Những năm trở lại đây, việc nghiên cứu về sử dụng các biện pháp sinh học nhằm thay thế việc dùng thuốc trừ sâu trong sản xuất rau an toàn đang được đẩy mạnh, nhất là biện pháp khai thác
Trang 1***
NGUYỄN THỊ NGỌC
“THỜI GIAN PHÁT DỤC VÀ KHẢ NĂNG TIÊU THỤ VẬT MỒI CỦA BỌ
XÍT BẮT MỒI Orius sauteri Poppius”
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Chuyên ngành: Sư phạm Kỹ thuật nông nghiệp
Người hướng dẫn khoa học ThS VŨ THỊ THƯƠNG
HÀ NỘI – 2015
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình thực hiện đề tài này, tôi đã nhận được sự giúp đỡ tận tình của các thầy cô giáo, các cơ quan có liên quan, gia đình và bạn bè Vì vậy khi hoàn thành đề tài này tôi rất mong muốn được gửi lời cảm ơn chân thành
và sâu sắc tới tất cả mọi người
Trước tiên tôi xin được bày tỏ lòng cảm ơn chân thành tới cô giáo Ths
Vũ Thị Thương Giảng viên khoa Sinh – KTNN Trường Đại học Sư phạm Hà
Nội 2 đã hướng dẫn tôi trong suốt quá trình thực hiện và hoàn thành khóa luận
Tôi xin chân thành cám ơn các thầy cô giáo trong Tổ KTNN – Khoa Sinh – KTNN Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 đã hướng dẫn và góp ý, tạo điều kiện cho tôi hoàn thành khóa luận này
Tôi cũng xin được gửi lời cám ơn chân thành đến gia đình người thân và bạn bè đã giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện khóa luận
Xuân Hòa, ngày tháng năm 2015
Người thực hiện đề tài
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Để bảo vệ tính trung thực của khóa luận tốt nghiệp, tôi xin cam đoan:
khóa luận tốt nghiệp: “Thời gian phát dục và khả năng tiêu thụ vật m ồi
của bọ xít bắt mồi Orius sauteri Poppius” là công trình nghiên cứu của cá
nhân tôi, thực hiện dưới sự hướng dẫn của Ths Vũ Thị Thương- giảng viên khoa Sinh- KTNN, trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 Các kết quả tìm thấy trong khóa luận là trung thực và chưa từng công bố trong bất kì nghiên cứu khoa học nào trước đây
Xuân Hòa, ngày tháng năm 2015
Người thực hiện đề tài
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Đặt vấn đề 1
2 Mục đích 2
3 Yêu cầu 3
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU TRONG NƯỚC VÀ NGOÀI NƯỚC 4
1.1 Những nghiên cứu về sâu tơ Plutella xylostella 1.1-4 1.1.1 Những nghiên cứu về sâu tơ Plutella xylostella trên thế giới 1.1.1-4 1.1.2 Những nghiên cứu về sâu tơ Plutella xylostella tại Việt Nam 1.1.2-6
1.2 Những nghiên cứu O sauteri Poppius 1.2-8 1.2.1 Những nghiên cứu O sauteri Poppius trên thế giới 1.2.1-8 1.2.2 Những nghiên cứu O sauteri Poppius tại Việt Nam 1.2.2-11
CHƯƠNG 2: NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 1.2.2-13
2.1 Đối tượng nghiên cứu 1.2.2-13 2.2 Thời gian, địa điểm nghiên cứu 1.2.2-13 2.2.1 Thời gian nghiên cứu 1.2.2-13 2.2.2 Địa điểm nghiên cứu 1.2.2-13 2.3 Vật liệu và dụng cụ nghiên cứu 1.2.2-13 2.4 Nội dung nghiên cứu 1.2.2-13 2.5 Phương pháp nghiên cứu 1.2.2-14 2.5.1 Phương pháp nghiên cứu ngoài đồng 1.2.2-14 2.5.2 Phương pháp nghiên cứu trong phòng 1.2.2-14 2.5.3 Xử lí, bảo quản mẫu vật 1.2.2-16 2.5.4 Phương pháp xử lý số liệu: 1.2.2-16
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 1.2.2-18
Trang 53.1 Đặc điểm sinh học của bọ xít bắt mồi Orius sauteri Poppius 1.2.2-18
3.1.1 Đặc điểm hình thái 1.2.2-18 3.1.2 Tập tính sống 1.2.2-19
3.2 Diễn biến mật độ sâu tơ ( P xylostella) và bọ xít bắt mồi ( O sauteri)
