TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG HUỲNH PHƯƠNG THANH ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ PHÒNG TRỊ SÂU ĐỤC TRÁI CONOGETHES PUNCTIFERALIS GUENÉE LEPIDOPTERA: PYRALIDAE BẰNG BẪ
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG
HUỲNH PHƯƠNG THANH
ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ PHÒNG TRỊ SÂU ĐỤC TRÁI
CONOGETHES PUNCTIFERALIS GUENÉE
(LEPIDOPTERA: PYRALIDAE) BẰNG BẪY PHEROMONE GIỚI TÍNH TỔNG HỢP
TRÊN CÂY ỔI VÀ SẦU RIÊNG TẠI THÀNH PHỐ CẦN THƠ VÀ
TỈNH VĨNH LONG
Luận văn tốt nghiệp Đại học Ngành: BẢO VỆ THỰC VẬT
Cần Thơ, 2013
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG
Luận văn tốt nghiệp Đại học Ngành: BẢO VỆ THỰC VẬT
ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ PHÒNG TRỊ SÂU ĐỤC TRÁI
CONOGETHES PUNCTIFERALIS GUENÉE
(LEPIDOPTERA: PYRALIDAE) BẰNG BẪY PHEROMONE GIỚI TÍNH TỔNG HỢP
TRÊN CÂY ỔI VÀ SẦU RIÊNG TẠI THÀNH PHỐ CẦN THƠ
Cần Thơ, 2013
Trang 3TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SINH HỌC ỨNG DỤNG
BỘ MÔN BẢO VỆ THỰC VẬT
Hội đồng chấm luận văn tốt nghiệp đã chấp nhận luận văn tốt nghiệp đính kèm với tên đề tài:
“Đánh giá hiệu quả phòng trị sâu đục trái Conogethes punctiferalis Guenée
(Lepidoptera: Pyralidae) bằng bẫy pheromone giới tính tổng hợp
trên cây ổi và sầu riêng tại Thành phố Cần Thơ và
tỉnh Vĩnh Long”
Do sinh viên Huỳnh Phương Thanh thực hiện và bảo vệ trước hội đồng
ngày …… tháng …….năm 2013
Luận văn đã được hội đồng đánh giá ở mức………
Ý kiến hội đồng:
NÔNG NGHIỆP & SHƯD
Trang 4TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SINH HỌC ỨNG DỤNG
BỘ MÔN BẢO VỆ THỰC VẬT
Chứng nhận đã chấp thuận luận văn với tên đề tài:
“Đánh giá hiệu quả phòng trị sâu đục trái Conogethes punctiferalis Guenée
(Lepidoptera: Pyralidae) bằng bẫy pheromone giới tính tổng hợp
trên cây ổi và sầu riêng tại Thành phố Cần Thơ và
tỉnh Vĩnh Long”
Do sinh viên Huỳnh Phương Thanh thực hiện và đề nạp
Kính trình hội đồng chấm luận văn tốt nghiệp
Cần Thơ, ngày….tháng ….năm 2013
Cán bộ hướng dẫn
TS LÊ VĂN VÀNG
KS CHÂU NGUYỄN QUỐC KHÁNH
Trang 5Ngày, tháng, năm sinh: 01 - 07 - 1992
Con ông Huỳnh Văn Phường và bà Nguyễn Thị Hồng Kỳ
2 QUÁ TRÌNH HỌC TẬP
Tốt nghiệp Trung học phổ thông năm 2010, tại trường Trung Học Phổ Thông Phạm Hùng, khóm 6, thị trấn Long Hồ, huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long
Thi đậu vào Trường Đại Học Cần Thơ năm 2010, ngành Bảo Vệ Thực Vật, khóa
36, thuộc Khoa Nông Nghiệp và Sinh Học Ứng Dụng
Trang 6LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của bản thân Các số liệu và kết quả trình bày trong luận văn tốt nghiệp là trung thực và chưa từng được ai công
bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu luận văn trước đây
Tác giả luận văn
HUỲNH PHƯƠNG THANH
Trang 7LỜI CẢM TẠ
Kính dâng!
Cha, mẹ đã hy sinh tất cả vì con, để con có được như ngày hôm nay
Xin tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến!
Ts Lê Văn Vàng và Ks Châu Nguyễn Quốc Khánh đã tận tình hướng dẫn và giúp
đỡ em trong suốt thời gian thực hiện đề tài này
Xin chân thành cảm ơn!
Tất cả các thầy, cô và những cán bộ khác trong Bộ môn Bảo Vệ Thực Vật đã truyền dạy những kiến thức hữu ích trong quá trình em học tập tại trường
Anh Nguyễn Tiến Anh, đã hết lòng chỉ dạy những kinh nghiệm quý báo trong quá trình thực hiện đề tài
Các chú, các bác chủ vườn đã giúp đỡ em thực hiện đề tài
Cùng các bạn Lê Nhựt Thanh, Đinh Hùng Thắng, Phạm Thúy Hằng, Lâm Thị Xuân Mai, Thạch Thị Anh Thảo, Hồ Thị Xuân, Lê Thị Thùy, Ngô Thị Phi và các thành viên khác của lớp Bảo Vệ Thực Vật K36 đã có nhiều giúp đỡ trong suốt thời gian
em học tập và thực hiện đề tài
Trân trọng!
