LỜI CAM ĐOAN Để đảm báo tính trung thực của khóa luận, tôi xin cam đoan: Khóa luận tốt nghiệp: “Xác định thành phần các loài có tác dụng an thần ở Trạm đa dạng sinh học Mê Linh” là công
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA SINH - KTNN -
VŨ THỊ THÚY
XÁC ĐỊNH THÀNH PHẦN CÁC LOÀI THỰC VẬT CÓ TÁC DỤNG AN THẦN Ở TRẠM ĐA DẠNG SINH HỌC
MÊ LINH
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành : THỰC VẬT HỌC
HÀ NỘI, 2015
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA SINH - KTNN -
VŨ THỊ THÚY
XÁC ĐỊNH THÀNH PHẦN CÁC LOÀI THỰC VẬT CÓ TÁC DỤNG AN THẦN Ở TRẠM ĐA DẠNG SINH HỌC
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành khoá luận này, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và
sâu sắc nhất đến ThS Trịnh Xuân Thành và TS Hà Minh Tâm là những
người đã trực tiếp hướng dẫn, tận tình chỉ bảo tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài và hoàn thiện khóa luận
Tôi xin chân thành cảm ơn ban lãnh đạo Trạm đa dạng sinh học Mê Linh - Vĩnh Phúc, Ban chủ nhiệm khoa Sinh – KTNN – Trường Đại học sư phạm Hà Nội 2 đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong việc nghiên cứu, thu
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Để đảm báo tính trung thực của khóa luận, tôi xin cam đoan:
Khóa luận tốt nghiệp: “Xác định thành phần các loài có tác dụng an thần ở Trạm đa dạng sinh học Mê Linh” là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi thực hiện dưới sự hướng dẫn của ThS Trịnh Xuân Thành, TS Hà Minh Tâm Các kết quả nghiên cứu trong khóa luận là trung thực và các
thông tin trích dẫn trong khóa luận này đều được ghi rõ nguồn gốc
ĐHSP Hà Nội 2, ngày 15 / 05/ 2015
Sinh viên
Vũ Thị Thúy
Trang 5DANH MỤC VIẾT TẮT
1 ĐDSH : Đa dạng sinh học
2 SCN : Sau Công nguyên
3 PRA : Participatory Rural Appraisal (Cùng tham gia đánh giá nông thôn)
4 RRA : Rural Rapid Appraisal (Đánh giá nhanh nông thôn)
5 TCN : Trước Công nguyên
6 VQG : Vườn quốc gia
7 WHO : World Health Organization (Tổ chức Y tế thế giới)
Trang 6MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
1.1 Trên thế giới 4
1.2 Ở Việt Nam 6
1.3 Những nghiên cứu về các loài thực vật có tác dụng an thần ở Trạm đa dạng sinh học Mê Linh 12
CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, THỜI GIAN, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 13
2.1 Đối tượng nghiên cứu 13
2.2 Phạm vi nghiên cứu 13
2.2.1 Vị trí địa lý 13
2.2.2 Địa hình 14
2.2.3 Địa chất - Thổ nhưỡng 15
2.2.3.1 Địa chất 15
2.2.3.2 Thổ nhưỡng 15
2.2.4 Khí hậu - thuỷ văn 16
2.2.5 Hiện trạng thảm thực vật 16
2.2.6 Tình hình dân sinh kinh tế 18
2.3 Thời gian nghiên cứu 19
2.4 Nội dung nghiên cứu 19
2.5 Phương pháp nghiên cứu 19
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 23
Trang 73.1 Danh lục các loài thực vật có tác dụng an thần ở Trạm đa dạng sinh học
Mê Linh 23
3.1.1 Danh lục các loài 23
