Trong một môi trường kinh doanh đầy biến động và khắc nghiệt như hiện nay, bất kì thành viên nào cũng luôn phải cạnh tranh để tồn tại và phát triển
Trang 1MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 3
CHƯƠNG I: KHÁI QUÁT VỀ KHẢ NĂNG CẠNH TRANH TRONG HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG NGẮN HẠN CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 5
1.1 HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG NGẮN HẠN CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 5
1.1.1 Khái niệm ngân hàng thương mại ( NHTM) 5
1.1.2 Khái quát về hoạt động tín dụng ngân hàng 5
1.1.3 Tín dụng ngắn hạn trong ngân hàng thương mại 7
1.2 VẤN ĐỀ CẠNH TRANH TRONG HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG NGẮN HẠN CỦA NHTM 9
1.2.1 Cạnh tranh và khả năng cạnh tranh của NHTM 9
1.2.2 Hệ thống chỉ tiêu đánh giá khả nàng cạnh tranh của NHTM trong hoạt động tín dụng ngắn hạn 16
1.2.3 Các công cụ cạnh tranh của ngân hàng thương mại 19
1.2.4 Nhân tố ảnh hưởng tới khả năng cạnh tranh của NHTM 27
CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG KHẢ NĂNG CẠNH TRANH TRONG HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG NGẮN HẠN TẠI NGÂN HÀNG TMCP SÀI GÒN-HÀ NỘI CHI NHÁNH ĐỐNG ĐA 31
2.1 Khái quát về ngân hàng Sài Gòn-Hà Nội chi nhánh Đống Đa 31
2.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển của ngân hàng Sài Gòn-Hà Nội chi nhánh Đống Đa 31
2.1.2 Mục tiêu hoạt động 32
2.1.3 Họat động kinh doanh của ngân hàng 33
2.2 Thực trạng khả năng cạnh tranh của ngân hang TMCP Sài Gòn-Hà Nội chi nhánh Đống Đa trong hoạt động tín dụng ngắn hạn 38
Trang 22.2.1 Các chỉ tiêu đánh giá khả năng cạnh tranh của ngân hàng TMCP
Sài Gòn-Hà Nội 38
2.2.2 Đánh giá khả năng cạnh tranh của ngân hàng SHB trong hoạt động TDNH : 43
CHƯƠNG III: 52
MỘT SỐ GIẢI PHÁP VÀ KIẾN NGHỊ NHẰM NÂNG CAO KHẢ NĂNG CẠNH TRANH TRONG HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG NGẮN HẠN TẠI NGÂN HÀNG TMCP SÀI GÒN-HÀ NỘI CHI NHÁNH ĐỐNG ĐA 52
3.1 Định hướng hoạt động tín dụng ngắn hạn tại SHB Đống Đa 52
3.2 Một số giải pháp nâng cao khả năng cạnh tranh trong hoạt động tín dụng ngắn hạn của ngân hàng SHB Đống Đa 53
3.2.1 Quan tâm hơn đến chính sách lãi suất 54
3.2.2 Tăng cường hoạt động nghiên cứu & chăm sóc khách hàng : 54
3.2.3 Không ngừng đổi mới công nghệ NH và các dịch vụ cung ứng 55
3.2.4 Chú trọng hơn đến chiến lược sản phẩm 56
3.2.5 Thiết lập hệ thống thông tin ngân hàng : 57
3.2.6 Tăng cường thực hiện Marketing Ngân hàng: 59
3.2.7 Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực 60
3.2.8 Cải thiện bộ máy tổ chức 62
3.2.9 Đổi mới cơ cấu vốn huy động theo hướng có lợi và hợp lý 63
3.3 Kiến nghị nâng cao khả năng cạnh tranh trong hoạt động tín dụng ngắn hạn tại ngân hàng Sài Gòn-Hà Nội 64
3.3.1 Những kiến nghị đối với Nhà nước: 64
3.3.2 Những kiến nghị đối với Ngân hàng Nhà nước 66
KẾT LUẬN 69
DANH SÁCH CÁC TÀI LIỆU THAM KHẢO 70
Trang 3LỜI MỞ ĐẦU
1.Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Trong một môi trường kinh doanh đầy biến động và khắc nghiệt như hiện nay,bất kì thành viên nào cũng luôn phải cạnh tranh để tồn tại và phát triển Cạnh tranh
đã và đang trở thành một qui luật phổ biến và tất yếu của kinh tế thị trường và đượccoi là động lực phát triển của nền kinh tế cũng như mỗi doanh nghiệp Nó đòi hỏicác doanh nghiệp luôn tự hoàn thiện mình, phát huy được các thế mạnh để có thểvững vàng đối mặt với những nguy cơ tiềm ẩn của thị trường Và cũng như cácdoanh nghiệp khác, ngành ngân hàng cũng không nằm ngoài qui luật vận động đó Trong thời kì bao cấp, ngành ngân hàng Việt Nam nằm ngoài qui luật phát triểnnày và đã chậm bước so với toàn thế giới Cùng với quá trình đổi mới trong hệ thốngngân hàng theo cơ chế thị trường, cạnh tranh giữa các ngân hàng cũng ngày càngquyết liệt Hoạt động tín dụng ngắn hạn nhân được nhiều sự quan tâm chú ý do tầmquan trọng của nó đối với sự phát triển của nền kinh tế cũng như sự phát triển bềnvững của mỗi doanh nghiệp Vì vậy, cạnh tranh giữa các ngân hàng thương mạitrong hoạt động tín dụng ngắn hạn hiện nay là một vấn đề bức xúc cần có hướng giảiquyết đúng đắn
Ngân hàng TMCP Sài Gòn Hà Nội nói chung và ngân hàng TMCP Sài Gòn HàNội chi nhánh Đống Đa nói riêng có những lợi thế đặc biệt trong hoạt động tín dụngngắn hạn nhưng bên cạnh đó có một số hạn chế ảnh hưởng tới khả năng cạnh tranhcủa ngân hàng trong lĩnh vực này Xuất phát từ thực tế đó, sau thời gian thực tập và
nghiên cứu tại ngân hàng, tôi đã chọn đề tài: “ Giải pháp nâng cao khả năng cạnh tranh trong hoạt động tín dụng ngắn hạn của ngân hàng TMCP Sài Gòn Hà Nội” làm chuyên đề thực tập của mình.
Trang 42 Mục đích nghiên cứu của đề tài
Chuyên đề khái quái và thống nhất các vấn đề lí luận chung như khái niệm cạnhtranh, cạnh tranh giữa các ngân hàng thương mại… Đồng thời, bài chuyên đề cònphân tích và nghiên cứu một hệ thống các chỉ tiêu đánh giá khả năng cạnh tranh củangân hàng thương mại cũng như các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh đó.Trên cơ sở đó, bài viết còn cố gắng đánh giá một cách khách quan các kết quả đã đạtđược và hạn chế trong khả năng cạnh tranh trong hoạt động tín dụng ngắn hạn tạingân hàng TMCP Sài Gòn Hà Nội thời gian qua Cuối cùng là một số kiến nghị vềgiải pháp nhằm tiếp tục nâng cao khả năng cạnh tranh trong hoạt động tín dụng ngắnhạn tại ngân hàng TMCP Sài Gòn Hà Nội( SHB)
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của chuyên đề
Chuyên đề tập trung nghiên cứu khả năng cạn tranh của ngân hàng trong hoạtđộng tín dụng ngắn hạn( quan điểm về cạnh tranh giữa các NHTM, các chỉ tiêu đánhgiá, các nhân tố ảnh hưởng) lấy xuất phát điểm là nghiêm cứu hoạt động tín dụngngắn hạn của ngân hàng trên khía cạnh Marketing, những hoạt động khác khôngthuộc phạm vi nghiên cứu
Trang 51.1.1 Khái niệm ngân hàng thương mại ( NHTM)
Là một trong những tổ chức tài chính quan trọng nhất của hệ thống tài chínhnói riêng và nền kinh tế nói chung, ngân hàng thương mại thực hiện những nghiệp
vụ đặc trưng của mình tài trợ cho hoạt động diễn ra không ngừng của cuộc sống Theo luật của tổ chức tín dụng số 02/1997/QH10 (12/12/1997): NHTM là loạihình tổ chức kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng với nội dung thường xuyên lànhận tiền gửi của khách hàng với trách nhiệm hoàn trả và sử dụng số tiền này để cấptín dụng và cung cấp các dịch vụ thanh toán
Trong cuốn Quản trị ngân hàng Perter Rose cũng khẳng định: “ Ngân hàng làloại hình tổ chức tài chính cung cấp một danh mục các dịch vụ tài chính đa dạngnhất- đặc biệt là tín dụng, tiết kiệm và dịch vụ hạch toán…”
