TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG PHẠM THÚY HẰNG NGÔ THỊ PHI KHẢO SÁT ĐẶC ĐIỂM HÌNH THÁI, SINH HỌC VÀ TÍNH ƯA THÍCH KÝ CHỦ CỦA SÂU ĐỤC TRÁI ĐẬU BẮP Earias v
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG
PHẠM THÚY HẰNG NGÔ THỊ PHI
KHẢO SÁT ĐẶC ĐIỂM HÌNH THÁI, SINH HỌC VÀ TÍNH ƯA THÍCH KÝ CHỦ CỦA SÂU ĐỤC TRÁI
ĐẬU BẮP Earias vittella FABRICIUS, THÀNH PHẦN
CÔN TRÙNG GÂY HẠI VÀ THIÊN ĐỊCH
TRÊN RUỘNG ĐẬU BẮP TẠI HUYỆN CHÂU THÀNH,
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG
Luận văn tốt nghiệp Đại học Ngành: BẢO VỆ THỰC VẬT
Tên đề tài:
KHẢO SÁT ĐẶC ĐIỂM HÌNH THÁI, SINH HỌC VÀ TÍNH ƯA THÍCH KÝ CHỦ CỦA SÂU ĐỤC TRÁI
ĐẬU BẮP Earias vittella FABRICIUS, THÀNH PHẦN
CÔN TRÙNG GÂY HẠI VÀ THIÊN ĐỊCH
TRÊN RUỘNG ĐẬU BẮP TẠI HUYỆN CHÂU THÀNH,
HẬU GIANG
Giáo viên hướng dẫn: Sinh viên thực hiện:
ThS Phạm Kim Sơn Phạm Thúy Hằng
MSSV: 3103602 Ngô Thị Phi
MSSV: 3103656 Lớp: TT1073A1
Cần Thơ, 2013
Trang 3TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG
BỘ MÔN BẢO VỆ THỰC VẬT
Chứng nhận luận văn tốt nghiệp với đề tài:
ƯA THÍCH KÝ CHỦ CỦA SÂU ĐỤC TRÁI ĐẬU BẮP Earias vittella FABRICIUS, THÀNH PHẦN CÔN TRÙNG GÂY HẠI
VÀ THIÊN ĐỊCH TRÊN RUỘNG ĐẬU BẮP
Do sinh viên Phạm Thúy Hằng, Ngô Thị Phi thực hiện và đề nạp
Kính trình Hội Đồng chấm luận văn tốt nghiệp xem xét
Cần Thơ, ngày … tháng… năm 2013
Cán bộ hướng dẫn
Ths Phạm Kim Sơn
Trang 4TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG
BỘ MÔN BẢO VỆ THỰC VẬT
Hội đồng chấm luận văn tốt nghiệp đã chấp nhận luận văn tốt nghiệp Kỹ sư Bảo vệ Thực vật với đề tài:
ƯA THÍCH KÝ CHỦ CỦA SÂU ĐỤC TRÁI ĐẬU BẮP Earias vittella FABRICIUS, THÀNH PHẦN CÔN TRÙNG GÂY HẠI
VÀ THIÊN ĐỊCH TRÊN RUỘNG ĐẬU BẮP
Do sinh viên Phạm Thúy Hằng, Ngô Thị Phi thực hiện và bảo vệ trước Hội đồng, ngày … tháng… năm 2013
Luận văn đã được Hội đồng đánh giá ở mức:…………điểm
Ý KIẾN HỘI ĐỒNG:…………
………
………
………
Cần Thơ, ngày … tháng … năm 2013 DUYỆT KHOA NN & SHƯD CHỦ TỊCH HỘI ĐỒNG
Trang 5- 1998 – 2003: học tiểu học tại trường tiểu học “A An Tức”
- 2003 – 2007: học cấp 2 tại trường THPT Dân Tộc Nội Trú An Giang
- 2007 – 2010: học cấp 3 tại trường THPT Dân Tộc Nội Trú An Giang
- 2010 – 2014: học đại học tại Trường Đại Học Cần Thơ
Họ và tên: Phạm Thúy Hằng Giới tính: Nữ
Ngày sinh: 08/05/1992 Dân tộc: Kinh Nơi sinh: Thị trấn Cái Bè, Huyện Cái Bè, Tỉnh Tiền Giang
Quá trình học tập:
- 1998 – 2003: học tiểu học tại trường tiểu học “Tân Phong I”
- 2003 – 2007: học cấp 2 tại trường THCS Tân Phong
- 2007 – 2010: học cấp 3 tại trường THPT Cái Bè
- 2010 – 2014: học đại học tại trường Đại Học Cần Thơ
Trang 6LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của bản thân Các số liệu, kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất
kỳ công trình luận văn nào trước đây
Tôi xin cam đoan rằng, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đều được chỉ rõ nguồn gốc
Cần Thơ, ngày … tháng … năm 2013
Tác giả luận văn
Phạm Thúy Hằng, Ngô Thị Phi
Trang 7LỜI CẢM ƠN
Kính dâng!
Cha, mẹ lòng biết ơn chân thành nhất từ trái tim con Cha mẹ là người luôn quan tâm, lo lắng, chăm sóc, hy sinh tất cả khó khăn và luôn dành những điều tốt đẹp nhất cho con để cho con có được như ngày hôm nay Con sẽ luôn ghi nhớ mãi công
ơn sinh thành và dưỡng dục của cha mẹ đã dành cho con Điều đó sẽ là nguồn động lực to lớn giúp con vượt qua tất cả mọi khó khăn thử thách để có được thành công sau này
Xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến
Trong quá trình thực hiện đề tài luận văn của mình, ngoài sự nổ lực và phấn đấu từ phía bản thân, tôi đã nhận được sự ủng hộ và giúp đỡ tận tình từ phía các thầy cô, gia đình và bạn bè
Đầu tiên, tôi xin chân thành cảm ơn đến tất cả quý thầy cô Trường Đại học Cần Thơ- Khoa Nông Nghiệp và SHƯD- Bộ môn Bảo Vệ Thực Vật đã truyền thụ cho tôi nhiều kiến thức và kinh nghiệm quý báu trong suốt quá trình tôi được học tập tại trường
Xin gửi lời cảm ơn chân thành đến Ths Phạm Kim Sơn, thầy đã tận tình hướng dẫn, gợi ý, cho những lời khuyên và giúp đỡ tôi trong những lúc khó khăn để cho tôi hoàn thành tốt luận văn này
Chị Nguyễn Thị Mỳ đã nhiệt tình chỉ dẫn và đóng góp ý kiến giúp tôi vượt qua những khó khăn trong quá trình làm luận văn tốt nghiệp
Bạn Lâm Thị Xuân Mai, Huỳnh Phương Thanh, Lê Nhựt Thanh, Lê Thị Thùy, Thạch Thị Anh Thảo, Hồ Thị Xuân, Đinh Hùng Thắng đã tận tình giúp đỡ trong việc thu mẫu và trong quá trình làm luận văn tốt nghiệp
PHẠM THÚY HẰNG, NGÔ THỊ PHI
Trang 8Phạm Thúy Hằng, Ngô Thị Phi, 2013 “Khảo sát đặc điểm hình thái, sinh học và
tính ưa thích ký chủ của sâu đục trái đậu bắp Earias vittella Fabricius, thành phần
côn trùng gây hại và thiên địch trên ruộng đậu bắp tại huyện Châu Thành, Hậu
Giang” Luận văn tốt nghiệp kỹ sư ngành Bảo Vệ Thực Vật, Khoa Nông Nghiệp và
Sinh Học Ứng Dụng, Trường Đại học Cần Thơ
Cán bộ hướng dẫn: Phạm Kim Sơn
TÓM LƯỢC
Đề tài “Khảo sát đặc điểm hình thái, sinh học và tính ưa thích ký chủ của sâu
đục trái đậu bắp Earias vittella Fabricius, thành phần côn trùng gây hại và thiên
địch trên ruộng đậu bắp tại huyện Châu Thành, Hậu Giang” được thực hiên từ tháng
2/2013 đến 10/2013 đạt được kết quả sau:
Đặc điểm hình thái và sinh học của sâu đục trái đậu bắp Earias vittella
Fabricius được ghi nhận: trứng dạng hình cầu, màu xanh lá cây, có những đường
khía chạy dọc từ trên xuống Kích thước là 0,4 x 0,48 mm Thời gian ủ trứng là 3,5
± 0,73 ngày Ấu trùng có 5 tuổi với thời gian mỗi tuổi là 2,3; 2,23; 2,23; 1,17; 1,1 ngày Chiều dài thân là 1,35 ± 0,14; 4,03 ± 0,53; 7,72 ± 0,75; 14,38 ± 1,99; 15,39 ± 1,68 mm Ấu trùng phát triển từ màu vàng nhạt đến đen bóng Nhộng thon dài, màu trắng ngà hay nâu Thời gian nhộng là 8,2 ngày Bướm có cánh trước màu hồng phấn hay trắng ngà, có sọc to hình tam giác màu xanh lá cây chạy từ chân cánh ra đến cuối cánh, cuối sọc này có đường màu nâu Cánh sau màu trắng bạc, cuối cánh
có viền màu nâu với rìa lông trắng Thành trùng cái sống từ 8 - 14 ngày, thành trùng đực sống từ 6 - 15 ngày Vòng đời từ 21 - 26 ngày
Ấu trùng Earias vittella có khả năng ăn các bộ phận non của cây đậu bắp (nụ
hoa, trái non, đọt non), khi sâu ăn nụ hoa và đọt non thì phát triển nhanh, tỷ lệ tăng trọng cao Ấu trùng thích ăn nhiều trên cây họ bông (bụp vang và đậu bắp) và phát triển nhanh, gia tăng trọng lượng cao hơn so với thức ăn là cây họ đậu (đậu rồng, đậu đũa)
Thành phần loài trên 4 ruộng đậu bắp tại huyện Châu Thành, tỉnh Hậu Giang, vụ Hè Thu 2013 gồm có 10 loài côn trùng gây hại hiện diện như: rầy xanh
hai chấm (Amrasca devastans Distant), rầy phấn trắng (Bemisia tabaci Gennadlus), rầy mềm (Aphis gossypii Glover), bọ xít đỏ (Dysdercus cingulatuc), sâu đục trái (Earias vittella), sâu đo xanh ăn lá (Anomis flava Fab.), sâu cuốn lá (Sylepta derogate Fab.), sâu ăn tạp (Spodoptera litura), bọ trĩ (Megalurothrips usitatus), rệp sáp (Phenacoccus solenopsis) và 1 loài nhện đỏ (Tetranychus cinnabarius) gây hại
Trong đó, rầy xanh hai chấm và sâu đục trái là 2 loài hiện diện phổ biến Thiên địch
ăn mồi có 5 loài nhện: nhện Lycosa (Lycosa pseudoannulata), nhện chân dài (Tetragnatha maxillosa), nhện lùn (Atypena formosana), nhện linh miêu (Oxyopes javanus), nhện nhảy (Phidippus sp.) và 1 loài bọ rùa đỏ (Micraspis sp.)