3.1.2 Một số thông tin về phân loại 24
3.2 Giá trị sử dụng các loài thực vật có tác dụng an thần tại Trạm đa dạng sinh học Mê Linh 28
3.2.1 Cách sử dụng và bộ phận dùng các loài thực vật có tác dụng an thần tại Trạm đa dạng sinh học Mê Linh 28
3.2.2 Giới thiệu một số bài thuốc có tác dụng an thần 31
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 34
TÀI LIỆU THAM KHẢO 35
Trang 9và làm việc mệt nhọc
Tuy nhiên, không phải mọi người đều có một giấc ngủ ngon vào mỗi đêm, đặc biệt là những người phải làm việc căng thẳng đầu óc và hay suy nghĩ Họ thường bị chứng nhức đầu, khó ngủ, ngủ mơ và mộng mị vào ban đêm Kết quả là sáng dậy cơ thể họ càng mệt mỏi hơn, dẫn đến, cơ thể phải hấng chịu một tình trạng mất cân bằng, làm ảnh hưởng đến sức khoẻ của bản thân, đến tình trạng thể chất và tinh thần
Vì vậy, ngày càng nhiều người tìm đến bia, rượu, các loại thuốc có tác dụng an thần (thường là thuốc ngủ) để giúp họ có một giấc ngủ ngon nhưng những điều này sẽ gây hại cho cơ thể
Người dân trên thế giới hiện nay có xu hướng tìm đến các loại thảo mộc thiên nhiên, có tác dụng an thần để chữa bệnh Chúng không những chữa khỏi bệnh mà lại không gây hại cho cơ thể mà còn rất dễ chế biến và sử dụng hàng ngày Cho nên, việc nghiên cứu tài nguyên thực vật để khai thác và sử dụng hợp lý các cây cỏ có ích vào việc chữa trị bệnh này là hết sức cần thiết
Vốn là một đất nước được thiên nhiên ưu đãi, nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa, Việt Nam có một thảm thực vật vô cùng phong phú và đa dạng với
Trang 102
hơn 12.000 loài thực vật bậc cao khác nhau Hiện đã tìm thấy được hơn 2.000 loại thảo mộc có khả năng chữa bệnh, trong đó, có rất nhiều loài thực vật có tác dụng an thần Trạm đa dạng sinh học Mê Linh có diện tích khoảng gần
200 ha với hơn 1.126 loài thực vật, trong đó nhiều loài đã và đang được sử dụng làm thuốc trong dân gian Để chuẩn bị đánh giá toàn diện giá trị làm thuốc của hệ thực vật nơi đây, chuẩn bị cho việc nghiên cứu toàn diện về các loài thực vật có tác dụng an thần ở Việt Nam, góp phần cung cấp dữ liệu cho việc nhận biết và sử dụng các loài thực vật có tác dụng an thần ở Việt Nam,
chúng tôi đã tiến hành nghiên cứu đề tài: “Xác định thành phần các loài thực vật có tác dụng an thần ở Trạm đa dạng sinh học Mê Linh”
2 Mục đích nghiên cứu
Hoàn thành công trình khoa học về xác định thành phần các loài thực vật có tác dụng an thần ở Trạm đa dạng sinh học Mê Linh một cách hệ thống, làm cơ sở cho việc nghiên cứu các loài thảo mộc có tác dụng an thần ở Việt Nam và cho những nghiên cứu có liên quan
3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
Ý nghĩa khoa học: Kết quả của đề tài phục vụ cho các ngành ứng dụng, y
- dược, sinh thái, tài nguyên sinh vật, đa dạng sinh học, bảo tồn các loài thuốc