trên bắp cải vụ thu đông 2014 tại Nam Viên - Phúc Yên - Vĩnh Phúc 1.2.2-19
3.2.1 Diễn biến mật độ sâu tơ ( P xylostella) trên bắp cải vụ thu đông 2014
tại Nam Viên - Phúc Yên - Vĩnh Phúc 1.2.2-19
3.2.2 Diễn biến mật độ bọ xít bắt mồi ( O sauteri) trên bắp cải vụ thu đông
2014 tại Nam Viên - Phúc Yên - Vĩnh Phúc 1.2.2-21
3.3 Thời gian phát dục các pha của Orius sauteri Poppius khi nuôi bằng thức
ăn là sâu tơ Plutella xylostella (tuổi 1-2) trên lá cải bắp 1.2.2-23 3.4 Khả năng tiêu thụ vật mồi sâu tơ Plutella xylostella của Orius sauteri
Poppius trên lá bắp cải 1.2.2-25
CHƯƠNG 4: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 1.2.2-29
4.1 Kết luận 1.2.2-294.2 Đề nghị ………29
Trang 6Bảng 3.2 Diễn biến mật độ bọ xít bắt mồi ( O sauteri) trên bắp cải vụ thu
đông 2014 tại Nam Viên - Phúc Yên - Vĩnh Phúc………… …22
Bảng 3.3 Thời gian phát dục của Orius sauteri Poppius khi nuôi bằng thức ăn
là sâu tơ Plutella xylostella (tuổi 1-2) trên lá cải bắp………… 24
Bảng 3.4 Khả năng lựa chọn pha phát dục vật mồi sâu tơ Plutella xylostella
của trưởng thành O.sauteri P trên lá bắp cả……… 25
Bảng 3.5 Khả năng tiêu thụ vật mồi (sâu tơ tuổi 1-2) của mỗi pha phát dục
O.sauteri P nuôi trên lá cải bắp……… 27
DANH MỤC HÌNH
Hình 3.1 Diễn biến mật độ sâu tơ (P xylostella) trên bắp cải vụ thu đông
2014 tại Nam Viên - Phúc Yên - Vĩnh Phúc……… 21
Hình 3.2 Diễn biến mật độ bọ xít bắt mồi ( O sauteri) trên bắp cải vụ thu
đông 2014 tại Nam Viên - Phúc Yên - Vĩnh Phúc………… …23
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Đặt vấn đề
Trong tự nhiên, có những sinh vật gây hại cho cây trồng (gọi là loài dịch hại), đồng thời có những sinh vật không gây hại cho cây trồng mà chúng tiêu diệt các loài dịch hại (gọi là loài thiên địch) Có nhiều loài thiên địch: Loài thiên địch ăn thịt loài dịch hại (như bọ rùa, chuồn chuồn, chim, ruồi giả dạng ong, tò vò…); loài thiên địch ký sinh (như ong mắt đỏ, ruồi ký sinh, vi-rút gây bệnh cho loài dịch hại…)
Thiên địch có vai trò quan trọng trong cân bằng sinh thái, giúp giữ cân bằng cho hệ sinh thái một cách tự nhiên theo mối quan hệ của các loài trong quần xã Trong mỗi hệ sinh thái nông nghiệp có những nhóm thiên địch nhất định giữ vai trò quan trọng trong điều hòa số lượng sâu hại Nhờ hoạt động tích cực của các loài thiên địch mà mật độ quần thể gây sâu hại bị khống chế dưới ngưỡng gây hại kinh tế Sự hiện diện của thiên địch với thành phần đa dạng và phong phú đặc trưng cho môi trường không hoặc ít ô nhiễm do sựu thay đổi môi trường về nhiều khía cạnh khác nhau
Theo Phòng Nông nghiệp, Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn, Chi cục Bảo vệ thực vật Thành phố Hồ Chí Minh và một số tỉnh trong liên kết rau
an toàn (2010) cho thấy đối tượng sâu hại phổ biến trên rau bao gồm: sâu khoang, sâu xanh bướm trắng, sâu tơ, bọ nhảy, bọ trĩ, bọ cánh phấn, các loài rệp cây, rầy mềm, rệp muội Trong đó, sâu tơ là đối tượng dịch hại nghiêm trọng và khó phòng trừ nhất bởi nó được coi là điển hình về khả năng quen thuốc và kháng thuốc Hiện nay đã xuất hiện nhiều chủng sâu tơ chống thuốc
ở các vùng khác nhau, chúng nổi tiếng về tốc độ tàn phá nhanh chóng và khó
có thể kiểm soát được nếu chỉ sử dụng biện pháp hóa học đơn thuần
Thực tế, để phòng trừ dị ch sâu tơ hại rau , người nông dân mới chỉ sử dụng một biệ n pháp duy nhất là hóa học nên đại đa số người tiêu dùng vẫn