Như vậy, NHTM là một tổ chức kinh doanh tiền tệ thông qua các nghiệp vụ huyđộng vốn các nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi trong nền kinh tế để cho vay, đầu tư vàthực hiện các nghiệp vụ tài chính khác
1.1.2 Khái quát về hoạt động tín dụng ngân hàng
Tín dụng là một hoạt động đặc biệt quan trọng đối với một ngân hàng Thôngqua các khoản mục tín dụng của mình, ngân hàng tài trợ cho hầu hết các hoạtđộng sản xuất của các hãng kinh doanh hay là nguồn ứng cứu của các tổ chức tài
Trang 6chính khác, trợ giúp cho các hộ gia đình và cá nhân bằng các khỏan vay tiêu dùng
và đem lại một nguồn lợi vô cùng lớn cho bản thân ngân hàng Hoạt động chovay của ngân hàng không phải là chuyển một tài sản của ngân hàng cho mộtngười nào đó mà chính là tạo ra tiền mới Điều này hoàn toàn đúng khi đối tượngcho vay là một cá nhân, một doanh nghiệp hay là Chính phủ Hoạt động tín dụngkhông những dựa trên chữ TÍN làm đầu mà còn phụ thuộc rất nhiều vào môitrường kinh doanh, xu hướng phát triển của nền kinh tế cũng như vào khả năngthẩm định độ tín nhiệm của khách hàng và nhiều yếu tố
Hiện nay, cùng với sự phát triển của ngành ngân hàng, các sản phẩm dịch vụ,đặc biệt là các loại hình tín dụng ngân hàng cũng được mở rộng, đổi mới và đadạng hóa nhằm đáp ứng đầy đủ được các nhu cầu ngày càng tăng của kháchhàng Có rất nhiều tiêu thức để phân loại tín dụng nhưng không có loại nào là đặcbiệt thỏa đáng và chính xác Dưới đây là một số loại hình tín dụng của NHTMđược phân biệt theo nhiều tiêu thức khác nhau:
Cho vay thấu chi
Cho vay từng lần
Cho vay theo hạn mức tín dụng
Cho vay theo dự án đầu tư
Cho vay hợp vốn
Cho vay tiêu dùng trả góp
Cho vay thông qua nghiệp vụ phát hành và sử dụng thẻ
Ngoài các hình thức kể trên, trong tình hình hiện nay để tăng khả năng cạnhtranh trên thị trường, thu hút được nhiều khách hàng, các ngân hàng còn có thể ápdụng nhiều hình thức cho vay khác phù hợp với nhu cầu nguyện vọng vay vốncủa khách hàng, đồng thời thể hiện năng lực và lợi thế cạnh tranh của từng ngânhàng
Trang 71.1.3 Tín dụng ngắn hạn trong ngân hàng thương mại
1.1.3.1 Tín dụng ngắn hạn là gì
Theo quyết định 324 của Thống đốc NHNN Việt Nam ban hành ngày30/09/1998, tín dụng ngắn hạn là hình thức mà tổ chức tín dụng cho khách hàngvay ngắn hạn nhằm đáp ứng nhu cầu vốn cho sản xuất, kinh doanh, dịch vụ vàđời sống Thời hạn đối với tín dụng ngắn hạn được tổ chức tín dụng và kháchhàng thỏa thuận tối đa là 12 tháng, được xác định phù hợp với chu kỳ sản xuất,kinh doanh và khả năng trả nợ của khách hàng
Tín dụn ngắn hạn nhằm tài trợ cho tài sản lưu động hoặc nhu càu sử dụngvốn ngắn hạn của Nhà nước, doanh nghiệp, hộ sản xuất Ngân hàng có thể ápdụng cho vay trực tiếp hoặc gián tiếp cho vay từng lần hoặc theo hạn mức, cóhoặc không cần đảm bảo, dưới hình thức chiết khấu, thấu chi hoặc luân chuyển.Tín dụng ngắn hạn chiếm tỷ trọng lớn trong hoạt động tín dụng của ngân hàng.Phổ biến và được ưa thích bởi nó có tính thanh khoản cao, độ an toàn và tính hiệuquả lớn, đáp ứng nhu cầu đa dạng về vốn trong ngắn hạn của khách hàng mộtcách nhanh chóng, chủ động và kịp thời
1.1.3.2 Tín dụng ngắn hạn phân loại khách hàng như sau
a) Khách hàng là Nhà nước
Ngân hàng cho Nhà nước vay để tài trợ cho nhu cầu chi tiêu của Nhànước Hình thức phổ biến hiện nay là ngân hàng mua tín phiếu Kho bạc vàtrái phiếi Chính phủ Khả năng hoàn trả của Nhà nước rất cao, song cũngkhông loại trừ có những trường hợp Nhà nước mất khả năng chi trả khi đếnhạn
b) Khách hàng là các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh
Ngân hàng cho vay với các doanh nghiệp nhằm tài trợ nhu cầu vốn tăngthêm cho sản xuất kinh doanh Doanh nghiệp là khách hàng chiếm số lượng
Trang 8đông nhất của các ngân hàng thương mại Phần lớn các khoản cho vay này cóthế chấp hoặc cầm cố tài sản.
+ Các doanh nghiệp bán lẻ, chế biến thực phẩm, sản xuất hàng theo thời
vụ là khách hàng chủ yếu của ngân hàng Họ cần dự trữ cho thời vụ, hoặc tăngchi phí sản xuất Vào mùa xây dựng các công ty xây dựng là khách hàng vaycủa ngân hàng Họ cần có vốn để xây dựng trước công trình trước khi chủ đầu
tư thanh toán Nguồn trả nợ chính là tiền thanh toán của chủ đầu tư
+ Ngân hàng tài trợ cho các doanh nghiệp xuất, nhập khẩu, bao gồm chovay xuất, nhập khẩu và cho vay thanh toán Xuất khẩu đang trở thành lĩnh vựcđóng vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế Chính phủ nhiều nước đang sửdụng ngân hàng làm động lực thúc đẩy xuất khẩu Cho vay xuất nhập khẩu córủi ro khá cao, liên quan tới quan hệ kinh doanh quốc tế
c) Khách hàng là các cá nhân và hộ kinh doanh cá thể (cho vay tiêu dùng)
Ngân hàng cho vay đối với người tiêu dùng nhằm thỏa mãn nhu cầu muasắm hàng hóa tiêu dùng lâu bền như nhà cửa, phương tiện đi lại hoặc để pháttriển kinh tế hộ gia đình Cho vay tiêu dùng có tể gồm tín dụng trực tiếp đối vớingười tiêu dùng, hoặc tín dụng gián tiếp thông qua việc ngân hàng mua lại cáchóa đơn bán hàng của các nhà bán lẻ hàng hóa Tín dụng tiêu dùng gián tiếpcòn gọi là tài trợ bán hàng trả góp Cho vay tiêu dùng có rủi ro rất cao Nếungười vay chết, ốm hoặc bị mất việc, ngân hàng sẽ khó đòi được nợ Vì vậy,một số ngân hàng lớn đã lập ra phòng cho vay tiêu dùng để quản lý hoạt độngcho vay này Bên cạnh đó ngân hàng thường yêu cầu lãi suất cao, yêu cầungười vay phải mua bảo hiểm thất nghiệp, nhân thọ, bảo hiểm hàng hóa đãmua…để đảm bảo an toàn
d) Khách hàng là các ngân hàng và các tổ chức tài chính trung gian
(Tài trợ ngắn hạn trên thị trường liên ngân hàng)
Trang 9Ngân hàng cho vay đối với các tổ chức tài chính như các ngân hàng, các
công ty tài chính, quỹ tín dụng…nhằm đáp ứng nhu cầu về thanh khoản Một sốcông ty chứng khoán vay vốn ngắn hạn của ngân hàng thương mại trong quátrình bảo lãnh và phân phối chứng khoán cho công ty phát hành Hình thức vay
có thể cho vay trực tiếp (trên thị trường liên ngân hàng) hoặc cho vay gián tiếpthông qua việc nắm giữ chứng khoán Phần lớn các khoản cho vay này đều dựatrên uy tín của người vay, phần còn lại là dựa trên bảo lãnh của người thứ 3,hoặc dựa trên cầm cố chứng khoán có tính thanh khoản cao
Nói tóm lại, ngân hàng thực hiện tài trợ theo nhiều nghiệp vụ khác nhaunhằm đáp ứng yêu cầu ngày càng đa dạng của hàng triệu khách hàng, từ cácnhu cầu của quốc gia, các tổ chức tài chính, các tổ chức liên chính phủ và phichính phủ đến các doanh nghiệp và các hộ gia đình…Các nghiệp vụ tín dụngnói chung và tín dụng ngắn hạn nói riêng không ngừng được mở rộng và hoànthiện theo hướng mang lại lợi ích nhiều hơn cho người sử dụng vốn đồng thờiđảm bảo an toàn và lợi ích cho ngân ngân hàng Cũng chính sự phát triển đó đãthúc đẩy các ngân hàng vào cuộc cạnh tranh để dành lấy thị trường