HUỲNH PHƯƠNG THANH
Trang 8Huỳnh Phương Thanh, 2013 Đánh giá hiệu quả phòng trị sâu đục trái
Conogethes punctiferalis Guenée (Lepidoptera: Pyralidae) bằng bẫy
pheromone giới tính tổng hợp trên cây ổi và sầu riêng tại Thành phố Cần Thơ
và tỉnh Vĩnh Long Luận văn tốt nghiệp đại học, ngành Bảo Vệ Thực Vật, Khoa Nông nghiệp và SHƯD, Trường Đại học Cần Thơ
Cán bộ hướng dẫn: Ts Lê Văn Vàng và Ks Châu Nguyễn Quốc Khánh
TÓM LƯỢC
Đề tài “Đánh giá hiệu quả phòng trị sâu đục trái Conogethes punctiferalis
Guenée (Lepidoptera: Pyralidae) bằng bẫy pheromone giới tính tổng hợp trên các vườn ổi và sầu riêng tại Thành phố Cần Thơ và tỉnh Vĩnh Long” Được thực
hiện từ tháng 11 năm 2011 đến tháng 10 năm 2012 đã đạt được những kết quả như sau:
Trên các vườn ổi tại huyện Phong Điền, thành phố Cần Thơ, đặt bẫy pheromone giới tính tổng hợp (16 bẫy/1.000 m2, 1 mg/tuýp) đã cho hiệu quả phòng
trị Sâu đục trái Conogethes punctiferalis tương đương với biện pháp xử lý thuốc
theo nông dân ở các thời điểm từ 1 đến 2 tháng sau khi đậu trái ở Đợt phòng trị đầu tiên Đặt tuýp quấy rối bắt cặp E10-15:Ald (16 tuýp/1.000 m2, 5 mg/tuýp) cho hiệu quả phòng trị thấp hơn so với đặt bẫy pheromone và xử lý thuốc theo nông dân ở tất
cả các thời điểm ghi nhận Ở Đợt phòng trị thứ 2, đặt bẫy pheromone giới tính tổng hợp (16 bẫy/1.000 m2, 1 mg/tuýp) cho hiệu quả phòng trị tương đương với biện pháp xử lý thuốc theo nông dân ở tất cả các thời điểm ghi nhận Trong khi đặt tuýp quấy rối bắt cặp E10-15:Ald (16 tuýp/1.000 m2, 5 mg/tuýp) cho hiệu quả phòng trị tương đương với biện pháp xử lý thuốc theo nông dân và đặt bẫy pheromone tại các giai đoạn 1,5 tháng và 2 tháng sau khi đậu trái
Trên sầu riêng, phòng trị Sâu đục trái Conogethes punctiferalis bằng biện
pháp đặt bẫy pheromone giới tính tổng hợp (15 bẫy/1.000 m2, 1 mg/tuýp) cho hiệu quả tương đương với biện pháp xử lý thuốc theo nông dân giai đoạn từ 2 tháng đến 3,5 tháng sau khi đậu trái đối với giống Cơm Vàng Hạt Lép và giai đoạn từ 2,5 tháng đến 3 tháng sau khi đậu trái đối với giống Khổ Qua Xanh
Trang 9MỤC LỤC
TÓM LƯỢC vi
MỤC LỤC vii
DANH SÁCH BẢNG ix
DANH SÁCH HÌNH x
DANH SÁCH TỪ VIẾT TẮT xi
CHƯƠNG MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU 3
1.1 SÂU ĐỤC TRÁI Conogethes punctiferalis GUENÉE 3
1.1.1 Phân loại 3
1.1.2 Phân bố và ký chủ 3
1.1.3 Đặc điểm hình thái 4
1.1.4 Đặc điểm sinh học 5
1.1.5 Gây hại 5
1.1.6 Thiên địch 6
1.1.7 Biện pháp phòng trị 6
1.1.7.1 Biện pháp vật lý 6
1.1.7.2 Biện pháp sinh học 7
1.1.7.3 Biện pháp hóa học 7
1.2 SƠ LƯỢC VỀ PHEROMONE 7
1.2.1 Pheromone 7
1.2.1.1 Khái niệm 7
1.2.1.2 Tính chất của các hợp chất pheromone 8
1.2.2 Pheromone giới tính 8
1.2.2.1 Khái niệm 8
1.2.2.2 Sự đa dạng pheromone giới tính của Bộ cánh vảy (Lepidoptera) 8
1.2.2.3 Ứng dụng của pheromone giới tính trong sản xuất Nông nghiệp 10
1.2.2.4 Tình hình nghiên cứu pheromone giới tính ở Việt Nam 12
1.2.3 Pheromone giới tính của sâu đục trái Conogethes punctiferalis Gueneé 14
CHƯƠNG 2 PHƯƠNG TIỆN VÀ PHƯƠNG PHÁP 16
2.1 PHƯƠNG TIỆN THÍ NGHIỆM 16
2.1.1 Vật liệu thí nghiệm 16
2.1.2 Hóa chất thí nghiệm 16
2.1.3 Bẫy pheromone, tuýp quấy rối bắt cặp và cách treo bẫy 16
2.1.3.1 Mồi pheromone giới tính tổng hợp 16
2.1.3.2 Tuýp quấy rối bắt cặp 17
2.1.3.3 Cách đặt bẫy 17
2.2 PHƯƠNG PHÁP THÍ NGHIỆM 18
Trang 102.2.1 Đánh giá hiệu quả phòng trị của bẫy pheromone giới tính tập hợp và hợp chất quấy
rối (E)-10-pentadecenal đối với SĐT Conogethes punctiferalis trên các vườn ổi tại huyện
Phong Điền, Tp Cần Thơ 18
2.2.1.1 Đợt 1 ( từ ngày 13/11/2011 đến 13/01/2012) 18
2.2.1.2 Đợt 2 (từ ngày 01/09/2012 đến 30/10/2012) 20
2.2.2 Đánh giá hiệu quả phòng trị của bẫy pheromone giới tính bằng bẫy tập hợp đối với bướm SĐT Conogethes punctiferalis trên vườn sầu riêng tại huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long 22
2.2.3 Xử lý số liệu 24
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 25
3.1 HIỆU QUẢ PHÒNG TRỊ SĐT Conogethes punctiferalis BẰNG PHEROMONE GIỚI TÍNH TỔNG HỢP VÀ CHẤT QUẤY RỐI E10-15:Ald TRÊN CÁC VƯỜN ỔI TẠI HUYỆN PHONG ĐIỀN, TP CẦN THƠ 25
3.1.1 Diễn biến mật số bướm Conogethes punctiferalis trên các vườn ổi thí nghiệm tại xã Nhơn Nghĩa, huyện Phong Điền, Tp Cần Thơ 25
3.1.1.1 Đợt 1 (từ 13/11/2011 đến 13/01/2011) 25
3.1.1.2 Đợt 2 (từ 01/09/2012 đến 30/10/2012) 27
3.1.2 Tỉ lệ gây hại của SĐT Conogethes punctiferalis trên các vườn ổi thí nghiệm tại xã Nhơn Nghĩa, huyện Phong Điền, Tp Cần Thơ 28
3.1.2.1 Đợt 1 (từ 13/11/2011 đến 13/01/2011) 28
3.1.2.2 Đợt 2 (từ 01/09/2012 đến 30/10/2012) 29
3.2 HIỆU QUẢ PHÒNG TRỊ SĐT Conogethes punctiferalis BẰNG PHEROMONE GIỚI TÍNH TỔNG HỢP TRÊN CÁC VƯỜN SẦU RIÊNG TẠI HUYỆN LONG HỒ, TỈNH VĨNH LONG 31
3.2.1 Trên giống sầu riêng Khổ Qua Xanh 31
3.1.1.1 Diễn biến mật số bướm Conogethes punctiferalis trên các vườn sầu riêng Khổ Qua Xanh 31
3.2.1.2 Tỉ lệ gây hại của SĐT Conogethes punctiferalis trên các vườn sầu riêng Khổ Qua Xanh 32
3.2.2 Trên giống sầu riêng Cơm Vàng Hạt Lép 33
3.2.2.1 Diễn biến mật số bướm Conogethes punctiferalis trên các vườn sầu riêng Cơm Vàng Hạt Lép 33
3.2.2.2 Tỉ lệ gây hại của SĐT Conogethes punctiferalis trên các vườn sầu riêng Cơm Vàng Hạt Lép 34
CHƯƠNG 4 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 36
4.1 KẾT LUẬN 36
4.2 ĐỀ NGHỊ 36
Trang 11DANH SÁCH BẢNG
2.1 Các nghiệm thức của thí nghiệm phòng trị trên các vườn ổi tại xã Nhơn