Trang 8đang sử dụng rau không an toàn do người trồng rau sử dụng phân bón, thuốc trừ sâu… không hợp lý, không đảm bảo thời gian cách ly, dễ gây ngộ độc cho người tiêu dùng, làm ảnh hưởng đến sức khỏe cộng đồng
Theo tác giả Nguyễn Văn Đậu (2008) [7] tại Đặng Xá- Gia Lâm- Hà Nội, trên rau đã phát hiện 32 loài thiên địch, trong đó phổ biến nhất là bọ xít bắt
mồi Orius sauteri Đặc biệt mật độ sâu tơ và mật độ bọ xít Orius sauteri có
mối tương quan chặt chẽ ( r = 0,96), bọ xít bắt mồi đóng vai trò là vật tiêu thụ bậc 2 tác động mạnh mẽ tới vật mồi là sâu tơ, làm giảm vật mồi sâu tơ
Những năm trở lại đây, việc nghiên cứu về sử dụng các biện pháp sinh học nhằm thay thế việc dùng thuốc trừ sâu trong sản xuất rau an toàn đang được đẩy mạnh, nhất là biện pháp khai thác lợi dụng thiên địch để phòng chống sâu hại hiệu quả, đây được xem là một hướng quan trọng trong các hướng phát triển biện pháp sinh học, là biện pháp chủ đạo của hệ thống phòng trừ dịch hại tổng hợp (IPM) giúp bảo vệ sức khỏe cho cộng đồng và chống ô nhiễm môi trường
Xuất phát từ yêu cầu thực tế , phù hợp với xu thế phát triển của nền nông nghiệp bền vững và an toàn, dưới sự hướng dẫn của ThS Vũ Thị Thương, tôi
tiến hành nghiên cứu đề tài : “Thời gian phát dục và khả năng tiêu thụ vật
mồi của bọ xít bắt mồi Orius sauteri Poppius”
2 Mục đích
Nghiên cứu thời gian phát dục các pha và khả năng tiêu thụ vật mồi của
Orius sauteri Poppius khi nuôi bằng thức ăn là sâu tơ , làm cơ sở để sử dụng
bọ xít bắt mồi O sauteri Poppius khống chế mật độ sâu tơ Plutella xylostella
Trang 93 Yêu cầu
- Tìm hiểu thời gian phát dục các pha của O sauteri Poppius khi nuôi bằng
thức ăn là sâu tơ Plutella xylostella trong phòng thí nghiệm
- Tìm hiểu khả năng lựa chọn pha phát dục vật mồi (sâu tơ) của bọ xít bắt
mồi O sauteri Poppius trong phòng thí nghiệm
- Tìm hiểu khả năng tiêu thụ vật mồi (sâu tơ) ở mỗi pha phát dục của bọ xít
bắt mồi O sauteri Poppius trong phòng thí nghiệm
Trang 10Khóa luận tốt nghiệp 1.1.1-4 Nguyễn Thị Ngọc- K37D Sinh -
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU TRONG
NƯỚC VÀ NGOÀI NƯỚC
1.1 Những nghiên cứu về sâu tơ Plutella xylostella
1.1.1 Những nghiên cứu về sâu tơ Plutella xylostella trên thế giới
Sâu tơ là đối tượng dịch hại nguy hiểm đối với các vùng trồng rau họ hoa thập tự trên thế giới nên từ lâu đã đợc quan tâm nghiên cứu Đã có rất nhiều những nghiên cứu về sự phân bố, tình hình gây hại, đặc điểm sinh học của sâu tơ và đề ra những biện pháp phòng trừ mới nhằm giảm thiểu thiệt hại do chúng gây ra Tuy nhiên sự gây hại hay các đặc điểm của sâu tơ ở mỗi vùng địa lý là khác nhau Tất cả đều hướng tới mục tiêu phòng trừ có hiệu quả, giảm thiểu tối đa sự gây hại của chúng
Về nguồn gốc ra đời và sự phân bố, theo nghiên cứu của Ronal
F.L.Mau, Jayma L.Martin Kessing, thì sâu tơ có mặt khắp nơi, có lẽ bắt nguồn từ vùng Địa Trung Hải Ngời ta thấy ở Bắc Mỹ, phần phía nam của Nam Mỹ, Nam Phi, Châu Âu, Ấn Độ, Đông Nam Á, New Zealand, và một số phần Australia (Hardy, 1938) Chúng tình cờ được phát hiện ở Châu Âu, lần đầu tiên được báo cáo ở Bắc Mỹ bang Illinois năm 1854 và từ phía tây Canada năm 1885 (Harcourt, 1962) Hiện nay nó có mặt trên khắp nước Mỹ
và Canada Ở Hawaii, lần đầu tiên xuất hiện năm 1892 và hiện nay có mặt trên khắp các hòn đảo [30]
Về sự gây hại, ở Châu Âu đặc biệt ở Anh, sâu tơ có lịch sử phá hoại