và chuẩn bị cho việc đánh giá toàn diện về giá trị làm thuốc của hệ thực vật tại Trạm đa dạng sinh học Mê Linh Góp phần nâng cao chất lượng sử dụng các phương pháp trong nghiên cứu và giảng dạy môn phân loại thực vật nói chung, trong đó, có các loài thực có tác dụng an thần nói riêng
Ý nghĩa thực tiễn: Kết quả của đề tài phục vụ cho việc khai thác và sử
dụng hợp lí nguồn tài nguyên cây thuốc xung quanh khu vực con người sinh sống, mang lại lợi ích chung cho cộng đồng, sử dụng các bài thuốc góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống
Trang 113
4 Điểm mới của đề tài
Đây là công trình đầu tiên nghiên cứu xác định thành phần các loài thực vật có tác dụng an thần ở Trạm đa dạng sinh học Mê Linh
5 Bố cục của khóa luận
Gồm 34 trang, 3 hình, 5 ảnh, 2 bảng được chia thành các phần chính như sau: Mở đầu (3 trang), chương 1 (Tổng quan tài liệu: 9 trang), chương 2 (Đối tượng, phạm vi, thời gian và phương pháp nghiên cứu: 10 trang), chương 3 (Kết quả nghiên cứu: 11 trang), kết luận và kiến nghị (1 trang), tài liệu tham khảo: 29 tài liệu
Trang 12từ 30.000 đến 70.000 loài [1] Lịch sử nghiên cứu cây thuốc và vị thuốc đã xuất hiện cách đây hàng nghìn năm Các kinh nghiệm dân gian về sử dụng cây thuốc chữa bệnh được nghiên cứu ở các mức độ khác nhau tùy thuộc vào
sự phát triển của từng quốc gia
G.M.Ebers và E.Smith đã tìm được một số bản papyrus của người Ai Cập cổ đại có niên đại 1700 năm trước Công nguyên liệt kê 700 phương thuốc
từ thảo mộc được người Ai Cập sử dụng như lô hội, dầu thầu dầu, rễ lựu, thuốc phiện, [26]
Nền y học Hy Lạp cũng đã có nhiều thành tựu rực rỡ mà không thể không nhắc tới Hyppocrate (460-370 TCN), ông được xem như ông tổ của ngành y học hiện đại, thầy thuốc vĩ đại nhất thời cổ đại Bên cạnh những công trình nghiên cứu về giải phẫu, sinh lí, nhi khoa, sản khoa,… Hyppocrate còn đưa vào sử dụng hơn 200 loài thực vật làm thuốc [26]
Năm 384-322 (TCN), Aistote người Hy Lạp đã ghi chép và lưu giữ sớm nhất kiến thức về cây cỏ nước này [17] Sau đó Théophraste, một nhà thực vật học người Hy Lạp (372-286 TCN), bác sĩ quân đội La Mã, đã thống kê và miêu tả 500 loài thực vật trong cuốn sách “Lịch sử thực vật”, trong đó có 40 loài vẫn còn được sử dụng làm thuốc đến ngày nay
Trang 13Ấn Độ cổ đại có một nền y dược học phát triển và có ảnh hưởng đến nhiều nước trong khu vực Các kiến thức về y học và sử dụng cây thuốc của người Ấn Độ được đề cập đến trong kinh Vệ đà (Ayurveda – Khoa học của đời sống) xuất hiện khoảng 4000-1000 năm TCN Nhiều tri thức bản địa đã được nghiên cứu, đánh giá và ứng dụng có hiệu quả; theo thống kê có khoảng 2.000 loài cây cỏ có công dụng làm thuốc [26]