1.2 VẤN ĐỀ CẠNH TRANH TRONG HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG NGẮN HẠN CỦA NHTM
1.2.1 Cạnh tranh và khả năng cạnh tranh của NHTM
1.2.1.1 Lý luận chung về cạnh tranh và lợi thế cạnh tranh
Theo cuốn Longman “Cạnh tranh là hành động của một cá nhân hay một
tổ chức cố gắng để chiến thắng hoặc giành được công việc kinh doanh từ cácđối thủ của mình” Theo Kinh tế học, cạnh tranh là sự tranh giành thị trường(khách hàng) để tiêu thụ sản phẩm giữa các doanh nghiệp Như vậy, một nềnkinh tế thị trường luôn đòi hỏi phải có cạnh tranh và ngược lại cạnh tranh theonghĩa tranh giành thị phần chỉ có trong khuôn khổ của của kinh tế thị trường
Trang 10Cạnh tranh có chia thành hai loại: cạnh tranh hoàn hảo và cạnh tranh khônghoàn hảo Thị trường có cạnh tranh hoàn hảo là thị trường có nhiều người bán
và người mua cùng một hàng hóa đồng nhất đến mức không ai có thể ảnhhưởng đến giá cả thị trường Nếu có ít nhất một người bán lớn đến mức có thểảnh hưởng tới giá cả thị trường thì xảy ra cạnh tranh không hoàn hảo (tình trạngđộc quyền)
Trong cạnh tranh, mỗi cá nhân cố gắng vì lợi ích của riêng mình đã vô tìnhđem lại lợi ích lớn nhất cho xã hội Một thị trường tự do là một đòi hỏi cho sựtăng trưởng chung của toàn xã hội Tuy nhiên theo Paul A Samuelson lại chorằng trong cạnh tranh sự can tiệp của Chính phủ là cần thiết với vai trò là ngườiđiều tiết Trên thực tế không có một thị trường nào là cạnh tranh hoàn hảo hayhoàn toàn độc quyền Mọi nền kinh tế thị trường đều ở trạng thái cạnh tranhkhông hoàn hảo Cho nên đánh giá một thị trường là cạnh tranh hoàn hảo hayđộc quyền chỉ là tương đối Trong nền kinh tế thị trường, cạnh tranh một mặttạo động lực của sự phát triển kinh tế, mặt khác là tối đa hóa lợi nhuận và lợiích của cả người cung cấp và người tiêu dùng hàng hóa, dịch vụ
Theo qui luật chung, cạnh tranh luôn có xu hướng dẫn đến độc quyền mộtmặt do tác động của qui luật hiệu quả kinh tế theo quy mô, mặt khác độc quyền
là hình thức đem lại cho các nhà cung cấp lợi nhuận siêu ngạch Vì thế cạnhtranh trên thị trường là cuộc gianh đua giành vị trí độc tôn Đây cũng là mộtkhía cạnh không hoàn hảo của cạnh tranh
Vai trò điều tiết của Chính phủ là vô cùng quan trọng nhằm hạn chế nhữngđiểm không hoàn hảo của thị trường Nhiệm vụ tạo lập môi trường kinh tế cócạnh tranh, chống độc quyền chắc chắn thuộc về những chức năng riêng củachính phủ ở các nền kinh tế phát triển, trong đó luật chống độc quyền luôn đượcđặc biệt chú ý
Trang 11Lợi thế cạnh tranh cũng là một nội dung quan trọng đối với bất kỡ cỏ nhõnhay tổ chức nào đang hoạt động trong nền kinh tế Tuy nhiờn sau vài thập kỷcủa sự phồn thịnh và bành trướng mạnh mẽ, nhiều cụng ty đó đỏnh mất cỏi nhỡnđỳng đắn về lợi thế cạnh tranh trong việc đấu tranh để đạt được sự tăng trưởng
và theo đuổi mục đớch đa dạng húa Cỏc cụng ty trờn toàn thế giới phải đối mặtvới sự tăng trưởng ngày càng chậm cũng như việc cỏc đối thủ cạnh tranh trongnước và trờn toàn thế giới khụng cũn hành động như chiếc bỏnh lợi nhuận cũn
đủ lớn cho tấ cả Vỡ vậy, lợi thế cạnh tranh lại càng quan trọng hơn bao giờ hết Vậy thỡ lợi thế cạnh tranh là một khớa cạnh của một sản phẩm hay một dịch
vụ do một cụng ty cung cấp đó mang lại lợi thế cho cụng ty đú so với cỏc đốithủ khỏc Nhưng theo Micheal Porter, một nhà nghiờn cứu chuyờn sõu về cạnhtranh thỡ “về cơ bản, lợi thế cạnh tranh phỏt triển nhờ vào những sản phẩm màcụng ty cú thể cung cấp cho người mua cú giỏ trị cao hơn chi phớ cụng ty phảichịu để tạo ra được sản phẩm đú” Giỏ trị của sản phẩm là thứ người mua sẵnsàng trả tiền, và lợi nhuận tăng thờm xuất phỏt từ việc mời chào giỏ cả thấp hơncủa đối thủ cạnh tranh để giành được lợi nhuận tương đương hoặc cung cấpnhững dịch vụ duy nhất cú lợi ớch lớn hơn bự đắp cho giỏ cả cao hơn Nh vậy,
có 2 hình thức cơ bản của lợi thế cạnh tranh: dẫn đầu về giá và nhân biệt Ta sẽtiếp tục phân tích việc thực hiện 2 hình thức này trong cạnh tranh giữa các ngânhàng ở phần sau
Và cũng nh doanh nghiệp hay các công ty trong một nền kinh tế ngânhàng là một loại hình doanh nghiệp đặc biệt nên ngân hàng cũng gặp phảinhững khó khăn trên thị trờng với vô số những đối thủ cạnh tranh đang ngàycàng phát triển cả về số lợng và chất lợng Vì vậy vấn đề cạnh tranh đối vớingân hàng cũng vô cùng cấp thiết Để làm rõ vấn đề này chúng ta hãy cùngtìm hiểu cạnh tranh trong ngân hàng thì có gì khác biệt với các ngành kinh tếkhác
Trang 121.2.1.2 Cạnh tranh giữa cỏc ngõn hàng thương mại
Môi trờng kinh tế của một ngân hàng chịu sự tác động của một số yếu
tố trong đó không thể không kể đến môi trờng hoạt động của bản thân cácngân hàng Ngành ngân hàng các nớc phát triển theo những phơng thứckhông hoàn toàn giống nhau, tuy nhiên luôn tồn tại một lực lợng quan trọng
là ngân hàng Nhà nớc hay ngân hàng Trung ơng điều hành mọi hoạt động vềmặt chính sách của khối ngân hàng nói chung Các ngân hàng thơng mại cóthể thuộc Nhà nớc hay do t nhân lãnh đạo dới hình thức hội đồng quản trị nh-
ng đều liên quan mật thiết đến mọi hoạt động của nền kinh tế và không chỉmột ngân hàng có thể tạo nên thị trờng mà cần có sự tham gia hoạt động củacác ngân hàng khác Nơi đâu có dân c và sản xuất kinh doanh, nơi đó cóngân hàng Ngoài ra, các tổ chức tín dụng và tổ chức tài chính phi ngân hàngngày càng phát triển đang đặt các ngân hàng vào một tình thế khó khăn:những nghiệp vụ trớc kia do ngân hàng đảm nhận nay đợc các tổ chức khácthực hiện dới những hình thức ngày càng đa dạng và phong phú hơn, hớngtới những thị trờng mà ngân hàng đã và đang bỏ ngỏ Rõ ràng ngân hàng
đang phải cùng lúc cạnh tranh vơi nhiều lực lợng: các ngân hàng trong cùngkhối và các tổ chức tài chính phi ngân hàng có những thế mạnh riêng
Có thể nói, cạnh tranh giữa các ngân hàng là sự nỗ lực một cách toàndiện và đồng bộ của một ngân hàng trong một lĩnh vực khi cung ứng chokhách hàng những sản phẩm dịch vụ có chất lợng cao nhằm khẳng định vị trícủa ngân hàng vợt lên khỏi các ngân hàng khác trong cùng lĩnh vực hoạt
động ấy Sức mạnh đồng bộ của toàn bộ ngân hàng đợc phát huy khi ngânhàng tận dụng đợc hết những khả năng sẵn có của mình để nâng cao vị thếcạnh tranh Mỗi ngân hàng đều có những lợi thế riêng và đều có khả năngtận dụng những lợi thế ấy nếu có những nhận thức thực sự hiệu quả và đúng