Trang 9MỤC LỤC
Trang
Danh sách bảng x
Danh sách hình xi
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU 2
1.1 Cây đậu bắp 2
1.1.1 Nguồn gốc và đặc điểm chung của đậu bắp 2
1.1.2 Kỹ thuật canh tác cây đậu bắp 3
1.2 Sâu đục trái đậu bắp Earias vittella Fabricius 4
1.2.1 Phân loại 4
1.2.2 Phân bố 4
1.2.3 Ký chủ 4
1.2.4 Triệu chứng gây hại 4
1.2.5 Đặc điểm hình thái 5
1.2.6 Đặc điểm sinh học 6
1.2.7 Đặc điểm sinh thái học 7
1.2.8 Biện pháp phòng trị 7
1.3 Một số côn trùng gây hại trên cây đậu bắp 9
1.3.1 Rầy xanh hai chấm Amrasca devastans Distant 9
1.3.2 Rầy phấn trắng Bemisia tabaci Gennadlus 9
1.3.3 Rệp sáp Phenacoccus solenopsis 10
1.3.4 Nhện đỏ Tetranychus cinnabarius Boisduval 11
1.3.5 Rầy mềm Aphis gossypii Glover 11
1.3.6 Bọ xít đỏ Dysdercus cingulatuc Fabricius 12
1.3.7 Sâu đo xanh ăn lá Anomis flava Fabricius 13
1.3.8 Sâu cuốn lá Sylepta derogate Fabricius 13
1.3.9 Sâu ăn tạp Spodoptera litura Fabricius 14
1.3.10 Bọ trĩ Megalurothrips usitatus 15
1.4 Một số loài thiên địch trên cây đậu bắp 15
1.4.1 Nhện Lycosa Lycosa pseudoannulata 15
1.4.2 Nhện chân dài Tetragnatha maxillosa 15
1.4.3 Nhện nhảy Phidippus sp 16
Trang 101.4.4 Nhện linh miêu Oxyopes javanus 16
1.4.5 Nhện lùn Atypena formosana 16
1.4.6 Bọ rùa đỏ Micraspis sp 16
CHƯƠNG 2 PHƯƠNG TIỆN VÀ PHƯƠNG PHÁP 17
2.1 Phương tiện 17
2.1.1 Thời gian và địa điểm 17
2.1.2 Vật liệu 17
2.2 Phương pháp 17
2.2.1 Khảo sát đặc điểm hình thái và sinh học của sâu đục trái đậu bắp Earias vittella Fabricius trong điều kiện phòng thí nghiệm 17
2.2.2 Khảo sát khả năng ăn các bộ phận cây đậu bắp đối với ấu trùng E vittella trong điều kiện phòng thí nghiệm 19
2.2.3 Khảo sát tính ưa thích ký chủ của ấu trùng E vittella trong điều kiện phòng thí nghiệm 21
2.2.4 Điều tra thành phần côn trùng gây hại và thiên địch ăn mồi trên ruộng đậu bắp tại huyện Châu Thành, tỉnh Hậu Giang, vụ Hè Thu 2013 22
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 24
3.1 Khảo sát đặc điểm hình thái và đặc tính sinh học của sâu đục trái E vittella F trong điều kiện phòng thí nghiệm 24
3.1.1 Đặc điểm hình thái qua các giai đoạn trong vòng đời của sâu đục trái đậu bắp E vittella Fab 24
3.1.2 Đặc tính sinh học của sâu đục trái đậu bắp E vittella Fab 30
3.2 Khảo sát khả năng ăn các bộ phận cây đậu bắp đối với ấu trùng E vittella Fab trong điều kiện phòng thí nghiệm 36
3.3 Khảo sát tính ưa thích ký chủ của ấu trùng E vittella Fab trong điều kiện phòng thí nghiệm 37
3.4 Thành phần côn trùng gây hại và thiên địch ăn mồi trên ruộng đậu bắp tại huyện Châu Thành, tỉnh Hậu Giang, vụ Hè Thu 2013 38
3.4.1 Thành phần côn trùng gây hại trên ruộng đậu bắp tại huyện Châu Thành, tỉnh Hậu Giang, vụ Hè Thu 2013 38
3.4.2 Thành phần thiên địch ăn mồi trên ruộng đậu bắp tại huyện Châu Thành, tỉnh Hậu Giang, vụ Hè Thu 2013 42
CHƯƠNG 4 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 45
Trang 114.1 Kết luận 45 4.2 Đề nghị 45 TÀI LIỆU THAM KHẢO 46 PHỤ CHƯƠNG
Trang 12DANH SÁCH BẢNG
3.1 Kích thước các giai đoạn phát triển của sâu đục trái đậu bắp
3.2 Một số đặc điểm khác nhau giữa thành trùng đực và cái sâu
đục trái đậu bắp Earias vittella Fab 28
3.3
Các giai đoạn phát triển (vòng đời) của sâu đục trái Earias
vittella Fabricius trên thức ăn đậu bắp trong điều kiện phòng
Trọng lượng thức ăn được ấu trùng E vittella tiêu thụ và sự
tăng trọng của ấu trùng khi ăn các bộ phận cây đậu bắp trong
điều kiện phòng thí nghiệm
36
3.6
Khả năng tiêu thụ thức ăn và sự tăng trọng của ấu trùng sâu
đục trái trên 4 loại ký chủ khác nhau trong điều kiện phòng thí
nghiệm
37
3.7 Thành phần côn trùng gây hại trên ruộng đậu bắp tại huyện
Châu Thành, tỉnh Hậu Giang, vụ Hè Thu 2013 40 3.8 Thành phần thiên địch ăn mồi trên ruộng đậu bắp tại huyện
Châu Thành, tỉnh Hậu Giang, vụ Hè Thu 2013 43
Trang 13DANH SÁCH HÌNH
2.2 Bố trí thí nghiệm các bộ phận cây đậu bắp 20
2.3 Bố trí thí nghiệm các loại trái cây ký chủ của loài E vittella
2.4 Sơ đồ các điểm điều tra trên ruộng đậu bắp 23 3.1 Trứng và ấu trùng sâu đục trái đậu bắp E vittella Fab 26 3.2 Nhộng sâu đục trái Earias vittella Fab. 27
3.3 Đặc điểm thành trùng của sâu đục trái đậu bắp Earias vittella
3.4 Thành trùng đực, cái của sâu đục trái đậu bắp E vittella
3.5 Vị trí đẻ trứng của thành trùng E vittella 31 3.6 Triệu chứng gây hại của E vittella Fab trên cây đậu bắp 34 3.7 Vòng đời sâu đục trái đậu bắp Earias vittella Fabricius 35 3.8 Các loài côn trùng gây hại hiện diện trên ruộng đậu bắp điều
3.9 Các loài thiên địch ăn mồi trên ruộng đậu bắp điều tra 44
Trang 14MỞ ĐẦU
Đồng bằng sông cửu long với đất đai màu mỡ, nguồn nước, khí hậu thuận lợi cho phát triển sản xuất nông nghiệp Từ xa xưa, nghề trồng rau màu đã gắn liền với mảnh đất canh tác và được xem như nguồn thu nhập chủ yếu của nông dân Hiện nay, diện tích trồng rau màu ngày càng tăng do đáp ứng nhu cầu tiêu thụ ngày càng
mở rộng của thị trường Trong đó, đậu bắp là loại rau ăn quả hằng niên dễ trồng, cho năng suất cao và thu nhiều lợi nhuận đang được nông dân quan tâm sản xuất ngày càng nhiều
Mặc dù việc trồng đậu bắp có nhiều thuận lợi, tuy nhiên, nghề trồng rau màu không thể tránh khỏi sự tấn công của sâu hại Trong những năm gần đây, thời tiết, khí hậu diễn biến thất thường làm bộc phát nhiều loài dịch hại, gây ra nhiều khó khăn trở ngại cho việc canh tác rau màu của nông dân Riêng đối với cây đậu bắp, trong thời gian này, đối tượng gây hại nghiêm trọng được nông dân cũng như những
nhà nghiên cứu quan tâm đến nhiều đó là loài sâu đục trái Earias vittella Fabricius
Loài sâu hại này có thể tấn công lên tất cả những bộ phận non của cây, làm rụng hoa, héo đọt, và ảnh hưởng nghiêm trọng đến năng suất, phẩm chất trái đậu bắp Việc phòng trị đối tượng này thường gặp rất nhiều khó khăn do sâu tấn công vào bên trong những bộ phận non của cây và trú ẩn trong đó Một phần, do bướm cái có tập tính đẻ trứng với số lượng nhiều, đẻ rải rác nhiều ngày nên phải phun thuốc thường xuyên trên đồng ruộng Tập quán canh tác này sẽ làm chi phí sản xuất tăng lên, dư lượng thuốc trừ sâu lưu tồn trong nông sản, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường và sức khỏe con người
Trước tình hình này, để việc phòng trị loài sâu đục trái được tốt hơn, nhằm nâng cao năng suất cây trồng, bảo vệ môi trường và sức khỏe con người, đề tài:
“Khảo sát đặc điểm hình thái, sinh học và tính ưa thích ký chủ của sâu đục trái
đậu bắp Earias vittella F., thành phần côn trùng và thiên địch trên ruộng đậu
bắp tại huyện Châu Thành, Hậu Giang” được thực hiện với mục tiêu: khảo sát
đặc điểm hình thái và sinh học của sâu đục trái Earias vittella F., khảo sát khả năng
ăn các bộ phận cây đậu bắp và tính ưa thích ký chủ của Earias vittella F trên một
số loại cây như đậu bắp, bụp vang, đậu rồng, đậu đũa; điều tra thành phần loài côn trùng gây hại và thiên địch trên ruộng đậu bắp tại huyện Châu Thành, tỉnh Hậu Giang
Trang 15CHƯƠNG 1 LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU 1.1 CÂY ĐẬU BẮP
1.1.1 Nguồn gốc và đặc điểm chung của đậu bắp
Theo Nguyễn Mạnh Chinh và Phạm Anh Cường (2007) đậu bắp có tên khoa
học là Hibiscus esculentus, thuộc họ Bông (Malvaceae), không thuộc họ Đậu như
các cây đậu côve, đậu đũa Cây đậu bắp có nguồn gốc ở Ấn Độ, hiện được trồng ở nhiều nước nhiệt đới châu Á và ở nước ta
Giá trị dinh dưỡng
Trong quả đậu bắp có chứa khoảng 2% protein, 8% glucid, nhiều loại khoáng
và vitamin Trong hạt đậu bắp có khoảng 20% chất lỏng, màu vàng xanh, mùi dễ chịu, ăn được Quả đậu bắp có chất nhầy, vị chua mát (Nguyễn Mạnh Chinh và Phạm Anh Cường, 2007)
Giá trị sử dụng
Trồng đậu bắp chủ yếu để lấy quả ăn tươi như các loại đậu, dùng luộc, xào, nấu canh chua hoặc nướng chín Quả non cũng có thể phơi khô để ăn dần Tất cả các bộ phận của cây đậu bắp đều dùng làm thuốc giảm đau trong các trường hợp bị bệnh lậu, bí tiểu, dùng làm thuốc nhuận tràng Rễ và lá thái mỏng phơi khô dùng làm thuốc chữa ho, viêm họng Hạt khô rang chín, nghiền nhỏ dùng uống thay cà phê hoặc nấu lên làm hồ giấy, làm chất dính trong công nghiệp giấy Ở nước ta, cây đậu bắp chủ yếu trồng và sử dụng ở phía Nam, người miền Bắc ít biết ăn đậu bắp do
có chất nhờn (Nguyễn Mạnh Chinh và Phạm Anh Cường, 2007)
Đặc tính sinh học
Theo Nguyễn Mạnh Chinh và Phạm Anh Cường (2007), cho rằng đậu bắp là cây thân thảo, mọc đứng, nhiều lông và hơi rỗng, cao trung bình 1,0 - 1,5 m, có thể cao trên 2 m, phân cành nhiều Có một rễ chính và nhiều rễ phụ, ăn sâu tới 40 - 50
cm Lá hình tim hoặc xẻ hình chân vịt, mép có răng cưa lớn, có lông nhám Hoa mọc ở nách lá, có 5 cánh lớn, màu xanh vàng, trông giống hoa cây bông vải Hoa lưỡng tính, gồm một nhụy cái ở giữa và nhiều nhị đực bao quanh, tự thụ phấn là chính Quả nang, dài 20 - 25 cm, mọc dựng đứng, màu xanh nhạt, gồm 3 - 5 vách ngăn kết nhau tạo thành đường gờ dọc Hạt hình cầu hơi dẹt, đường kính 2 - 3 mm, khi non có màu trắng, khi chín màu nâu đen