Trung Quốc là một trong những quốc gia có nền Y học cổ truyền rất phát triển Trong suốt quá trình hình thành và phát triển, Y học Trung Quốc dựa trên nền tảng có sẵn của các dân tộc trên đất nước Trung Hoa cổ đại chịu ảnh hưởng của y học Ai Cập, Hy Lạp, La Mã, Ấn Độ đồng thời cũng kế thừa những kinh nghiệm về y học dân tộc của các nước khác như Nhật Bản, Hàn Quốc, Việt Nam,… Cuốn “Kinh Thần Nông” thế kỷ I sau Công nguyên (SCN) đã ghi chép 364 vị thuốc Đây là cuốn sách tạo nền tảng cho sự phát triển liên tục của nền y học dược thảo Trung Quốc cho đến nay [17]
Năm 1595, Lý Thời Trân (1519-1593) người Trung Quốc, sống ở đời nhà Minh, đã tổng kết tất cả các kinh nghiệm về cây thuốc và dược liệu để soạn thành quyển “Bản thảo cương mục”, đây là bộ sách quan trọng và đầy đủ nhất về các dược liệu và công dụng của chúng Để viết cuốn sách này, ông đã tìm đọc hơn 800 cuốn sách tổ, kết hợp sự thu thập của mình và viết cuốn dược điển qua 3 lần sửa đổi Trải qua gần 30 năm nỗ lực, năm 1578 ông đã hoàn thành Bản Thảo cương mục gồm hơn 90 vạn từ, chia làm 16 bộ, 60 loại gồm
Trang 146
50 cuốn, thống kê được 12000 vị thuốc với hơn 11 nghìn bài thuốc Ông còn
có tranh minh họa, để mọi người dễ nhận biết Bản Thảo cương mục đã hiệu đính và làm rõ nhiều sai lầm trước đây của tiền nhân, tăng thêm các loại thuốc mới phát hiện cũng như công hiệu của thuốc Lý Thời Trân đã dốc cả cuộc đời cho việc tổng kết những kinh nghiệm y dược trong nhân dân Trung Quốc mấy nghìn năm qua, biên soạn lên cuốn “Bản thảo cương mục” nổi tiếng, đưa nền y học cổ đại Trung Quốc lên tới đỉnh cao, bởi vậy ông là nhà dược học vĩ đại nhất trong thời cổ đại Trung Quốc [27]
Năm 1952, tác giả người Pháp A.Pétélot có công trình “Les phantes de médicinalea du Cambodye, du Laos et du Viet Nam” gồm 4 tập nghiên cứu về cây thuốc và sản phẩm làm thuốc từ thực vật ở Đông Dương [17]
Như vậy, những công trình nghiên cứu về dược liệu đã có từ lâu đời Hiện nay, với sự giúp đỡ của khoa học công nghệ, việc nghiên cứu không chỉ dừng ở mô tả, nêu công dụng của các loài theo kinh nghiệm dân gian mà đã
có những dẫn chứng về khả năng chữa bệnh của chúng bằng việc nghiên cứu thành phần hóa học, tính chất dược lý trong tế bào Công nghệ chiết xuất các hoạt tính sinh học trong cây để sản xuất dược phẩm cũng được chú trọng rất nhiều
1.2 Ở Việt Nam
Việt Nam được đánh giá là nước đứng thứ 16 trên thế giới về sự phong phú và đa dạng sinh vật, trong đó, hệ thực vật cũng rất phong phú và đa dạng Với lợi thế về khí hậu nhiệt đới gió mùa nóng và ẩm, Việt Nam có nguồn tài nguyên thực vật phong phú, vì vậy mà tập quán sử dụng cây thuốc đã có từ lâu Lịch sử Y học cổ truyền Việt Nam đã được hình thành cùng với tiến trình phát triển của dân tộc Việt Nam Trong quá trình tìm kiếm thức ăn, tổ tiên ta
đã ngẫu nhiên phát hiện ra công dụng và tác hại của nhiều loại cây Với các kinh nghiệm chữa bệnh của cộng đồng gồm 54 dân tộc Việt Nam, cùng với
Trang 157
kinh nghiệm sử dụng các nguồn dược liệu phong phú của đất nước trong vùng nhiệt đới, trải qua nhiều thế hệ, các thầy thuốc Y học cổ truyền Việt Nam đã xây dựng nền Y học cổ truyền vững mạnh phục vụ sự nghiệp chăm sóc, bảo