đắn, tức là mỗi ngân hàng đều có khả năng phát triển mạnh mẽ hơn Núicỏch khỏc, khả năng cạnh tranh của ngõn hàng được đỏnh giỏ như một chỉtiờu tổng hợp phản ỏnh khả năng kết hợp cỏc lợi thế cạnh tranh mà ngõnhàng đang cú để biến chỳng thành những cụng cụ hữu hiệu trong việc khẳngđịnh vị trớ của ngõn hàng trờn thương trường
Trang 13Tuy nhiên, liệu cạnh tranh giữa các ngân hàng có là một sự lựa chọnhợp lý hay không? Đặc điểm của ngành ngân hàng là một môi trờng hoạt
động trong đó các ngân hàng vừa là nhà cung ứng vừa là khách hàng củanhau Vì vậy hoạt động của mỗi ngân hàng ảnh hởng trực tiếp và gián tiếp tớicác ngân hàng khác và toàn bộ hệ thống Một câu hỏi luôn đợc đặt ra đối với
những ngời quan tâm: "Có cần thiờ́t phải có cạnh tranh giữa các ngân hàng?" Để trả lời cho câu hỏi này, ta lại phải bắt đầu giải quyết câu hỏi khác: "Cạnh tranh giữa các ngân hàng là xấu hay tụ́t, lợi hay hại? " Qua
đó, tính tất yếu của cạnh tranh trong ngành ngân hàng sẽ đợc chứng minh
Hoạt động ngân hàng liên quan rất mật thiết tới những đánh giá vềtính an toàn, đặc biệt là sự an toàn liên quan tới tương lai Theo ý kiến củanhiều ngời, cạnh tranh trong cùng hệ thống chắn chắn sẽ gây ra sự bất ổn
định Và với một ý tưởng cơ bản là ng cơ bản là "nhằm duy trì sự ổn định trong ngành ngân hàng và tài chính, cạnh tranh phải bị giới hạn ", ngời ta tin tởng rằng
trong một môi trờng độc quyền nhóm bán, các ngân hàng có thể thu đợcnhiều lợi nhuận, điều này tạo ra sự ồn định của bản thân các ngân hàng nóiriêng và cả hệ thống ngân hàng nói chung Thị phần phân chia giữa các ngânhàng tỏ ra là đủ cho mọi thành viên của thị trờng và không ai phải cạnh tranh
để làm mất thế ổn định đã đợc định sẵn
Tại một số nớc, chính sách tiền tệ cũng gắn liền với quan điểm cạnhtranh là xấu Công cụ chủ yếu để quản lý tiền tệ là trần lãi suất, quy định mộtlãi suất cao nhất đợc phép cho hoạt động tín dụng Hơn nữa, lãi suất trao đổi
đợc cố định không phải với ý nghĩa là có một lãi suất trung tâm cố định màtrên thực tế đợc quyết định bởi ngân hàng Trung ơng trong từng ngày
Tuy nhiên những quan niệm trên đã dần bị thay đổi theo thời gian.Giữa hệ t tởng cũ và mới đang ngày có nhiều xung đột và có những khác biệtquan trọng Những chính sách mới đang ngày càng đợc áp dụng nhằm nângcao khả năng cạnh tranh của mỗi ngân hàng Chính sự phân biệt giữa cái cũ
"cạnh tranh trong ngân hàng là xấu' và cái mới "cạnh tranh là tụ́t" đã chứng
tỏ một tất yếu khách quan: cạnh tranh giúp cho các ngân hàng tồn tại và phát triển
Trang 14Ngoài lí do tồn tại khiến các ngân hàng phải cạnh tranh, các ngânhàng dù đã có những thoả thuận để tránh cạnh tranh lẫn nhau nhưng trongmột nền kinh tế vận động không ngừng, không ai kinh doanh không vì mụctiêu tăng thêm giá trị tài sản của mình, ngành ngân hàng cũng không nằmngoài vòng xoáy đó Đây là một tất yếu của nền kinh tế Không ngân hàngnào lại có thể bỏ qua các cơ hội đem lại cho mình nhiều lợi ích hơn và hoạt
động chỉ dựa theo nguyên tắc đạo đức thuần tuý Có thể nói rằng, các ngânhàng cạnh tranh không phải để xoá bỏ sự có mặt của đối phương trên thị tr-ờng mà trớc hết là khẳng định đợc mình, để vợt lên đối phơng Thực chấtngân hàng cần thiết phải tồn tại theo một hệ thống để tạo cơ sở giúp đỡ lẫnnhau Khi đã có ngân hàng này tận dụng cơ hội thì ngân hàng kia cũngkhông thể làm ngơ trớc những điều kiện mà với sức mạnh riêng của mình họ
có thể thu lợi nhiều hơn Xu thế phát triển không ngừng để tồn tại không chophép bất cứ ngân hàng nào có thể đứng ngoài cuộc cạnh tranh
Ngoài ra, sự ổn định về vị trí trên thị trờng cũng làm cho các ngânhàng rơi vào tình trạng chây ỳ trớc sự phát triển đầy tính biến động của nềnkinh tế Không lờng trớc đợc sự phát triển của các tổ chức khác; bộ máy lãnh
đạo hoạt động không linh hoạt; sản phẩm không sáng tạo và tiện dụng hơncác dịch vụ khác ngày càng phát triển trên thị trờng cùng với một phơngthức kinh doanh sai lầm không tiến bộ đã đẩy nhiều ngân hàng vào tình trạngkhó khăn; thị phần bị xâm phạm; thu nhập giảm và mất khách hàng là nhữngbiểu hiện tiêu biểu của một ngân hàng đang bị các đối thủ cạnh tranh chèn
ép Không một ngân hàng nào muốn mình ở trong một tình thế bấp bênh nhthế Muốn khẳng định lại mình, ngân hàng phải có những hành động quyếtliệt giành lại thị phần và thu hút lại các khách hàng đã mất cũng nh tạo thêm
đợc nhiều mối quan hệ mới Nh vậy, chính ngân hàng cũng đã tham gia vàohoạt động cạnh tranh một cách tự phát và tất yếu Nhng để hành động cóhiệu quả và đạt đợc những thành tựu đáng kể, ngân hàng còn cần nhiều hơn
là ý thức cạnh tranh Đó chính là khả năng tận dụng những lợi thế cạnh tranhcủa mình để nâng cao khả năng cạnh tranh
Tuy nhiên, cạnh tranh cũng có thể dẫn tới sự độc quyền của các ngânhàng lớn và hùng mạnh nhất Nh vậy cạnh tranh trong thị trờng ngân hàng
Trang 15đòi hỏi phải có sự quản lý của Nhà nớc nhằm giữ vững đợc sự công bằngtrong cạnh tranh trên thị trờng.
1.2.1.3 Cạnh tranh của NHTM trong hoạt động tớn ngắn hạn :
Tín dụng ngắn hạn là một trong những nghiệp vụ cơ bản của ngânhàng Nó chiếm tỉ trọng lớn trong tổng tài sản có của ngân hàng Bất cứ mộtngân hàng nào cũng phải sử dụng nghiệp vụ này nhằm sử dụng nguồn vốnhuy động đợc đem lại thu nhập cho ngân hàng Vì thế cạnh tranh trong hoạt
động tín dụng ngắn hạn cũng chính là việc tận dụng hết những lợi thế củangân hàng về nguồn vốn, hệ thống thông tin để chiếm lĩnh thị trờng cho vayngắn hạn đảm bảo cho ngân hàng thu đợc nguồn lợi nhuận lớn nhất khi cungcấp các dịch vụ và thoả mãn nhu cầu của khách hàng
Nhu cầu của khách hàng ở đây đợc hiểu theo nghĩa là đòi hỏi củakhách hàng về chất lợng tín dụng Ngân hàng không những phải quan tâm
đến việc mình cung cấp cho khách hàng dịch vụ gì mà còn phải chú ý mìnhcung cấp dịch vụ đó theo cách nào, cho ai và vì mục đích gì Chỉ có nh vậykhách hàng mới thực sự cảm nhận đợc nỗ lực của ngân hàng trong mối quan
hệ hai bên cùng có lợi này Không chỉ khách hàng cần ngân hàng mà ngânhàng còn cõ̀n có khách hàng để tồn tại Trong môi trờng cạnh tranh khốc liệt
nh hiện nay thì điều này lại cần đợc các ngân hàng nhận thức một cách triệt
ta có thể áp dụng các chỉ tiêu sau để đánh giá khả năng cạnh tranh trong hoạt
động tín dụng ngắn hạn của ngân hàng:
Trang 161.2.2.1 Tổng dư nợ cho vay ngắn hạn (DNNH):
% DNNH = Dư nợ ngắn hạn/ Tụ̉ng dư nợ
