độ sông rạch khá lớn 1,5 km/km2, vùng ven sông Hậu thuộc huyện Châu Thành lên đến 2 km/km2
Chế độ thủy văn của tỉnh Hậu Giang vừa chịu ảnh hưởng của chế độ nguồn nước sông Hậu, vừa chịu ảnh hưởng chế độ triều biển Đông, biển Tây và chế độ mưa nội tỉnh Thủy văn được chi phối bởi hai nguồn chính: Sông Hậu (triều biển Đông) và sông Cái Lớn (triều biển Tây) Các sông, kênh chính: Xà No, Cái Lớn, Ba Láng, Nàng Mau, Lái Hiếu, Cái Côn – Quản Lộ Phụng Hiệp, …
Mùa lũ ở Hậu Giang bắt đầu vào tháng 8 và kết thúc vào tháng 12 Lũ đạt mức cao nhất vào tháng 10 và 11, thời gian này thường trùng với thời kỳ mưa lớn tại địa phương Ba yếu tố: lũ, mưa lớn tại chỗ và triều cường cùng xảy ra đồng thời thì mực nước tăng cao, gây ngập một vùng rộng lớn, thời gian ngập kéo dài Thời gian xuất hiện đỉnh lũ ở tỉnh Hậu Giang chậm hơn thời gian xuất hiện đỉnh lũ tại Châu Ðốc, tỉnh An Giang khoảng 10 - 15 ngày Mùa khô bắt đầu từ tháng 12 và kết thúc vào tháng 4, tháng 4 lưu lượng nhỏ nhất khoảng 1/20 lưu lượng mùa lũ
Trang 29Mặn của biển Tây theo sông Cái Lớn vào địa phận tỉnh Hậu Giang chỉ xảy ra
ở một phần diện tích phía Nam huyện Long Mỹ, Vị Thuỷ và Tp Vị Thanh Trước đây, do điều kiện cống, đập và đê ngăn mặn chưa hoàn chỉnh, cho nên tình trạng xâm nhập mặn kéo dài trong các tháng mùa khô Trong những năm gần đây do hệ thống ngăn mặn được tăng cường và cơ bản đã hoàn chỉnh, nên tình trạng xâm nhập mặn giảm đáng kể, chỉ xảy ra vào các năm khô hạn kéo dài và các đợt triều cường.Thời gian xâm nhập hàng năm ngắn chỉ khoảng 1 - 2 tháng với nồng độ mặn dưới 4 g/lít (4%), có thể tận dụng nguồn nước mặn này để phát triển nuôi trồng thủy sản nước lợ, hoặc có thể khắc phục được nếu có các dự án xây dựng hệ thống cống
và đê ngăn mặn dọc theo sông Cái Lớn
(Nguồn: Báo cáo tổng hợp kết quả quan trắc môi trường tỉnh Hậu Giang năm 2012)
2.7.2 Tài nguyên đất
Theo nguồn số liệu từ “Báo cáo Quy hoạch quản lý và bảo vệ môi trường tỉnh Hậu Giang đến năm 2020” thì trên địa bàn tỉnh Hậu Giang cơ bản được phân chia thành những nhóm đất sau:
Nhóm đất phèn: Có diện tích lớn nhất 56.037 ha, chiếm 35,01% diện tích
tự nhiên, phân bố đều trên địa hình trũng thấp và tập trung nhiều ở huyện Phụng Hiệp (22.546 ha), Long Mỹ (17.983 ha), Vị Thủy (9.809 ha) và Tp Vị Thanh (2.814 ha) Đất phèn tiềm tàng chỉ có diện tích 5.649 ha (chiếm 10,1% tổng diện tích đất phèn), phân bố ở các địa hình trũng ngập nước, riêng khu vực đất phèn tiềm tàng giáp sông Cái Lớn (thuộc huyện Long Mỹ, huyện Vị Thủy và Tp Vị Thanh) vẫn còn bị ảnh hưởng của mặn
Nhóm đất phù sa: Có diện tích lớn thứ hai xấp xỉ với diện tích đất phèn 45.834 ha chiếm 28,64% diện tích tự nhiên, tập trung phía Bắc và Đông Bắc của tỉnh thuộc các huyện như Phụng Hiệp (11.878 ha), Châu Thành A (9.025 ha), Châu Thành (4.362 ha), thị xã Ngã Bảy (3.692 ha) và phân bố rải rác ở các huyện còn lại
Nhóm đất mặn: Chỉ có diện tích 5.819 ha (chiếm 3,64% diện tích tự nhiên), chủ yếu là loại đất mặn ít nên đã được khai thác sử dụng có kết quả, phân bố
ở vùng đất có địa hình thấp ven các sông rạch đang bị nhiễm mặn ở phía Tây chủ yếu ở huyện Long Mỹ