gần 160 năm nay, nhưng ở các nước khác thuộc Châu Á và Châu Mỹ mới chỉ ghi nhận sự phá hoại của sâu tơ ở đầu thế kỷ 20 Ở Argentina, Australia, New Zealand và Nam Phi sâu tơ trở thành dịch hại nguy hiểm từ trước năm
1930, từ đó đến năm 1939 sâu gây hại nghiêm trọng ở các nớc Chile, Columbia, Jamaica, Và sau đó là gây hại tại Brazil (1981), Bulgaria (1957), Hong Kong (1960), India (1968), Indonesia (1950) Tổng kết đến năm 1972
Trang 11Khóa luận tốt nghiệp 1.1.1-5 Nguyễn Thị Ngọc- K37D Sinh -
tối thiểu đã có 128 nước ghi nhận sự phá hoại của nó (Dẫn theo Nguyễn Quý Hùng) [20]
Về đặc điểm sinh học Do sự khác nhau về địa lý nên những nghiên cứu
về đặc điểm sinh học cũng khác nhau và đặc trưng cho từng vùng đó Điều đó cũng thể hiện sự thích nghi rộng rãi ở nhiều vùng sinh thái của sâu tơ
Ở Canada, vòng đời sâu khoảng 14 - 21 ngày, Hồng Kông 22- 37 ngày, Malaysia 10,8 - 27 ngày Ở nhiệt độ 20ºC thì vòng đời sâu là 23 ngày nhưng khi nhiệt độ 25ºC thì vòng đời rút ngắn lại 16 ngày [24] (Koshihara, 1985) Phạm vi nhiệt độ thích hợp cho quá trình phát triển của sâu tơ dao động trong 6 khoảng 17,5ºC - 27,5ºC [6] Tuy nhiên, sâu vẫn sống và phát triển được trong khoảng nhiệt độ 10ºC - 40ºC Riêng trưởng thành hoạt động được ở nhịêt độ 50ºC, còn ở nhiệt độ 0ºC thì nhộng vẫn sống và trưởng thành vẫn sinh sản Ngưỡng nhiệt độ phát dục của sâu tơ tuỳ thuộc vào từng giai đoạn phát triển của sâu, nhìn chung vào khoảng từ 6,7ºC - 9,8ºC và ở nhiệt độ
từ 22,5-27,5ºC, ngài sâu tơ đẻ trứng nhiều hơn hẳn so với ở nhiệt độ 17,5ºC
và 30ºC, một ngài cái đẻ từ 23,8 - 107,3 trứng [17]
Theo Harcout (1985) [23], ở Canada sâu tơ đạt đỉnh cao số lượng vào lứa thứ 3 và thứ 4 Theo Ong và Soon, 1990 [28] nhận thấy sâu non phân bố trên cây chủ yếu ở mặt dưới lá non và lá bánh tẻ để gây hại, đến cuối tuổi 4 thì di chuyển xuống mặt dưới lá già và kẽ lá để hoá nhộng
Sự biến động của sâu tơ trên đồng ruộng được nhiều tác giả nghiên cứu
và kết luận các yếu tố thời tiết, thức ăn tác động lớn tới quần thể sâu tơ Chen và Su (1986) đã chỉ ra mưa lớn là yếu tố chính làm giảm số lượng sâu
tơ trong mùa hè Mưa không những rửa trôi trứng và sâu non trên lá mà còn hạn chế hoạt động bay và đẻ trứng của bướm Ở bắc Thái Lan và vùng cao nguyên thường sâu tơ phát sinh và phá hoại nhiều từ tháng 2 - 4 khi điều kiện khí hậu thích hợp và thức ăn đầy đủ Ở Đài Loan, cây họ hoa thập tự có thể
Trang 12Khóa luận tốt nghiệp 1.1.2-6 Nguyễn Thị Ngọc- K37D Sinh -
thấy quanh năm ngoài ruộng, đó là nguồn thức ăn lý tưởng để sâu tơ tồn tại và phát triển liên tục (Chang 1960, Wang 1984, Lew và Lee1984, Talekar và Lee 1985) Những thực nghiệm của Talekar và ctv (1986) sử dụng tưới phun mưa
đã hạn chế được sự phá hoại của sâu tơ và cho rằng hệ thống tới phun này ảnh hưởng tới hoạt động của bướm và sự đẻ trứng (Dẫn theo Nguyễn Quý Hùng)[20]
Qua đó ta có thể thấy sự biến động của quần thể sâu tơ bị tác động mạnh mẽ bởi lượng mưa, nhiệt độ, thức ăn Sự chuyên canh và thâm canh rau
đã tạo ra nguồn thức ăn liên tục cho sâu tơ, là yếu tố tích cực thúc đẩy sự tăng nhanh mật độ Vì vậy việc bố trí thời vụ, biện pháp tới tiêu có thể hạn chế được mật độ sâu tơ và khả năng gây hại của chúng trên đồng ruộng