vệ và nâng cao sức khỏe nhân dân
Những nghiên cứu về cây thuốc đã được tiến hành từ rất sớm, gắn liền với tên tuổi của các danh y nổi tiếng như Tuệ Tĩnh, Hải Thượng Lãn Ông – Lê Hữu Trác,
Tuệ Tĩnh hay Nguyễn Bá Tĩnh là một thầy thuốc giỏi sống ở thời nhà Trần thế kỷ XIV Tuệ Tĩnh đã nghiên cứu những cây cỏ Việt Nam dùng để chữa bệnh, sưu tầm ý nghĩa các bài thuốc thường dùng trong dân gian, đúc kết các kinh nghiệm trị bệnh của Trung y nên đã xây dựng được một sự nghiệp y dược có tính chất dân tộc, đại chúng Tuệ Tĩnh để lại hai tác phẩm có giá trị lớn cho nền y học dân tộc Việt nam là bộ “Nam dược thần hiệu” và “Hồng nghĩa giác tư y thư” [22]
+ Bộ “Nam dược thần hiệu” gồm 11 quyển với 496 vị thuốc nam, trong đó có 241 vị thuốc có nguồn gốc thực vật Đây là tập sách thứ hai xuất hiện trong lịch sử nghiên cứu cây thuốc ở nước ta sau tập “Bản thảo thực vật toàn yếu” do Phan Chu Tiên biên soạn (1492) là tập cây thuốc và dược liệu đầu tiên của Việt Nam [17]
+ Bộ “Hồng nghĩa giác tư y thư” gồm hai quyển Thượng và Hạ vừa viết bằng chữ Hán, vừa bằng chữ Nôm mô tả về dược tính cây thuốc, chủ trị của cây thuốc và các bài thuốc cụ thể, được triều hậu Lê in lại (1727 và 1723)
và được lưu truyền đến nay [17]
Thế kỷ XVIII, Hải Thượng Lãn Ông - Lê Hữu Trác (1720-1791) là nhà
y học uyên bác, nhà dược học nổi tiếng của Việt Nam Trên tinh thần kế thừa
và phát huy truyền thống của Tuệ Tĩnh, tổng kết kinh nghiệm của Trung y và
Trang 168
Y học cổ truyền dân tộc, ông đã biên soạn bộ “Hải Thượng Y Tông Tâm Lĩnh” gồm 28 tập, 66 quyển bao gồm lý, pháp, phương, dược và biện chứng luận trị về nội khoa và ngoại khoa, sản phụ khoa, khoa nhi, cấp cứu đạo đức
y học, vệ sinh phòng bệnh Trong đó, quyển 12 và 13 - “Lĩnh Nam bản thảo”
Lê Hữu Trác đã sưu tầm, mô tả thêm 300 vị thuốc nam, tổng hợp được 2854 phương thuốc chữa bệnh bằng kinh nghiệm dân gian [23] Bộ sách của ông được đánh giá cao trong và ngoài nước, góp phần phát triển nền y học dân tộc của đất nước
Ngoài bộ sách trên còn kể đến tập “Vạn phương thập nghiệm” của Nguyễn Nho và Ngô Văn Tĩnh gồm 8 tập, xuất bản năm 1763 Tập “Nam bang thảo mộc” của Trần Nguyệt Phương mô tả 100 loài cây thuốc Nam, xuất bản năm 1858 [17]
Triều Tây Sơn (1788-1808), Nguyễn Hoành đã để lại tập “Nam dược” với 620 vị thuốc, các phương thuốc kinh nghiệm gia truyền [17]
Triều Nguyễn (1802-1845) có quyển “Nam dược tập quốc âm” của Nguyễn Quang Lượng về phương thuốc dân gian [17]
Nguồn tài nguyên cây thuốc vô cùng phong phú của nước ta còn thu hút sự quan tâm của các nhà nghiên cứu nước ngoài Thời kỳ Pháp thuộc, một số tác giả người Pháp đã có những cố gắng để tìm hiểu những cây thuốc và vị thuốc ở Việt Nam Có hai bộ sách được nhiều người biết đến:
+ Bộ thứ nhất mang tên “Dược liệu học và dược điển Trung Việt” (Matière médicale et pharmacopée sinoannamite) của hai tác giả E.M Perrot và Paul Hurrier xuất bản tại Pari năm 1907 Trong bộ sách này, các tác giả chia thành hai phần lớn, phần thứ nhất có một số nhận xét chung về
y học Á Đông, việc hành nghề Đông Y ở Việt Nam và Trung Quốc; phần
Trang 17du Vietnam) và cho in thành 4 tập: tập I (1952), tập II (1953), tập III và IV (1954) Trong bộ sách này, tác giả đã thống kê 1482 vị thuốc thảo mộc trên
ba nước Đông Dương, so với bộ cũ chỉ có 1340 vị [15]
Sau cách mạng tháng 8 năm 1945 và chiến thắng Điện Biên Phủ năm
1945 đã mở ra một con đường mới cho ngành Y học cổ truyền dân tộc phát triển Đảng và nhà nước chủ trương xây dựng nền Y học dân tộc “đại chúng”, “kết hợp Đông y và Tây y” với phương châm “tự lực cánh sinh” (Đỗ Tất Lợi, 2005) Vì vậy các nhà khoa học Việt Nam có nhiều thuận lợi trong việc sưu tầm,điều tra, phát hiện, thống kê và nghiên cứu nguồn tài nguyên cây thuốc, với nhiều công trình nghiên cứu tiêu biểu như:
Năm 1965, GS.TS Đỗ Tất Lợi cho xuất bản bộ sách “Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam” gồm 6 tập, giới thiệu trên 600 vị thuốc trong
đó có 15 loài có tác dụng an thần Công trình này sau đó được tái bản nhiều lần, không ngừng được tác giả bổ sung thêm các kết quả nghiên cứu mới trong nước và quốc tế, đến năm 1995 lên đến 792 loài [14]
Trang 1810
Trương Công Quyền, Đỗ Tất Lợi và cộng sự với cuốn “Dược liệu Việt Nam” (1978) đã giới thiệu 415 loài thực vật làm thuốc Các tác giả cũng đã miêu tả khá chi tiết cách thu hái, bảo quản [17]
Năm 1990, tập thể các nhà khoa học Viện dược liệu đã giới thiệu tổng
số 399 loài trong cuốn “Cây thuốc Việt Nam” có kèm theo hình vẽ minh họa rất rõ ràng [17]
Năm 1993, Viện Dược liệu đã cho giới thiệu “Tài nguyên cây thuốc Việt Nam” cho chương trình tạo nguồn nguyên liệu làm thuốc (KY – 02 ), trong đó giới thiệu 721 loài cây có khả năng làm thuốc [24]
Trần Đình Lý năm 1993 đã xuất bản cuốn “1900 loài cây cỏ có ích ở Việt Nam” cho biết trong số các loài thực vật bậc cao có mạch ở Việt Nam có
76 loài cho nhựa thơm, 160 loài cho tinh dầu, 260 loài cho dầu béo, 600 loài chứa tanin, 50 loài cây gỗ có giá trị, 40 loài tre nứa, 40 loài song mây [17]
Nhà khoa học Võ Văn Chi là người có tâm huyết, năm 1976, ông đã thống kê 1.360 loài cây thuốc thuộc 192 họ trong ngành hạt kín ở miền Bắc Sau nhiều năm miệt mài nghiên cứu, năm 1997, ông đã cho ra mắt cuốn sách
“Từ điển cây thuốc Việt Nam”, trong đó có đề cập tới 3.165 loài Tác giả đã
mô tả chi tiết từng cây có kèm theo hình vẽ minh họa, nơi phân bố, thành phần hóa học, công dụng và liều dùng Đặc biệt ông đã tham khảo kinh nghiệm sử dụng cây thuốc của nhiều nước trên thế giới như: Trung Quốc, Ấn
Độ, Philippin, Pháp… nên đã bổ sung được công dụng của rất nhiều loài mà các nghiên cứu tại Việt Nam trước đây chưa đề cập tới [7] Đến năm 2012,