(Nguồn: Báo cáo tổng hợp kết quả quan trắc môi trường tỉnh Hậu Giang năm 2012)
2.8 Tác động của biến đổi khí hậu đến tài nguyên nước tỉnh Hậu Giang
Tài nguyên và môi trường nước là một trong những đối tượng chịu tác động rất mạnh do BĐKH, nước biển dâng Các tác động xấu đến tài nguyên và môi
Trang 30trường nước, như: làm tăng mức độ ô nhiễm, suy giảm chất lượng và trữ lượng, các
hệ sinh thái thuỷ sinh, làm thay đổi mục đích sử dụng nguồn nước,
Nhìn chung, tài nguyên nước mặt và nước ngầm sẽ chịu tác động mạnh do BĐKH, nước biển dâng, cũng như do tác động nhân tạo của con người Khi nước biển dâng cao, nguồn nước mặt và nước ngầm sẽ bị nhiễm mặn, làm thay đổi tính chất vật lý, hóa học và sinh học, làm thay đổi mục đích sử dụng nguồn nước, đồng thời sẽ gây ra tình trạng thiếu nước nghiêm trọng, Mặt khác, các hiện tượng thời tiết cực đoan sẽ gây ra tình trạng hạn hán, mưa bão bất thường, mà xét cho cùng sẽ làm thay đổi chế độ thuỷ văn trên các con sông của tỉnh Hậu Giang Điều này sẽ thể hiện qua chế độ ngập lũ, kiệt nước và xâm nhập mặn của tỉnh Tuy nhiên, ở một khía cạnh nào đó xâm nhập mặn kéo dài sẽ làm tăng các diện tích và tiềm năng nuôi trồng thuỷ sản nước lợ, nước mặn
Trên địa bàn tỉnh không có hồ chứa nước tự nhiên phục vụ cho cấp nước dân sinh Nguồn cung cấp nước cho các hoạt động phát triển KT-XH của tỉnh là 4 hệ thống sông lớn sông Hậu (đoạn chảy qua tỉnh dài 8km), sông Cái Lớn (đoạn qua tỉnh dài 57km), sông Cái Tư (đoạn qua tỉnh dài 15km) và sông Nước Trong (đoạn qua tỉnh dài 16km), cùng với hệ thống kênh rạch khá dày Tuy nhiên, nguồn cấp nước chính là sông Hậu BĐKH sẽ làm mùa khô kéo dài hơn, tình trạng ngập úng kéo dài hơn do khả năng tiêu thoát nước chậm, lưu lượng nước sông Mekong giảm
từ 2 - 24% trong mùa khô, tăng từ 7 - 15% vào mùa lũ, song hiện nay lũ lớn không xảy ra do việc tăng cường các hoạt động khai thác, sử dụng nguồn nước ở thượng nguồn Tác động này sẽ ảnh hưởng đáng kể đến khả năng khai thác và sử dụng nguồn nước mặt cho sinh hoạt và sản xuất
Ngoài nguồn nước mặt chủ yếu, trên địa bàn tỉnh vẫn còn nguồn nước bổ sung
là nước ngầm khai thác ở độ sâu 70 - 130m Tuy nhiên, nếu khô hạn kéo dài, nguồn nước ngầm không được bổ sung từ nước mặt và nước mưa, sẽ dần dần thiếu hụt và suy kiệt làm mất khả năng khai thác Vào mùa nước kiệt, khi nước biển dâng sẽ đi sâu vào trong nội địa, thì nguồn nước mặt và nước ngầm sẽ bị nhiễm mặn, sẽ rất khó khăn sử dụng để cấp nước sạch cho sinh hoạt và sản xuất Mặt khác, nguồn nước bị ngập úng kéo dài sẽ ảnh hưởng tới vệ sinh môi trường tại các giếng khoan
(Nguồn: Tóm tắt kế hoạch hành động ứng phó với biến đổi khí hậu của tỉnh Hậu Giang năm 2011)
2.9 Sơ lược về xã Vị Thủy, huyện Vị Thủy tỉnh Hậu Giang
Xã Vị Thủy nằm ở phía nam của huyện Vị Thủy, phía đông giáp thị trấn Nàng Mau và xã Vị Thắng, huyện Vị Thủy, phía nam giáp xã Vĩnh Thuận Đông, huyện Long Mỹ và xã Vĩnh Thuận Tây, huyện Vị Thủy, phía tây giáp phường III, thị xã Vị Thanh và phía bắc giáp phường V, thị xã Vị Thanh và xã Vị Trung, huyện
Trang 31Vị Thủy Xã vị Thủy có diện tích tự nhiên là 18,85 km², dân số của xã là 9.071 người (2013).