Vấn đề nổi bật của sâu tơ là khả năng hình thành và phát triển nhanh tính kháng đối với các loại thuốc hoá học để phòng trừ chúng Sâu tơ là loại côn trùng thuộc bộ cánh vảy đầu tiên được Ankersmit phát hiện có tính kháng thuốc trừ sâu tổng hợp hữu cơ DDT vào những năm 1953 Một số tài liệu khác chỉ rõ sâu tơ là đối tượng đầu tiên được Tasbashnik phát hiện có tính kháng với chế phẩm sinh học BT vào năm 1990 (dẫn theo Nguyễn Quý Hùng, Lê Trường và ctv, 1995) [20]
1.1.2 Những nghiên cứu về sâu tơ Plutella xylostella tại Việt Nam
Ở Việt Nam, những nghiên cứu về sâu tơ được các tác giả Nguyễn Quí Hùng, Lê Trường, Lã Phạm Lân, Dương Thành Tài, Huỳnh Công Hà, Trần Đức Văn thực hiện khá chi tiết Theo Lê Trường (1982), ở cuối thập niên 40 nhiều vùng ở Hà Nội và Hải Phòng, nông dân đã phải sử dụng thuốc trừ sâu để hạn chế sâu tơ gây hại trên các ruộng cải Hiện nay sâu tìm thấy hầu như ở tất cả các vùng trồng rau cải Năm 1967 - 1968, theo ban điều tra
cơ bản côn trùng Bộ Nông nghiệp ghi nhận sâu ở Bắc Thái, Hà Nội, Hà Sơn Bình, Nghệ An Tuy nhiên, đặc biệt gây hại nghiêm trọng ở vùng Hà Nội, Hải
Trang 13Khóa luận tốt nghiệp 1.1.2-7 Nguyễn Thị Ngọc- K37D Sinh -
Phòng, Đà Lạt, thành phố Hồ Chí Minh và Tiền Giang là các tỉnh có nhiều diện tích trồng rau cải [20]
Theo kết quả nghiên cứu của Lê Văn Trịnh và Trần Huy Thọ trên rau họ hoa thập tự ở Mai Dịch và các cùng phụ cận(1995) [18] cho thấy, trong thời gian từ tháng 3 đến tháng 9 năm 1991 xuất hiện 10 đợt sâu tơ phát sinh rộ trên đồng ruộng Mật độ giảm dần từ 24,1 (con/cây) xuống 0,2 (con/cây) Khoảng cách giữa 2 đỉnh cao sâu rộ giảm dần từ 25 - 26 ngày trong tháng 3 còn 15 - 16 ngày trong tháng 8 Qua đó cho thấy mật độ và vòng đời sâu hại có quan hệ mật thiết với điều kiện tự nhiên Các giai đoạn phát dục và vòng đời của sâu tơ chịu ảnh hưởng nhất định của các yếu tố nhiệt độ không khí, ở 21,7ºC vòng đời là 20,8 ngày Khi nhiệt độ xuống 17,2ºC thì vòng đời tăng là 33,3 ngày Thời gian sống đẻ trứng, tỉ lệ trứng hữu hiệu bị ảnh hởng nhất định của chất lợng thức ăn và của thuốc Monitor phun 2 lần trong thòi kỳ sâu non
Sự quen thuốc và kháng thuốc của sâu tơ trở thành vấn đề nan giải và bắt buộc các nhà khoa học phải tìm ra những biện pháp mới Đã có nhiều những kết quả nghiên cứu về hiệu quả của thuốc sinh học, điển hình là chế phẩm BT Kết quả nghiên cứu của Nguyễn Văn Sơn, Lê Kim Oanh, Nguyễn Văn Hải, Trần Phan Hữu [15] về hiệu quả của chế phẩm vi sinh Xentari WDG đối với sâu tơ tại Đặng Xá - Gia Lâm - Hà Nội ở 4 mức liều lượng: 0,5; 1,2; 3kg/ha cho thấy cả 3 liều lượng đều đạt hiệu quả cao ở liều lượng 1 kg/ha hiệu lực của thuốc đã đạt chỉ số khá cao: 81,78% (3 ngày xử lý), 87,92% (sau
5 ngày), 91,15% (sau 7 ngày xử lý) và cao nhất đạt 100% ở liều lợng 3 kg/ha sau 7 ngày xử lý
Nguyễn Văn Trịnh, Vũ Thị Sử và Nguyễn Thị Nguyên [19] cũng đã nghiên cứu hiệu quả khống chế số lượng quần thể sâu tơ của ong ký sinh A.plutellae trên đồng ruộng và thu đợc kết quả: Trong một vụ gieo trồng,
Trang 14Khóa luận tốt nghiệp 1.2.1-8 Nguyễn Thị Ngọc- K37D Sinh -
tỷ lệ sâu tơ bị ong ký sinh tăng dần từ lứa sâu thứ 1 đến lứa thứ 2 (đối với vụ sớm và vụ muộn) cho tới lứa thứ 3 (chính vụ) Từ vụ rau sớm đến vụ trồng muộn, tỷ lệ ký sinh tăng dần từ 1,6 - 2,1% (ở vụ rau sớm), và đạt tới 6,5-10,2% (trong vụ muộn) Trong điều kiện không phun thuốc tỉ lệ ký sinh đạt mức cao hơn Ngoài ra còn rất nhiều những nghiên cứu khác về các biện pháp phòng trừ sâu tơ
Như vậy các biện pháp sinh học đã đợc quan tâm nghiên cứu và đã đạt
đợc những thành quả nhất định