trong cuốn “Từ điển cây thuốc Việt Nam” (bộ mới), tác giả đã giới thiệu
4.472 loài cây làm thuốc thuộc 1.862 chi, trong 338 họ, của 9 nhóm ngành từ sinh vật tiền nhân đến ngành Ngọc lan và 1500 ảnh màu, rất thuận tiện cho việc tra cứu Có thể nói, tài liệu này đã giới thiệu một số lượng cây thuốc lớn nhất và đầy đủ nhất của nước ta cho tới nay [8,9]
Trang 1911
Cuốn sách “Cây cỏ Việt Nam” (1999) của Phạm Hoàng Hộ gồm 3 tập
là cuốn sách rất có giá trị đối với những người làm về thực vật trong việc tra cứu, định loài Tuy tác giả chủ yếu đi sâu vào việc miêu tả nhưng ông cũng đã
đề cập qua công dụng làm thuốc của 1559 loài trong đó có 175 loài có khả năng làm thuốc [17]
Cùng với “Từ điển cây thuốc” của Võ Văn Chi và “Những cây thuốc và
vị thuốc Việt Nam” của Đỗ Tất Lợi, cuốn “Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam” của tập thể cán bộ và các nhà khoa học của Viện dược liệu là 3 bộ Dược liệu cây thuốc được đánh giá cao tại Việt Nam Với 2 tập sách, các tác giả đã giới thiệu 920 loài cây và 80 động vật được lựa chọn từ hơn 4000 cây thuốc và 400 động vật làm thuốc trong đó có 29 loài thực vật có tác dụng an thần [4,5]
Bộ Khoa học và Công nghệ, 2007, Sách Đỏ Việt Nam, Phần II -Thực vật, thống kê 120 loài cây có giá trị làm thuốc cần được bảo tồn, trong đó có
12 loài có tác dụng an thần [6]
Năm 2010, nhà xuất bản Y học đã cho xuất bản cuốn “Cẩm nang sử dụng và phát triển cây thuốc ở Việt Nam” là cuốn sách tra cứu hơn 300 cây làm thuốc thông thường ở Việt Nam, trong đó có 29 loài có tác dụng an thần, ngủ, nhức đầu Cuốn sách do Viện sĩ, Tiến sĩ Nguyễn Duy Cương và Trần Công Khánh chủ biên Cuốn sách được biên soạn trong thời gian 3 năm, với nội dung ngắn gọn, cập nhật thông tin mới có liên quan, để tra cứu cho người cho người sử dụng cây thuốc và dược liệu [11]
Ngoài những công trình nghiên cứu thuốc trên toàn lãnh thổ Việt Nam còn có những công trình nghiên cứu cây thuốc của từng vùng, từng địa phương
Trang 2012
Mỗi cuốn sách, mỗi công trình nghiên cứu là kết quả của những chuyến
đi thực tế, tìm hiểu nguồn cây thuốc và bài thuốc cổ truyền trong cộng đồng
54 dân tộc Việt Nam, kết hợp với sự nghiên cứu lâu dài cũng như sưu tầm tài liệu trong và ngoài nước của các tác giả hoặc một nhóm tác giả Từ đó cho thấy, Việt Nam là 1 đất nước có nguồn tài nguyên cây thuốc vô cùng phong phú và quý giá tạo nên một nền Y học cổ truyền không chỉ phong phú về tài nguyên cây thuốc mà còn phong phú về các phương thuốc trị bệnh Việc điều tra, nghiên cứu, thống kê những loài có giá trị làm thuốc, tìm hiểu kinh nghiệm trị bệnh của các đồng bào dân tộc sinh sống trên khắp đất nước ta vẫn
là một vấn đề cần được quan tâm hơn nữa Nó không chỉ góp phần làm phong phú thêm kho tàng y học dân tộc nước nhà, bảo tồn và phát huy nền văn hóa dân tộc mà còn giúp bảo tồn đa dạng sinh học đảm bảo cho sự phát triển bền vững