2.9.1 Tình hình sử dụng nước sạch, nước hợp vệ sinh xã Vị Thủy, huyện Vị Thủy tỉnh Hậu Giang
Theo số liệu báo cáo tại kỳ họp giữa năm 2013 của Hội đồng nhân dân xã Vị Thủy, tỉnh Hậu Giang, trên địa bàn xã Vị Thủy:
- Số người sử dụng nước hợp vệ sinh: 7289 người đạt tỉ lệ 80,35%
- Số người sử dụng nước sạch theo QCVN 02:2009/BYT là 3837 người đạt tỉ
2.9.2 Nhu cầu sử dụng nước trong thời gian tới
Hiện tại trạm cấp nước mini ở ấp 5 và ấp 7 đang tạm ngưng hoạt động do thi công đường giao thông làm ảnh hưởng đến ống dẫn nước Sau khi hoàn thành đường giao thông sẽ đưa vào vận hành lại, phục vụ nhu cầu sử dụng của người dân Bên cạnh đó đang tiến hành quy hoạch, xây dựng trạm cấp nước tập trung xã Vị Thủy và kéo nước sạch từ Vị Thanh sang tuyến kênh Hai Cừ Sau khi các dự án hoàn thành địa phương sẽ tiến hành vận động người dân đăng ký sử dụng nước, đảm bảo chỉ tiêu sử dụng nước và sức khỏe cho người dân
2.10 Sơ lược về xã Vị Tân, thành phố Vị Thanh tỉnh Hậu Giang
Vị Tân là một xã vùng ven của thành phố Vị Thanh, tỉnh Hậu Giang, cách trung tâm thành phố Vị Thanh khoảng 3 km Xã Vị Tân có diện tích 2.257,6 ha và dân số 13.860 người (2010), đây là xã có diện tích và dân số tương đối lớn, kinh tế chủ yếu là sản xuất nông nghiệp Xã Vị Tân có 9 ấp gồm: ấp 1, ấp 2, ấp 2A, ấp 3, ấp 3A, ấp 4, ấp 5, ấp 6 và ấp 7
2.10.1 Tình hình sử dụng nước sạch, nước hợp vệ sinh xã Vị Tân, thành phố Vị Thanh tỉnh Hậu Giang
Theo số liệu báo cáo của UBND Xã Vị Tân (2012), hiện nay trên địa bàn xã:
Trang 32- Tỷ lệ hộ dân sử dụng nước hợp vệ sinh 92,53%
- Tỷ lệ hộ dân sử dụng nước không hợp vệ sinh 7,47%
- Tỷ lệ hộ dân có nhà tiêu hợp vệ sinh 58,30%
- Tỷ lệ hộ dân chăn nuôi 21,22%
2.10.2 Nhu cầu sử dụng nước trong thời gian tới
Hiện Công ty CP Cấp thoát nước và Công trình Đô thị Hậu Giang đang đầu
tư xây dựng đường ống cung cấp nước sạch với chiều dài 1.800m, để cung cấp nước sạch cho các hộ gia đình sinh sống dọc theo các tuyến đường kênh và các hộ gia đình sống tại các vùng lân cận
Ngoài ra, trên địa bàn xã Vị Tân có 06 trạm cấp nước mini, được xây dựng tại các ấp 1, ấp 2, ấp 2A, ấp 3, ấp 3A và ấp 6 Các trạm cấp nước này khai thác nước sông làm nguồn cung cấp nước thô cho quá trình xử lý nước, ngoại trừ trạm cấp nước mini tại ấp 6 khai thác nước ngầm để xử lý và cung cấp nước sạch Các trạm cấp nước mini trên địa bàn xã Vị Tân thường có công suất nhỏ với phạm vi cấp nước có bán kính khoảng 500 m và có thể đáp ứng nhu cầu sử dụng nước cho 100