Yêu cầu ngoại cảnh
Cây đậu bắp ưa nhiệt độ cao, thích hợp khoảng 25 - 300C Cần nhiều ánh sáng Khả năng chịu hạn khá, chịu mưa nhưng yếu chịu úng ngập Trồng được trên nhiều loại đất, thích hợp đất thịt nhẹ, luôn đủ ẩm nhưng thoát nước, không bị chua mặn Sau khi gieo hạt khoảng 35 - 40 ngày cho quả, thời gian thu hoạch quả kéo dài 50 -
55 ngày Năng suất trung bình 20 - 30 tấn/ha (Nguyễn Mạnh Chinh và Phạm Anh Cường, 2007)
Trang 161.1.2 Kỹ thuật canh tác cây đậu bắp
Năm 2007, Nguyễn Mạnh Chinh và Phạm Anh Cường đã đưa ra kỹ thuật canh tác cây đậu bắp như sau:
Giống
Hiện có nhiều giống địa phương, giống chọn lọc trong nước và giống nhập nội Viện Nghiên Cứu Rau quả có giống đậu bắp ĐB1 nhập từ Nhật Bản, thời gian sinh trưởng 150 ngày Năng suất 20 - 25 tấn quả/ha
Công ty giống cây trồng Miền Nam có các giống đậu bắp VN1 và giống Ấn
Độ, thời gian sinh trưởng 80 - 90 ngày, thu hoạch 35 ngày sau gieo Sức sinh trưởng mạnh, quả ít xơ, ăn giòn ngon, bảo quản được lâu Năng suất 25 - 30 tấn/ha Ngoài
ra còn một số giống khác như SV1, SV9.1
Thời vụ gieo trồng
Ở phía Nam, cây đậu bắp có thể gieo trồng quanh năm, tuy vậy gieo vụ đông xuân vào tháng 11 - 12 thuận lợi hơn Gieo mùa mưa đất quá ẩm, cây sinh trưởng kém, năng suất chất lượng thấp
Làm đất, gieo hạt
Đất cày để ải, sau đó bừa kỹ rồi xới rãnh rộng 20 - 25 cm, rãnh cách nhau 1,2 - 1,4 m, dùng đất rãnh gom lên thành luống không cần cao lắm Trên luống đào hốc theo hai hàng dọc cách nhau 60 - 70 cm, hốc trên hàng cách nhau 40 - 45 cm Mỗi hốc gieo 2 - 3 hạt, khi cây được 2 - 3 lá thật thì tỉa để lại một cây (mật độ 35.000 - 40.000 cây/ha)
Bón phân lót vào hốc, phủ lớp đất mỏng lên rồi gieo hạt, không để hạt tiếp xúc trực tiếp với phân Hạt gieo sâu 1 - 2 cm, lấp bằng đất bột hoặc tro trấu Lượng hạt giống cần khoảng 4 - 5 kg/ha Gieo hạt xong tưới ẩm thường xuyên tạo điều kiện cho hạt mọc dễ dàng
Bón phân
Ở vùng rau TP Hồ Chí Minh thường dùng cách bón sau (cho 1.000 m2):
- Bón lót: cây đậu bắp có khối lượng thân lá lớn, năng suất quả cao trong thời gian ngắn nên cần bón đủ phân lót ngay từ đầu để cây sinh trưởng tốt Lượng phân bón lót gồm 1,2 - 1,5 tấn phân chuồng hoai + 5 kg urê +
30 kg super lân Tất cả trộn đều bón vào hốc trước khi gieo hạt
- Bón thúc: 3 lần
+ Lần 1: Khi cây có 5 - 6 lá (5 kg urê + 10 kg bánh dầu)
+ Lần 2: Sau gieo 20 - 25 ngày (bón thêm 500 kg phân chuồng hoai + 5
Trang 17Chăm sóc
- Tưới nước: khả năng chịu hạn của cây đậu bắp tương đối khá, tuy vậy trồng trong vụ đông xuân là vụ khô nên cần tưới nước Thời gian đầu khi gieo hạt và cây còn nhỏ đất cần đủ ẩm Khi cây lớn ra hoa có quả lượng
nước tưới cần nhiều, nếu để khô hạn quả sẽ nhỏ và cứng Cách tưới có thể
dùng thùng vòi, vòi phun mưa hoặc bơm nước vào rãnh đủ ẩm rồi cho
thoát ngay Mùa mưa không để ruộng bị ngập
- Xới đất, vun gốc, làm cỏ: kết hợp các lần bón thúc Cây đậu bắp thân cao, cành lá nhiều, dễ đổ ngã nên cần vun gốc Thường xuyên tỉa bỏ các lá già
úa phía gốc và lá bị sâu bệnh nặng
1.2 SÂU ĐỤC TRÁI ĐẬU BẮP Earias vittella FABRICIUS
1.2.1 Phân loại
Sâu đục trái đậu bắp còn có tên gọi là sâu loang vệt xanh (Nguyễn Văn Đĩnh
và ctv., 2012); sâu loang vạch xanh hay sâu loang (Nguyễn Đức Khiêm, 2006); sâu xanh (Lê Thị Sen, 1999) Loài sâu này có tên khoa học là Earias vittella Fabricius hay Earias fabia thuộc Họ Noctuidae, Bộ Lepidoptera
1.2.2 Phân bố
Theo Ahmed (2000) nhận định rằng, loài Earias vittella Fabricius được nhận biết đầu tiên ở Sudan năm 1986 Theo Memon et al (2004) cho rằng, loài Earias vittella phân bố rộng rãi ở quần đảo Thái Bình Dương, Bắc Phi, Ấn Độ, Pakistan và
hầu hết các nước Châu Á Ở Việt Nam, sâu loang vệt xanh đang được ghi nhận ở hầu hết các vùng trồng bông vải, đặc biệt khá phổ biến ở vùng Tây Nam Bộ
(Nguyễn Văn Đĩnh và ctv., 2012)
1.2.3 Ký chủ
Ký chủ của E vittella đã được Syed et al (2011) xác định, loài sâu hại này tấn công một số loại cây trồng như: bông (Gossypium hirsutum L.), đậu bắp (Abelmoschus esculantus L.) và một số loài cây hoang dại như: râm bụt (Hibiscus rosa-sinensis L.), cối xay, vông vang Theo Nguyễn Đức Khiêm (2006) ghi nhận,
sâu loang là loài đa thực phá hại nhiều loại cây trồng thuộc họ bông, nhưng bông vải và đậu bắp được khẳng định là ký chủ chính của loài sâu này (Nguyễn Văn Đĩnh
và ctv., 2012)
1.2.4 Triệu chứng gây hại
Theo Nguyễn Đức Khiêm (2006) nhận định, sâu loang phá hại từ khi cây sinh trưởng dinh dưỡng đến sinh sản, khi cây có 4, 5 lá thật đến khi thu hoạch
Thời kỳ cây bông còn nhỏ, sâu non đục vào trong ngọn hoặc cành non để ăn gây héo, gẫy ngọn Cây bông mất ngọn thường sinh ra nhiều chồi phụ và phát triển xòe ra theo chiều ngang Khi cây lớn, sâu đục vào nụ, hoa và quả non làm cho nụ xòe, hoa rụng Khi gây hại quả, sâu nằm bên trong và ăn hết quả này sang quả khác
(Nguyễn Văn Đĩnh và ctv., 2012)
Khi nõn bông bị héo, cây phát triển nhiều cành đực, sâu phá hại mạnh có thể làm giảm sản lượng từ 20 - 80% (Nguyễn Đức Khiêm, 2006)
Trang 181.2.5 Đặc điểm hình thái
Giai đoạn trứng
Theo Roqaya and Mehmmady (2000) nhận định rằng, loài E vittella có trứng
nhỏ, hình cầu, màu xanh trong với những đường gờ chạy dọc song song từ đỉnh xuống Theo Viện Bảo Vệ Thực Vật (2003) và Nguyễn Đức Khiêm (2006) cho rằng, trứng có hình cầu, đường kính 0,5 mm, cao 0,38 mm, màu xanh nhạt Trứng
mới đẻ màu xanh nước biển, khi sắp nở có màu nâu đen (Nguyễn Văn Đĩnh và ctv.,
2012) Theo Nguyễn Văn Huỳnh và Lê Thị Sen (2011), thời gian ủ trứng từ 3 - 6 ngày
Trứng được đẻ đơn lẻ hoặc rải rác thành từng cụm nhỏ vào những phần có lông trên vỏ quả Thời gian ủ trứng bị ảnh hưởng bởi nhiệt độ Thời gian này dao động từ 3,03 - 3,84 ngày ở 23,2 - 24,50C, ẩm độ 59% và dao động từ 1,88 - 2,42 ngày khi nhiệt độ tăng lên 300C Số lượng trứng nở không hoàn toàn Tỷ lệ chết cao nhất được ghi nhận là 8,13% ở 31,30C, ẩm độ 67% và thấp nhất là 0,81% ở 27,50C,
ẩm độ 58% (Roqaya and Mehmmady, 2000)
Giai đoạn ấu trùng
Theo Vijayalakshmi and Sridhar (2000) đã nhận định rằng, khi ấu trùng E vittella phát triển đầy đủ cơ thể ấu trùng có màu nâu đen với các sọc màu trắng theo
chiều dọc trên bề mặt lưng của cơ thể Theo Nguyễn Văn Đĩnh và ctv (2012) cho
biết,sâu non mới nở có màu nâu, sau đó nâu đen, lớn dần trên lưng xuất hiện nhiều vết loang trắng giữa các màng màu đen và những chấm vàng, ổ chân lông nổi rất rõ, thân thô mập Theo Nguyễn Đức Khiêm (2006) cho rằng, sâu non có 5 tuổi, đẫy sức dài 12 - 15mm, màu nâu đỏ Ngực giữa, sau và các đốt bụng 1 - 8 có 4 gai nhánh Sâu màu đen, có gai ngắn trên thân mình, giữa lưng có các đốm nhỏ màu trắng rất đặc biệt Sâu có 5 tuổi, phát triển từ 15 – 19 ngày (Nguyễn Văn Huỳnh và Lê Thị Sen, 2011)
Theo Roqaya and Mehmmady (2000), ấu trùng E vittella mới nở sẽ di chuyển
vài giờ trước khi đục vào vỏ quả Ấu trùng hoạt động rất khó phát hiện trên bề mặt
vỏ đậu bắp Khi ấu trùng tuổi cuối phát triển đạt kích thước tối đa chúng bắt đầu nhả tơ làm kén để hóa nhộng (kết thúc giai đoạn ấu trùng) Thời gian dài nhất của giai đoạn ấu trùng từ 15 - 26 ngày ở 23,20C và thấp nhất là 8 - 15 ngày ở 31,20C Kết quả cho thấy độ ẩm tương đối không có ảnh hưởng đáng kể đến thời gian ấu trùng Tổng thời gian ấu trùng từ 8 - 26 ngày
Giai đoạn nhộng
Theo Viện Bảo Vệ Thực Vật (2003) và Nguyễn Đức Khiêm (2006) cho rằng,
nhộng của loài E vittella có dạng ngắn thô, màu nâu vàng, dài 7,5 - 9,5 mm Nhộng được bọc trong kén dày màu xám tro Theo Nguyễn Văn Đĩnh và ctv (2012) cho
biết, nhộng được bao bọc trong kén màu trắng xám
Theo Roqaya and Mehmmady (2000) cho rằng, vào cuối giai đoạn phát triển
ấu trùng E vittella sẽ rời khỏi quả và tìm một nơi thuận lợi để hóa nhộng Chúng
hóa nhộng tại các vị trí khác nhau bên ngoài vỏ đậu bắp Nhộng có kén màu trắng
đến màu nâu nhạt Sau khi làm kén, sâu vẫn còn hình dạng của ấu trùng cho đến 1
hoặc 2 ngày sau mới hoàn toàn chuyển sang hình dạng nhộng Thời gian của giai
Trang 19đoạn nhộng thay đổi theo mùa và kết hợp với nhiệt độ Nhiệt độ ở mức thấp 23,2 - 24,50C giai đoạn nhộng từ 6 - 14 ngày, trung bình 9,83 ngày Ở 27,5 - 31,30C thì giai đoạn này kéo dài 5 - 12 ngày, trung bình 7,64 ngày và 5 - 10 ngày, trung bình 6,66 ngày ở 32,60C
Giai đoạn thành trùng
Theo Nitin Thodsare et al (2013) cho biết, loài E vittella thuộc họ ngài đêm,
chiều rộng sải cánh dài 25 mm và có băng hẹp, màu xanh sáng chạy dọc ở giữa cánh trước Theo Viện Bảo Vệ Thực Vật (2003) và Nguyễn Đức Khiêm (2006) cho rằng, trưởng thành dài 9 - 13 mm, sải cánh rộng 20 - 26 mm Giữa mặt lưng ngực trước có một vệt màu trắng Từ gốc cánh đến mép ngoài cánh trước có một vệt màu
xanh lá cây hình tam giác Cánh sau màu trắng bạc Theo Nguyễn Văn Đĩnh và ctv (2012) cánh trước có màu trắng ngà, ở giữa có vạch màu xanh lục hình rẻ quạt dài
10 - 13 mm, sải cánh rộng 20 - 24 mm Theo Nguyễn Văn Huỳnh và Lê Thị Sen
(2011) cho rằng thành trùng là loài bướm nhỏ, dài từ 10 - 12 mm Giữa ngực có một chùm lông màu vàng nâu Cánh trước màu vàng nhạt, có một sọc to chạy từ chân cánh ra đến đầu cánh hình tam giác, màu xanh lá cây Cuối cánh sau có rìa lông màu nâu Thời gian sống của bướm từ 7 - 10 ngày
Theo Roqaya and Mehmmady (2000) nhận định, số lượng bướm xuất hiện từ nhộng vũ hóa qua các tháng thì khác nhau trong một năm Có thể thấy rằng số lượng bướm đực nhiều hơn bướm cái trong tháng 8, ngược lại bướm cái nhiều hơn bướm đực trong tháng 9, tháng 3 và tháng 7 nhưng số lượng này bằng nhau trong tháng 5 Tuổi thọ của thành trùng đực và cái tương quan với nhiệt độ Thành trùng sống lâu nhất khoảng 23,77 và 22,54 ngày trong tháng 1 và tháng 3 và ngắn nhất là 12,42 và 14 ngày trong tháng 8 Sự phụ thuộc của thời gian thành trùng vào nhiệt độ
là yếu tố quan trọng Vì nó cho thấy rằng, bướm cái nuôi ở điều kiện nhiệt độ 24,50C sẽ sống lâu hơn và có thời gian sinh sản dài hơn những bướm cái được nuôi
ở nhiệt độ cao (32,60C)
Thành trùng cái chưa bắt cặp sống lâu hơn những thành trùng cái đã bắt cặp Trong điều kiện 24,50C và ẩm độ 59%, tuổi thọ trung bình của thành trùng cái đã bắt cặp là 18,13 ngày (dao động từ 5 - 28 ngày), trong khi những thành trùng cái
chưa bắt cặp sống trong khoảng 22,27 ngày (dao động từ 15 - 29 ngày) Loài E vittella phát triển 12 thế hệ trong một năm (Roqaya and Mehmmady, 2000)
Theo Sharma et al (1985) phát hiện ra rằng, thời tiết khô và lạnh sẽ làm thời gian sinh trưởng của ấu trùng tăng lên dẫn đến kéo dài thời gian của một thế hệ E vittella Ngược lại, thời tiết ẩm ướt và ấm áp thuận lợi cho sự tăng trưởng và phát
triển của côn trùng này Vì thế nó hoàn thành một thế hệ trong thời gian ngắn hơn
Có thể kết luận rằng nhiệt độ tỷ lệ nghịch với thời gian phát triển của loài E vittella
1.2.6 Đặc điểm sinh học
Theo Nguyễn Đức Khiêm (2006), nhộng thường vũ hóa vào ban đêm 8 - 12 giờ, sau đó 5 - 6 giờ mới tiến hành giao phối Khi giao phối từng cặp bướm nằm im trên ngọn cây bông vải, giao phối xong thì bướm ẩn nấp ở mặt dưới lá, sau vài ngày bắt đầu đẻ trứng Trứng được đẻ rải rác hay thành cụm 2 - 5 trứng, mỗi con cái có thể đẻ từ 67 - 457 trứng
Trang 20Theo Nguyễn Văn Đĩnh và ctv (2012) cho rằng, thời gian phát dục của trứng
kéo dài 3 - 4 ngày Sâu non trãi qua 5 tuổi Giai đoạn sâu non kéo dài 10 - 14 ngày Đẫy sức, sâu đục ra khỏi bộ phận gây hại và tạo kén để hóa nhộng Nhộng thường được tìm thấy bên trong lá bắc, tai đài, bên nách cành ở dưới gốc bông Giai đoạn nhộng kéo dài 6 - 9 ngày
1.2.7 Đặc điểm sinh thái học
Theo Vijayalakshmi and Sridhar (2000) cho biết, loài E vittella thường tấn công cây bông được 5 - 6 tuần Theo Nguyễn Văn Đĩnh và ctv (2012) nhận định,
sâu loang vệt xanh xuất hiện trên cây bông vải ngay từ giai đoạn cây con và gây hại trong suốt cả vụ nhưng thường phát triển mạnh ở giai đoạn đầu và giữa vụ bông Trước những năm 1990, loài sâu này xuất hiện khá thường xuyên và gây hại cho cây bông ở giai đoạn trước 50 ngày tuổi Từ năm 1993 đến nay, sâu loang rất hiếm khi xuất hiện trên cây bông Mặc dù, đối tượng này có thể bắt gặp khá phổ biến trên cây đậu bắp
Theo Nguyễn Đức Khiêm (2006) cho biết, bướm thường đẻ trứng vào các phần non của cây như phần ngọn, búp đầu cành, tai nụ, quả non đặc biệt là thích
đẻ trứng vào các bộ phận cây có nhiều lông Những cây bông vải xanh tốt, rậm rạp thường hấp dẫn bướm đến đẻ trứng nên bị hại nặng Trưởng thành có xu tính ánh sáng yếu
Sâu non khi mới nở đục phần mềm của lá búp thứ nhất ăn biểu bì làm lá ngọn héo, cành héo, khi cây bông vải có nụ thì làm nụ héo, rụng nụ, rụng đài Sâu non từ tuổi 1 - 3 hoạt động mạnh, di chuyển nhiều nhất, gây tác hại nghiêm trọng Từ tuổi
3 trở đi sâu đục quả non, ăn xơ và hạt làm cho quả bông chín sớm, kém phẩm chất sâu ăn hết quả này chuyển sang ăn quả khác Sâu có thể gây hại 1 - 2 quả Khi đẫy sức sâu bò ra khỏi bộ phận bị hại kéo kén hóa nhộng Nhộng có thể làm tại bao lá,
nụ, có khi ở lá khô, vỏ quả, đôi khi hóa nhộng ngay trên mặt đất (Nguyễn Đức Khiêm, 2006)
Theo Tripathi and Singh (1990), mật số thành trùng cao làm giảm khả năng sinh sản của bướm nhưng mật số trứng lại không ảnh hưởng đến tỷ lệ trứng nở Bên
cạnh đó, mật độ cũng ảnh hưởng đến sự tồn tại của ấu trùng E vittella Nếu mật số
ấu trùng càng cao thì tỷ lệ sống sót, trọng lượng ấu trùng và nhộng càng giảm
Vòng đời của sâu loang từ 25 - 60 ngày Nhiệt độ thích hợp cho sâu phát triển
18 - 260C Trong năm có 11 - 12 thế hệ, 6 thế hệ hại bông vải vụ Đông Xuân (Nguyễn Đức Khiêm, 2006)
1.2.8 Biện pháp phòng trị
Biện pháp canh tác
Cày sâu để lộ nhộng dưới đất Tránh sử dụng phân đạm vào giai đoạn sinh sản
Sử dụng giống kháng Nhổ và đốt bỏ cây khi mật số ấu trùng đạt đến đỉnh cao và phá hại nghiêm trọng Không kéo dài thời gian cây trồng Thu gom và tiêu hủy các
dư thừa thực vật trước khi gieo trồng Thu và tiêu huỷ quả bị nhiễm sâu bệnh (http://jnkvv.nic.in/IPM%20Project/insect-cotton.html)
Trang 21Vệ sinh đồng ruộng, tiêu diệt cây ký chủ, trồng luân và xen canh bông vải
(không xen canh bông vải với cây đậu bắp) (Nguyễn Văn Đĩnh và ctv., 2012) Theo Jai Singh et al (2013) cho rằng, trồng những giống bông với mật độ
lông thấp, lá bắc nhỏ sẽ hiệu quả trong việc làm giảm số lượng trứng và ấu trùng
của loài E vittella.
bánh neem ở mức 1, 3 và 5% kết hợp với endosulfan 0,05% được sử dụng để đánh
giá hiệu quả làm giảm khả năng sinh sản của loài E vittella Dầu neem cho thấy
việc giảm tối đa khả năng sinh sản Sức sinh sản giảm đáng kể với sự gia tăng nồng
độ của dung dịch thuốc
Biện pháp sinh học
Theo Nguyễn Văn Đĩnh và ctv (2012), sâu loang vệt xanh bị một số thiên địch
tấn công như ong mắt đỏ ký sinh trứng, ong kén nhỏ ký sinh sâu non, bọ xít bắt mồi nên có thể sử dụng các loài côn trùng có ích này để khống chế mật số sâu
Phát tán trứng bị ký sinh bởi ong mắt đỏ Trichogramma chilonis, (T brasiliensis và ấu trùng bị ký sinh bởi ong kén Chelonus blackburni, Bracon brevicornis hoặc Apanteles sp 35 đến 70 ngày sau khi trồng cây Bảo tồn và tạo điều kiện cho các hoạt động của nhện ăn thịt Thomisus sp và Neosiana sp trên
ruộng đậu bắp (http://jnkvv.nic.in/IPM%20Project/insect-cotton.html)
Theo Aziza Sharaby et al (2009) nhận định rằng, một số loại dầu như bạc hà
và long não, eugenol và camphene có khả năng xua đuổi cả ấu trùng và thành trùng
E vittella Các loại dầu khác như dâu tây và d-limonene là hấp dẫn đối với cả ấu trùng và thành trùng E vittella Eugenol và dầu bạc hà, mỗi loại với nồng độ 0,01%
gây ra sự suy giảm đáng kể khả năng sinh sản của bướm và giảm tỷ lệ trứng nở Dầu eugenol hiệu quả hơn nhiều so với tinh dầu bạc hà ở mức 1% Sử dụng bột khô
của Allium cepa (hành tây), Curcuma longa (nghệ), Colocasia antiqurum (khoai môn), Ocimum basilicum (húng quế) Dodonaea viscose (loài thực vật thuộc họ Bồ hòn) và Thuja orientalis (thu li) có tác dụng đáng kể trong việc giảm tỷ lệ nở trứng của E vittella Hiệu quả nhất được thể hiện ở bột của D viscose và A cepa, có tác dụng làm giảm nhiều nhất tỷ lệ nở của trứng Chiết xuất ethanol của Iphiona scabra (thực vật có hoa họ cúc) gây ra sự ức chế tối đa tỷ lệ trứng nở, tiếp theo là C longa
(nghệ)
Theo Gajmer et al (2002) cho rằng, bướm không đẻ trứng khi cho ăn với chế
độ ăn có chứa đường sucrose, 10% chiết xuất cây neem và 10% chiết xuất cây xoan
Chiết xuất methanol từ cây neem (Azadirachta indica) và cây xoan (Melia
Trang 22azedarach) có khả năng làm giảm sự đẻ trứng của loài E vittella và giảm tỷ lệ trứng
nở
1.3 MỘT SỐ CÔN TRÙNG GÂY HẠI TRÊN CÂY ĐẬU BẮP
1.3.1 Rầy xanh hai chấm Amrasca devastans Distant
Rầy xanh hai chấm có tên khoa học là Amrasca devastans Distant, Họ Cicadellidae, Bộ Homoptera Loài rầy này được thấy trên cây thầu dầu, thục quỳ, cà gai, khoai tây, kê náp, hướng dương Tại các vùng bông phía Nam, ngoài cây bông,
rầy xanh hai chấm còn tìm thấy trên 8 loài cây trồng và cây dại khác Trong đó, đậu
bắp, ké hoa đào, bịp giấm, cà pháo, cà gai là ký chủ chính của rầy xanh hai chấm (Nguyễn Văn Đĩnh và ctv., 2012)
Thành trùng màu xanh lục hơi ngả vàng, 2 chân sau dài, đốt chày chân sau có
2 hàng gai nhọn Thời gan sống của thành trùng từ 10 - 15 ngày, thành trùng cái đẻ khoảng 200 trứng Trứng màu trắng bóng, hình hạt gạo rất nhỏ, đẻ rải rác trong gân của mặt dưới lá Thời gian ủ trứng từ 5 - 7 ngày Ấu trùng màu xanh lá cây hơi vàng, 2 mắt kép to, 2 chân sau dài Ấu trùng có 5 tuổi phát triển trong thời gian từ 7
- 10 ngày (Lê Thị Sen, 1999)
Theo Lê Thị Sen (1999), ấu trùng và thành trùng đều sống tập trung ở mặt dưới lá để chích hút nhựa làm lá non không phát triển được, gân lá bị cong xuống,
co rúm lại, nhăn nheo, ngả vàng từ bìa lá vào trong và lá rụng sớm do vết đẻ trứng
và vết chích hút của cả ấu trùng lẫn thành trùng Ngoài hiện tượng nêu trên, rầy còn truyền bệnh khảm cho cây Trong mùa nắng, rầy phát triển nhiều và gây hại nhiều nhất, tập trung khi cây ra hoa và có trái non
Áp dụng các loại thuốc trừ rầy thông dụng, nhất là ngừa trước khi rầy truyền bệnh cho cây (Lê Thị Sen, 1999)
1.3.2 Rầy phấn trắng Bemisia tabaci Gennadlus
Rầy phấn trắng có tên khoa học là Bemisia tabaci Gennadlus thuộc Họ
Aleyrodidae, Bộ Homoptera Ở nước ta, rầy phấn trắng hiện diện trên nhiều loại cây
trồng và cây hoang dại Trên cây trồng, chúng gây hại trên nhiều họ khác nhau như:
họ cà (cà chua, thuốc lá, cà bát, khoai tây, ớt ); họ đậu (đậu cô ve, đậu vàng, đậu tương, lạc ); họ bầu bí (dưa leo, bí đao, dưa gang, bí đỏ ); họ bìm bìm (khoai
lang); họ bông (bông vải); cây mơ lông (Lê Thị Sen, 1999)
Trưởng thành dài 0,75 - 1,4 mm, hai đôi cánh trước và sau dài bằng nhau, toàn thân được phủ lớp phấn trắng Dưới lớp phấn trắng, thân có màu vàng nhạt Mắt kép
có một rãnh ngang chia thành hai phần giống hình số 8 Râu đầu có 6 đốt, bụng có 9 đốt (Viện Bảo Vệ Thực Vật, 2003) Trưởng thành cái có thể sống tới 60 ngày, con đực có thể sống từ 9 - 17 ngày (Lê Thị Sen, 1999)
Theo Lê Thị Sen (1999), trứng hình bầu dục, có cuống Mới đẻ màu trong suốt, sau chuyển sang màu sáp ong, rồi màu nâu xám Một con cái có thể đẻ từ 50 -
85 trứng (Viện Bảo Vệ Thực Vật, 2003) Sâu non có cơ thể vàng nhạt Sâu tuổi 1, 2,
3 kéo dài trong khoảng 2 - 4 ngày tùy theo điều kiện nhiệt độ Sâu non tuổi 4 là giai đoạn tiền nhộng, cơ thể dài 0,7 mm Giai đoạn nhộng kéo dài trong khoảng 6 ngày
Trang 23Nhộng giả hình bầu dục, màu sáng, có một số lông thưa sắp xếp 2 bên sườn, phía sau lỗ hậu môn có rãnh mông (Lê Thị Sen, 1999)
Theo Lê Thị Sen (1999) cho rằng, trưởng thành ban ngày đậu ở mặt dưới lá và hoạt động rất linh hoạt Khi trời nắng to hoặc trời mưa, trưởng thành thường nấp dưới những lá gần mặt đất và những nơi rậm rạp Trưởng thành không có khả năng bay xa nhưng nhờ gió to nó có thể phát tán đi rất xa Rầy phấn trắng còn là môi giới truyền bệnh khảm cho cây (Viện Bảo Vệ Thực Vật, 2003) Vòng đời của rầy phấn trắng khoảng 35 - 54 ngày (tùy thuộc vào nhiệt độ, ẩm độ) nhiệt độ thích hợp từ 18 -
330C, độ ẩm từ 90 - 95% (Phạm Thị Nhất, 2001)
Sử dụng bẫy dính màu vàng để diệt trừ rầy phấn trắng khi mật số còn thấp, dùng giống kháng rầy phấn trắng Luân canh với những cây không phải là ký chủ của rầy phấn trắng Diệt sạch cỏ dại xung quanh ruộng Bảo vệ và sử dụng thiên địch tự nhiên của rầy phấn trắng như tại Mỹ sử dụng một số loài ký sinh rầy phấn
trắng như loài ong ký sinh Encarsia luteola, Encarsia formosa và loài nấm ký sinh Verticillium lecanii Có thể sử dụng một số loại thuốc trừ sâu theo nồng độ khuyến
cáo như Bifenthrin, Buprofezin, Imidacloprid, Fenpropathrin, Endosulfan (Lê Thị Sen, 1999)
1.3.3 Rệp sáp Phenacoccus solenopsis
Rệp sáp Phenacoccus solenopsis thuộc Họ Pseudococcidae, Bộ Homoptera
Đây là loài đa ký chủ, gây hại trên 200 loài thực vật thuộc 60 họ Đặc biệt là họ Cúc, Euphorbiaceae, Fabaceae, Malvaceae và Solanaceae Ở Anh, rệp sáp tấn
công trên cả măng tây, ớt, cà chua, cà tím, khoai tây, nho và nhiều loại cây trồng
khác (Nitin Thodsare et al., 2013).
Rệp cái trưởng thành có cơ thể hình bầu dục hơi dài, trên lưng bao phủ nhiều bột sáp trắng Giữa lưng có một vệt sáp dày và dài từ ngực đến cuối bụng, 2 bên vệt sáp là 2 vệt màu đen hay nâu đen Trên lưng đốt ngực, vệt đen bị bột sáp che khuất chỉ còn lại 2 đốm đen Xung quanh cơ thể xuất hiện 18 cặp tua sáp ngắn, các cặp tua cuối bụng dài và to hơn cặp tua hai bên bụng và đầu Trứng có màu vàng hơi nâu và được bao bọc trong túi phía sau và dưới bụng con cái Ấu trùng mới nở có màu vàng hơi nâu hay vàng nhạt (Nguyễn Thị Chắt và Huỳnh Thị Mỹ Chi, 2008)
Loài rệp sáp Phenacoccus solenopsis phát triển nhanh chóng, kết thúc giai
đoạn nhộng, kích thước con cái trưởng thành thường lớn gấp đôi so với ấu trùng tuổi 3 Giai đoạn nhộng của thành trùng đực sẽ lâu hơn so với thành trùng cái (Jun
Huang et al., 2012). Con cái đẻ 300 - 700 trứng Vòng đời con cái được hoàn thành trong 25 - 38 ngày, trong khi con đực là 17 - 24 ngày (Nitin Thodsare et al., 2013)
Con cái sau lần lột xác cuối cùng khoảng 2 - 8 ngày sẽ sinh sản với thời gian trung bình trước khi sinh sản là 5,7 ngày Con cái trưởng thành vào cuối giai đoạn
sinh sản sẽ chết ở ngày hôm sau hoặc sống tối đa 6 ngày (Vennila et al., 2010)
Theo Nitin Thodsare et al (2013) rệp gây hại bằng cách chích hút phần non của
cây Cả ấu trùng và thành trùng hút nhựa từ lá, nụ hoa, cuống lá, cành cây, hoa quả
và thậm chí từ gốc của cây Rệp sáp chích hút nhựa cây làm cho cây suy yếu và khô héo Rệp sáp tiết ra mật ngọt bám trên cây thu hút nấm bồ hóng tới phát triển nơi rệp định cư làm ảnh hưởng đến sự quang hợp của lá
Trang 24Để kiểm soát sự lây lan của rệp sáp, thường xuyên loại bỏ cỏ dại xung quanh ruộng Trong trường hợp rệp sáp phá hại nghiêm trọng có thể sử dụng thuốc
Profenophos, Quinalphos hoặc Thiodicarb để phòng trị (Nitin Thodsare et al.,
2013)
1.3.4 Nhện đỏ Tetranychus cinnabarius Boisduval
Nhện đỏ Tetranychus cinnabarius Boisduval thuộc Họ Tetranychidae, Bộ
Acarina Trên thế giới, chúng phá hại trên 120 loại cây như bông vải, nho, cây cảnh, rau ăn quả, cây gỗ Ở Việt Nam, chúng gây hại nhiều trên bông, sắn, đay, đậu đỗ,
ớt, lạc, hoa hồng, đào, mận (Nguyễn Văn Đĩnh, 2004)
Theo Nguyễn Văn Đĩnh (2004), trưởng thành có màu đỏ son hoặc màu đỏ hơi vàng Trên lưng mỗi bên có một vệt đỏ sẫm Trên lưng có nhiều lông, không có u lông Con đực có cơ thể thon nhỏ, cuối bụng nhọn, cơ thể màu đỏ vàng Đoạn thắt lại của dương cụ có chiều dài bằng chiều rộng, phía ngoài vát chéo, phía trong tù hay hơi tròn
Trứng hình cầu, trơn nhẵn, màu vàng nhạt, khi sắp nở có màu hơi nâu, đẻ rải rác từng quả Nhện non tuổi 1 có màu trắng ngà, hình bầu dục, có 3 đôi chân, trên thân có nhiều lông dài Nhện non tuổi 2 có 4 đôi chân, màu vàng nhạt, có nhiều lông dài Nhện non tuổi 3 rất giống trưởng thành tuy kích thước nhỏ hơn Màu vàng rơm hoặc vàng đậm, bắt đầu xuất hiện 2 đốm hơi nâu hoặc đỏ nhạt trên lưng (Nguyễn Văn Đĩnh, 2004) Theo Viện Bảo Vệ Thực Vật (2003), nhện đẻ rải rác từng trứng ở mặt dưới lá Vòng đời của nhện đỏ từ 8,8 - 9,8 ngày Một năm có thể từ 20 - 25 thế
hệ
Nhện non và trưởng thành sống ở mặt dưới lá, cạnh gân chính lá bánh tẻ và lá già, tạo nên các màng tơ chằng chịt Nhện dùng kim chích vào mô lá tạo nên các vết chích nhỏ li ti không có hình dạng nhất định Vết chích ban đầu có màu trắng nhạt sau đó chuyển sang màu trắng vàng Khi mật độ nhện cao, các vết hại liên kết vào nhau tạo thành mảng trắng vàng, nếu gặp trời mưa hoặc gió mạnh chỗ gây hại bị thủng, sau một thời gian lá bị rụng Khi mật độ cao nhện gây hại trên cả lá non và ngọn cây, tạo nên lớp tơ dày bao kín toàn bộ lá và ngọn Cây bị hại còi cọc, không
ra hoa, đậu trái được Chúng thường gây hại nặng khi thời tiết nóng và khô hạn (Viện Bảo Vệ Thực Vật, 2003)
Sử dụng các loại thuốc trừ nhện có tính chọn lọc cao, phân hủy nhanh, ít độc với môi trường Ngưỡng phòng trừ là 4 - 6 nhện/lá Một số loại thuốc có tác dụng trừ nhện đỏ là Vertimec 1,8EC, Comite 73EC, Nissorun 5SC, Danitol 50EC, Pegasus 500SC Phun thuốc theo nồng độ khuyến cáo phải ướt đều hai mặt lá Lợi dụng nhện bắt mồi hiện diện cùng với quần thể nhện hại để hạn chế số lượng nhện
đỏ (Viện Bảo Vệ Thực Vật, 2003)
1.3.5 Rầy mềm Aphis gossypii Glover
Rầy mềm Aphis gossypii Glover thuộc Họ Aphididae, Bộ Homoptera Đây là
loài có phân bố rộng và đa kí chủ, tấn công nhiều loại rau màu như cà chua, thuốc
lá, bầu bí dưa, ớt (Nguyễn Văn Huỳnh và Lê Thị Sen, 2011)
Theo Nguyễn Văn Huỳnh và Lê Thị Sen (2011) thành trùng có hai dạng:
Trang 25- Dạng không cánh: Cơ thể dài từ 1,5 - 1,9 mm và rộng từ 0,6 - 0,8 mm Toàn thân màu xanh đen, xanh thẫm và có phủ sáp; một ít cá thể có dạng màu vàng xanh
- Dạng có cánh: cơ thể dài từ 1,2 - 1,8 mm, rộng từ 0,4 - 0,7 mm Đầu và ngực màu nâu đen, bụng màu vàng nhạt, xanh nhạt, có khi xanh đậm, phiến lưng ngực trước màu đen, mắt kép to, ống bụng đen
Theo Viện Bảo Vệ Thực Vật (2003) cho rằng, rầy mềm A gossypii sinh sản đơn tính, đẻ con Ấu trùng có 4 tuổi Mỗi tuổi của A gossypii kéo dài chỉ 1 - 2 ngày Vòng đời của rầy mềm A gossypii nuôi ở nhiệt độ 20 - 29,3oC, ẩm độ 79,4 - 84% là
5 - 7,5 ngày Một rệp cái không cánh đẻ từ 8,9 - 54 rệp con