1.3 Những nghiên cứu về các loài thực vật có tác dụng an thần ở Trạm
đa dạng sinh học Mê Linh
Trạm đa dạng sinh học Mê Linh có diện tích 170,3 ha (thuộc xã Ngọc Thanh, thị xã Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc) là khu vực nằm bên cạnh VQG Tam Đảo và là khu vực đầu nguồn của con suối Đại Lải, do đó thảm thực vật ở đây hết sức phong phú Theo Vũ Xuân Phương và cộng sự (2001) hệ thực vật tại đây có 171 họ thực vật với 669 chi và 1.226 loài, trong đó có rất nhiều thực vật có tác dụng chữa bệnh cho con người [18] Đây là công trình đầu tiên nghiên cứu về các loài thực vật có tác dụng an thần ở Trạm đa dạng sinh học
Mê Linh, thị xã Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc
Trang 2113
CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, THỜI GIAN, NỘI DUNG VÀ
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Đối tượng nghiên cứu
Các loài thực vật có tác dụng an thần ở Trạm đa dạng sinh học Mê Linh, dựa trên cơ sở mẫu vật và tài liệu
Tài liệu: Các tài liệu về các loài thực vật ở Trạm đa dạng sinh học Mê
Linh và các tài liệu về các loài có tác dụng an thần ở Việt Nam
Mẫu vật: Các mẫu thực vật của các loài có tác dụng an thần phân bố ở
Trạm đa dạng sinh học Mê Linh
2.2 Phạm vi nghiên cứu
Trạm đa dạng sinh học Mê Linh, xã Ngọc Thanh, thị xã Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc
2.2.1 Vị trí địa lý
Trạm đa dạng sinh học Mê Linh nằm trong địa phận của xã Ngọc Thanh, thị xã Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc (trước thuộc huyện Mê Linh, tỉnh Vĩnh Phúc) Trạm đa dạng sinh học cách trung tâm thị xã Phúc Yên khoảng 35 km
Phía Đông và phía Nam giáp hợp tác xã Đồng Trầm, xã Ngọc Thanh, thị
Trang 22Hình 3.1 Bản đồ địa hình Trạm ĐDSH Mê Linh, tỉnh Vĩnh Phúc
Trang 232.2.3 Địa chất - Thổ nhưỡng
2.2.3.1 Địa chất
Đất gồm 2 loại chủ yếu:
+ Ở độ cao 400 m đất feralitic màu vàng phát triển trên đá sa thạch cuội hoặc dăm kết
+ Ở độ cao dưới 400 m đất feralitic màu vàng đỏ phát triển trên sa phiến thạch
Ngoài ra, còn có đất dốc tụ phù sa ở ven các suối lớn ở độ cao dưới 100
m Đất thuộc loại chua có pH 3,0-5,5; thành phần cơ giới trung bình, độ dày tầng đất khoảng 30-40 cm
2.2.3.2 Thổ nhưỡng
Nhìn chung các loại đá mẹ khá cứng, thành phần khoáng có nhiều Thạch anh, Muscovit, khó phong hóa, hình thành nên các loại đất có thành phần cơ giới nhẹ, cấp hạt thô, dễ bị rửa trôi và xói mòn, nhất là những nơi dốc cao bị xói mòn mạnh để trơ lại phần đá rất cứng (điển hình là khu vực từ độ cao 300-
400 m)
Theo nguồn gốc phát sinh trong vùng có hai loại đất chính sau:
- Ở độ cao trên 300 m là đất Feralit mùn đỏ vàng Đất có màu vàng ưu thế do độ ẩm cao, hàm lượng sắt di động và nhôm tích luỹ cao Do đất phát triển trên đá Mácma axit kết tinh chua nên tầng đất mỏng, thành phần cơ giới nhẹ, tầng mùn mỏng, không có tầng thảm mục, đá lộ đầu nhiều trên 75%