Đây là Chỉ tiêu cho biết rõ nét nhất về kết quả cho vay ngắn hạn củangân hàng Giá trị của các khoản cho vay phản ánh phần nào khả năng thuhút khách hàng của ngân hàng cũng như cho biết ngân hàng có khoản vốnhuy động mạnh đến thế nào mới có thể cung ứng một cách đầy đủ cho nhữngkhoản vay trên Nó là một chỉ tiêu định lợng, xác định cơ cấu tín dụng trongtrờng hợp d nợ đợc phân theo thời hạn cho vay (ngắn, trung, dài hạn) Chỉtiêu này còn cho thấy biến động của tỷ trọng giữa các loại d nợ tín dụng củamột ngân hàng qua các thời kỳ khác nhau Tỷ lệ này càng cao chứng tỏ mức
độ phát triển của nghiệp vụ tín dụng ngắn hạn càng lớn, mối quan hệ vớikhách hàng càng có uy tín Kết hợp với chỉ tiêu thị phần, khối lợng của d nợtín dụng ngắn hạn khẳng định vị trí của ngân hàng trên thị trờng
1.2.2.2 Thị phần tớn dụng
Các ngân hàng luôn cạnh tranh với nhau mà một trong những kết quảcủa cuộc cạnh tranh đó đợc phản ánh trên thị phần của mỗi ngân hàng Thịphần cho biết độ tập trung về phía mỗi ngân hàng trong một lĩnh vực hoạt
động thông qua tỷ lệ phần trăm của từng ngân hàng đó so với cả một tổng thể,ví dụ nh khối ngân hàng quốc doanh chẳng hạn Thị phần cũng cho biết khảnăng chiếm giữ thị trờng của một ngân hàng cụ thể Tất nhiên, không phảingân hàng nào có thị phần lớn hơn sẽ tập trung đợc nhiều ảnh hởng về mìnhnhng điều này cũng cho thấy vị thế và sự ổn định của ngân hàng này trên thịtrờng Vì vậy thị phần luôn là một mục tiêu đợc các nhà quản trị ngân hàngquan tâm để đạt đợc lớn hơn so với các đối thủ cạnh tranh khác Trong hoạt
động tín dụng ngắn hạn, ta quan tâm chủ yếu đến thị phần tín dụng ngắn hạncủa mỗi ngân hàng, từ đó có thể có những nhận xét khách quan về hiệu quảhoạt động của nghiệp vụ này tại ngân hàng
Trang 17khách hàng mới có thể bảo đảm về khả năng tài chính của khách hàng vàquyết định cho vay Khách hàng còn cho biết ngân hàng quan hệ với kháchhàng tốt nh thế nào nhờ vào khả năng của đội ngũ lãnh đạo Qua danh sáchkhách hàng ta còn có thể có thông tin về uy tín và danh tiếng của ngân hàng.Chất lợng khách hàng đợc đánh giá thông qua uy tín, danh tiếng và tình hìnhtài chính và một loạt những thông số khác về khách hàng mà ngân hàng phảitìm hiểu đợc trớc khi cho vay Khách hàng tốt thờng và phải là một doanhnghiệp cú tiếng tăm trên thị trờng, vì cũng giống nh ngân hàng, uy tín củadoanh nghiệp cũng do những thành quả đạt đợc trong quá khứ gây dựng nên.Không một ngân hàng nào muốn mạo hiểm cho một doanh nghiệp không cótên tuổi và chỗ đứng trên thị trờng hay một doanh nghiệp đã có tiếng xấutrong hoạt động trớc đây vay vốn, với lí do một trong những mục tiêu hoạt
động của ngân hàng là an toàn Tình hình tài chính của khách hàng có ổn
định mới bảo đảm khách hàng hoạt động có hiệu quả và do đó có khả năngtrả nợ cho khách hàng khi có một dự án khả thi và một phơng án trả nợ vayhợp lý
1.2.2.4 Trỡnh độ của cỏn bộ tớn dụng
Chỉ tiêu này đợc biểu hiện thông qua trình độ nghiệp vụ của cán bộ tíndụng Cán bộ tín dụng có trình độ cao bảo đảm cho quá trình xét duyệt chovay không sai sót và có độ tin cậy cao Trình độ của cán bộ tín dụng còn thểhiện chính sách đào tạo và đãi ngộ cũng như khả năng thu hút nhân tài củangân hàng, tạo thành một lực lợng làm nên một nửa thành công của ngânhàng: đó chính là nguồn nhân lực có chất lợng cao
1.2.2.5 Khả năng giải quyết nợ xấu
Trong hoạt động tín dụng của ngân hàng, tín dụng ngắn hạn luônchiếm một tỷ trọng lớn, và tạo ra phần lớn lợi nhuận cho ngân hàng Tuynhiên, trong hoạt động tín dụng yếu tố rủi ro luôn thờng trực và ở mức tỷ lệkhá cao, do đó mà tại các ngân hàng ngời ta luôn dành sự chú ý đặc biệt đếnviệc kiểm soát cũng như những biện pháp để chống đỡ, hạn chế rủi ro tíndụng, đặc biệt là tín dụng ngắn hạn Chỉ tiêu này đợc thể hiện thông qua cácbiện pháp mà ngân hàng đã sử dụng từ xa tới nay trong quá khứ để giải quyết
nợ xấu, chống đỡ một cách linh hoạt các thay đổi về lãi suất, về tỷ giá cùng
Trang 18những rủi ro khác có thể xảy ra (cướp ngân hàng, nhầm lẫn trong thanh toán,
hoả hoạn .), góp phần nâng cao năng lực tài chính của ngân hàng, đem lại
lợi thế cạnh tranh cho ngân hàng Khi một ngân hàng có thể làm tốt công tácnày chứng tỏ ngân hàng đó có những quyết định phù hợp và linh hoạt nhằmcải cách hệ thống hoạt động của ngân hàng
1.2.3 Cỏc cụng cụ cạnh tranh của ngõn hàng thương mại
Trong cuốn "Lợi thế cạnh tranh", nhà kinh tế học Micheal Porter đãnhận xét: trong cạnh tranh, mỗi công ty có 2 hình thức cơ bản của lợi thế
cạnh tranh: dẫn đầu về giá hay sự khác biệt Cho dù công ty có vô số những
điểm mạnh hay điểm yếu so với các đối thủ cạnh tranh thì công ty chỉ có thể
có một trong hai hình thức cạnh tranh trên Tầm quan trọng của bất kỳ một
điểm mạnh hay điểm yếu nào cũng là do ảnh hởng của công ty lên giá cả hay
sự khác biệt Đến lợt mình, u thế về giá và sự khác biệt lại xuất phát từ cấutrúc của ngành đó Nó phản ánh khả năng của công ty khi đơng đầu với cáclực lợng thị trờng tốt hơn so với các đối thủ của mình Hai hình thức cạnhtranh trên gắn liền với quy mô hoạt động mà công ty tìm kiếm nhằm chỉ đạo
3 chiến lợc cạnh tranh nói chung: chiến lợc về giá, chiến lợc phân biệt và chiến lợc trọng điểm Mỗi loại chiến lợc lại phù hợp với từng mục tiêu cạnh
tranh mà công ty vươn tới với những cách thức khác nhau Chúng ta sẽ đi sâunghiên cứu hai hình thức này:
1 2.3.1 Cạnh tranh bằng lói suất
Dẫn đầu về giá có lẽ là chiến lợc rõ ràng nhất, trong đó công ty cốgắng trở thành một nhà sản xuất có giá thấp trong toàn ngành Đối với cácngành sản xuất khác, đây có thể là một trong những chiến lợc hiệu quả nhất
và giá cả có thể đợc sử dụng như một yếu tố cơ bản đánh giá trình độ cạnhtranh của công ty Tuy nhiên ngành ngân hàng có những đặc trng riêng nên
đòi hỏi phải có những phân tích khác Dữ liệu về giá của các giao dịch đơn lẻ
có thể có ích và cần thiết cho các ngành khác nhưng rất ít thông tin loại nàyphù hợp với ngân hàng
Các ngân hàng khó có thể sử dụng công cụ này trong cạnh tranh vìnhững đặc thù rất riêng của ngành ngân hàng Sản phẩm của các ngân hàng
Trang 19hầu nh là giống nhau tạo nên sự đơn điệu chung trên thị trờng sản phẩm
nh-ng nhữnh-ng nh-ngân hành-ng có ý định hạ giá để tạo sự khác biệt cho sản phẩm củamình sẽ không thành công Ngân hàng nào cũng có tiềm năng cạnh tranh vềgiá nên giá cho vay chung trên thị trờng chính là giá thấp nhất đảm bảo chongân hàng vẫn còn có thể có lãi từ hoạt động cho vay Bất cứ ngân hàng nàomuốn phá vỡ thế ổn định đó sẽ kéo theo sự chuyển động của cả một hệ thống
và tính suy yếu cũng mang tính hệ thống sâu sắc Vợt qua giới hạn cuốicùng, ngân hàng phải đối mặt với nguy cơ thua lỗ trong hoạt động kinhdoanh và tiếp đó là khả năng tài chính giảm sút, làm mất đi khả năng cạnhtranh trong tương lai do không thể đáp ứng đợc các nhu cầu của khách hàng