Nghĩa, huyện Phong Điền, Tp Cần Thơ ở Đợt 1 19
2.2 Các nghiệm thức của thí nghiệm phòng trị trên các vườn ổi tại xã Nhơn
Nghĩa, huyện Phong Điền, Tp Cần Thơ ở Đợt 2 21
2.3 Các nghiệm thức của thí nghiệm phòng trị trên các vườn sầu riêng tại
3.1 Số lượng trung bình bướm C punctiferalis đực vào bẫy trên các vườn
3.2 Số lượng trung bình bướm C punctiferalis đực vào bẫy trên các vườn
3.3 Tỉ lệ gây hại (%) do SĐT C punctiferalis trên các vườn ổi ở Đợt 1 28
3.4 Tỉ lệ gây hại (%) do SĐT C punctiferalis trên các vườn ổi ở Đợt 2 29
3.5 Diễn biến mật số bướm C punctiferalis trên các vườn sầu riêng Khổ
Trang 12DANH SÁCH HÌNH
1.1 Sự phân bố của C punctiferalis trên thế giới 3 1.2 Thành trùng và nhộng của SĐT C punctiferalis 4 1.3 Triệu chứng gây hại của SĐT C punctiferalis trên trái ổi 5 1.4 Triệu chứng gây hại của SĐT C punctiferalis trên trái sầu riêng 6 1.5 Công thức hóa học của 2 thành phần phần pheromone giới tính SĐT
2.1 Các thành phần của bẫy pheromone giới tính tổng hợp 16
2.3 Cách treo bẫy pheromone và tuýp quấy rối trên các vườn thí nghiệm 18 2.4 Cách đánh dấu tổng số trái quan sát trên các vườn ổi thí nghiệm 20 3.1 Diễn biến mật số bướm C punctiferalis vào bẫy trên các vườn ổi ở
3.2 Diễn biến mật số bướm C punctiferalis vào bẫy trên các vườn ổi ở
3.3 Diễn biến mật số bướm C punctiferalis vào bẫy trên các vườn sầu
3.4 Diễn biến mật số bướm C punctiferalis vào bẫy trên các vườn sầu
Trang 13DANH SÁCH TỪ VIẾT TẮT
BVTV: Bảo vệ thực vật
CPC: Crop Protection Compendium
ĐBSCL: Đồng Bằng Sông Cửu Long
Trang 14Trong các loại sâu hại quan trọng thì Sâu đục trái cây, Conogethes punctiferalis
Guenée (Lepidoptera: Pyralidae) là một đối tượng dịch hại nguy hiểm Sâu đục trái
C punctiferalis là loài đa ký chủ, gây hại phổ biến trên nhiều loại cây ăn trái như:
chôm chôm, sầu riêng, ổi, nhãn, mãng cầu xiêm, và một số cây ăn trái khác ở vùng ĐBSCL (Nguyễn Văn Huỳnh và Lê Thị Sen, 2011) Sâu tấn công từ lúc trái còn nhỏ, từ 1 tháng tuổi trở đi, cho đến khi trái sắp thu hoạch Trên nhiều vườn, sâu có thể tấn công 100% số cây và có thể là thiệt hại năng suất 100% (Nguyễn Thị Thu
Cúc, 2006) Do giai đoạn ấu trùng C punctiferalis hầu như phát triển và trú ẩn bên
trong trái, vì thế việc sử dụng thuốc hóa học để phòng trị loài dịch hại này cho hiệu quả không cao, tốn kém nhiều chi phí và đặc biệt là ảnh hưởng đến người nông dân trực tiếp canh tác và môi trường Như vậy, tìm ra biện pháp quản lý hiệu quả đối với
sâu đục trái C punctiferalis nhưng ít gây ảnh hưởng đến con người và môi trường sinh thái là rất cần thiết
Pheromone giới tính sâu đục trái C punctiferalis được xác định đầu tiên bởi Konno et al (1982) gồm 2 thành phần chính là (E)-10-Hexadecenal (E10-16:Ald)
và đồng phân hình học (Z)-10-Hexadecenal (Z10-16:Ald) Ứng dụng pheromone giới tính C punctiferalis tổng hợp bằng phương pháp đặt bẫy ngoài đồng để phòng
trừ với kiểu mồi E10-16:Ald và Z10-16:Ald ở tỉ lệ 9:1 được đề nghị trong quản lý
quần thể bướm C punctiferalis tại Nhật Bản (Konno et al., 1982) Đinh Thị Chi (2010) đã xác định pheromone giới tính của loài bướm C punctiferalis ở ĐBSCL
gồm 2 thành phần với thành phần chính là hợp chất E10-16:Ald, đồng thời đề nghị đưa hỗn hợp E10-16:Ald và Z10-16:Ald ở tỉ lệ 9:1 và 8:2 vào ứng dụng trong khảo
sát mật số quần thể và bẫy tập hợp đối với C punctiferalis Bên cạnh đó, hiệu quả
trong việc quấy rối tín hiệu hấp dẫn của bẫy pheromone giới tính tổng hợp đối với
Trang 15bướm C punctiferalis đực của hợp chất (E)-10-pentadecenal (E10-15:Ald) trong
điều kiện ngoài đồng cũng đã được ghi nhận (Lâm Minh Đăng, 2012)
Trên cơ sở đó, đề tài “Đánh giá hiệu quả phòng trị sâu đục trái
Conogethes punctiferalis Guenée (Lepidoptera: Pyralidae) bằng bẫy
pheromone giới tính tổng hợp trên các vườn ổi và sầu riêng tại Thành phố Cần Thơ và tỉnh Vĩnh Long” được thực hiện nhằm mục tiêu:
- Đánh giá hiệu quả phòng trị của pheromone giới tính tổng hợp đối với sâu
đục trái C punctiferalis trên sầu riêng tại huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long và trên ổi
tại huyện Phong Điền, Thành phố Cần Thơ
- Đánh giá hiệu quả quấy rối của hợp chất E10-15:Ald đối với sâu đục trái C
punctiferalis trên các vườn ổi tại huyện Phong Điền, Thành phố Cần Thơ
Trang 16CHƯƠNG 1 LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU
1.1 SÂU ĐỤC TRÁI Conogethes punctiferalis GUENÉE
1.1.1 Phân loại
Sâu có tên khoa học là Conogethes punctiferalis Guenée thuộc họ Ngài sáng
(Pyralidae), bộ Cánh vảy (Lepidoptera) Ngoài ra, sâu còn có tên khác là
Dichocrocis punctiferalis Guenée (Nguyễn Thị Thu Cúc, 2006; Nguyễn Văn Huỳnh
và Lê Thị Sen, 2011; CPC, 2007)
1.1.2 Phân bố và ký chủ
Theo CPC (2007), sâu đục trái (SĐT) C punctiferalis được ghi nhận là loài
đa ký chủ gây hại trên nhiều loại cây trồng khác nhau như đu đủ (Carica papaya),
dẻ Queensland (Macadamia ternifolia), dâu tầm (Morus alba), đào (Prunus
persica), ổi (Psidium guajava), bông vải (Gossypium spp.), bắp (Zea mays), khế
(Averrhoa carambola), chôm chôm (Nephelium lappaceum), hướng dương (Helianthus annuus), lúa miến (Sorghum bicolor), và trên 15 ký chủ phụ khác Tại ĐBSCL, C punctiferalis được ghi nhận gây hại trên nhãn, ổi, mãng cầu xiêm, chôm
chôm, và sầu riêng (Nguyễn Thị Thu Cúc, 2006) Theo điều tra của Nguyễn Thị
Thuận (2009), C punctiferalis là một trong số 4 loài gây hại phổ biến nhất trên cây