1.2 Nhƣ̃ng nghiên cƣ́u O sauteri Poppius
1.2.1 Nhƣ̃ng nghiên cƣ́u O sauteri Poppius trên thế giới
Những nghiên cứu và ứng dụng về thiên địch trong phòng chống sâu hại
từ lâu đã được thực hiện Hiệu quả mà biện pháp này mang lại tuy không tức thời như biện pháp hoá học nhưng mang tính ổn định, thân thiện với con ngời
và môi trường Bọ xít bắt mồi là đối tượng được nghiên cứu và sử dụng phổ biến trong đó có bọ xít thuộc họ Anthrocoridae và Reduviidae Nhật Bản là một trong những nước điển hình về sự thành công nghiên cứu và ứng dụng
loài bọ xít Orius sp (họ Anthrocoridae) trong phòng trừ bọ trĩ
Người ta đã xác định được từ 500 - 600 loài thuộc họ Anthocoridae, phân bố trên thế giới, tất cả các loài thuộc họ Anthocoridae đều có vòi hút, phần lớn các loài thiên địch được biết đến đều là côn trùng bắt mồi Trong số
các loài thuộc họ Anthocoridae thì các loài thuộc giống Orius là có ý nghĩa hơn cả trong việc phòng trừ bọ trĩ (Thrips palmi), các loài thuộc giống Orius
này đã và đang được nghiên cứu nhiều trên thế giới [29]
Về phổ kí chủ, các loài bọ xít bắt mồi thuộc giống Orius là kí chủ của
nhiều loài côn trùng khác nhau, trong đó nổi bật là có các loài bọ trĩ, như bọ
xít bắt mồi (Orius albidipennis) là kí chủ của 13 loài sâu hại trong đó có 5
Trang 15Khóa luận tốt nghiệp 1.2.1-9 Nguyễn Thị Ngọc- K37D Sinh -
loài bọ trĩ là: Aeolothrips fasciatus, Frankliniella, Occidentalis, Gynaikothrip
ficorum, M sjostedti và Thrips tabaci [29]
Nagai (1988), Kawamoto và Kawai (1988), Nagai (1990, 1993), Kawai
và Kawamoto (1994), Kawai (1995) đã công nhận khả năng khống chế hiệu
quả bọ trĩ T palmi trên cây cà tím trong nhà kính (Dẫn theo Kazuya Nagai và
Eizi Yano) [24]
Về đặc tính sinh học của Orius sp., trong phòng thí nghiệm sử dụng
bọ trĩ (Thrips palmi) làm vật mồi, Nagai(1990) [27] đã chỉ ra rằng, vòng đời của Orius sp ngắn lại khi nhiệt độ tăng lên Ở Nhật Bản, trong phòng thí nghiệm ở 25ºC, một trưởng thành cái Orius sp trung bình ăn 22 sâu non tuổi
2 hoặc 26 trưởng thành bọ trĩ (T palmi) trong 1 ngày, tuy nhiên Orius sp
không ăn trứng bọ trĩ
Theo Murai và ctv (2001) [26] khi nuôi Orius sauteri ở 24ºC bằng bọ
trĩ (Thrips palmi) thì nó có thời gian phát dục từ khi trứng nở đến khi trưởng thành là 12,9 ngày (con đực) và 13,3 ngày (con cái), thời gian đẻ trứng của 1 trưởng thành cái là 41,5 ngày, tổng lượng trứng đẻ là 108,7 (quả/con), tỉ
lệ trứng nở là 97,1%, việc bảo quản trứng ở nhiệt độ từ 2,5 - 12,5ºC trong 1 tuần trứng vẫn còn khả năng đạt tỉ lệ nở cao
Theo Yano E và ctv (2001) [29], khi nuôi Orius sauteri bằng trứng
Ephestia kuchniella ở 25ºC, thời gian phát dục của trứng là 4,8 ngày, tỉ lệ trứng nở là 80%, tỉ lệ sâu non sống sót là 93,2%, thời gian phát dục của trưởng thành cái là 27,9 ngày, trưởng thành đực là 36,4 ngày, trưởng thành cái
đẻ trung bình 103,9 (trứng/con) và trung bình mỗi ngày đẻ 3,4 quả
Tommasini, Benuzzi (1996) nghiên cứu đặc điểm sinh học của loài O.laevigatus trong 3 điều kiện nhiệt độ khác nhau gồm: 14ºC, 20ºC, 30ºC với thức ăn là trứng của loài Ephestia kuchniella thấy rằng thời gian phát dục 14-25 ngày ở nhiệt độ 30ºC, rất dài ở nhiệt độ 20ºC và số lượng con cái sinh
Trang 16Khóa luận tốt nghiệp 1.2.1-10 Nguyễn Thị Ngọc- K37D Sinh -
sản, số lượng trứng được đẻ ra từ một con cái cũng giảm ở nhiệt độ 14ºC Loài O.majusculus cũng đã đợc Alvarado et al (1997) nghiên cứu ở Tây Ban Nha với thức ăn là loài rệp hại bông Aphos gossypii và Macrosiphum euphorbiae (Dẫn theo Trương Xuân Lam và Vũ Quang Côn) [12]