Tuy nhiên, ta cũng có thể dễ dàng nhận thấy là các ngân hàng có thể
sử dụng những lãi suất khác nhau cho những khách hàng khác nhau trongnhững khoản vay tởng nh là cùng loại và cùng quy mô Điều này một phần là
do các nhân tố rủi ro khác nhau và các điều khoản khác nhau của khoản vay:
tài sản báo đảm, thời điểm trả nợ Khách hàng có nhiều sự lựa chọn, bao
gồm cả lựa chọn không cần vay vì có khả năng tài chính vững mạnh, thờngnhận đợc lãi suất thấp hơn so với những khách hàng có ít hơn hay không có
lựa chọn nào Những sự lựa chọn trên cho phép khách hàng "mua hàng" giữa
các ngân hàng và các tổ chức tài chính khác để có đợc những điều kiện tếtnhất Nếu điều này xảy ra ở quy mô lớn, sự khác biệt về lãi suất của mỗingân hàng đối với các khoản cho vay sẽ có xu hờng thu hẹp lại và sẽ chỉ cómột sự khác biệt không đáng kể về lãi suất giữa các ngân hàng trên cùng mộtthị trờng Nói cách khác, quyền lực của độc quyền bán quan hệ nghịch đảovới khả năng lựa chọn của khách hàng
Tóm lại, đối với ngành ngân hàng, cạnh tranh bằng lãi suất không phải
là một công cụ đem lại lợi ích mong muốn Một minh chứng dễ thấy nhất làtại các nớc phát triển, lãi suất không phải là một công cụ đợc a thích và trênthị trờng liên ngân hàng, lãi suất LIBOR và SIBOR không cách biệt nhau baonhiêu Để có thể sử dụng công cụ này có hiệu quả trong cạnh tranh là một
điều vô cùng khó khăn, trong những trờng hợp cụ thể thì biện pháp an toàn
và thực tế nhất là bám theo lãi suất cơ bản của ngân hàng Trung ơng.Đâycũng chính là cách thức mà các ngân hàng trên thế giới đang sử dụng trong
Trang 20cho vay ngắn hạn nhằm bảo đảm đợc kết quả hoạt động kinh doanh nhngcũng không vợt quá khỏi ngỡng của lãi suất cạnh tranh
1.2.3.2 Cạnh tranh bằng sự khỏc biệt
Nh trên đã khẳng định, một ngân hàng muốn tạo đợc sự khác biệt vớicác ngân hàng khác thì phải có những vũ khí chiến lợc riêng thật hiệu quảnhằm đạt đợc sự tán thởng và ủng hộ cao nhất của khách hàng, từ đó mới cóthể hy vọng sẽ tạo đợc chỗ đứng trên thị trờng và hoạt động có chất lợng, vợtlên hẳn các đối thủ cạnh tranh trớc đó Loại bỏ yếu tố lãi suất không hiệuquả, chúng ta sẽ đi xem xét các ngân hàng cạnh tranh bằng sự khác biệt nhthế nào thông qua chỉ số phân hạng CAMELS, một chỉ số đánh giá hiệu quảhoạt động của ngân hàng về sự thích hợp trong cơ cấu vốn, chất lợng tài sản,chất lợng quản lý, kết quả kinh doanh, trạng thái thanh khoản và sự nhạycảm của ngân hàng với những thị trờng
CAMELS là tên viết tắt lấy từ các chữ cái đầu của một tập hợp cáctiêu chuẩn và chỉ tiêu tài chính sau :
C - Quy mô nguồn vốn (Capital adequacy)
A - Chất lợng tài sản (Asset Quality)
M - Khả năng quản lý (Management quality)
E - Kết quả thu nhập (Earnings)
L - Trạng thái thanh khoản (Liquidity position)
S - Sự nhạy cảm với thị trờng (Sensitivity to market risk)
Các ngân hàng có chỉ số CAMELS càng cao sẽ có mức độ rủi ro cànglớn
a) Quy mô nguồn vốn (capital adequacy)
Vốn chủ sở hữu (vốn tự có - VTC) của ngân hàng thơng mại đóng vaitrò sống còn trong việc duy trì hoạt động và đảm bảo cho ngân hàng khảnăng phát triển lâu dài Nếu một ngân hàng có mức vốn tự có càng lớn thìmức chịu đựng rủi ro càng cao, phạm vi hoạt động càng rộng Hay nói mộtcách khác, một ngân hàng để có đợc giấy phép tổ chức và hoạt động trớc khi
có thể huy động đợc những khoản tiền gửi đầu tiên, buộc phải có một lợngvốn tối thiểu theo quy định của pháp luật Nhằm để: (i) bù đắp những khoảnthua lỗ trong kinh doanh; (ii) dùng để tăng trởng và mở rộng hoạt động kinhdoanh của ngân hàng trong tơng lai; (iii) bảo vệ ngời gửi tiền và các nhà đầu
Trang 21t, tức là bằng mức VTC các cổ đông của ngân hàng cam kết với các kháchhàng có tiền gửi rằng: nếu gặp rủi ro trong kinh doanh, ngân hàng sẽ thờngxuyên có đủ mức vốn tự có để ứng phó và (iv) VTC là nguồn thích hợp nhất
để chi cho hạ tầng cơ sở của ngân hàng nh xây dựng trụ sở, mua sắm TSCĐ Nhng quy mô nguồn vốn nh thế nào là hợp lý?
Theo thông lệ quốc tế, để đảm bảo an toàn trong hoạt động của mộtngân hàng thơng mại thì tỷ lệ vốn tự có trên tổng tài sản có tối thiểu phải đạt
8 % , nợ quá hạn dới 5 %
Qua những điều đã trình bày ở trên, chúng ta thấy vai trò của vốn chủ
sở hữu trong việc tăng năng lực cạnh tranh giữa các ngân hàng bằng cách tạonên sự khác biệt như thế nào Các ngân hàng trong quá trình cạnh tranh cầncân đối nguồn vốn này một cách hợp lý nhất tuỳ từng thời kỳ, nhằm hoạt
động một cách hiệu quả nhất, đồng thời tạo lợi thế cạnh tranh của ngân hàngtrong toàn hệ thống
b) Chất lợng tài sản (Asset Quality)
Chỉ tiêu này nhằm mục đích phân tích chất lợng tài sản có và danhmục cho vay bao gồm việc thẩm định vừa mang tính định lợng vừa mangtính định tính đối với các khoản cho vay và các mức độ rủi ro đầu t khác củangân hàng Việc đánh giá chất lợng tài sản có của một ngân hàng bao gồm 2yếu tố sau: (i) yếu tố quyết định đóng vai trò quan trọng nhất trong việc đánhgiá chất lợng tài sản có đó là đánh giá tính vững mạnh (lành mạnh) về mặttài chính của ngân hàng vì sự thất bại của hầu hết các ngân hàng đều bắtnguồn từ sự yếu kém của chất lợng tài sản có và các khoản cho vay; bên cạnh
đó (ii) yếu tố khó khăn nhất trong phân tích hoạt động của ngân hàng lại là
do tính chủ quan của hoạt động kế toán ngân hàng Do đó khi đánh giá chấtlợng tài sản có và danh mục cho vay các nhà phân tích cần phải xem xét đến
xu hờng tăng hay giảm hoạt động cho vay của ngân hàng, chất lợng danhmục các khoản cho vay, phân loại các khoản cho vay, và trích lập dự phòngrủi ro tín dụng Để phân tích chất lợng tài sản có và danh mục cho vay ngời
ta thờng dùng một nhóm các chỉ tiêu tài chính sau: (i) Nợ quá hạn/tổng d nợ,(ii) Nợ quá hạn/tổng d nợ đến hạn, (iii) Hệ số nợ quá hạn ròng, (iv) tổng thunợ/ Tổng nợ đến hạn, (y) Dự phòng rủi ro tín dụng/ Tổng nợ quá hạn
Trang 22Trong 5 chỉ tiêu cơ bản dùng để đánh giá và phân tích chất lợng tài sản
có và danh mục cho vay nói trên thì chỉ tiêu " hệ số nợ quá hạn ròng" (NetPast due Ratio) đóng vai trò quan trọng nhất và cần phải phân tích kỹ vì nóluôn chỉ ra cho chúng ta biết chất lợng danh mục tín dụng sau khi trích dựphòng
Công thức tính hệ số này nh sau:
Hệ Số NQH RòNG = Nợ Quá HạN - Dự pHòNG / Tễ̉NG DƯ Nợ - Dự PHòNG
Theo tiêu chuẩn quốc tế thì tỷ lệ này không đợc vợt quá 10%, và tỷ lệNQH/ VTC thờng ở mức nhỏ hơn hoặc bằng 25%
c) Khả năng quản lý (Management Quality)
Chất lợng quản lý thể hiện ở năng lực và hiệu quả hoạt động của bộmáy lãnh đạo, ta sẽ đi xem xét xem hoạt động của bộ máy lãnh đạo ảnh hởngtới khả năng tạo lợi thế cạnh tranh của ngân hàng nh thế nào?