ca cao ở tỉnh Đồng Nai và quận Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh
Conogethes punctiferalis có phạm vi phân bố rộng gồm các quốc gia như:
Trung Quốc, Ấn Độ, Indonesia, Nhật Bản, Hàn Quốc, Lào, Malaysia, Myanmar, Philippine, Sri LanKa, Thái Lan, Việt Nam, Úc, Papua New Guinea (Nguyễn Thị
Thu Cúc, 2006) Ngoài ra, C punctiferalis còn được ghi nhận hiện diện ở
Cambodia, Triều Tiên và Đài Loan (CPC, 2007)
Hình 1.1 Sự phân bố của C punctiferalis trên thế giới
(Nguồn: CPC, 2007)
Trang 17đẻ trứng có màu trắng sữa, sau đó chuyển sang màu vàng nhạt (Christine, 2009; Nguyễn Thị Thu Cúc, 2006) Ấu trùng mới nở có màu trắng sữa, đầu nâu, sau chuyển sang màu hồng nhạt, trên mỗi đốt phía lưng có 4 đốm nâu nhạt 2 đốm dưới dài và hẹp Trên mỗi đốt thân của ấu trùng có lông cứng nhỏ và 2 đốm nhỏ màu nâu đậm cạnh lỗ thở ở 2 bên hông Phần bụng của ấu trùng cũng có những đốm nâu nhạt với lông nhỏ Sâu lớn đủ sức dài khoảng 1,7 – 2,0 cm Kích thước sâu thường khác
nhau khi chúng tấn công trên các loại cây ký chủ khác nhau SĐT C punctiferalis
có kích thước lớn nhất khi gây hại trên ổi và nhỏ nhất khi gây hại trên mãng cầu xiêm.Nhộng có màu vàng hơi nâu khi mới hình thành, sau đó chuyển sang màu nâu đen khi sắp vũ hóa, chiều dài khoảng 13 mm, chiều ngang khoảng 4 mm (Nguyễn Thị Thu Cúc, 2006)
Trang 181.1.4 Đặc điểm sinh học
Bướm hoạt động vào ban đêm, trong khoảng từ 20 – 22 giờ cho đến 5 giờ sáng, ban ngày bướm ẩn trong tán lá dày Cả bướm đực và bướm cái sinh sống bằng mật hoa của cây ký chủ và những cây khác trong vườn Sau khi vũ hóa, con cái tiết pheromone để hấp dẫn con đực Bướm cái bắt đầu đẻ trứng sau khi bắt cặp 2 – 3 ngày Trứng thường được đẻ từng cái trên bề mặt trái, thỉnh thoảng trên cuống trái Mỗi bướm cái đẻ khoảng 20 – 30 trứng Trứng nở vào lúc sáng sớm, thời gian ủ trứng từ 4 – 6 ngày Sau khi nở vài giờ, ấu trùng bắt đầu đục vào trong trái Giai đoạn ấu trùng của sâu gồm 5 tuổi, kéo dài khoảng 14 – 16 ngày, giai đoạn nhộng khoảng 7 ngày, thời gian sống của bướm biến động từ 10 – 18 ngày (Christine, 2009; Nguyễn Thị Thu Cúc, 2006) Sâu tuổi cuối nhả tơ kết thành một lớp kén mỏng rồi hóa nhộng trong kén (Nguyễn Thị Thu Cúc, 2006)
1.1.5 Gây hại
Theo Josephrajkumar et al (2007), SĐT C punctiferalis là loài gây hại
nghiêm trọng đến trái Hơn nữa, vào giai đoạn phát triển mạnh, sâu đục vào sâu bên trong trái nên thuốc trừ sâu không vào được Nhiều vườn bị nhiễm nặng bị giảm 70-80% năng suất
Trên ổi bướm thường đẻ trứng vào chóp trái, nơi còn dính các lá đài Sâu nở
ra thường ẩn ở phần chóp của trái, sau đó tấn công vào phần thịt trái Sâu có thể đục trái từ khi trái còn nhỏ đến lúc gần thu hoạch, nhưng gây hại nhiều nhất vào lúc trái
có đường kính từ 1 – 2 cm Trái non bị sâu đục thường bị biến dạng, khô và rụng, trái lớn bị sâu đục có thể bị thối do nấm tấn công (Nguyễn Văn Huỳnh và Lê Thị Sen, 2011)
Hình 1.3 Triệu chứng gây hại của SĐT C punctiferalis trên trái ổi
(Nguồn: Lâm Minh Đăng, 2012)
Trang 19Trên sầu riêng sâu tấn công khi trái từ khoảng một tháng tuổi trở đi, từ trái bằng cỡ ngón chân cái hoặc cườm tay, đến khi trái gần thu hoạch (Hình 1.4) Bướm
đẻ trứng vào ban đêm, thường đẻ từng cái vào giữa các gai trên mặt trái ở gần cuống trái Ấu trùng nở ra cạp ăn ở bên ngoài vỏ trái, nhả tơ kết hợp phân của sâu thải ra với bề mặt trái tạo thành đường hầm và ẩn bên trong Khoảng 5 ngày sau khi nở, sâu đủ lớn đục vào sâu bên trong trái Khi đủ lớn sâu chui ra ngoài để làm nhộng ở nơi lân cận Nhộng có một bao bằng tơ rất chắc bao phủ (Nguyễn Văn Huỳnh và Lê Thị Sen, 2011)
Hình 1.4 Triệu chứng gây hại của SĐT C punctiferalis trên trái sầu riêng
(Nguồn: Châu Nguyễn Quốc Khánh, 2012)
1.1.6 Thiên địch
Trong tự nhiên trứng của C punctiferalis thường bị tấn công bởi ong ký sinh
họ Trichogrammatidae và bị kiến ăn Theo Nguyễn Thị Thu Cúc (2006), tại Trung
Quốc đã có ghi nhận loài tuyến trùng Steinernema glaseri ký sinh ấu trùng của C
punctiferalis và giữ vai trò quan trọng trong việc khống chế quần thể của loài sâu
hại này trong điều kiện tự nhiên
1.1.7 Biện pháp phòng trị
1.1.7.1 Biện pháp vật lý
Theo Nguyễn Thị Thu Cúc (2006), để phòng trị loài sâu đục trái nên áp dụng các biện pháp như sau:
Trang 20- Thu gom những trái bị nhiễm sâu, chôn sâu dưới đất để diệt sâu còn hiện diện trong trái
- Sau khi thu hoạch, xén tỉa cành cho vườn thông thoáng để dễ phát hiện bướm trong vườn nhằm có biện pháp xử lý kịp thời
- Bao trái là biện pháp phòng ngừa các loài côn trùng đục trái rất có hiệu quả
- Đặt bẫy ánh sáng (ánh sáng đèn 60W) và bẫy đường – giấm (một hỗn hợp gồm đường, nước giấm và thuốc trừ sâu) trong vườn có thể hỗ trợ cho việc kiểm
soát bướm C punctiferalis (CPC, 2007)
- Đây là loài đa ký chủ nên chú ý trong hệ thống canh tác để tránh trùng hợp cây ký chủ của chúng như nhãn, ổi, sầu riêng (Nguyễn Văn Huỳnh và Lê Thị Sen, 2011)
- Ngoài ra, sử dụng pheromone giới tính để hấp dẫn bướm đực đã được nghiên cứu và ứng dụng ở Nhật Bản và Trung Quốc (CPC, 2007)
1.1.7.2 Biện pháp sinh học
Biện pháp sinh học là biện pháp thân thiện với môi trường và an toàn cho
người nông dân Có thể bảo tồn và sử dụng các loài thiên địch của C punctiferalis
để khống chế số lượng của chúng trên đồng ruộng
1.1.7.3 Biện pháp hóa học