Các loài bọ xít bắt mồi họ Reduviidae cũng đã được nghiên cứu rộng rãi
Ở Đông Dương, Vitalis (1919) đã công bố 14 loài bọ xít bắt mồi bao gồm họ Reduviidae có 11 loài thuộc 9 giống Faraci và Vlach (1994) đã xác định vùng phân bố và xây dựng khóa định loại cho các loài bọ xít bắt mồi thuộc giống Coranus ở Italia Miller (1956) đã mô tả các đặc điểm hình thái trứng của 24 loài thuộc họ bọ xít ăn sâu Reduviidae và mô tả bọ xít non tuổi
1, tuổi 4 của 7 loài bọ xít bắt mồi thuộc họ này Theo Khoo (1990) thì ở Malaysia người ta đã sử dụng loài bọ xít bắt mồi Sycanus collaris (họ Reduviidae) để phòng chống bọ xít xanh hại đậu tương Nezaza viridula (Dẫn theo Trương Xuân Lam và Vũ Quang Côn) [12]
Theo El-Sebaey, I I., El-Bishry, M H., Coranus africana đã được các nhà khoa học Ai Cập miêu tả Nó xuất hiện nhiều trên các loài thực vật hoang
dã và cây trồng Một số khía cạnh sinh học của loài này đã được nghiên cứu ở điều kiện 30ºC±1ºC, 70±5% RH, sử dụng Anagasta kuehniella và Corcyra cephalonica làm vật mồi trong phòng thí nghiệm Sau khi trứng nở được nuôi
cá thể bằng ấu trùng 2 loài vật mồi trên Kết quả thu được cho thấy khi nuôi bằng Corcyra cephalonica vòng đời con đực và cái là 26,5±2,8 ngày; 23,8±1,7 ngày dài hơn so với thức ăn là Anagasta kuehniella (26,5± 1,9 và 22±1,3 ngày) Tác giả cũng kết luận đặc điểm sinh học, vòng đời, khả năng đẻ trứng
bị ảnh hưởng bởi thức ăn [30]
Trang 17Khóa luận tốt nghiệp 1.2.2-11 Nguyễn Thị Ngọc- K37D Sinh -
1.2.2 Nhƣ̃ng nghiên cƣ́u O sauteri Poppius tại Việt Nam
Ở Việt Nam cũng đã có nhiều nghiên cứu về loài bọ xít bắt mồi Orius
sauteri và thu được nhiều kết quả
Theo kết quả nghiên cứu Yorntry và Hà Quang Hùng (2005) [21] trứng
của Orius sauteri Poppius có màu trắng sữa hoặc vàng nhạt, kích thước rất
nhỏ (0,40 x 0,12) mm, trứng được đẻ vào gân chính và gân phụ của lá, sâu non (từ tuổi 1 đến tuổi 5) màu thay đổi từ trắng sữa đến vàng nâu, kích thước tăng dần từ 0,54 x 0,14 mm đến 0,7 x 0,17 mm, trưởng thành màu tối kích thước con cái 1,95x0,85 mm con đực là 1,68 x 0,75 mm
Còn theo Trần Thị Thiên An và ctv (2003) [1] ghi nhận, trưởng thành
bọ xít bắt mồi Orius sp khi mới vũ hoá có màu trắng sau chuyển dần sang
màu đen, cánh trắng đục, bụng 8 đốt, đốt bàn chân có 2 móc hình lưỡi câu mắt kép màu nâu đỏ, râu 4 đốt, cơ thể dài 2,03mm rộng 0,79mm, bọ xít non
có 5 tuổi, tuổi 5 có cơ thể dài 2,02mm, rộng 0,79mm Trứng hình quả bầu, dài 0,5mm, rộng 0.17mm có nắp trứng hơi gồ lên Cả bọ xít non và trưởng thành đều hoạt động săn mồi trên búp ngọn hoặc dưới mặt lá Vòng đời khi nuôi bằng bọ trĩ là 18,92 ngày, khả năng đẻ trứng là 54,33 (trứng/ ngày), khả năng ăn mồi của trưởng thành đối với bọ trĩ sọc vàng trung bình là 23,3 con/ngày và đối với nhện là 27,9 con/ngày
Theo kết quả nghiên cứu của Lê Lân (2006) [14], đặc điểm chung của loài bọ xít Coranus fuscipennis: trưởng thành cái dài trung bình 24,35mm; trưởng thành đực dài trung bình 19,35mm; trứng dài trung bình 1,35mm Số trứng đẻ được cao nhất 54,15 quả Tỷ lệ trứng nở 86-87% Nhiệt
độ 25-30ºC vòng đời nhắn nhất là 45,47 ngày với vật mồi là sâu cuốn lá; cũng ở nhiệt độ này, vòng đời là 56,95 ngày với vật mồi là sâu khoang; vòng đời dài nhất là 61,11 ngày với vật mồi là sâu đo xanh