Không phải ngân hàng nào cũng có nhiều lợi thế nh địa điểm, nguồn
vốn tự có để có thể phát huy thành một lợi thế cạnh tranh của mình Vậy
trong trờng hợp này, các ngân hàng trên làm thế nào để có thể tiếp tục tồn tại
và phát triển giữa những lực lợng hùng hậu khác? Một trong những chiếcchìa khoá của sự thành công chính là năng lực sáng tạo và điều hành của bộmáy lãnh đạo ngân hàng Sức mạnh của bộ máy này là biết đánh giá, kết hợpmột cách tài tình tất cả mọi nguồn lực có trong tổ chức và phát huy tối đakhả năng của từng bộ phận vào kết quả tổng hợp chung của ngân hàng Để
có thể thành công trong môi trờng cạnh tranh hiện nay, các nhà quản trị ngânhàng cần có những tố chất sau đây:
d) Kết quả kinh doanh (Earmning record):
Kết quả kinh doanh của ngân hàng thơng mại phản ánh nỗ lực củangân hàng dới tác động của nhiều nhân tố NHTM là một tổ chức kinh doanhtiền tệ, phân tích kết quả kinh doanh là một công tác có tầm quan trọng đặcbiệt giúp cho các nhà quản lý đánh giá hoạt động của ngân hàng, xây dựng
Trang 23các mục tiêu và tìm biện pháp nâng cao hơn nữa hiệu quả hoạt động Phântích kết quả kinh doanh nhằm:
Làm rõ thực trạng hoạt động của ngõn hàng, những nhõn tố tác
động tới thực trạng đó; so sánh với các tổ chức tín dụng khácnhằm thúc đẩy cạnh tranh
Làm rõ mục tiêu kết quả mà ngân hàng cần đạt đến
Xác định các nguyên nhân gây ra hoạt động kém hiệu quả đểcải tiến và thay đổi
Tính toán, dự trù các yếu tố hình thành nên kết quả, từ đó quyết
định phơng hớng hoạt động cụ thể cho kỳ tới
Sau đó thông qua hoạt động đánh giá kết quả phân tích thu đợc để thấy
rõ thành công và chưa thành công trong hoạt động của ngân hàng Việc đánhgiá kết quả đúng sẽ cho thấy vị thế của ngân hàng, lợi thế cũng nh khó khăn
mà ngân hàng phải đơng đầu Qua đó, đa ra đợc những quyết sách cụ thể chotừng thời kỳ Chỉ tiêu này có ý nghĩa rất lớn trong quá trình cạnh tranh củangân hàng
e) Trạng thái thanh khoản (Liquidity position).
Tính thanh khoản của ngân hàng là khả năng của ngân hàng trong việc
đáp ứng nhu cầu thanh toán của khách hàng Do đó, một trong những nhiệm
vụ quan trọng mà các nhà quản lý phải thực hiện là bảo đảm khả năng thanhkhoản hợp lý cho ngân hàng, tức là luôn duy trì đợc trạng thái thanh khoản ởmức dơng (cung thanh khoản lớn hơn cầu thanh khoản trong một phạm viquy định) Phần lớn nguồn tiền trong ngân hàng là các khoản tiền gửi phảitrả khi có yêu cầu, nếu yêu cầu này của khách hàng không đợc thực hiệnngay, nguồn tiền gửi có thể bị giảm sút nhanh chóng, thậm chí làm cho ngânhàng bị phá sản Bên cạnh đó, hoạt động chủ yếu của ngân hàng là cho vay,
do vậy, ngân hàng phải có trách nhiệm đáp ứng kịp thời nhu cầu vay hợp pháp của khách hàng, nếu không uy tín của ngân hàng sẽ bị giảm sút, ảnh h-
ởng tới khả năng cạnh tranh của ngân hàng Nh vậy, việc đáp ứng nhu cầuthanh toán của khách hàng một cách thờng xuyên và trong những trờng hợp
đặc biệt khẩn cấp là yêu cầu cấp thiết và là nội dung quan trọng trong côngtác quản lý của ngân hàng nhằm hạn chế rủi ro Nó liên quan tới sự tồn tại vàphát triển của mỗi ngân hàng
Trang 24f) Sự nhạy cảm với thị trờng (Sensitivity to market risk)
Thể hiện qua khả năng phân tích và dự phòng rủi ro Thông qua đó,ngân hàng có thể đối đầu với các biến động của thị trờng, đáp ứng một cáchhiệu quả các yêu cầu của khách hàng kể cả trong trờng hợp có rủi ro Các tổchức tài chính tự tài trợ cho mình bằng cách tạo lập ra các tài sản tài chính
do ngời khác nắm giữ Những trờng hợp dễ nhận thấy nhất là tài khoản tiềngửi của khách hàng, giao dịch liên ngân hàng, và phát hành chứng chỉ tiềngửi cũng nh cổ phiếu Do đó các tài sản cũng đợc xếp loại từ các tài sản cólãi suất thấp và tính lỏng cao cho tới tài sản có lãi suất cao và tính lỏng thấp.Mỗi loại có một loại rủi ro đặc trng Trong trờng hợp này, khả năng phân tíchrủi ro của một ngân hàng là một yếu tố quyết định quan trọng đến việc ngânhàng có thể bán các sản phẩm tài chính của mình cho ngời khác với chi phíthấp nhất có thể Những ngân hàng có chất lợng phân tích kém hơn sẽ rơi vàokhó khăn khi họ bắt buộc phải trả một khoản phí cao hơn những ngân hàngkhác để tự tài trợ cho mình trên thị trờng liên ngân hàng
Nh vậy trong tơng lai, khả năng phân tích tài chính sẽ là một vũ khíquan trọng giúp cho ngân hàng đánh giá chất lợng tín dụng đợc cao hơn
Đồng thời nó cũng cung cấp cho ngân hàng những thông tin cần thiết tronghoạt động tín dụng của mình, nâng cao tính an toàn và giảm bớt những biến
động về nguồn vốn huy động của ngân hàng trong lĩnh vực cho vay Chophép ngân hàng phục vụ khách hàng lốt hơn và khẳng định mạnh mẽ hơn uytín của ngân hàng
1.2.4 Nhõn tố ảnh hưởng tới khả năng cạnh tranh của NHTM
Nhà kinh tế học Micheal Porter trong cuốn Chiên lợc cạnh tranh
(1996) đã phân tích khá rõ ràng về 5 lực lợng thị trờng đe doạ sự tồn tại vàphát triển ảnh hởng tới các chiến lợc cạnh tranh và vị thế cạnh tranh của một
ngân hàng: sự thay thê về mặt sản phẩm hay dịch vụ cung ứng, sức ép từ phía ngời mua, sức ép từ phía ngời cung cấp, những đối tuợng mới tham gia thị tr- ờng và các đối thủ cạnh tranh hiện tại.
Tuy nhiên đứng trên một khía cạnh tổng hợp hơn, ta có thể nhận thấybản thân mỗi ngân hàng đều phải chịu tác động của các nhân tố nội tại vàcác nhân tố bên ngoài Các công cụ cạnh tranh của ngân hàng kết hợp vớimục tiêu hoạt động của ngân hàng tạo thành các nhân tố nội tại còn các nhân
Trang 25tố bên ngoài bao gồm 5 lực lợng kể trên và xu thế hội nhập kinh tế thế giới
và toàn cầu hoá Theo hớng phân tích đó, ta có thể lướt qua ảnh hởng củacác công cụ cạnh tranh để quan tâm đến yếu tố còn lại: mục tiêu kinh doanhcủa ngân hàng
1.2.4.1 Nhõn tố nội tại
Mục tiêu hoạt động của bản thân ngân hàng
Cần phải khẳng định lại một lần nữa là : không một ngân hàng nào lại
có thể tồn tại và phát triển mà không có các chiến lợc canh tranh cụ thể Màmột trong những nội dung quan trọng cần phải đợc làm sáng tỏ là mục tiêuhoạt động của ngân hàng Nó quyết định thị trờng của ngân hàng cũng nhphân loại các khách hàng, dựa vào đó ngời ta mới có thể đa ra những chiến l-
ợc trong tơng lai phù hợp với mục tiêu ấy Nhờ đó ngân hàng mới có thể hyvọng về hiệu quả hoạt động của mình
Quan hệ đối ngoại của ngân hàng
Nhân tố thứ hai ảnh hởng tới khả năng cạnh tranh của ngân hàng làmối quan hệ của ngân hàng đó với các khách hàng, các đối tác và các ngânhàng khác Chỉ có đi sâu nghiên cứu, trao đổi kinh nghiệm, nắm bắt nhanhnhạy các diễn biến về tài chính và tiền tệ trên thế giới, các xu thế mới về thịtrờng vốn, ngân hàng mới thích ứng và có đối sách kịp thời khi có biến động,
đồng thời sẽ đa ra đợc những quyết định cho vay hiệu quả nhất Ngân hàngnào thực hiện điều này càng nhanh, càng mạnh bao nhiêu thì khả năng cạnhtranh của nó với các ngân hàng khác càng đợc nâng cao bấy nhiêu
Chất l ợng nguồn nhân lực
Một trong những nguồn nội lực quan trọng của ngân hàng là nguồnnhân lực Chất lợng của đội ngũ này ảnh hởng đến kết quả xét duyệt cho vay
và hiệu quả hoạt động tín dụng ngắn hạn cũng nh uy tín của ngân hàng và do
đó quyết định khả năng cạnh tranh của ngân hàng Đây cũng là một tiêu chíquan trọng đánh giá sức mạnh cạnh tranh nằm trong tầm kiểm soát của ngânhàng
Cụng nghệ mới được ỏp dụng trong ngõn hàng
Trang 26Công nghệ là đòn bẩy của sự phát triển, là điều kiện để ngân hàng hộinhập vào cộng đồng ngân hàng quốc tế Hiện đại hoá công nghệ và mạngmáy tính trong ngân hàng sẽ nâng cao chất lợng phục vụ khách hàng, tăngtính linh hoạt của các hoạt động thanh khoản, đồng thời tăng lợi thế cạnhtranh của ngân hàng so với các ngân hàng trong cùng hệ thống.