Sử dụng thuốc hóa học khi 1,0% trái trong vườn bị tấn công Ở những vùng thường xuyên bị nhiễm nặng, xử lý thuốc trừ sâu (gốc cúc và gốc lân tổng hợp) khi trái vừa mới tượng Nếu sau lần áp dụng thứ nhất, mật số sâu vẫn còn thì tiến hành phun lần thứ hai khoảng 7 – 10 ngày (Nguyễn Văn Huỳnh và Lê Thị Sen, 2011) Tuy nhiên, khi sâu đục vào bên trong trái thì việc kiểm soát bằng thuốc hóa học không phải là dễ dàng và có thể làm tăng nguy cơ làm ô nhiễm môi trường (CPC,
Trang 211.2.1.2 Tính chất của các hợp chất pheromone
Pheromone là một chất lỏng, dễ bay hơi trong điều kiện tự nhiên, tốc độ bay hơi và khuếch tán phụ thuộc vào tốc độ gió, sự vận động của dòng khí hay dòng nước, nhiệt độ và ẩm độ Trong môi trường tự nhiên, pheromone chỉ tồn tại ở một giới hạn nhiệt độ nhất định Nhìn chung, nhiệt độ càng cao thì tốc độ khuếch tán và phân huỷ của pheromone càng nhanh (Bùi Công Hiển, 2002)
1.2.2 Pheromone giới tính
1.2.2.1 Khái niệm
Pheromone giới tính là một chất hóa học hay hỗn hợp của những chất hóa học được cá thể tiết ra môi trường để hấp dẫn sự bắp cặp của những cá thể khác giới trong cùng một loài Do hoạt động như những hóa chất sinh học với tính chọn lọc cao và ở những nồng độ rất thấp, pheromone giới tính không gây ảnh hưởng xấu đến môi trường sinh thái Bên cạnh việc làm đối tượng nghiên cứu cho các lĩnh vực
như hóa học, hóa chất sinh thái học và côn trùng học ứng dụng (Ando et al., 2004),
pheromone giới tính còn là một sự thay thế hiệu quả cho nông dược trong công tác
quản lý côn trùng gây hại (Gibb et al., 2005)
1.2.2.2 Sự đa dạng pheromone giới tính của Bộ cánh vảy (Lepidoptera)
Bộ cánh vảy là bộ lớn thứ hai trong lớp côn trùng bao gồm khoảng 150.000 loài đã được mô tả Từ pheromone giới tính đầu tiên, hợp chất bombykol, được công bố vào năm 1959 (Butenandt, 1959), đến nay pheromone giới tính của hơn
640 loài bướm đã được xác định, trong đó có nhiều loài côn trùng có hại trong nông nghiệp (Ando, 2013)
Trong các loài thuộc Bộ cánh vảy, sự phóng thích pheromone giới tính xảy
ra tại một thời gian cụ thể trong ngày tùy thuộc vào loài Khi phóng thích, thành trùng cái thường nâng cao vùng bụng và đưa tuyến pheromone kết hợp với cơ quan
đẻ trứng ở cuối bụng ra ngoài để phóng thích pheromone với tốc độ vài chục picogram trong mỗi giây Thành trùng đực được đồng bộ với hoạt động của thành trùng cái trong hoạt động hàng ngày của loài và đáp ứng với pheromone của con cái phát ra Chúng có khả năng đáp ứng lại với pheromone bằng cách bay đến nơi đầu hướng gió từ hàng chục, thậm chí hàng trăm mét để xác định vị trí (Baker, 2011)
Dựa vào cấu trúc của chuỗi mạch carbon và con đường sinh tổng hợp của nó
mà pheromone giới tính Bộ cánh vảy có thể chia thành 3 kiểu: kiểu I, kiểu II và kiểu
khác (Ando et al., 2004)
Trang 22a) Pheromone kiểu I
Các hợp chất pheromone kiểu I chiếm ưu thế nhất ở nhóm côn trùng Khoảng 75% số lượng pheromone đã được xác định thuộc kiểu I bao gồm nhóm bướm đêm được biết đến và phát hiện pheromone Ví dụ, các loài bướm tằm (silk moth) (Họ Bombycidae), các loài ngài cuốn lá (smaller tea tortix) (Họ Tortricidae) và bướm sâu vẽ bùa cam quýt (citrus leafminer) (Họ Gracillariidae) Trong kiểu này, bao gồm những pheromone được sinh tổng hợp từ những hợp chất hữu cơ mạch thẳng, bão hòa và mang một trong các nhóm chức acetate (-COOCH3), hydroxyl (-OH), formyl (-CHO) ở đầu mạch
Kiểu I được đặc trưng bởi các chuỗi có chiều dài 10-18 carbon và có từ 0-3 liên kết đôi Chuỗi dài với số lượng carbon chẵn chiếm ưu thế hơn vì các hợp chất này có nguồn gốc từ các acid béo bão hòa như acid palmitic (C16H32O2) và acid stearic (C18H36O2) Tuy nhiên, vẫn tồn tại các hợp chất pheromone với độ dài chuỗi
là số carbon lẻ được tìm thấy từ 6 loài: Phthorimaea operculella, Keiferia
lycopersicella, Scrobipalpa heliopa, Chilo auricilius, Acrobasis vaccinii và Mamestra brassicae (Ando et al., 2004)
Có khả năng là mỗi loài tạo nên một cấu trúc pheromone riêng cho chính loài
đó bằng cách thay đổi số lượng carbon trên một mạch, loại nhóm chức, hoặc số lượng, vị trí và cấu hình của một liên kết đôi và một nhóm methyl Tuy nhiên, sự thay đổi của cấu trúc hóa học bị giới hạn Sự đa dạng của pheromone giới tính được tạo ra bằng cách kết hợp một số thành phần với nhau Rất nhiều hỗn hợp pheromone
là do sự kết hợp của các thành phần khác nhau và tỷ lệ phối trộn của các thành phần
đó(Ando and Yamakawa, 2011)
Trang 23(Ando et al., 2004) Ví dụ: như pheromone của loài bướm sâu đo lớn gây hại trên lá trà Nhật Bản (Japanese giant looper), Ascotis selenaria cretacea Bulter được cấu thành từ hỗn hợp của (Z,Z,Z)-3,6,9-nonadecatriene (Z3,Z6,Z9-19:H) và (Z,Z)-6,9-
epoxy-3-nonadecadiene (Z6,Z9,epo3-19:H) với tỷ lệ 1:100
c) Pheromone kiểu khác
Các pheromone không thuộc kiểu I và kiểu II được xếp vào kiểu này Ví dụ:
pheromone giới tính của thành trùng Eriocrania cicatricella gồm 3 thành phần heptane-2-ol (7:2-OH) và (Z)-4-hepten-2-ol (Z4-7:2-OH) trong đó Z4-7:2-OH là
thành phần chủ yếu
Nhiều loài thành trùng đực của Bộ cánh vảy (Lepidoptera) cũng tiết pheromone giới tính tại các vị trí: bụng, ngực, chân và cánh Cấu trúc hóa học của các pheromone này khá khác nhau và sự đặc trưng của loài thấp Pheromone của thành trùng đực cũng kích thích hành vi tìm kiếm của thành trùng cái nhưng sự hấp dẫn ở tầm xa kém hơn so với pheromone của thành trùng cái Thành trùng cái bị thu hút bởi thành trùng đực ở khoảng cách xa nhờ vào tín hiệu thị giác (visual cues) và