hộ dân Tuy nhiên số hộ đấu nối và sử dụng nước sạch từ các đường ống của các trạm cấp nước mini không cao
Trang 33CHƯƠNG 3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3.1 Thời gian và địa điểm nghiên cứu
Thời gian: nghiên cứu được triển khai từ tháng 08/2013 đến tháng 11/2013
Địa điểm: xã Vị Thủy huyện Vị Thủy và xã Vị Tân thành phố Vị Thanh, tỉnh Hậu Giang
Mẫu nước thu và mang về phân tích tại phòng thí nghiệm Khoa Môi trường
và Tài nguyên thiên nhiên, khu II, Đại học Cần Thơ
3.2 Phương tiện nghiên cứu
Máy đo độ đục (Lovibond, PC 38759, Đức)
Máy đo TDS (Hanna, Romania, HI99301)
Máy đo pH (Radiometer analytical, Pionneer 10, Pháp)
Máy so màu U-2800 spectrophotometer
Dụng cụ thu mẫu: chai nhựa một lít, thùng trữ mẫu…
Hóa chất và các dụng cụ trong phân tích các chỉ tiêu về chất lượng nước 3.3 Phương pháp nghiên cứu
3.3.1 Phân tích hiện trạng sử dụng nước sạch ở xã Vị Thủy, huyện Vị Thủy và
xã Vị Tân, thành phố Vị Thanh tỉnh Hậu Giang
Thực hiện phân tích số liệu dựa vào các thông tin phỏng vấn của 70 hộ dân tại 2 xã Vị Thủy thuộc huyện Vị Thủy và xã Vị Tân thuộc thành phố Vị Thanh
Sau khi phân tích số liệu từ phỏng vấn, tiến hành chọn địa điểm thu mẫu nước mặt và nước dưới đất
Mẫu nước mặt tại xã Vị Thủy được thu trên kênh Đào đoạn chảy qua ấp 6 và
ấp 8 do người dân sống dọc theo kênh vẫn chưa có nguồn nước máy để sử dụng nên hầu hết người dân sử dụng nguồn nước kênh Đào cho nhu cầu sinh hoạt hàng ngày
Mẫu nước mặt tại xã Vị Tân được thu trực tiếp trên kênh Năm Chín đoạn chảy qua ấp 5 do khu vực này chưa có hệ thống nước máy và nguồn nước dưới đất không sử dụng được vì bị nhiễm phèn nên hầu hết người dân sử dụng nguồn nước trên kênh Năm Chín cho nhu cầu sinh hoạt hàng ngày
3.3.2 Chu kỳ thu mẫu
Trang 34Mỗi nguồn nước được thu theo 3 đợt, mỗi đợt mẫu được thu cách nhau 2 tuần và thu mẫu theo thủy triều nước lớn
3.3.3 Số lượng mẫu
Dựa vào kết quả phỏng vấn để chon địa điểm thu mẫu nước mặt và hình thức
xử lý nước sinh hoạt (xử lý phèn và xử lý bằng hóa chất PAC) của người dân
Xã Vị Thủy
- Đối với nước mặt: mẫu nước được thu qua 3 đợt, mỗi đợt gồm :
+ 3 mẫu nước tại 3 điểm trên kênh Đào (đoạn chảy qua ấp 6 và ấp 8)
+ 1 mẫu nước ở giếng khoan độ sâu 40m, thời gian khoan trên 2 năm
+ 1 mẫu nước ở giếng khoan độ sâu 70m, thời gian khoan dưới 1,5 năm + 1 mẫu nước ở giếng khoan độ sâu 70m, thời gian khoan trên 2 năm