1.2.4.2 Nhõn tố bờn ngoài
Các đối thủ hiên tai
Chỉ có hiểu rõ đợc đối thủ, các ngân hàng mới có thể giành đợc lợi thếcạnh tranh trong một môi trờng cạnh tranh khó khăn nh hiện nay Đối thủcạnh tranh ảnh hởng đến chiến lợc hoạt động kinh doanh của ngân hàngtrong tơng lai và cũng gây cho ngân hàng mối lo lắng thờng trực Chính vìthế sự có mặt của các đối thủ cạnh tranh góp phần thúc đẩy ngân hàng phảithờng xuyên cải tiến và phát triển không ngừng để tiếp tục tồn tại Muốn cónhững hiểu biết tơng đối chính xác về đối thủ cạnh tranh, các ngân hàng phảitiến hành phân tích đối thủ cạnh tranh Thông qua các điểm mạnh, điểm yếucủa đối phơng mà xác định cho mình một chiến lợc kinh doanh phù hợp, đápứng nhu cầu cạnh tranh
Sức ép từ phía khách hàng
Một trong những đặc điểm quan trọng của ngành ngân hàng là tất cảcác cá nhân, tổ chức kinh doanh sản xuất hay tiêu dùng, thậm chí là các ngânhàng khác cũng đều có thể vừa là khách hàng vừa là ngời bán cho ngân hàng.Những ngời bán sản phẩm thông qua các hình thức gửi tiền, lập tài khoảngiao dịch hay cho vay liên ngân hàng đều có mong mỏi là nhận đợc một lãisuất cao hơn trong khi những ngời mua sản phẩm nh vay vốn, vay liên ngânhàng lại muốn mình chỉ phải trả một chi phí vay vốn nhỏ hơn thực tế Nh vậyngân hàng sẽ chịu sự mâu thuẫn giữa hoạt động tạo lợi nhuận có hiệu quả vàgiữ chân đợc khách hàng cũng nh có đợc nguồn vốn thu hút rẻ nhất có thể
Điều này đặt ra cho ngân hàng nhiều khó khăn trong định hớng cũng nh
ph-ơng thức hoạt động trong tph-ơng lai
Hiểm hoa đe doạ từ các ngân hàng mới
Các ngân hàng mới tham gia thị trờng với những lợi thế quan trọng nh
mở ra những tiềm năng mới, có động cơ và ớc vọng giành đợc thị phần vì đã
có kinh nghiệm tham khảo từ những ngân hàng đang hoạt động, có đợc
Trang 27những thống kê đầy đủ và dự báo về thị trờng Nh vậy chưa kể đến thực lựccủa ngân hàng mới ra sao, các ngân hàng hiện tại đã thấy một mối đe doạ vềkhả năng thị phần bị chia sẻ, ngoài ra còn cha kể đến ngân hàng mới cónhững kế sách và sức mạnh mà các ngân hàng kia cha thể có thông tin vàchiến lợc ứng phó Nhng trớc mắt, các ngân hàng trong khối có thể đặt ranhững rào cản cho sự thâm nhập thị trờng của các ngân hàng mới
Hội nhập kinh tế thế giới và toàn cầu hoá
Trong bối cảnh kinh tế mang đầy tính cạnh tranh hiện nay, rõ ràng cácngân hàng không thể đứng ngoài vòng phát triển của thế giới Một trongnhững ngành có tốc độ toàn cầu hoá và có ảnh hởng mạnh mẽ nhất đến nềnkinh tế thế giới chính là ngành ngân hàng mà rộng hơn nữa là ngành dịch vụtài chính Phát triển kinh tế phải đi đôi với việc phát trên thị trờng tài chính
và ngành ngân hàng Với một thị trờng non trẻ và đầy tiềm năng nh ViệtNam, đây chắc chắn là một nhân tố cần đợc quan tâm
Trang 28CHƯƠNG II:
THỰC TRẠNG KHẢ NĂNG CẠNH TRANH TRONG HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG NGẮN HẠN TẠI NGÂN HÀNG TMCP
SÀI GÒN-HÀ NỘI CHI NHÁNH ĐỐNG ĐA
2.1 Khái quát về ngân hàng Sài Gòn-Hà Nội chi nhánh Đống Đa
2.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển của ngân hàng Sài Gòn-Hà Nội chi nhánh Đống Đa
Ngân hàng TMCP Sài Gòn – Hà Nội, tên viết tắt SHB,được thành lậptheo các Quyết định số 214/QÐ-NH5 ngày 13/11/1993; Quyết định số93/QÐ-NHNN ngày 20/1/2006 và số 1764/QÐ-NHNN ngày 11/9/2006.Giấy phép ĐKKD số 5703000085 Ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn -
Hà Nội (SHB ) tiền thân là Ngân hàng TMCP Nông Thôn Nhơn Ái đượcthành lập theo giấy phép số 0041/NH /GP ngày 13/11/1993 do Thống đốcNgân hàng Nhà Nước Việt Nam cấp và chính thức đi vào hoạt động ngày12/12/1993 Ra đời trong bối cảnh nền kinh tế đất nước chuyển từ kinh tế kếhoạch hoá tập trung sang cơ chế thị trường có sự quản lý cuả Nhà nước vàtheo chủ trương cuả Chính Phủ, đây là giai đoạn đổi mới và thực hiện pháplệnh ngân hàng, hợp tác xã và Công ty tài chính, vốn điều lệ đăng ký banđầu là 400 triệu đồng, SHB luôn hướng tới tiêu chí mở rộng hoạt động mộtcách vững chắc, an toàn, tự bền vững về tài chính, áp dụng công nghệ thôngtin hiện đại, cung cấp các dịch vụ và tiện ích thuận lợi, đa dạng và thôngthoáng đến các doanh nghiệp và các tầng lớp dân cư ở đô thị, nâng cao vàduy trì khả năng sinh lời, phát triển và bồi dưỡng nguồn nhân lực nhằm nângcao năng lực cạnh tranh và thích ứng nhanh chóng với quá trình hội nhậpkinh tế quốc tế
Trang 29Nằm trong hệ thống chung, SHB Đống Đa được ra đời ngàytừng bước áp dụng nhất quán các thông lệ quốc tế trong công tác điều hành,phát triển và đưa ra thị trường những sản phẩm dịch vụ tài chính đa dạngđáp ứng nhu cầu của khách hàng, tạo uy tín thương hiệu qua chất lượng phục
vụ khách hàng, đầu tư vào con người, phát triển năng lực của cán bộ, nhânviên, khuyến khích sự cống hiến xuất sắc, thưởng công xứng đáng với thànhtích và tạo điều kiện cho họ có cơ hội phát triển toàn diện Với kế họach pháttriển kinh doanh cụ thể phù hợp với chương trình hành động,lộ trình hộinhập của ngành ngân hàng Việt Nam cùng với tiềm lực tài chính mạnh củacác cổ đông tiềm năng, với bộ máy Hội đồng Quản trị, Ban Kiểm soát, BanĐiều hành là những người có trình độ nghiệp vụ, có kinh nghiệm trong lĩnhvực ngân hàng và có tâm huyết với Ngân hàng sẽ là những nhân tố tích cựctrong giai đoạn phát triển mới và sẽ đưa SHB phát triển một cách bền vữngtrong thời gian tới
2.1.2 Mục tiêu hoạt động
- Với nền tảng và thế mạnh sẵn có, SHB Xác định chiến lược phấn đấu trởthành ngân hàng bán lẻ đa năng hiện đại hàng đầu tại Việt Nam, năm 2015trở thành một Tập đoàn tài chính – công nghiệp – bất động sản lớn mạnh
Trang 30 Công ty thành viên: Đưa vào hoạt động các công ty trực thuộc nhưcông ty cho thuê tài chính, công ty bảo hiểm, công ty mua bán nợ,Công ty địa ốc
Cán bộ nhân viên: Số lượng cán bộ nhân viên toàn hệ thống: 1.500người được đào tạo một cách có hệ thống và chuyên nghiệp
2.1.3 Họat động kinh doanh của ngân hàng
2.1.3.1 Công tác huy động vốn
Nguồn vốn huy động của ngân hàng SHB các năm qua đều cao do SHB
đã không ngừng mở rộng mạng lưới chi nhánh, đến thời điểm 31/12/2006,tổng vốn huy động đạt 770.001 triệu đồng, năm 2007 đạt 9.948.553 triệuđồng Tốc độ tăng trưởng vốn huy động duy trì ở mức cao, năm 2006 tăng290% so với năm 2005, năm 200t tăng 1192% so với tổng nguồn vốn huyđộng cả năm 2006.Tại thời điểm 30/6/2008 , nguồn vốn huy động đã gầnbằng cả năm 2007
Trang 31
Bảng 1 :Nguồn vốn huy động
Đơn vị: Triệu đồngNăm
Trang 32(Nguồn: Báo cáo phòng nguồn vốn SHB)