nhờ vào mùi hương tiết ra từ con đực khi chúng ở gần nhau (Ando et al., 2004)
1.2.2.3 Ứng dụng của pheromone giới tính trong sản xuất Nông nghiệp
a) Ghi nhận sự hiện diện và phát hiện vùng nhiễm côn trùng
Do có đặc tính chuyên biệt, chỉ hấp dẫn các cá thể trong cùng một loài, và hiệu lực hấp dẫn rất cao, pheromone giới tính được xem là một trong những công cụ hữu hiệu nhất để xác định sự hiện diện và vùng xâm nhiễm của côn trùng Khi biết được pheromone của một loài côn trùng gây hại nào đó, thì việc phát hiện sự hiện diện hoặc xác định vùng nhiễm cũng như cảnh báo sớm sự xuất hiện của loài côn trùng đó sẽ trở nên đơn giản, nhanh chóng với độ chính xác rất cao Ứng dụng pheromone trong kiểm dịch thực vật trước khi nhập nội một loại cây trồng mới là đều cần thiết và phù hợp với tình hình diễn biến dịch hại phức tạp hiện nay Đây là biện pháp ngăn ngừa sự xâm nhập các loại côn trùng gây hại từ nước ngoài vào trong nước, và là công cụ quan trọng của bất cứ một quốc gia nào (Nguyễn Công Thuật, 1996)
b) Sử dụng làm công cụ khảo sát sự biến động quần thể dịch hại
Pheromone giới tính là một công cụ hữu hiệu để thay thế cho bẫy đèn và bẫy màu vàng trong khảo sát sự biến động mật số quần thể của côn trùng gây hại
(Wakamura et al., 2004) Ứng dụng này đã được phát triển trong chiến lược phòng
trừ dịch hại tổng hợp (IPM) Thông thường, một lượng từ 0,1 – 1 mg pheromone giới tính tổng hợp được nhồi vào một tuýp cao su (8 mm OD) cho hiệu quả hấp dẫn
bướm đực ít nhất là một tháng và có thể kéo dài đến 2 tháng (Ando et al., 2004) Để
Trang 24khảo sát sự biến động quần thể, bẫy pheromone được đặt trên một khu vực cụ thể rồi đếm mật số bướm vào bẫy định kỳ (thường là 2 tuần/lần) trong suốt chu kỳ một năm Biết được thông tin về mật số côn trùng gây hại cây trồng trong vùng canh tác
và trên một đơn vị thời gian cho phép ta dự tính, dự báo sớm sự gây hại của côn trùng đó để có thể áp dụng những biện pháp quản lý thích hợp
c) Sử dụng làm công cụ phòng trị bằng biện pháp bẫy tập hợp
Bẫy tập hợp (mass trapping) là biện pháp sử dụng một số lượng lớn bẫy pheromone để thu hút và giết hết bướm đực trên một vùng không gian cụ thể, để ngăn chặn sự bắt cặp giữa bướm đực và bướm cái, dẫn đến giảm mức độ thiệt hại
do sâu gây ra xuống dưới ngưỡng kinh tế Biện pháp này, đặc biệt hiệu quả đối với việc quản lý côn trùng trong kho vựa (thuộc Bộ Coleoptera) Tuy nhiên, bẫy tập hợp thường không thành công trong việc làm giảm mật số của các loài bướm có tính di
động cao và mức độ quần thể lớn (Wakamura et al., 2004) Nghiên cứu và ứng dụng
pheromone giới tính dưới hình thức bẫy tập hợp đã được tiến hành trên 98 loài côn trùng gây hại, trong đó có 45 loài thuộc Bộ cánh vảy, 39 loài thuộc Bộ cánh cứng và
4 loài thuộc các bộ côn trùng khác (El Sayed, 2008)
d) Sử dụng làm công cụ phòng trị bằng biện pháp quấy rối sự bắt cặp
Hoạt động tìm bắt cặp ở côn trùng Bộ cánh vảy chủ yếu dựa vào tín hiệu (mùi) của pheromone giới tính do con cái tiết ra Khi tín hiệu mùi của pheromone bị quấy rối thì các cá thể đực sẽ không tìm được các cá thể cái và ngược lại, như vậy chúng không thể bắt cặp và sinh sản Phương pháp quấy rối bắt cặp (Mating disruption) là làm tràn ngập vùng không gian của cây trồng với mùi pheromone của loài bướm gây hại để quấy rối tín hiệu pheromone do bướm cái tiết ra nhằm ngăn chặn sự tiếp xúc giữa bướm đực và bướm cái làm cho chúng không thể bắt cặp và sinh sản trên vùng không gian của cây trồng So với việc sử dụng thuốc trừ sâu, phương pháp quấy rối bắt cặp có tính chọn lọc cao và bảo đảm cho sự tồn tại của thiên địch.Mặt khác, pheromone giới tính đã được chỉ rõ là không gây độc đối với động vật hữu nhũ và không ảnh hưởng đến môi trường sinh thái Đây là biện pháp đang được áp dụng rất rộng rãi ở những nước phát triển Hầu hết, pheromone tổng hợp được nhồi vào một tuýp nhựa tổng hợp dài 20 cm (50 – 100 mg pheromone
tổng hợp/tuýp) và sẽ tiếp tục phóng thích pheromone hơn 2 – 3 tháng (Ando et al.,
2004) Cho đến nay, pheromone giới tính đã được nghiên cứu và ứng dụng dưới hình thức quấy rối bắt cặp trên 140 loài côn trùng gây hại gồm 121 loài thuộc Bộ cánh vảy, 9 loài thuộc Bộ cánh cứng và 10 loài thuộc các bộ côn trùng khác (El Sayed, 2009)
Trang 251.2.2.4 Tình hình nghiên cứu pheromone giới tính ở Việt Nam
Từ khi Butenandt et al (1959) tìm ra hợp chất pheromone đầu tiên là chất bombykol [(10E,12Z)-10,12-hexadecadien-1-ol] của bướm tằm (Bombyx mori L)
thì việc nghiên cứu và ứng dụng pheromone giới tính đã được phát triển mạnh mẽ ở
nhiều quốc gia trên thế giới (Ando et al., 2004) Tuy nhiên, đây là một lĩnh vực khá
mới mẻ đối với Việt Nam, nên điều kiện và số lượng đề tài nghiên cứu còn nhiều hạn chế
Năm 2003, bẫy pheromone đã được áp dụng trên tổng diện tích 656,8 ha tại
9 tỉnh trong cả nước để phòng trừ 6 loại sâu hại trên 7 loại cây trồng là rau hoa thập
tự, hành tây, cà chua, lạc, dưa hấu, nho và vải thiều Trong đó, cây trồng áp dụng lớn nhất là rau hoa thập tự với tổng diện tích 245 ha (Lê Văn Trịnh và ctv, 2005) Bẫy pheromone giới tính đang là một công cụ phòng trị côn trùng gây hại hiệu quả
ở nước ta Kết quả thí nghiệm về khả năng hấp dẫn của pheromone đối với một số đối tượng sâu hại trên rau họ thập tự, cà chua, nho, hành tây, hành ta, dưa hấu, lạc
và vải thiều đã ghi nhận được số lượng trưởng thành sâu tơ (Plutella xylostella), sâu