Trang 18Khóa luận tốt nghiệp 1.2.2-12 Nguyễn Thị Ngọc- K37D Sinh -
Trương Xuân Lam và Vũ Quang Côn đã nghiên cứu sự biến động số lượng loài bọ xít bắt mồi Coranus fuscipennis trên cây Bông tại Tô Hiệu- Sơn La kết quả thu được: Mật độ trung bình là 0,17- 0,02 con/m² Có một đỉnh cao vào đầu tháng X với mật độ 0,56 con/m², sau đó mật độ giảm dần vào cuối tháng XI Trên cây bông, vật mồi của loài bọ xít này bao gồm sâu đo (Giống Anomis, Acidalia), sâu cuốn lá bông (Giống Sylepta và Cacoecia) Ở Gia Lâm - Hà Nội mật độ trung bình là 0,06- 0,01 con/m², trong vụ xuân chúng thường xuất hiện vào giữa tháng IV và sau đó phát triển cho tới cuối tháng VI Có mặt trên cây rau với mật độ thấp vào tháng IX, tháng X (Dẫn
theo Trương Xuân Lam và Vũ Quang Côn) [12]
Trang 19Khóa luận tốt nghiệp 1.2.2-13 Nguyễn Thị Ngọc- K37D Sinh -
CHƯƠNG 2: NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Đối tượng nghiên cứu
- Dịch hại: sâu tơ (Plutella xylostella)
- Thiên địch: bọ xít bắt mồi Orius sauteri Poppius
2.2 Thời gian, địa điểm nghiên cứu
2.2.1 Thời gian nghiên cứu
Đề tài được tiến hành từ tháng 01 đến tháng 10 năm 2014
2.2.2 Địa điểm nghiên cứu
- Thu mẫu: khu vực Phúc Yên – Vĩnh Phúc
- Nhân nuôi, theo dõi, nghiên cứu: phòng thí nghiệm – khoa Sinh KTNN trường ĐH SP Hà Nội 2
2.3 Vật liệu và dụng cụ nghiên cứu
- Vật liệu điều tra thu thập mẫu: vợt, kính lúp, pince, kéo, ống hút côn trùng, túi nilon, chổi lông
- Vật liệu phục vụ thiết kế và điều tra các thí nghiệm trên đồng ruộng: kính lúp cầm tay, ống hút, hộp đựng mẫu vật, sổ ghi chép, biển công thức
- Vật liệu nuôi và theo dõi trong phòng: hộp mica, hộp nuôi sâu
- Các dụng cụ thí nghiệm khác: kính hiển vi, kính lúp, bút lông, đĩa petri, pank, kéo, ống nghiệm, găng tay, bút, và một số dụng cụ khác
2.4 Nội dung nghiên cứu
- Tìm hiểu thời gian phát dục các pha của O sauteri Poppius khi nuôi
bằng thức ăn là sâu tơ trong phòng thí nghiệm
- Tìm hiểu khả năng lựa chọn pha phát dục vật mồi (sâu tơ ) của bọ xí t
bắt mồi O sauteri Poppius trong phòng thí nghiệm
Trang 20Khóa luận tốt nghiệp 1.2.2-14 Nguyễn Thị Ngọc- K37D Sinh -
- Tìm hiểu khả năng tiêu thụ vật mồi ( sâu tơ) ở mỗi pha phát dục của bọ
xít bắt mồi O sauteri Poppius trong phòng thí nghiệm
2.5 Phương pháp nghiên cứu
2.5.1 Phương pháp nghiên cứu ngoài đồng
Phương pháp điều tra diễn biến mật độ
Điều tra định kì 5 ngày/ lần, từ khi trồng đến khi thu hoạch Điều tra theo phương pháp 5 điểm chéo góc Mỗi điểm 4 cây, mỗi cây 4 lá cải bắp
Các chỉ tiêu cần theo dõi:
- Sâu hại: diễn biến mật độ sâu tơ ( con/ cây)
- Thiên địch: diễn biến mật độ bọ xít bắt mồi (con/ cây)
Phương pháp thu nguồn bọ xít (O sauteri) và thức ăn củ a chúng ( sâu tơ Plutella xylostella)
- Thu O sauteri Poppius: trong suốt thời gian nghiên cứu lúc nào cũng
thấy chúng xuất hiện với mật độ khá cao Chúng sợ ánh sáng trực xạ thường hoạt động vào buổi chiều mát, trời nắng nhẹ Trưởng thành có tập tính già chết nên muốn thu chúng ta chỉ việc hứng miệng chai nhựa và gõ nhẹ chúng
sẽ tự rơi vào lọ
- Thu sâu tơ: thu nhộng sâu tơ từ các lá cải bắp bánh tẻ Khi thu nhộng
chú ý thao tác nhẹ nhàng không để rách màng tơ bao quanh nhộng
2.5.2 Phương pháp nghiên cứu trong phòng
Phương pháp nuôi sinh học
Mục đích: để theo dõi thời gian phát dục của Orius sauteri Poppius
Nuôi O sauteri
Bước 1: ngâm hạt đậu trắng nảy mầm 1-2cm, đặt vào hộp nuôi sâu 15 hạt/ hộp