Tổng số mẫu: 12 mẫu
Xã Vị Tân
- Đối với mẫu nước mặt: mẫu nước được thu qua 3 đợt, mỗi đợt gồm :
+ 3 mẫu nước thô tại 3 điểm trên kênh Năm Chín (đoạn chảy qua ấp 5) + 3 mẫu nước đã qua xử lý bằng phèn
+ 3 mẫu nước đã qua xử lý bằng hóa chất
Tổng số mẫu: 27 mẫu
- Đối với nước dưới đất: mẫu nước được thu qua 3 đợt, mỗi đợt gồm:
+ 1 mẫu nước ở giếng khoan độ sâu 40m, thời gian khoan dưới 1,5 năm + 1 mẫu nước ở giếng khoan độ sâu 70m, thời gian khoan trên 2 năm
+ 1 mẫu nước ở giếng khoan độ sâu 70m, thời gian khoan dưới 1,5 năm + 1 mẫu nước ở giếng khoan độ sâu 70m, thời gian khoan trên 2 năm
Tổng số mẫu: 12 mẫu
Trang 353.3.4 Phương pháp thu và bảo quản mẫu
Phương pháp thu mẫu:
- Đối với mẫu nước mặt:
+ Thu mẫu tại các điểm được sử dụng làm nguồn cung cấp nước cho các hộ dân
+ Sử dụng chai nhựa 1 lít đã được làm sạch để thu mẫu nước phân tích các chỉ tiêu hóa học và vật lý Sử dụng chai thủy tinh chịu nhiệt 100ml đã được khử trùng để thu mẫu nước phân tích các chỉ tiêu vi sinh
+ Trước khi thu mẫu, các dụng cụ thu mẫu sẽ được tráng với nguồn nước chuẩn bị thu mẫu từ 2 – 3 lần Khi thu dùng tay cầm chai nhựa nhúng vào nước, cách mặt nước khoảng 20 – 30 cm, sau đó đậy nắp chai lại
+ Sau khi thu mẫu, ghi vào chai đầy đủ thông tin về thời gian (giờ, ngày, tháng, năm…), địa điểm thu mẫu (các chi tiết khác được ghi trong nhật kí thu mẫu)
và trữ lạnh mang về phòng thí nghiệm
- Đối với mẫu nước dưới đất
+ Mẫu nước được thu trực tiếp từ nguồn nước giếng khoan sau khi tiến hành bơm bỏ nước khoảng 3 – 5 phút Sử dụng chai nhựa 1 lít đã được rửa sạch và tráng bằng nước thu mẫu 2 – 3 lần
+ Sau khi thu mẫu, ghi vào chai đầy đủ thông tin về thời gian (giờ, ngày, tháng, năm…), địa điểm thu mẫu (các chi tiết khác được ghi trong nhật kí thu mẫu)
và trữ lạnh mang về phòng thí nghiệm
Phương pháp bảo quản mẫu
Trang 36Bảng 3.1: Phương pháp bảo quản mẫu và thời gian lưu mẫu của một số chỉ tiêu
3.3.5 Phương pháp phân tích mẫu
Bảng 3.2 Phương pháp phân tích một số chỉ tiêu chất lượng nước
8 Coliforms CFU/100ml Phương pháp đếm khuẩn lạc
mẫu
pH Chai nhựa PE Trữ lạnh từ 2oC - 5oC 24 giờ
Độ đục Chai nhựa PE Trữ lạnh từ 2oC - 5oC 24 giờ
SS Chai nhựa PE Trữ lạnh từ 2oC - 5oC 24 giờ
TDS Chai nhựa PE Trữ lạnh từ 2oC - 5oC 24 giờ
Sắt tổng Chai nhựa PE Axít hóa đến pH < 2 1 tháng
Trang 373.3.6 Phương pháp xử lý số liệu
Sử dụng phần mềm Excel để xử lí số liệu