ăn tạp (Spodoptera litura), sâu xanh (Helicoverpa armigera) và sâu xanh da láng (Spodoptera exigua) vào bẫy khá lớn (125,8 - 139,2 con/bẫy/ngày), riêng sâu đục cuống quả vải (Camellia sinensis) thì rất ít (7,6 con/bẫy/ngày) (Lê Văn Trịnh và
ctv., 2005)
Một số nghiên cứu về khảo sát sự biến động quần thể côn trùng gây hại Đỗ Đức Cương (2006) đã thực hiện thí nghiệm theo dõi sự biến động số lượng thành
trùng Prays sp vào bẫy pheromone (1 mg Z7-14:Ald/tuýp) tại 3 vườn bưởi thuộc
tỉnh Vĩnh Long trong suốt thời gian từ ngày 9/8/2005 - 7/2/2006 Thí nghiệm đã ghi
nhận được Prays sp hiện diện liên tục trong suốt thời gian thí nghiệm và mật số
biến động cao hay thấp phụ thuộc vào mùa và tương ứng với các giai đoạn sinh lý của cây Mức độ vào bẫy của thành trùng loài sâu đục vỏ trái ở các tháng cuối mùa mưa tương ứng với giai đoạn cây bưởi chưa ra hoa là thấp và tăng đỉnh điểm là vào các tháng của mùa nắng tương ứng với giai đoạn cây ra hoa và tượng trái non
Vang et al (2008), qua quá trình nghiên cứu tổng hợp và đánh giá ngoài
đồng ở Việt Nam và Nhật Bản đối với 7,11,13-Hexadecatrienal – thành phần
pheromone giới tính mới được xác định từ bướm sâu vẽ bùa cái (Phyllocnistis
citrella) đã chỉ ra rằng bướm sâu vẽ bùa đực tại Thành phố Cần Thơ, Việt Nam chỉ
bị hấp dẫn mạnh khi phối hợp 7,11-Hexadecadienal và 7,11,13-Hexadecatrienal với
tỉ lệ 1:3 mà không hề bị thu hút khi chỉ có một thành phần 7,11-Hexadecadienal, trong khi ở Nhật Bản thì hiệu quả thu hút bướm đực vào bẫy sẽ giảm khi pha thêm thành phần 7,11,13-Hexadecatrienal vào mồi pheromone Cho đến nay, pheromone
giới tính của 4 loài bướm thuộc giống Prays đã được xác định và tất cả đều là hợp
Trang 26chất Z7-14:Ald, P citri ở Israel, P olae ở Hy Lạp, P nephelomima ở New Zealand
và Prays sp ở ĐBSCL Theo kết quả phân tích và đánh giá ngoài đồng của Lê Kỳ
Ân (2009) cũng chứng tỏ pheromone của Prays sp ở vùng ĐBSCL cũng chỉ gồm
một thành phần duy nhất là Z7-14:Ald Lê Kỳ Ân (2009), qua quá trình đánh giá
hiệu quả phòng trừ loài sâu đục vỏ trái Pray sp bằng phương pháp quấy rối bắt cặp,
kết quả ghi nhận được ở hai nghiệm thức treo 200 tuýp/ha và nghiệm thức treo 400 tuýp/ha cho hiệu quả ngăn chặn bắt cặp 100% trong suốt quá trình thí nghiệm
Diễn biến mật số quần thể của bướm sâu vẽ bùa Phyllocnistis citrella
Stainton, gây hại cây có múi ở Thành phố Cần Thơ và huyện Châu Thành tỉnh Hậu Giang đã được khảo sát bằng biện pháp đặt bẫy pheromone giới tính (Châu Nguyễn Quốc Khánh và ctv., 2009)… Có thể thấy, việc khảo sát biến động quần thể của các loài côn trùng gây hại bằng pheromone giới tính đang phát triển và dần thay thế cho các loại bẫy thủ công khác như bẫy đèn và bẫy màu
Huỳnh Thị Ngọc Linh (2008) đã xác định rằng, bẫy pheromone giới tính đã thành công trong khảo sát diễn biến mật số quần thể của bướm sâu đục vỏ trái bưởi
Prays sp., bướm hiện diện liên tục quanh năm với mật số cao nhất vào tháng 3, 4,
12 và mật số thấp nhất vào tháng 8
Theo Nguyễn Quốc Tuấn (2012), trong điều kiện ngoài đồng ở huyện Duyên Hải, tỉnh Trà Vinh, hàm lượng thích hợp cho việc áp dụng mồi pheromone giới tính
là 0,5 mg/tuýp đối với sùng khoai lang Biện pháp đặt bẫy pheromone giới tính kết
hợp nấm xanh (Metarhizium anisopiae) có hiệu quả phòng trị sùng khoai lang tương
đương với biện pháp xử lý nông dược của nông dân ở huyện Duyên Hải, tỉnh Trà Vinh và cho hiệu quả cao hơn có ý nghĩa so với biện pháp xử lý bằng nông dược của nông dân ở huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang
Theo kết quả phân tích Sắc ký khí – Điện râu (GC-EAD (Gas Chromatographic-Electroantennogram Detector)) và Sắc ký khí – Khối phổ (GC-
MS (Gas Chromatography combined with Mass Spectrometry)) của mẫu pheromone ly trích từ bướm cái thô và với dẫn suất DMDS và kết quả đánh giá
ngoài đồng đã xác định ở ĐBSCL pheromone giới tính của loài Archips atrolucens
là hỗn hợp gồm E9-14:OAc, E11-14:OAc và Z11-14:OAc ở tỉ lệ 4:32:64;
pheromone giới tính của loài bướm Homona sp là hỗn hợp gồm Z11-14:OAc và Z9-12:OAc ở tỉ lệ 96:4 và pheromone giới tính của loài bướm Adoxophyes
privatana là hỗn hợp Z11-14:OAc và Z9-14OAc với tỉ lệ 92:8 (Hồ Như Thủy,
2012)
Pheromone giới tính của sâu đục thân cây mai dương Camenta mimosa
Eichlin và Passoa (Lepidoptera: Sesiidae) tại Thành phố Cần Thơ, tỉnh Đồng Tháp
và Vĩnh Long là một thành phần (Z,Z)-3,13-Octadecadienyl acetate
Trang 27(Z3,Z13-18:OAc) (Liễu Triều Tiến, 2013) Khi chế tạo mồi bằng tuýp cao su do Việt Nam sản xuất thì hiệu lực hấp dẫn kéo dài đến 56 ngày tương đương với tuýp cao su ngoại nhập Aldrich là 77 ngày (Phạm Bảo Lộc và Trần Văn Hiếu, 2012) Mở ra một triển vọng mới trong việc phòng trị loài cỏ dại nguy hiểm này
1.2.3 Pheromone giới tính của sâu đục trái Conogethes punctiferalis Gueneé
Konno et al (1982) đã xác định, pheromone giới tính của bướm C
punctiferalis ở Nhật Bản là hỗn hợp của E10-16:Ald và Z10-16:Ald (Hình 1.5) với
tỷ lệ là 9:1, đồng thời đã đề nghị ứng dụng hỗn hợp này trong việc quản lý quần thể
bướm C punctiferalis trên các vườn cây ăn trái Boo et al (1998), xác định tỷ lệ phối hợp giữa E10-16:Ald và Z10-16:Ald của C punctiferalis ở dòng Trung Quốc
là 100:11, ở dòng Hàn Quốc là 100:43 và ở dòng Nhật Bản là 100:8 Trong khi đó,