Rầy không cánh chích hút nhựa cây làm cho lá cong queo, biến dạng, cây chùn lại, còi cọc Cây bị hại nặng có thể bị héo khô Ở giai đoạn ra hoa, kết trái nếu mật
độ rầy mềm cao sẽ dẫn đến hiện tượng rụng hoa, trái Dịch mật do rầy tiết ra tạo điều kiện cho nấm phát sinh gây bệnh muội đen che kín khí khổng của lá làm giảm hiệu suất quang hợp (Viện Bảo Vệ Thực Vật, 2003)
Theo Nguyễn Văn Đĩnh và ctv (2012), biện pháp canh tác có hiệu quả trong
việc phòng trị rầy mềm Trong điều kiện gieo trồng trong mùa khô, phủ mặt luống bằng màng phủ trắng hoặc màng phủ đen ánh bạc có hiệu quả rõ rệt giảm mật độ rầy Bón phân cân đối, tránh bón thừa đạm, tiêu hủy thân cây sau khi thu hoạch không những làm giảm áp lực rệp mà còn tránh được thiệt hại do bệnh khảm gây ra cho cây
Biện pháp hóa học: một số loại thuốc hóa học được khuyến cáo phòng trừ rầy trong những trường hợp cần thiết là: Thiamethoxam, Imidacloprid, Acetamiprid,
Diafenthiuron (Nguyễn Văn Đĩnh và ctv., 2012)
1.3.6 Bọ xít đỏ Dysdercus cingulatuc Fabricius
Bọ xít đỏ Dysdercus cingulatuc thuộc Họ Pyrrhocoridae, Bộ Hemiptera là loài gây hại phổ biến trên bông, đậu bắp, thục quỳ, dâm bụt (Sahayaraj et al., 2012)
Loài này thường xuất hiện ở Châu Phi, Ấn Độ, châu Úc và châu Mỹ trên cây thuộc
họ Malvaceae, Bombaceae, Sterculiaceae (Nguyễn Văn Huỳnh và Lê Thị Sen, 2011)
Theo Nguyễn Văn Huỳnh và Lê Thị Sen (2011), thành trùng có chiều dài cơ thể từ 17 - 20 mm, chân và râu rất dài, màu đỏ tươi, cánh trước có một đốm đen to
và 1 đốm hình bầu dục giữa cánh cũng màu đen Bụng có nhiều sọc trắng ngang trên các đốt Thời gian sống của thành trùng đực từ 7 - 15 ngày, thành trùng cái từ 7
- 30 ngày và một thành trùng cái đẻ khoảng 100 trứng ở trên mặt đất ngay phía dưới cây kí chủ
Trứng hình bầu dục, màu vàng Thời gian ủ trứng khoảng 6 ngày Ẩm độ rất cần thiết cho trứng phát triển Ấu trùng có 5 tuổi, phát triển trong thời gian từ 25 -
27 ngày Ấu trùng tuổi 1 không ăn và thường tập trung quanh ổ trứng Từ tuổi 2 trở
đi ấu trùng mới phân tán đi tìm trái và hạt để chích hút (Nguyễn Văn Huỳnh và Lê Thị Sen, 2011)
Bọ xít tấn công trên trái từ khi còn non đến chín Nếu cây chưa có trái, bọ xít tập trung chích hút trên các phần non của cây (Nguyễn Văn Huỳnh và Lê Thị Sen,
Trang 262011) Cả ấu trùng và thành trùng chích hút nhựa cây, cây trồng trở nên yếu ớt và
còi cọc, lá và trái có thể cuộn tròn (Nitin Thodsare et al., 2013)
Vệ sinh đồng ruộng Các loài thuốc trừ sâu thông dụng để trị các loài sâu khác trên cây đậu bắp như: oxydemeton methyl, dimethoate đều có hiệu quả đối với loài
bọ xít này (Nitin Thodsare et al., 2013)
1.3.7 Sâu đo xanh ăn lá Anomis flava Fab
Theo Nguyễn Đức Khiêm (2006) sâu đo xanh ăn lá có tên khoa học là Anomis
flava Fab., Họ Noctuidae, Bộ Lepidoptera Ngoài đậu bắp, sâu đo xanh còn gây hại
trên nhiều loài cây trồng khác như: đay, bông, cây họ đậu, bắp, cà chua
Theo Nguyễn Đức Khiêm (2006) nhận định, ngài sâu đo xanh có cơ thể dài 13
- 14 mm, sải cánh rộng 26 - 32 mm Râu đầu của ngài cái hình sợi chỉ, ngài đực hình răng lược Cánh trước màu vàng nâu, nửa cánh về phía gốc cánh màu vàng, nửa cánh phía ngoài màu nâu, vân gần mép ngoài màu tro tím hình răng cưa Giữa cánh có 1 điểm trắng Trứng có hình bánh bao, đường kính 0,6 mm màu xanh trong Sâu non đẫy sức dài 35 mm, màu xanh tro hoặc xanh vàng, trên lưng có nhiều điểm đen nhỏ, tuyến dưới lỗ thở màu trắng Không có đôi chân bụng thứ nhất, đôi chân bụng thứ hai kém phát triển
Theo Nguyễn Đức Khiêm (2006), mỗi bướm cái có thể đẻ 80 - 450 trứng Ngài có xu tính mạnh với ánh sáng đèn, thích dịch cam chua ngọt, hoạt động về ban đêm, ban ngày ẩn nấp dưới lá cây hoặc bụi cỏ Sâu non nở ra nhả tơ nhờ gió phân tán đi các nơi Sâu non tuổi nhỏ gặm thịt lá để lại biểu bì, tuổi lớn ăn cả lá chỉ chừa lại gân lá, có khi ăn cả nụ và quả non Chúng ăn nhiều về ban đêm, thời gian phát dục của sâu non 16 - 20 ngày Sâu non đẫy sức hóa nhộng dưới đất hay trên tầng lá rụng, có khi hóa nhộng ngay trên cây, thời gian phát dục của nhộng 6 - 7 ngày Vòng đời của sâu đo 24 - 32 ngày
Vệ sinh đồng ruộng sau khi thu hoạch bông, thu gom lá rụng dưới gốc bông để diệt nhộng Diệt sâu non trên các cây ký chủ khác Dùng bẫy đèn và bẫy bả chua ngọt để bắt trưởng thành Khua động cho sâu rơi xuống đất rồi lùa vịt vào cho ăn Phun thuốc hóa học khi sâu phát triển nhiều (Nguyễn Đức Khiêm, 2006)
1.3.8 Sâu cuốn lá Sylepta derogate Fab
Sâu cuốn lá Sylepta derogate Fab., Họ Pyralidae, Bộ Lepidoptera Trên phạm
vi toàn thế giới, người ta đã tìm được nhiều loài thuộc 10 họ thực vật là ký chủ của sâu cuốn lá Trong đó, bông, đậu bắp, dâm bụt là ký chủ chính của sâu cuốn lá
(Nguyễn Văn Đĩnh và ctv., 2012)
Trưởng thành là loài bướm nhỏ, cánh trước màu nâu nhạt, có những đốm màu nâu thẩm và có một chuỗi các đường lượn sóng màu nâu sẫm trên cánh Cánh sau
màu trắng trong (Nitin Thodsare et al., 2013)
Trứng hình tròn dẹt, màu trắng trong, thường được đẻ ở mặt dưới lá của các cành bánh tẻ Sâu non có màu trắng trong đến trắng vàng, trắng xanh, có thể nhìn thấy rõ bên trong cơ thể, đầu màu đen Sâu non mới nở gặm một ít lá và bắt đầu cuộn lá lại rồi nằm bên trong tổ lá để ăn và làm nhộng trong tổ lá Nhộng có màu vàng nâu đến màu cánh gián Vòng đời kéo dài từ 26 - 33 ngày Sau khi vũ hóa 2 - 3
Trang 27ngày, trưởng thành bắt đầu đẻ trứng Trưởng thành đẻ khoảng 300 - 800 trứng trong
thời gian từ 7 - 10 ngày (Nguyễn Văn Đĩnh và ctv., 2012)
Theo Nguyễn Văn Đĩnh và ctv (2012) cho rằng, trưởng thành đẻ trứng rải rác
ở mặt dưới các lá bánh tẻ Sâu non ăn và gây hại tầng lá từ 1/3 cây trở xuống, ít khi gây hại ở lá tầng ngọn Sâu non nhả tơ cuốn lá làm thành tổ rồi ăn bên trong Sâu ăn hết cả phần thịt và gân lá Sâu tuổi nhỏ, có thể sống nhiều sâu trong cùng một tổ nhưng từ tuổi 3 trở đi, chúng phân tán và mỗi tổ chỉ có một sâu Sâu cuốn lá thường xuất hiện muộn từ khi cây có hoa trở đi Mật độ sâu trong vụ mùa mưa thường cao hơn hẳn so với trong vụ mùa khô
Tưới tiêu ruộng bông hợp lý, cắt cành và tỉa lá để ruộng bông thông thoáng
Sử dụng phân bón cân đối, tránh bón thừa đạm Sử dụng các giống bông chuyển gen
Bt làm giảm đáng kể số lượng sâu cuốn lá trên đồng Hạn chế phun thuốc hóa học đầu vụ để bảo tồn thiên địch tự nhiên, giúp kìm hảm sự bùng phát của sâu cuốn lá Trong trường hợp sâu cuốn lá hại nặng có thể sử dụng một số loại thuốc sau đây để
phun: Spinosad, Indoxacard (Nguyễn Văn Đĩnh và ctv., 2012)
1.3.9 Sâu ăn tạp Spodoptera litura Fabricius
Sâu ăn tạp Spodoptera litura Fabricius thuộc Họ Noctuidae, Bộ Lepidoptera
Trên thế giới sâu phân bố rất rộng vì phổ ký chủ rộng Sâu có thể gây hại khoảng
200 loài cây Sâu gây hại nhiều trên rau, cải, bắp, đậu, khoai… (Nguyễn Văn Huỳnh
và Lê Thị Sen, 2011)
Theo Nguyễn Văn Huỳnh và Lê Thị Sen (2011), bướm có cánh trước màu nâu vàng Phần giữa từ cạnh trước cánh tới cạnh sau cánh có 1 vân ngang rộng, màu trắng Trong đường vân trắng này có 2 đường vân màu nâu Cánh sau màu trắng óng ánh Bướm có đời sống trung bình từ 1 - 2 tuần tùy điều kiện thức ăn Trung bình một bướm cái có thể đẻ 300 trứng, trong điều kiện thích hợp bướm có thể đẻ từ
900 - 2000 trứng
Trứng hình bán cầu, bề mặt trứng có những đường khía dọc từ đỉnh trứng xuống đến đáy và bị cắt ngang bởi những đường khía ngang tạo thành những ô nhỏ Trứng mới đẻ có màu trắng vàng, sau chuyển thành màu vàng tro, lúc sắp nở có màu tro đậm Ổ trứng có phủ lông từ bụng bướm mẹ Thời gian ủ trứng tù 4 - 7 ngày (Nguyễn Văn Huỳnh và Lê Thị Sen, 2011)
Sâu tuổi nhỏ có màu xanh lục, càng lớn sâu chuyển dần thành màu nâu đậm Toàn thân màu xanh ở tuổi nhỏ và màu nâu ở tuổi lớn với một sọc màu vàng sáng ở hai bên hông chạy từ đốt thứ nhất của bụng đến đốt cuối Dọc theo đường ấy có những điểm hình bán nguyệt Nhộng dài từ 18 - 20 mm, màu nâu hoặc màu nâu tối Cuối bụng có một đôi gai ngắn Thời gian nhộng từ 7 - 10 ngày (Nguyễn Văn Huỳnh và Lê Thị Sen, 2011)
Bướm hoạt động từ tối đến nửa đêm Sau khi vũ hóa vài giờ bướm có thể bắt cặp và một ngày sau đẻ trứng Trứng được đẻ thành từng ổ có phủ lông màu vàng Sâu vừa nở ăn gặm vỏ trứng và sống tập trung, nếu bị khua động nhẹ sâu có thể bò phân tán ra xung quanh hoặc nhả tơ buông mình xuống đất, ở giai đoạn này sâu chỉ gặm mặt dưới lá, chừa biểu bì trên và gân Sang tuổi 2 sâu bắt đầu phân tán và ăn gặm lá nhiều hơn Ban ngày sâu thường ẩn ở những nơi tối hoặc chui xuống đất nứt,
Trang 28ban đêm sâu chui lên cây, trong những ngày trời râm mát hoặc mưa nhẹ thì ban ngày sâu có thể bò hoạt động trên cây Ở tuổi lớn sâu có tập quán ăn thịt lẫn nhau và không những ăn phá lá cây mà còn ăn trụi cả thân, cành và trái non Khi sắp làm nhộng sâu chui xuống đất làm thành một khoang và nằm yên trong đó hóa nhộng (Nguyễn Văn Huỳnh và Lê Thị Sen, 2011)
Theo Nguyễn Văn Huỳnh và Lê Thị Sen (2011), vì loài sâu này kháng thuốc rất nhiều nên áp dụng các biện pháp ngăn ngừa sâu trước khi sâu phát sinh thành dịch như sau:
- Trồng đậu vụ sau nên cuốc xới đất hoặc trộn đất với các loại thuốc trừ sâu hay cho ruộng ngập nước từ 2 - 3 ngày để diệt nhộng
- Thường xuyên thăm ruộng đậu để ngắt bỏ ổ trứng hoặc diệt sâu khi mới nở, chưa phân tán đi xa Nếu sâu đã phát sinh nhiều thì ban đêm có thể soi đèn
Theo Nguyễn Mạnh Chinh và Phạm Anh Cường (2007), bọ trĩ còn gọi là bù
lạch Trưởng thành rất nhỏ, dài 1 mm, mình thon mảnh, đuôi nhọn, màu nâu đỏ
sẫm Ấu trùng không cánh, màu trắng xanh
Trưởng thành và ấu trùng sống ở mặt dưới lá, xung quanh gân chính Bọ trĩ hút nhựa làm lá có những đốm biến màu, lá vàng khô Bọ trĩ cũng làm hoa bị khô và
rụng, quả nhỏ và biến dạng, sần sùi Vòng đời 15 - 18 ngày (Nguyễn Mạnh Chinh
và Phạm Anh Cường, 2007)
Phòng trừ bằng tưới nước đều đặn, không để ruộng bị khô hạn Khi bọ trĩ phát triển mạnh phun các thuốc trừ sâu như Admire, Karate, Polytrin, Sherzol…
1.4 MỘT SỐ LOÀI THIÊN ĐỊCH TRÊN CÂY ĐẬU BẮP
1.4.1 Nhện Lycosa Lycosa pseudoannulata
Nhện Lycosa có tên khoa học là Lycosa pseudoannulata, thuộc Họ Lycosidae,
Bộ Araneae Nhện Lycosa có vạch hình nĩa trên lưng và bụng có những điểm trắng Đây là loài nhện phổ biến nhất trên cây trồng và khi bị động chúng bò rất nhanh trên mặt nước Con cái sống 3 - 4 tháng và đẻ 200 - 400 trứng Chúng không kéo màng mà tấn công con mồi trực tiếp Nhện trưởng thành ăn rất nhiều loại côn trùng
có hại, kể cả bướm sâu đục thân Nhện đực cũng tấn công ấu trùng rầy nâu Mỗi ngày chúng ăn 5 - 15 con mồi Con đực có thân mình và súc biện to (Shepard và
ctv., 1989)
1.4.2 Nhện chân dài Tetragnatha maxillosa
Nhện chân dài có tên khoa học là Tetragnatha maxillosa, thuộc Họ Tetragnathidae, Bộ Araneae Nhện chân dài có thân và chân dài thường nằm trên lá
lúa Con đực có hàm to, loài này sống 1 - 3 tháng và đẻ 100 - 200 trứng Trứng được đẻ thành đám ở nửa phía trên cây lúa và được phủ một màng mỏng giống như
Trang 29bông Nhện chân dài thích ở vùng ẩm, chúng ẩn ở thân cây lúa lúc giữa trưa và rình mồi ở lưới vào buổi sáng Nhện chân dài chăng lưới loại hình tròn nhưng rất yếu Khi rầy nâu, ruồi hoặc bướm đụng vào lưới, lập tức nhện cuốn ngay con mồi Mỗi
ngày nhện có thể ăn 2 - 3 con mồi (Shepard và ctv., 1989)
1.4.3 Nhện nhảy Phidippus sp
Nhện nhảy có tên khoa học là Phidippus sp thuộc Họ Salticidae, Bộ Araneae
Nhện nhảy có mắt lồi, khi bị động chúng di chuyển không nhanh, thân nhện nhảy có lông nâu Các trứng được đẻ trong mặt ổ trứng hình thon dài, phủ tơ mịn Con cái sống 2 - 4 tháng và đẻ từ 60 - 90 trứng Nhện nhảy thích sống ở vùng đất khô và ở trên lá lúa Chúng thường ẩn trong màng, làm cho lá lúa bị cuốn lại để chúng nằm
và chờ mồi (rầy nâu, rầy xanh và các côn trùng nhỏ) (Shepard và ctv., 1989)
1.4.4 Nhện linh miêu Oxyopes javanus
Nhện linh miêu có tên khoa học là Oxyopes javanus, thuộc Họ Oxyopidae,
Bộ Araneae Đây là loài nhện săn mồi, không làm màng Con cái, ở bụng có 4 vạch trắng chéo, mỗi bên 2 vạch Con đực có súc biện to, có 2 vạch nâu đỏ và 2 vạch trắng dọc bụng Loài nhện này sống trong tán lá lúa, thích sống ở ruộng khô và sinh sống trên ruộng lúa sau khi ruộng phát triển tán lá lúa và đã có độ che phủ cao Thức ăn của loài nhện này chủ yếu là các loài bướm Chúng đóng vai trò khá quan
trọng, mỗi ngày nhện linh miêu có thể ăn 2 - 3 con mồi (Shepard và ctv., 1989)
tháng và ăn rầy non, cả rầy nâu lẫn rầy xanh (Shepard và ctv., 1989)
1.4.6 Bọ rùa đỏ Micraspis sp
Bọ rùa đỏ có tên khoa học là Micraspis sp thuộc Họ Coccinellidae, Bộ
Coleoptera Cơ thể hình oval, màu đỏ đậm hoặc nhạt, kích thước nhỏ và nhẵn bóng Mặt lưng có màu nâu da cam Trán có khi có một điểm đen Trên tấm lưng ngực trước có 2 mãng đen giáp đáy (có khi nối liền nhau) và hai chấm đen tròn giữa, có trường hợp hai chấm đen này tiêu biến Bọ rùa hoạt động vào ban ngày trên ngọn cây lúa ở môi trường đất ẩm, cũng như đất ướt Trên lúa loài này cũng được ghi
nhận tấn công trên ấu trùng và thành trùng rầy nâu (Nilaparvata lugens) (Nguyễn
Thị Thu Cúc, 2010)
Trang 30CHƯƠNG 2 PHƯƠNG TIỆN VÀ PHƯƠNG PHÁP
2.1 PHƯƠNG TIỆN
2.1.1 Thời gian và địa điểm
Đề tài được thực hiện từ tháng 2/2013 đến tháng 10/2013, tại phòng thí nghiệm phòng trừ sinh học, Bộ môn Bảo Vệ Thực Vật, Khoa Nông nghiệp và Sinh học ứng dụng, trường Đại học Cần Thơ và những ruộng đậu bắp tại huyện Châu Thành, Hậu Giang
Nước đường làm thức ăn cho thành trùng
Kính lúp cầm tay, kính để bàn để quan sát sự lột xác, đo kích thước thân, vỏ đầu, cân điện tử, máy chụp hình.
Cồn 70% để khử trùng nơi thí nghiệm và cọ để quét trứng
Kéo, giấy thấm, bông gòn, nước cất, cọ lông, vợt bắt côn trùng… và các vật dụng cần thiết khác
2.2 PHƯƠNG PHÁP
2.2.1 Khảo sát đặc điểm hình thái và sinh học của sâu đục trái đậu bắp Earias
vittella Fabricius trong điều kiện phòng thí nghiệm
Khảo sát vòng đời sâu đục trái E vittella
Tiến hành thu ấu trùng sâu đục trái đậu bắp E vittella từ các ruộng trồng đậu
bắp thuộc khu vực Nam Cần Thơ, tỉnh Hậu Giang về nuôi nhân mật số Việc nhân nuôi nguồn sâu được thực hiện tại phòng thí nghiệm phòng trừ sinh học, Bộ môn Bảo Vệ Thực Vật theo quy trình sau:
Bước 1: Ấu trùng sâu đục trái sau khi mang về phòng thí nghiệm được bố trí vào hộp nhựa nuôi sâu, mỗi hộp chứa khoảng 10 ấu trùng Thức ăn được thay mới mỗi ngày một lần là các trái đậu bắp còn non được thu thập ở ngoài đồng mang về rửa sạch cho sâu ăn
Bước 2: Các ấu trùng nuôi đến khi hóa nhộng, tách riêng nhộng ra từng hộp nhựa nhỏ riêng biệt, mỗi hộp 1 nhộng
Trang 31Bước 3: Khi nhộng vũ hóa, tiến hành chọn thành trùng đực và cái cho bắt cặp trong bọc nylon có bổ sung nước đường, bông gòn ẩm và lá đậu bắp tươi (hoa, trái) để bướm đẻ trứng
Bước 4: Khi thành trùng cái đẻ trứng, dùng cọ lông mềm quét trứng và chuyển vào những hộp nhỏ có kích thước 3,5 x 4 cm (mỗi hộp 1 cá thể) có để sẵn trái đậu bắp non để làm thức ăn cho sâu non mới nở và bông gòn thấm nước để tạo độ ẩm
Hình 2.1: Nuôi sâu trong phòng thí nghiệm
Tiến hành theo dõi, quan sát từ lúc bướm đẻ trứng đến khi trứng nở, các giai đoạn ấu trùng, nhộng và thành trùng Mỗi lần ghi nhận cách nhau 24 giờ, tiến hành
Giai đoạn ấu trùng
Mỗi ấu trùng được nuôi riêng trong hộp nhựa có kích thước 3,5 x 4 cm Hằng ngày, thay mới thức ăn cho ấu trùng, theo dõi và ghi nhận các chỉ tiêu sau:
Số tuổi của ấu trùng
Thời gian của mỗi tuổi sâu (dựa vào vỏ đầu của ấu trùng lột xác)
Kích thước của ấu trùng ở mỗi tuổi
Hình dạng và màu sắc của ấu trùng
Trang 32Giai đoạn nhộng
Sau khi ấu trùng hóa nhộng, nhộng cũng được chuyển vào trong hộp nhựa có kích thước 3,5 x 4 cm nhưng không cung cấp thức ăn trong hộp Ghi nhận các chỉ tiêu:
Thời gian nhộng
Kích thước nhộng
Đặc điểm và màu sắc nhộng
Giai đoạn thành trùng
Khi nhộng vừa vũ hóa, chọn các cặp thành trùng đực và cái cho chúng sống
và bắt cặp trong bọc nilon, bên trong có treo lá và trái đậu bắp, cung cấp nước đường và bông gòn ẩm Quan sát và ghi nhận các chỉ tiêu:
Thời gian từ khi bướm vũ hóa đến đẻ trứng
Số lượng trứng đẻ bởi một bướm cái
Tỷ lệ trứng nở
Thời gian sống của thành trùng đực
Thời gian sống của thành trùng cái
Kích thước cơ thể và màu sắc của bướm
Số liệu ghi nhận được tính trung bình, kèm theo độ lệch chuẩn, lập bảng biểu để
thảo luận, xác định vòng đời của Earias vittella Fabricius
Cách đo kích thước các giai đoạn:
Đối với trứng và sâu non tuổi 1 của Earias vittella thì đo kích thước bằng kính
hiển vi (vật kính 4X) với đơn vị micromet (µm), sau đó quy đổi về đơn vị milimet (mm) theo công thức:
Kích thước (mm) = (Số vạch đo được x 25) x 10 -3
Sâu tuổi 2, tuổi 3 thì đo kích thước dưới kính loup để bàn có gắn thước trắc vi thị kính để đo, sau đó quy đổi về đơn vị milimet (mm) theo công thức:
l (mm) = (0.1 x số vạch đo được) / độ phóng đại
Đối với sâu tuổi 4, tuổi 5, nhộng, thành trùng thì đo bằng thước kẻ với đơn vị
là milimet (mm) Đối với con trưởng thành thì đo chiều dài thân và chiều dài sải cánh
2.2.2 Khảo sát khả năng ăn các bộ phận cây đậu bắp đối với ấu trùng Earias
vittella trong điều kiện phòng thí nghiệm
Thời gian và địa điểm
Thí nghiệm được thực hiện trong tháng 8 năm 2013 tại phòng thí nghiệm phòng trừ sinh học, Bộ môn Bảo Vệ Thực Vật, Khoa Nông Nghiệp và Sinh Học Ứng Dụng, trường Đại Học Cần Thơ
Trang 33Phương pháp
Ấu trùng E vittella được thu từ ruộng đậu bắp ở huyện Châu Thành, tỉnh Hậu
Giang, mang về phòng thí nghiệm phòng trừ sinh học, Bộ môn Bảo Vệ Thực Vật nhân nuôi cho đến khi đủ số lượng ấu trùng, tiến hành làm thí nghiệm Chọn sâu có kích thước, độ tuổi tương đối đồng đều nhau, chọn sâu tuổi 3 để làm thí nghiệm Trước khi tiến hành thí nghiệm cho sâu nhịn đói một buổi
Các bộ phận cây đậu bắp thu ngoài đồng về, rửa sạch, chọn kích thước từng bộ phận tương đối đồng đều nhau và không sâu bệnh
Thí nghiệm được bố trí trong điều kiện phòng thí nghiệm theo thể thức hoàn toàn ngẫu nhiên gồm 3 nghiệm thức (tương ứng với các bộ phận: đọt non, hoa, trái non) với 4 lần lặp lại Mỗi nghiệm thức có 1 nghiệm thức đối chứng (không thả sâu vào) với 4 lần lặp lại Mỗi lần lặp lại tương ứng với 1 hộp nhựa có chiều cao khoảng 6,5 cm và đường kính khoảng 12 cm, đặt từng bộ phận cây đậu bắp vào hộp, sau đó thả vào 1 ấu trùng tuổi 3 cho chúng ăn và ghi nhận chỉ tiêu Thức ăn và sâu được cân cùng lúc trước khi cho vào hộp nhựa bằng cân điển tử với độ chính xác 1 mg
Hình 2.2: Bố trí thí nghiệm các bộ phận cây đậu bắp
Chỉ tiêu ghi nhận là trọng lượng thức ăn được sâu tiêu thụ và sự tăng trọng của sâu sau 24 và 48 giờ thí nghiệm Các chỉ tiêu được tính toán như sau:
(*) Trọng lượng thức ăn sâu tiêu thụ (mg) = (M0 – Mi) – ĐCi
Trong đó:
- M0: trọng lượng thức ăn ban đầu (mg)
- Mi: trọng lượng thức ăn sau 24 và 48 giờ thí nghiệm (mg)
- ĐCi: trọng lượng thức ăn đối chứng trung bình (mg)
Trang 34Ai – A0 (**) Tỷ lệ tăng trọng của sâu (%) = x100
A0 Trong đó:
- Ai: trọng lượng sâu sau 24 và 48 giờ thí nghiệm
- A0: trọng lượng sâu ban đầu
Sử dụng chương trình thống kê Mstatc để phân tích số liệu và so sánh trung bình nghiệm thức bằng phương pháp kiểm định Duncan
2.2.3 Khảo sát tính ưa thích ký chủ của ấu trùng E vittella trong điều kiện
phòng thí nghiệm
Thời gian và địa điểm
Thí nghiệm được thực hiện trong tháng 7 năm 2013 tại phòng thí nghiệm phòng trừ sinh học, Bộ môn Bảo Vệ Thực Vật, Khoa Nông Nghiệp và Sinh Học Ứng Dụng, trường Đại Học Cần Thơ
Các loại trái cây dùng làm thí nghiệm khảo sát ký chủ của ấu trùng E vittella
STT Tên thông thường Tên khoa học Họ
1 Đậu bắp Abelmoschus esculentus Malvaceae (Bông)
2 Đậu đũa Vigna sinensis spp Fabaceae (Đậu)
Ấu trùng E vittella cũng được thu từ ruộng đậu bắp mang về phòng thí
nghiệm phòng trừ sinh học, Bộ môn Bảo Vệ Thực Vật nhân nuôi cho đến khi đủ số lượng ấu trùng, tiến hành làm thí nghiệm Chọn sâu có kích thước, độ tuổi tương đối đồng đều nhau, thường chọn sâu tuổi 3 để làm thí nghiệm Trước khi tiến hành thí nghiệm cho sâu nhịn đói một buổi
Các loại trái được dùng làm thí nghiệm được thu ngoài đồng về, rửa sạch, chọn kích thước trái tương đối đồng đều và không sâu bệnh
Thí nghiệm được bố trí trong điều kiện phòng thí nghiệm theo thể thức hoàn toàn ngẫu nhiên gồm 4 nghiệm thức (tương ứng 4 loại cây ký chủ) với 5 lần lặp lại Mỗi nghiệm thức có 1 nghiệm thức đối chứng (không thả sâu vào) với 5 lần lặp lại Mỗi lần lặp lại tương ứng với 1 hộp nhựa có chiều cao khoảng 3 cm và đường kính khoảng 4 cm, có lót giấy thấm, đặt 1 trái của từng loại cây vào hộp, sau đó thả vào 1
Trang 35ấu trùng tuổi 3 cho chúng ăn và ghi nhận chỉ tiêu Thức ăn và sâu được cân cùng lúc trước khi cho vào hộp nhựa bằng cân điển tử với độ chính xác 1 mg
Hình 2.3: Bố trí thí nghiệm các loại trái cây ký chủ của loài E vittella Fab
Chỉ tiêu ghi nhận là trọng lượng thức ăn được sâu tiêu thụ và sự tăng trọng của sâu sau 24 và 48 giờ thí nghiệm Các chỉ tiêu được tính toán tương tự như khảo sát
khả năng ăn các bộ phận cây đậu bắp đối với ấu trùng E vittella, nhưng với 5 lần lặp lại
Sử dụng chương trình thống kê Mstatc để phân tích số liệu và so sánh các trung bình nghiệm thức bằng phương pháp kiểm định Duncan
2.2.4 Điều tra thành phần côn trùng gây hại và thiên địch ăn mồi trên ruộng đậu bắp tại huyện Châu Thành, tỉnh Hậu Giang, vụ Hè Thu 2013
Thành phần côn trùng gây hại và thiên địch được điều tra thực tế trên 4 ruộng đậu bắp thuộc huyện Châu Thành, tỉnh Hậu Giang, vụ Hè Thu 2013
- Ruộng 1: diện tích 1000 m2, cây đậu bắp trồng được 30 ngày và xen canh với cây khổ qua trồng hai bên bờ líp Thời gian điều tra từ ngày 5/7 - 8/8/2013
- Ruộng 2: diện tích 800 m2, cây đậu bắp trồng được 35 ngày và không xen canh với cây trồng khác Thời gian điều tra từ ngày 5/7 - 8/8/2013
- Ruộng 3: diện tích 1000 m2, cây đậu bắp trồng được 45 ngày và không xen canh với cây trồng khác Thời gian điều tra từ ngày 18/7 29/8/2013
- Ruộng 4: diện tích 1500 m2, cây đậu bắp trồng được 33 ngày và không xen canh với cây trồng khác Thời gian điều tra từ ngày 8/8 - 26/9/2013
Cách lấy chỉ tiêu được mô tả như sau:
Trên mỗi ruộng khảo sát chọn 5 điểm cố định theo đường chéo góc (Hình 2.4): mỗi điểm với 4 cây đậu bắp (tương ứng 1 m2) được cột dây nylon màu đỏ để đánh dấu Đếm và ghi nhận mật số côn trùng gây hại và thiên địch ở mỗi điểm trên ruộng Chỉ tiêu được ghi nhận 1 tuần/lần Các đối tượng khảo sát không nhận diện được trực tiếp trên ruộng sẽ được thu thập mang về phòng thí nghiệm để định danh
Trang 36Hình 2.4: Sơ đồ các điểm điều tra trên ruộng đậu bắp
Số liệu ghi nhận trên 4 ruộng đậu bắp sẽ được tính ra tần suất xuất hiện và mức độ phổ biến của từng loài côn trùng gây hại và thiên địch tương ứng
Tần suất xuất hiện (%) của một loài được tính theo sự hiện diện của loài đó qua các đợt khảo sát:
Số lần xuất hiện Tần suất xuất hiện (%) = x 100
Tổng số lần quan sát
Mức độ phổ biến của từng loài được tính theo tần suất xuất hiện của loài đó trên các ruộng điều tra theo thời gian, trong đó:
- : Rất ít phổ biến (tần suất xuất hiện <5%)
+ : Ít phổ biến (tần suất xuất hiện 5-20%)
++ : Phổ biến (thường xuất hiện) (tần suất xuất hiện 21-50%)
+++ : Rất phổ biến (xuất hiện thường xuyên) (tần suất xuất hiện >50%)
1 m2
Trang 37CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
3.1 KHẢO SÁT ĐẶC ĐIỂM HÌNH THÁI VÀ ĐẶC TÍNH SINH HỌC CỦA
SÂU ĐỤC TRÁI Earias vittella FAB TRONG ĐIỀU KIỆN PHÒNG THÍ
Qua khảo sát vòng đời sâu đục trái Earias vittellla F gây hại trên cây đậu bắp,
cho thấy chu kỳ sinh trưởng của loài sâu đục trái này trãi qua các giai đoạn: trứng,
ấu trùng (tuổi 1, tuổi 2, tuổi 3, tuổi 4, tuổi 5), nhộng và thành trùng
Bảng 3.1: Kích thước các giai đoạn phát triển của sâu đục trái đậu bắp trong điều kiện phòng thí nghiệm
Bướm đực 30 9,98 ± 0,66 21,7 ± 1,15 (sải cánh)
Bướm cái 30 9,9 ± 0,67 22,13 ± 1,02 (sải cánh)
Trang 38 Trứng
Trứng có dạng hình cầu, trứng mới đẻ có màu xanh lá cây, có những đường khía chạy dọc từ trên xuống Trên bề mặt trứng có một vòng tròn màu đen và có một chấm màu đen ở giữa như tâm, khi sắp nở trứng chuyển sang màu xanh nhạt, hơi đen Trứng có kích thước nhỏ, chiều rộng từ 0,4 - 0,5 mm, chiều dài từ 0,38 -
0,43 mm Kích thước trứng trung bình là 0,4 x 0,48 mm được ghi nhận ở Bảng 3.1
Kết quả này hoàn toàn phù hợp với nhận xét của Viện Bảo Vệ Thực Vật (2003), Nguyễn Đức Khiêm (2006) cho rằng, trứng có hình cầu, đường kính 0,5 mm, cao 0,38 mm, màu xanh nhạt
Ấu trùng
Theo quan sát ấu trùng sâu đục trái đậu bắp có 14 đốt, 3 đốt ngực và 11 đốt bụng, thuộc dạng nhiều chân Có 3 đôi chân ngực nằm ở 3 đốt ngực và 5 đôi chân bụng Đôi chân bụng thứ nhất đến đôi chân bụng thứ tư nằm ở đốt bụng thứ ba đến đốt bụng thứ sáu, riêng đôi chân bụng thứ năm ở đốt bụng thứ mười một Thuộc kiểu miệng nhai gặm Giai đoạn này ấu trùng có 5 tuổi, chi tiết mỗi tuổi được trình
bày như sau:
Ấu trùng tuổi 1
Trứng nở ra ấu trùng tuổi 1, ấu trùng có kích thước nhỏ bé, khó quan sát bằng mắt thường Cơ thể gần như trong suốt, thân màu vàng nhạt với nhiều lông nhỏ màu đen trên các u lông Đầu màu nâu đen, đốt thứ nhất gần đầu có 1 đốm to màu nâu đen Thân có chiều dài trung bình là 1,35 mm, chiều rộng trung bình là 0,24 mm
(Bảng 3.1)
Ấu trùng tuổi 2
Giai đoạn cuối tuổi 1, ấu trùng lột xác sang tuổi 2 Giống như tuổi 1, cơ thể ấu trùng tuổi 2 cũng có nhiều lông nhỏ màu đen nhưng cơ thể lúc này có màu vàng đậm hơn, xuất hiện các vết màu nâu nhạt và những vết màu trắng mờ trên lưng Đốt thứ nhất gần đầu cũng có 1 đốm màu đen rất to Đầu có màu đen Thân có chiều dài trung bình là 4,03 mm, chiều rộng trung bình là 0,75 mm Kích thước vỏ đầu trung
bình là 0,38 x 0,5 mm (Bảng 3.1)
Ấu trùng tuổi 3
Ấu trùng tuổi 3 có sự khác biệt so với ấu trùng tuổi 1 và tuổi 2 Cơ thể ấu trùng có màu nâu đậm xen những vệt màu trắng hình bất dạng trên lưng, thân có nhiều lông dài màu trắng Đầu màu vàng nâu, có đốm màu đen như 2 mắt Đốt thứ nhất gần đầu có 1 đốm to màu vàng xen màu đen bóng Thân có chiều dài trung bình là 7,72 mm, chiều rộng trung bình là 1,48 mm Kích thước vỏ đầu trung bình
0,63 x 0,81 mm (Bảng 3.1)
Ấu trùng tuổi 4
Sâu có chiều dài trung bình là 14,38 mm, chiều rộng trung bình là 2,73 mm
Vỏ đầu tuổi 4 có kích thước trung bình là 0,99 x 1,44 mm (Bảng 3.1) Cơ thể ấu
trùng to khỏe, màu nâu đen, từ đốt thứ nhất đến đốt thứ tư có nhiều gai thịt trên thân Thân xuất hiện các đốm màu cam và có nhiều lông tơ màu trắng Trên lưng có những vệt màu trắng trông giống như “đầu lâu” Đầu có màu đen Thân có 14 đốt