Jung et al (2000), hỗn hợp của E10-16:Ald và Z10-16:Ald ở tỷ lệ là 80:20 cho hiệu quả hấp dẫn cao nhất đối với quần thể bướm C punctiferalis ở Hàn Quốc Choi et
al (2008), khi so sánh hiệu quả hấp dẫn của pheromone giới tính sâu C punctiferalis tại Hàn Quốc bằng cách phối hợp E10-16:Ald và Z10-16Ald, với các
tỷ lệ 70:30, 75:25, 80:20, 85:15 và 90:10, lượng pheromone mỗi bẫy là 1 hoặc 2
mg, theo dõi suốt 2 năm, ghi nhận rằng tỷ lệ phối trộn 75:25 có hiệu quả nhất so với các tỷ lệ khác cho đến thế hệ thứ hai Đến thế hệ thứ 3, cả tỷ lệ 90:10 và 75:25 đều cho hiệu quả hấp dẫn cao Nồng độ pheromone 1 mg cho hiệu quả hơn nồng độ 2
mg
Hình 1.5 Công thức hóa học của 2 thành phần phần pheromone giới tính
SĐT C punctiferalis
Đối với dòng C punctiferalis phân bố tại ĐBSCL, các kết quả phân tích Sắc
ký khí – Điện râu (GC-EAD) và phân tích Sắc ký khí – Khối phổ (GC-MS) cho thấy trong mẫu pheromone ly trích chỉ chứa một thành phần pheromone giới tính là hợp chất E10-16:Ald Tuy nhiên, trong thực tế đánh giá hiệu lực hấp dẫn bướm đực ngoài đồng thì khi thêm vào mồi hợp chất Z10-16:Ald ở tỷ lệ từ 5 – 20% đã gia tăng
có ý nghĩa số lượng bướm vào bẫy (Đinh Thị Chi, 2010)
Lâm Minh Đăng (2012) đã xác định hợp chất E10-16:Ald có khả năng hấp
dẫn bướm C punctiferalis điều kiện ngoài đồng và hiệu quả hấp dẫn tăng lên khác
biệt có ý nghĩa khi thêm vào chất Z10-16:Ald tỉ lệ 10% Cũng trong nghiên cứu này, Lâm Minh Đăng (2012) đã chỉ ra rằng, hàm lượng từ 1 - 5 mg/tuýp mồi hỗn
Trang 28hợp E10-16:Ald : Z10-16:Ald (tỉ lệ 9:1) hấp dẫn bướm đực khác biệt không ý nghĩa với nhau Ngược lại, khi thêm các chất E10-15:Ald, E10-16:OH hay E10-16:OAc vào mồi thì sẽ gây ức chế sự hấp dẫn Bên cạnh đó, hợp chất E10-15:Ald khi hiện diện ở tỉ lệ 5% trong mồi pheromone giới tính tổng hợp (E10-16:Ald và Z10-16:Ald
ở tỉ lệ 9:1) có hiệu quả trong việc quấy rối tín hiệu hấp dẫn của bẫy pheromone đối
với bướm C punctiferalis đực trong điều kiện ngoài đồng
Trang 29CHƯƠNG 2 PHƯƠNG TIỆN VÀ PHƯƠNG PHÁP
2.1 PHƯƠNG TIỆN THÍ NGHIỆM
2.1.1 Vật liệu thí nghiệm
Bẫy pheromone: bao gồm tấm dính có kích thước 27 cm x 30 cm và mái che Takeda Chemical Ind., Ltd Osaka, Nhật Bản hoặc mái che tự làm ở Việt Nam Mái che tự làm ở Việt Nam làm từ tấm nhựa xốp dày 2,5 mm
Tuýp cao su non đường kính 8 mm (Aldrich Chemical Co Ltd), tuýp cao su dẻo do Việt Nam sản xuất
Dây nilon, máy chụp ảnh, giấy nhôm, băng keo, kéo, dây đồng mềm…
Hình 2.1 Các thành phần của bẫy pheromone giới tính tổng hợp
A: Bẫy pheromone gồm mái che, tấm dính và mồi được đặt giữa tấm dính B: Tuýp cao su non đường kính 8 mm (Aldrich Chemical Co Ltd)
C: Tuýp cao su dẻo do Việt Nam sản xuất 2.1.2 Hóa chất thí nghiệm
Dung môi n-hexane tinh khiết
Hóa chất tổng hợp: các chất E10-16:Ald, Z10-16:Ald và E1015:Ald với độ tinh khiết >96% được cung cấp từ phòng thí nghiệm Phòng Trừ Sinh Học, Bộ môn Bảo Vệ Thực Vật, Khoa Nông Nghiệp và SHƯD trường Đại học Cần Thơ
2.1.3 Bẫy pheromone, tuýp quấy rối bắt cặp và cách treo bẫy
2.1.3.1 Mồi pheromone giới tính tổng hợp
Sau khi tinh lọc, hỗn hợp E10-16:Ald và Z10-16:Ald (tỉ lệ 9:1) được pha
loãng trong n-hexane ở liều lượng 10 mg/ml (#10 µg/µl) Dùng các micro syginge
có dung tích 25 và 100 microliter (µl) để rút dung dịch pha loãng ở các hàm lượng
Trang 30tương ứng 1 mg/mồi pheromone rồi nhồi vào tuýp cao su (Aldrich Chemical Co
Ltd) hay tuýp cao su dẻo do Việt Nam sản xuất (Hình 2.1 B và C)
2.1.3.2 Tuýp quấy rối bắt cặp
Tuýp quấy rối bắt cặp là tuýp cao su (Aldrich Chemical Co Ltd) được lộn ngược đầu lại để tạo thành 1 vòng rãnh tròn Hợp chất quấy rối E1015:Ald sẽ được
nhồi vào vòng rãnh tròn của tuýp cao su với nồng độ là 5 mg/tuýp (Hình 2.2 A)
Hình 2.2 Tuýp quấy rối bắt cặp A: Vị trí nhồi E10-15:Ald; B: Tuýp quấy rối được
thiết kế trước khi đem ra treo ngoài đồng
Sau khi nhồi xong, pheromone tổng hợp cũng như hợp chất quấy rối bắt cặp, các tuýp cao su được đặt vào tủ hút khoảng 10 phút để dung môi bay hơi Sau đó, tuýp cao su, không thêm bất kỳ chất ổn định hay chất chống oxy hóa nào, được gói lại bằng giấy nhôm, dán nhãn và trữ trong điều kiện mát của tủ lạnh cho đến khi đưa
- Tuýp quấy rối bắt cặp được cố định bằng dây đồng (Cu) không rỉ để tránh
bị nhiễm và được đặt vào bên trong 1/3 chai nhựa (chai nước ngọt sting) như (Hình 2.2) Sau đó tuýp cao su này sẽ được treo bên trong tán lá cây, ở độ cao từ giữa tán
Trang 31Hình 2.3 Cách treo bẫy pheromone và tuýp quấy rối bắt cặp
trên các vườn thí nghiệm A: Trên ổi; B: Trên sầu riêng 2.2 PHƯƠNG PHÁP THÍ NGHIỆM
2.2.1 Đánh giá hiệu quả phòng trị của bẫy pheromone giới tính tập hợp và
hợp chất quấy rối bắt cặp E10-15:Ald đối với Sâu đục trái Conogethes
punctiferalis trên các vườn ổi tại huyện Phong Điền, Tp Cần Thơ
Mục đích thí nghiệm: đánh giá hiệu quả phòng trị của bẫy pheromone giới tính tổng hợp và chất quấy rối bắt cặp E1015:Ald đối với SĐT C punctiferalis
trên các vườn ổi ở huyện Phong Điền, Thành phố Cần Thơ So sánh hiệu quả làm
giảm tỉ lệ trái bị hại do SĐT C punctiferalis của 2 biện pháp này đối với biện pháp
xử lý thuốc theo nông dân
2.2.1.1 Đợt 1 ( từ ngày 13/11/2011 đến 13/01/2012)
Thời gian: thí nghiệm được tiến hành trong 2 tháng từ 13/11/2011 đến 13/01/2012
Địa điểm thí nghiệm: thí nghiệm được tiến hành đồng thời trên các vườn ổi ở
xã Nhơn Nghĩa, huyện Phong Điền, Thành phố Cần Thơ
Cách bố trí: thí nghiệm tiến hành trên các vườn ổi được trình bày chi tiết ở Bảng 2.1 như sau: