Hoàn thiện công tác lập kế hoạch sản xuất tại Công ty cổ phần 26.
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU
Nền kinh tế Việt nam sau hơn 20 năm đổi mới, dưới sự lãnh đạo của Đảng và Nhànước đã và đang đạt được nhiều thành tựu đáng kể trên mọi lĩnh vực kinh tế, xã hội,đối ngoại, an ninh quốc phòng Đặc biệt là có sự đổi mới về cơ chế quản lý từ nền kinh
tế kế hoạch hóa tập trung sang nền kinh tế thị trường dưới sự quản lý của Nhà nước.Hơn nữa, Việt Nam đang từng bước mở cửa hội nhập sâu vào nền kinh tế thế giớichung, mang đến nhiều cơ hội và thách thức cho các doanh nghiệp Trong môi trườngđầy cạnh tranh giữa doanh nghiệp nội và ngoại như vậy, mỗi doanh nghiệp của ViệtNam phải không ngừng học hỏi, đổi mới, phải luôn giữ được thế chủ động trên thươngtrường Doanh nghiệp phải trả lời được bốn câu hỏi: Biết mình đang ở đâu?, Mìnhmuốn đi tới đâu?, Mình phải làm gì? Và cần phải làm như thế nào? Đây chính là mộtphần mục tiêu mà một bản kế hoạch của doanh nghiệp hướng tới Trong đó lập kếhoạch là khâu giữ vị trí quan trọng hàng đầu trong công tác kế hoạch hóa doanhnghiệp, nhất là đối với doanh nghiệp sản xuất
Công ty cổ phần 26 là một trong những doanh nghiệp của ngành Quân nhu, là mộtdoanh nghiệp sản xuất với nhiều ngành hàng như sản phẩm may, sản phẩm giầy, sảnphẩm đồ gỗ và sản phẩm nhựa Trong suốt 32 năm hoạt động ( 1978- 2010) công tyluôn khẳng định là một doanh nghiệp quốc phòng phát triển sản xuất có hiệu quả Đểbắt nhịp với xu thế hội nhập kinh tế quốc tế của nước nhà, công ty đã và đang thực hiệnnhiều chương trình, kế hoạch và chiến lược mới Là một doanh nghiệp sản xuất nêncông tác lập kế hoạch sản xuất có vai trò vô cùng quan trọng trong hoạt động sản xuấtkinh doanh của công ty Kế hoạch hóa sản xuất nhằm tối ưu hóa việc sử dụng các yếu
tố sản xuất sẵn có để sản xuất ra sản phẩm, nhằm tạo ra sản phẩm chất lượng cao, đảmbảo khả năng hoạt động tốt của hệ thống sản xuất, quản lý tốt các nguồn lực và có cácquyết định đầu tư phù hợp
Trên cơ sở kiến thức được học và nghiên cứu thực tế trong thời gian thực tập tạicông ty cổ phần 26, em nhận thấy công tác lập kế hoạch sản xuất là phần quan trọngtrong công tác quản lý sản xuất của công ty, em đã mạnh dạn nghiên cứu đề tài:
“ Hoàn thiện công tác lập kế hoạch sản xuất tại công ty cổ phần 26”.
Trang 2 Đối tượng nghiên cứu:
Công tác lập kế hoạch sản xuất tại công ty cổ phần 26 – BQP
Phạm vi nghiên cứu:
Nội dung nghiên cứu: Nghiên cứu công tác lập kế hoạch sản xuất và tình hình thựchiện kế hoạch tại công ty cổ phần 26
Thời gian nghiên cứu: từ năm 2007- 2009
Mục tiêu nghiên cứu:
Tìm hiểu cụ thể phương thức lập kế hoạch sản xuất của công ty, từ đó tìm ra nhữngmặt được, chưa được Qua đó, tìm ra những giải pháp tối ưu hơn để lập kế hoạch trợgiúp cho hoạt động sản xuất đạt hiệu quả hơn
Phương pháp nghiên cứu :
Bài viết đề cập nghiên cứu tình hình lập và thực hiện kế hoạch sản xuất tại công
ty cổ phần 26 bằng việc áp dụng một số phương pháp nghiên cứu khoa học sau:Phương pháp thống kê, phương pháp phân tích kinh doanh, phương pháp tổng hợp
và suy luận và cùng với những quan sát thực tế hoạt động sản xuất của công ty…nhằm giải quyết các khó khăn và tồn tại Từ đó, đưa ra giải pháp nhằm hoàn thiệnphương thức xây dựng kế hoạch này
Kết cấu chuyên đề gồm những phần sau:
Chương I: Cơ sở lý luận chung về kế hoạch sản xuất trong doanh nghiệp Chương II: Thực trạng công tác lập kế hoạch sản xuất tại công ty cổ phần 26.
Chương III: Các giải pháp hoàn thiện công tác lập kế hoạch sản xuất tại công ty cổ phần 26.
Trong thời gian thực tập và hoàn thiện đề tài của mình, em xin chân thành cảm ơnthầy giáo ThS Bùi Đức Tuân người đã trực tiếp hướng dẫn em hoàn thiện đề tài nàycùng với các thầy cô trong khoa kế hoạch phát triển đã trang bị cho em những kiếnthức quý báu để hoàn thành chuyên đề thực tập Đồng thời em xin chân thành cảm
ơn tập thể cán bộ công nhân viên phòng kế hoạch kinh doanh công ty cổ phần 26 đãtận tình, tạo mọi điều kiện giúp đỡ em trong quá trình thực tập
Trang 3
CHƯƠNG I: CƠ SƠ LÝ LUẬN CHUNG VỀ KẾ HOẠCH SẢN XUẤT TRONG
Hiểu một cách tổng quát nhất, kế hoạch hóa là một phương thức quản lý theomục tiêu, nó “ là hoạt động của con người trên cơ sở nhận thức và vận dụng các quyluật xã hội và tự nhiên, đặc biệt là các quy luật kinh tế để tổ chức quản lý các đơn vịkinh tế- kỹ thuật, các ngành, các lĩnh vực hoặc toàn bộ nền sản xuất xã hội theonhững mục tiêu thống nhất”
Theo cách hiểu trên, kế hoạch hóa được thực hiện ở nhiều quy mô, phạm vi khácnhau như: kế hoạch hóa kinh tế quốc dân , kế hoạch hóa theo vùng, theo địaphương, kế hoạch hóa ngành, lĩnh vực, kế hoạch hóa doanh nghiệp “ Kế hoạchhóa doanh nghiệp là một quy trình ra quyết định cho phép xây dựng một hình ảnhmong muốn về trạng thái tương lai của doanh nghiệp và quá trình tổ chức triển khaithực hiện mong muốn đó” Như vậy, kế hoạch hóa trong doanh nghiệp là thể hiện
kỹ năng tiên đoán mục tiêu phát triển và tổ chức quá trình thực hiện mục tiêu đặt ra.Công tác này bao gồm: quá trình soạn lập kế hoạch và tổ chức triển khai và đánhgiá thực hiện các mục tiêu của kế hoạch
2 Vai trò của kế hoạch hóa trong doanh nghiệp.
Trang 42.1 Trong cơ chế kế hoạch hóa tập trung.
Ở đây kế hoạch hóa được thể hiện là những quyết định mang tính chất mệnh lệnhphát ra từ trung ương Hệ thống chỉ tiêu kế hoạch này là cơ sở điều tiết mọi hoạtđộng tổ chức và quản lý sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Vai trò lớn nhất của
cơ chế này là: có năng lực tạo ra các tỷ lệ tiết kiệm và tích lũy rất cao, thực hiện đượcnhững cân đối cần thiết trong tổng thể kinh tế quốc dân, nền kinh tế có thể đạt đượcmức cung ứng các nguồn lực cần thiết để tạo ra tăng trưởng nhanh Đặc biệt nhờ có
cơ chế kế hoạch hóa tập trung mà Nhà nước có thể chuyển hướng các nguồn lực cầnthiết để thực hiện các mục tiêu và các lĩnh vực cần ưu tiên trong từng thời kỳ nhấtđịnh
Tuy vậy, trong cơ chế thị trường cơ chế kế hoạch hóa tập trung không còn phù hợp,bản thân những đặc trưng của cơ chế này đã tạo ra những rào cản hạn chế sự pháttriển của chính các doanh nghiệp cũng như toàn thể nền kinh tế quốc dân, cụ thể là:hạn chế tính năng động, sáng tạo, tự chịu trách nhiệm của các doanh nghiệp; nềnkinh tế bị mất động lực phát triển, các doanh nghiệp không có khả năng cạnh tranh,nhất là trong logic của kinh tế cầu; hạn chế tính năng động về công nghệ, áp dụng kỹthuật mới vì việc cho ra đời các sản phẩm mới không được gắn chặt với cơ chếkhuyến khích và hiệu quả kinh tế rất thấp
2.2 Trong nền kinh tế thị trường.
Ngày nay trong cơ chế thị trường, kế hoạch hóa vẫn là cơ chế quản lý cần thiết,hữu hiệu của các doanh nghiệp Những vai trò chính được thể hiện cụ thể: Tập trung
sự chú ý các hoạt động trong doanh nghiệp vào các mục tiêu Bản thân thị trường rấtlinh hoạt và thường xuyên biến động, kế hoạch và quản lý bằng kế hoạch giúp cácdoanh nghiệp dự kiến được những cơ hội, thách thức có thể xảy ra; có kế hoạch và tổchức quá trình hoạt động thông qua các mục tiêu định lập trước, giúp doanh nghiệpứng phó những bất định và thay đổi của thị trường; công tác kế hoạch hóa tạo khảnăng tác nghiệp kinh tế trong doanh nghiệp Hình dung rõ hơn nếu đã từng ngắmtừng bộ phận lắp ráp ô tô trong một nhà máy lớn mà lại không có ấn tượng về cáchthức và các dây truyền phụ ghép nối với nhau Từ hệ thống băng tải chính hình thànhthân xe và các bộ phận khác nhau được hình thành từ các dây truyền khác Động cơ,
bộ truyền lực và các phụ kiện được đặt vào chỗ một cách chính xác đúng vào thời
Trang 5điểm đã định Ví dụ trên cho thấy, quá trình sản xuất sản phẩm và dịch vụ thườngđược chia thành nhiều công đoạn, nhiều chi tiết có liên quan chặt chẽ, mang tính dâytruyền với nhau Quá trình đó cần phải được phân chia thành các tác nghiệp kinh tế,
kỹ thuật chi tiết theo thời gian và không gian Công tác kế hoạch hóa doanh nghiệptạo cơ sở cho việc nhìn nhận logic các nội dung hoạt động có liên quan chặt chẽ vớinhau trong quá trình tiến tới mục tiêu sản xuất sản phẩm và dịch vụ cuối cùng Trênnền tảng đó, các nhà quản lý thực hành các phân công, điều độ, tổ chức các hànhđộng cụ thể, chi tiết theo đúng trình tự, bảo đảm cho sản xuất sẽ không bị rối loạn và
ít bị tốn kém
3 Hệ thống kế hoạch trong doanh nghiệp.
Hệ thống kế hoạch của một doanh nghiệp là tổng hợp của nhiều loại kế hoạch khácnhau nhưng có mối quan hệ chặt chẽ với nhau theo một định hướng nhất định nhằmthực hiện mục tiêu chiến lược của doanh nghiệp Các kế hoạch của doanh nghiệpđược phân chia theo nhiều tiêu thức, mỗi tiêu thức phân loại lại có một hệ thống kếhoạch khác nhau
3.1 Theo góc độ thời gian.
Đây là thể hiện việc phân đoạn kế hoạch theo thời gian cần thiết để thực hiện chỉtiêu đặt ra
- Kế hoạch dài hạn: bao trùm lên khoảng thời gian khoảng 10 năm Qua trìnhsoạn lập kế hoạch dài hạn được đặc trưng bởi: môi trường liên quan được hạn chếbởi thị trường mà doanh nghiệp đã có mặt; dự báo trên cơ sở ngoại suy từ quá khứ,bao gồm xu hướng dự tính của nhu cầu, giá cả và hành vi cạnh tranh; chủ yếu nhấnmạnh các ràng buộc về tài chính; sử dụng rộng rãi các phương pháp kinh tế lượng
Trang 6Ba loại kế hoạch trên có quan hệ hữu cơ với nhau Trong đó, kế hoạch dài hạn giữvai trò trung tâm, chỉ đạo trong hệ thống kế hoạch sản xuất kinh doanh của doanhnghiệp, là cơ sở để xây dựng kế hoạch trung hạn và kế hoạch ngắn hạn.
3.2 Đứng trên góc độ nội dung, tính chất hay cấp độ của kế hoạch.
- Kế hoạch chiến lược: Là định hướng lớn cho phép doanh nghiệp thay đổi, cảithiện, củng cố vị thế cạnh tranh của mình và những phương pháp cơ bản để đạtđược mục tiêu đó Kế hoạch do lãnh đạo doanh nghiệp lập, vì kế hoạch chiến lượcđòi hỏi trách nhiệm rất cao, quy mô hoạt động rộng lớn của các nhà quản lý
- Kế hoạch tác nghiệp: Là công cụ cho phép chuyển các định hướng chiến lượcthành các chương trình áp dụng cho các bộ phận của doanh nghiệp trong khuôn khổcác hoạt động của các doanh nghiệp, nhằm thực hiện được các mục tiêu của kếhoạch chiến lược Kế hoạch tác nghiệp được thể hiện cụ thể ở những bộ phận kếhoạch riêng biệt trong tổng thể hoạt động kinh doanh như: kế hoạch sản xuất, kếhoạch marketing, kế hoạch tài chính, nhân sự của doanh nghiệp
II KẾ HOẠCH HÓA SẢN XUẤT TRONG DOANH NGHIỆP.
Kế hoạch hóa được xem như là một quá trình nhiều giai đoạn có mối liên hệ chặtchẽ với nhau, đó là: lập kế hoạch, triển khai thực hiện kế hoạch, theo dõi kiểm tra,điều chỉnh kế hoạch và đánh giá kế hoạch Trong đó, bước lập kế hoạch là khâu đầutiên và đóng vai trò quan trọng nhất.(4)
1 Khái niệm lập kế hoạch.
Là quá trình xác định các mục tiêu, chỉ tiêu kế hoạch và đề xuất chính sách giảipháp áp dụng Kết quả của việc soạn lập kế hoạch là một bản kế hoạch của doanhnghiệp được hình thành Bản kế hoạch của doanh nghiệp là hệ thống các phươnghướng, nhiệm vụ, mục tiêu và các chỉ tiêu nguồn lực vật chất, nguồn lực tài chínhcần thiết cho việc thực hiện mục tiêu phát triển doanh nghiệp đặt ra trong thời kỳ kếhoạch nhất định.(5)
2 Quy trình lập kế hoạch trong doanh nghiệp.
(4) ThS Bùi Đức Tuân ( 2005), Kế hoạch kinh doanh- NXB Lao động Xã hội, tr 48
(5) ThS Bùi Đức Tuân ( 2005), Kế hoạch kinh doanh- NXB Lao động Xã hội, tr11
Trang 7Hình 1 Các bước soạn lập kế hoạch
Sơ đồ tổng quát trên mô tả những bước đi cụ thể của quá trình lập kế hoạch như sau:
- Bước 1: Nhận thức được cơ hội trên cơ sở xem xét đánh giá môi trường bêntrong và bên ngoài doanh nghiệp để biết được ta đang đứng ở đâu trên cơ sở điểmmạnh và điểm yếu của mình
- Bước 2: Thiết lập nhiệm vụ, mục tiêu cho toàn doanh nghiệp và cho các đơn vịcấp dưới Các mục tiêu sẽ xác định kết quả cần thu được và chỉ ra các điểm kết thúctrong các việc cần làm, nơi nào cần phải được chú trọng ưu tiên và cái gì cần hoànthành bằng một hệ thống các chiến lược, các chính sách, các thủ tục, các ngân quỹ,các chương trình
- Bước 3: Lập kế hoạch chiến lược Doanh nghiệp so sánh các nhiệm vụ, mục tiêu( yếu tố mong muốn) với kết quả nghiên cứu về môi trường bên trong và bên ngoài( yếu tố giới hạn mục tiêu mong muốn) Xác định sự cách biệt giữa chúng và bằngviệc sử dụng những phương pháp phân tích chiến lược đưa ra các phương án kếhoạch chiến lược khác nhau Kế hoạch chiến lược bao gồm các bước:
+ Xác định các phương án kế hoạch chiến lược: xác định các phương án hợp lý,tìm ra các phương án có nhiều triển vọng nhất
Kế hoạch tác nghiệp và ngân sáchNhiệm
vụ và
mục
tiêu
Chương trình,
dự án
Đánh giá
và hiệu chỉnh các pha của
kế hoạch
Trang 8+ Đánh giá các phương án lựa chọn: sau khi tìm được các phương án có nhiềutriển vọng nhất cần tiến hành đánh giá và xem xét điểm mạnh, yếu của từngphương án dựa trên cơ sở định lượng các chỉ tiêu của từng phương án.
+ Lựa chọn phương án cho kế hoạch chiến lược: việc quyết định chọn một trong
số các phương án kế hoạch chiến lược phụ thuộc vào những ưu tiên về mục tiêucần thực hiện trong thời kỳ kế hoạch Trong quá trình lựa chọn phương án cũngcần phải lưu ý đến những phương án dự phòng và những phương án phụ để sửdụng trong những phương án cần thiết
- Bước 4: Xác định các chương trình, dự án Việc xác định các chương trình gồm:xác định các mục tiêu, nhiệm vụ; các bước tiến hành; các nguồn lực cần sử dụng vàcác yếu tố khác cần thiết để tiến hành chương trình hành động cho trước; những yêucầu về ngân sách cần thiết Các dự án được xác định gồm: các thông số về tài chính
và kỹ thuật, các tiến độ thực hiện, tổ chức huy động và sử dụng nguồn lực, hiệu quảkinh tế tài chính
- Bước 5: Soạn lập hệ thống các kế hoạch chức năng và ngân sách Mục tiêu củacác kế hoạch kinh doanh thường hướng tới là: đáp ứng đòi hỏi của thị trường; nângcao hoạt động hiệu quả kinh doanh, quản lý một cách có hiệu quả hơn các nguồnlực; đảm bảo thực hiện chiến lược kinh doanh đã chọn: thực hiện các mục tiêuchiến lược, kiểm soát quá trình triển khai chiến lược Để thực hiện được những mụctiêu nói trên, kế hoạch chiến lược cần phải được cụ thể hóa bằng hệ thống các kếhoạch chức năng, xem như đó là các kế hoạch tác nghiệp để chỉ đạo và điều hànhsản xuất kinh doanh Hệ thống các kế hoạch chức năng bao gồm: kế hoạch sản xuấtsản phẩm, phát triển sản phẩm mới; kế hoạch mua sắm thiết bị, nguyên vật liệu; kếhoạch nhân sự, kế hoạch tài chính, kế hoạch marketing Sau khi các kế hoạch tácnghiệp được xây dựng xong cần lượng hóa chúng dưới dạng tiền tệ các dự toán vềmua sắm các yếu tố sản xuất, phục vụ bán hàng, nhu cầu vốn… là soạn lập ngânsách
Các kế hoạch chức năng và ngân sách trên thực tế có mối quan hệ mật thiết vớinhau và cần phải thống nhất trong quá trình xây dựng nhằm đảm bảo sự phối hợpđồng bộ và có hiệu quả giữa các chức năng trong doanh nghiệp
Trang 9- Bước 6: Đánh giá hiệu chỉnh các pha của kế hoạch Các nhà lãnh đạo doanhnghiệp cùng với các nhà chuyên môn kế hoạch cũng như chức năng khác, có thể sửdụng thêm đội ngũ chuyên gia, tư vấn kiểm tra lại các mục tiêu, chỉ tiêu, các kếhoạch chức năng, ngân sách, các chính sách…phân định kế hoạch theo các pha cóliên quan đến tổ chức thực hiện kế hoạch, trên cơ sở đó tiến hành các phê chuẩn cầnthiết để chuẩn bị chuyển giao nội dung kế hoạch cho các cấp thực hiện.
3 Các yếu tố tác động đến hoạt động lập kế hoạch.
3.1 Quan điểm các nhà lập kế hoạch.
Vì việc lập kế hoạch là do các nhà lập kế hoạch hoạch định, ngoài những yếu tốtác động khách quan thì các kế hoạch vẫn sẽ bị chi phối bởi quan điểm chủ quan củanhững nhà làm công tác kế hoạch
3.2 Cấp quản lý.
Giữa cấp quản lý trong một doanh nghiệp và các loại kế hoạch được lập ra có mốiquan hệ với nhau Cấp quản lý mà càng cao thì việc lập kế hoạch càng mang tínhchiến lược Các nhà quản lý cấp trung và cấp thấp thường lập kế hoạch tác nghiệp
3.3 Chu kỳ kinh doanh của doanh nghiệp.
Trang 10
Hình 2: Chu kỳ kinh doanh của doanh nghiệp
Mỗi chu kỳ kinh doanh của doanh nghiệp đều trải qua bốn giai đoạn là: hìnhthành, tăng trưởng, chín muồi, suy thoái Với mỗi chu kỳ thì việc lập kế hoạch làkhông giống nhau Qua các giai đoạn khác nhau thì độ dài và tính cụ thể của các kếhoạch là khác nhau
3.4 Tính không chắc chắn của môi trường kinh doanh.
Lập kế hoạch là quá trình chuẩn bị để đối phó với sự thay đổi và tình huốngkhông chắc chắn của môi trường kinh doanh mà chủ yếu là các nhân tố trong môitrường nền kinh tế và môi trường ngành Môi trường càng bất ổn thì kế hoạch càngmang tính định hướng và ngắn hạn bấy nhiêu Công việc của các nhà lập kế hoạch làphải đánh giá tính chất và mức độ không chắc chắn của môi trường kinh doanh đểxác định giải pháp phản ứng của doanh nghiệp và triển khai các kế hoạch thích hợp.Với những lĩnh vực có mức độ không chức chắn thấp thì việc xây dựng kế hoạch là
ít phức tạp, nhưng những lĩnh vực có mức độ không chắc chắn cao thì đòi hỏi kếhoạch phải được xây dựng rất linh hoạt
3.5 Hệ thống mục tiêu, chiến lược của doanh nghiệp.
Mục tiêu là kết quả mong muốn cuối cùng của doanh nghiệp Nhà lập kế hoạchcần phải dựa vào hệ thống mục tiêu của doanh nghiệp để lập kế hoạch cho phù hợp
Trang 113.6 Sự hạn chế của các nguồn lực.
Nguồn lực doanh nghiệp bao gồm: nguồn nhân lực, nguồn lực về tài chính, cơ sởvật chất, máy móc thiết bị, khoa học công nghệ…Sự khan hiếm nguồn lực nhiều khicòn làm giảm mức tối ưu của các phương án được chọn
Trước hết là nguồn nhân lực Thực tế ở nước ta lực lượng lao động thừa về sốlượng nhưng lại yếu về chất lượng Số lượng lao động có trình độ quản lý, tay nghềcao còn thiếu nhiều, lực lượng lao động trẻ ít kinh nghiệm vẫn cần đào tạo nhiều Tiếp đến là sự hạn hẹp về tài chính Nguồn lực tài chính yếu sẽ cản trở sự triểnkhai các kế hoạch và nó cũng giới hạn việc lựa chọn phương án tối ưu
Cơ sở vật chất kỹ thuật, máy móc thiết bị của doanh nghiệp cũng là nguồn lựchạn chế Thực tế hiện nay ở các doanh nghiệp nước ta hệ thống cơ sở vật chất kỹthuật còn yếu, thiếu và lạc hậu, trình độ khoa học công nghệ còn thấp Điều này cảntrở việc xây dựng và lựa chọn những kế hoạch sản xuất tối ưu
3.7 Hệ thống thông tin.
Nhà kinh tế học người Anh Roney cho rằng : “Một công ty hoạt động trong nềnkinh tế thị trường muốn chiến thắng trong cạnh tranh thì trước hết phải nắm đượcthông tin, tiếp đó phải xây dựng cho mình các chiến lược và kế hoạch đầy thamvọng”
Trong quá trình lập kế hoạch sản xuất kinh doanh, thông tin sẽ giúp bộ phận lãnhđạo của doanh nghiệp có được các quyết định đúng đắn kịp thời
Trong nền kinh tế thị trường thì thông tin là quan trọng nhất, là cơ sở của công táclập kế hoạch Khi lập kế hoạch nhà saonj lập cần dựa vào thông tin về các nguồnnhân lực, tài lực, vật lực và mối quan hệ tối ưu giữa chúng, làm cho chúng thíchnghi với sự biến động của môi trường, đảm bảo tạo ra khối lượng sản phẩm lớn nhấtbằng chi phí nhỏ nhất Đồng thời trong quá trình thực hiện kế hoạch thì chúng ta cầnphải dựa vào các thông tin phản hồi để có những điều chỉnh phù hợp
3.8 Hệ thống kiểm tra đảm bảo cho quá trình lập kế hoạch đạt kết quả và hiệu quả.
Trên thực tế, những kế hoạch tốt nhất cũng có thể không được thực hiện như ýmuốn Lãnh đạo cũng như cấp dưới của họ đều có thể mắc sai lầm và kiểm tra cho
Trang 12phép chủ động phát hiện, sửa chữa các sai lầm đó trước khi chúng trở nên nghiêmtrọng để mọi hoạt động của tổ chức được tiến hành theo đúng kế hoạch đã đề ra.
3.9 Năng lực của chuyên gia lập kế hoạch.
Năng lực các chuyên gia lập kế hoạch có ảnh hưởng lớn đến công tác xây dựng kếhoạch, các nhà lập kế hoạch phải có kiến thức và trình độ tổng hợp để lập kế hoạch
3.10 Cơ chế quản lý kinh tế và kế hoạch hóa của Nhà nước.
Đây là nhân tố có ảnh hưởng sâu sắc đến công tác lập kế hoạch sản xuất kinhdoanh của doanh nghiệp Một cơ chế quản lý phù hợp sẽ có tác dụng thúc đẩy hoạtđộng kế hoạch sản xuất phát triển, ngược lại nó sẽ kìm hãm sự phát triển của doanhnghiệp Thực tế trong những năm chuyển đổi cơ chế quản lý kinh tế của nhà nước ta
đã cho thấy, càng đi sâu vào cơ chế thị trường thì càng phát sinh thêm nhiều vấn đềmới cần tiếp tục nghiên cứu giải quyết để hoàn thiện cơ chế quản lý và kế hoạch hóacủa Nhà nước Nhà nước cần phải tiếp tục giải quyết các tồn đọng, vướng mắc trongnhiều năm chuyển đổi để thực sự tạo quyền tự chủ cho doanh nghiệp nhưng vẫnđảm bảo được yêu cầu quản lý tập trung thống nhất của Nhà nước
4 Quy trình lập kế hoạch sản xuất.
- Doanh nghiệp xác định các căn cứ nhất định để lập kế hoạch sản xuất Đó là:+ Dựa trên kết quả điều tra nghiên cứu thị trường: căn cứ số lượng đối thủ cạnhtranh, sự biến động giá cả trên thị nhường, sự thay đổi về thị hiếu, doanh nghiệplập kế hoạch sản xuất với cơ cấu và quy mô phù hợp
+Căn cứ kết quả phân tích hoạt động kinh doanh thời kỳ trước và dự báo khảnăng tương lai ứng với các nguồn lực có thể khai thác được căn cứ vào chiếnlược kinh doanh của mình và các đơn đặt hàng đã ký trước…
- Lập chỉ tiêu sản xuất của kế hoạch sản xuất chung và kế hoạch bộ phận dựa vàocăn cứ đã xác định: danh mục mặt hàng sẽ sản xuất, khối lượng săn xuất của nhữngsản phẩm, tiến độ sản xuất kỹ thuật
- Cuối cùng, soạn lập các biện pháp và chính sách áp dụng tại doanh nghiệp Mỗi
kế hoạch sản xuất chung gồm các kế hoạch bộ phận: Kế hoạch năng lực sản xuất,
kế hoạch sản xuất tổng thể, kế hoạch chỉ đạo sản xuất, kế hoạch nhu cầu sản xuất
và kế hoạch tiến độ sản xuất
5 Nội dung của các kế hoạch sản xuất.
Trang 135.1 Kế hoạch năng lực sản xuất.
Dựa trên cơ sở các chiến lược dài hạn của doanh nghiệp và các dự báo nhu cầuthị trường, doanh nghiệp phải cân nhắc việc quyết định trang bị cho mình một mức
độ năng lực sản xuất nhất định Quyết định này tác động rất lớn tới chi phí cố định,
và nó cũng quyết định xem liệu doanh nghiệp có khả năng đáp ứng nhu cầu hay cácthiết bị của nó sẽ không được sử dụng hết Nếu công suất của nhà máy quá lớn, bộphận không sản xuất sẽ làm tăng thêm chi phí cố định, ngược lại, nếu công suất nhàmáy quá nhỏ, doanh nghiệp sẽ mất khách hàng Do vậy, việc xác định quy mô củathiết bị sản xuất là rất quan trọng Năng lực sản xuất của doanh nghiệp phụ thuộcvào rất nhiều yếu tố, trước hết phải kể đến công suất của máy móc thiết bị
Có hai biện pháp để đo lường năng lực sản xuất của một hệ thống: mức độ sử dụng
và hiệu suất sử dụng Mức độ sử dụng là tỷ lệ phần trăm của công suất thiết kế hiệnđang được huy động Còn hiệu suất là tỷ lệ phần trăm của công suất thực tế hiệnđang được huy động Trên thực tế, thường hiệu quả hoạt động của thiết bị sản xuấtđược đánh giá thông qua hiệu suất sử dụng
5.1.2 Dự báo nhu cầu sử dụng công suất.
Thông thường việc xác định nhu cầu công suất phải trải qua hai bước: trước hếtdoanh nghiệp tiến hành dự báo nhu cầu theo những phương pháp truyền thống, sau
đó những kết quả dự báo này sẽ được sử dụng để xác định nhu cầu công suất Khi
Trang 14quy mô công suất đã được dự báo, bước tiếp theo sẽ xác định quy mô gia tăng cậnbiên của công suất.
Nếu không dự đoán được nhu cầu về công suất, doanh nghiệp có thể sử dụng các
mô hình xác suất Một trong những kỹ thuật hay được áp dụng trong điều kiện nhucầu không chắc chắn lá lý thuyết ra quyết định, trong đó sử dụng cây ra quyết định.Theo phương pháp này doanh nghiệp sẽ đưa ra một số phương án trang bị năng lựcsản xuất theo các quy mô khác nhau Mỗi phương án có kết cục tùy theo cái gọi làtrạng thái tự nhiên của thị trường Tính toán “ giá trị tiền tệ kỳ vọng”(EMV) củatừng phương án Nó phụ thuộc vào mỗi trạng thái thị trường, so sánh các EMV vớinhau rồi ra quyết định
5.2 Kế hoạch sản xuất tổng thể.
Kế hoạch sản xuất tổng thể liên quan đến việc xác định khối lượng và thời giansản xuất cho tương lai gần doanh nghiệp phải căn cứ vào một loạt các ràng buộc:năng lực sản xuất, kế hoạch bán hàng, các nguồn lực khác( nhân sự, vật liệu…), nếukhông làm hết có thể thuê gia công
Thị trường Quyết địnhsản phẩm Nghiên cứu
Trang 15Hình 3 Sơ đồ các mối liên hệ của kế hoạch sản xuất tổng thể
Phương pháp lập kế hoạch sản xuất tổng thể gồm có:
5.2.1 Phương pháp đồ thị.
Người làm kế hoạch sẽ thực hiện 5 bước:
- Xác định nhu cầu sản xuất cho mỗi kỳ
- Xác định công suất giờ chuẩn, giờ phụ trội, thuê gia công cho mỗi kỳ
- Xác định chi phí lao động, thuê gia công và chi phí lưu kho
- Tính đến các chính sách của doanh nghiệp đối với lao động hoặc mức lưu kho
- Khảo sát các kế hoạch và ước lượng tổng chi phí
5.2.2 Phương pháp mô hình “ Hệ số quản lý”.
Căn cứ vào thành tích của người làm kế hoạch sản xuất sử dụng phương phápphân tích hồi quy các quyết định trong quá khứ của cán bộ, đường hồi quy sẽ chỉ
Hoạch định công suất
Kế hoạch sản xuất tổng thể
Kế hoạch chỉ đạo sản xuất và hệ thống MRP
Kế hoạch tiến độ
Dự trữ thành phẩm
Nhân sự
Vật liệu sẵn có
Thuê gia côngĐơn hàng dự
báo bán hàng
Trang 16ra mối liên hệ giữa các biến số( chẳng hạn giữa nhu cầu và lao động) trong cácquyết định tương lai.
5.3 Kế hoạch chỉ đạo sản xuất.
Kế hoạch chỉ đạo sản xuất trả lời cho câu hỏi: sản xuất cái gì?, bao nhiêu?, khinào? Kế hoạch chỉ đạo sản xuất chính là sự thể hiện kế hoạch tổng thể trên chươngtrình chỉ đạo sản xuất tương ứng, thích hợp với khả năng sản xuất của các đơn vịnhằm thỏa mãn tốt nhất các dự báo kế hoạch
Sau khi đã có kế hoạch chỉ đạo sản xuất, doanh nghiệp sẽ phải dự tính nhu cầu vànăng lực cần thiết cho việc thực hiện kế hoạch sản xuất này Nhu cầu ở đây sẽ baogồm các chi tiết, bán thành phẩm…cần thiết cho việc hoàn thành sản phẩm cuốicùng
5.4 Kế hoạch nhu cầu sản xuất.
Để cho kế hoạch sản xuất tổng thể được cân đối, kế hoạch chỉ đạo sản xuất có thểthực hiện được, cần giải quyết mối quan hệ giữa nhu cầu độc lập của khách hàng vànăng lực sản xuất của doanh nghiệp
Mục đích của kế hoạch nhu cầu là để xác định nhu cầu các phương tiện và các yếu
tố sản xuất( lao động, máy móc thiết bị, diện tích sản xuất…) Phương pháp MRPđòi hỏi phải phân biệt rõ rang hai loại nhu cầu cơ bản: nhu cầu độc lập và nhu cầuphụ thuộc
- Nhu cầu độc lập: là những nhu cầu về sản phẩm cuối cùng và các chi tiết, linhkiện, phụ tùng thay thế được dung cho mục đích thỏa mãn yêu cầu của bênngoài( khách hàng) Nhu cầu này được xác định bởi kế hoạch bán hàng
- Nhu cầu phụ thuộc: Là những nhu cầu phát sinh từ những nhu cầu độc lập, nóđược tính toán từ quá trình phân tích sản phẩm thành các bộ phận, các cụm chi tiết
và linh kiện, vật tư, nguyên vật liệu Đối với các nhu cầu này, dự báo mức tiêu thụđược xác định bằng phương pháp tính toán MRP
Tính toán nhu cầu phụ thuộc
Tính toán nhu cầu phụ thuộc dựa trên sơ đồ kết cấu hình cây của sản phẩm.Việc phân tích kết cấu sản phẩm giúp xác định thứ tự các cấp nhu cầu phụ thuộc
Trang 17Từ đó giúp doanh nghiệp biết được thời gian cần thiết để hoàn thành các bướccông việc, tính toán được nhu cầu sản xuất cho từng loại sản phẩm để có thể sẵnsàng thỏa mãn các nhu cầu độc lập được ghi nhận( dự báo bán hàng hoặc đơn đặthàng) và nhu cầu phụ thuộc khác.
5.5 Kế hoạch tiến độ sản xuất.
Kế hoạch tiến độ sản xuất cụ thể hóa các quyết định về công suất, kế hoạch sảnxuất tổng thể và kế hoạch chỉ đạo sản xuất thành các chuỗi công việc và sự phâncông nhân sự, máy móc và nguyên vật liệu Kế hoạch tiến độ đòi hỏi phải phân bổthời gian cho từng công việc Tuy nhiên nhiều bước công việc cùng đòi hỏi sử dụngcùng nguồn lực( công nhân, máy móc, phân xưởng…) do đó doanh nghiệp phải sửdụng một số kỹ thuật để giải quyết mâu thuẫn này
Phương pháp điều kiện sớm
Bắt đầu lịch trình sản xuất sớm nhất có thể khi đã biết yêu cầu công việc Hoànthành xong công việc nhưng còn phải chờ giao hàng, sẽ phát sinh chi phí lưu khobảo quản
Phương pháp điều kiện muộn
Bắt đầu với thời hạn cuối cùng, lên lịch của công việc cuối cùng trước tiên Bằngcách lùi thời gian cần thiết cho mỗi bước công việc, chúng ta sẽ biết thời gian phảibắt đầu sản xuất Phương pháp này tiết kiệm được khâu lưu kho, nhưng rủi ro cao
vì nếu vướng phải một trục trặc nhỏ sẽ không đảm bảo thời hạn giao hàng
Phương pháp biểu đồ GANTT
Phương pháp này nhằm xác định thứ tự và thời hạn sản xuất của các công việckhác nhau cần thiết cho một chương trình sản xuất nhất định Để áp dụng phươngpháp này doanh nghiệp cần ấn định một chương trình sản xuất, xác định nhữngcông việc khác nhau cần thực hiện và xác định thời gian cần thiết cho mỗi côngviệc cũng như các mối quan hệ giữa chúng
Ví dụ: Một công ty X vừa trúng gói thầu xây dựng nhà D2 trường ĐH Kinh tếQuốc dân trong 7 tháng, từ tháng 1/2009 Chủ thầu đã thảo luận với bên tài chínhcủa trường các bước cơ bản tiến hành như sau:
Bảng 1: Các bước tiến hành dự án xây dựng nhà D2
Thứ tự Các bước công việc chính cần hoàn Công Thời hạn
Trang 18đó
hoàn thànhcông việc
Xây dựng nhà D2
B Mua sắm và chuẩn bị nguyên vật liệu A 1,5 tháng
C Xây dựng công trình thô B 4 tháng
D Mua sắm các trang thiết bị phòng học B 1 tháng
E Lắp đặt các trang thiết bị phòng học và
hoàn thiện toàn bộ công trình C 1 tháng
Theo các bước công việc chính như trên Chúng ta sẽ có biểu đồ GANTT như sau
Bảng 2: Biểu đồ GANTT cho việc hoàn thành nhà D2Tháng
CV
1/
ABCDE
Trong đó, nền đậm là thời gian thực hiện công việc, nền nhạt là thời gian dự trữ củacông việc
Phương pháp biểu đồ GANTT đơn giản, dễ hiểu, dễ sử dụng song còn hạn chế ở cácquy trình sản xuất không quá phức tạp bao gồm một khối lượng không quá lớn cáccông việc
CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC LẬP KẾ HOẠCH SẢN XUẤT TẠI
CÔNG TY CỔ PHẦN 26
Tên công ty : Công ty cổ phần 26- Bộ Quốc phòng
Tên giao dịch quốc tế : 26 JOIN STOCK COMPANY
Trụ sở công ty : Khu công nghiệp Sài Đồng, phường Phúc Đồng, quận Long Biên, thành phố Hà Nội.
Trang 19Ngày 17/04/1996 đã kí quyết định số 472/QĐQP về việc thành lập công ty 26 trựcthuộc Tổng cụ hậu cần( cơ sở sát nhập xí nghiệp 26 và xí nghiệp 804).
Giai đoạn 1996- 2003 công ty tiếp tục củng cố, phát triển trong thời kỳ công nghiệphóa, hiện đại hóa đất nước
Tháng 06/2007 công ty chính thức chuyển sang mô hình công ty cổ phần Công ty cổphần 26 là doanh nghiệp cổ phần trực thuộc Tổng cục Hậu cần- bộ Quốc phòng
Giai đoạn 2003- 2008 công ty đã đầu tư thêm được nhiều trang thiết bị mới, đáp ứngyêu cầu phát triển sản xuất trong giai đoạn mới Công ty đã hoàn thành xuất sắc cácnhiệm vụ khó khăn mà BQP giao cho Nền kinh tế có nhiều biến động, đất nước hộinhập sâu vào nền kinh tế chung, là những năm đầu công ty hoạt động theo mô hìnhcông ty cổ phần, công ty vẫn khẳng định được là một doanh nghiệp vững mạnh gópphần vào thành tích chung của Ngành Hậu cần Quân đội
2 Chức năng nhiệm vụ của công ty.
Trang 202.1 Chức năng kinh doanh.
- Kinh doanh các mặt hàng dệt may, các sản phẩm từ da,cao su, nhựa kim khí,
đồ gỗ, bao bì và một số sản phẩm đặc thù khác như mũ, nhà bạt, cáng, võng, áophao các loại…
- Xuất nhập khẩu sản phẩm, vật tư, thiết bị phục vụ sản xuất của Công ty và cácsản phẩm do Công ty sản xuất ra
- Cho thuê văn phòng
- Kinh doanh, mua bán hàng tồn đọng, hàng thanh lý, các mặt hàng bảo hộ laođộng
2.2 Nhiệm vụ và quyền hạn của công ty.
- Nghiên cứu, xây dựng, quy hoạch đầu tư, chiến lược phát triển, tổ chức bộ máysản xuất kinh doanh của công ty về ngành nghề, sản phẩm, thị trường, thiết bị -công nghệ sản xuất, kế hoạch tổ chức kinh doanh dài hạn, ngắn hạn, tuân thủ cácquy định và phù hợp với định hướng quy hoạch của TCHC, BQP và pháp luậtNhà nước, phù hợp với quy mô, nhiệm vụ sản xuất kinh doanh của của Công ty,đảm bảo hiệu quả kinh tế trong sản xuất – kinh doanh (SXKD)
- Được trực tiếp kí kết các hợp đồng kinh tế, làm dịch vụ trong và ngoài nước.Được phép thực hiện các loại hình kinh tế, hợp tác sản xuất với các tổ chức trong
và ngoài nước theo pháp luật của Nhà nước và quy định của BQP, Điều lệ công ty
Cổ phần
- Sử dụng có hiệu quả nguồn vốn, tài sản của Nhà nước và của các cổ đông Bảotoàn và phát triển vốn theo chế độ quản lý tài chính của Nhà nước và quy địnhcủa BQP
- Trực tiếp quản lý, thực hiện công tác giáo dục chính trị, tuyên truyền và hướngdẫn cho cán bộ, Đảng viên, người lao động nắm vững đường lối của Đảng, Phápluật Nhà nước Chỉ đạo hoạt động của các tổ chức, đoàn thể trong Công ty, pháthuy sức mạnh tổng hợp của toàn thể các thành viên trong Công ty, nhằm hoànthành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao
- Đảm bảo chăm lo đời sống cho CB, NV, NLĐ về vật chất cũng như tinh thântheo đúng Luật Lao động , chế độ chính sách của Nhà nước, quy định của Quânđội
Trang 21- Thực hiện đầy đủ các khoản thuế và các nghĩa vụ đóng góp khác theo quy địnhNhà nước và BQP.
- Bảo vệ môi trường sinh thái, giữ gìn an ninh trật tự xã hội tại nơi công ty đóngquân
- Xây dựng và tổ chức thực hiện kế hoạch chuyển trạng thái sẵn sàng chiến đấu,
kế hoạch tiếp nhận nguồn động viên quốc phòng Tổ chức xây dựng đơn vị tự vệ;
kế hoạch chiến đấu bảo vệ đơn vị, phòng chống thiên tai, cháy nổ, sẵn sang nhận
và hoàn thành tốt các nhiệm vụ thường xuyên và đột xuất mà TCHC – BQP giaocho
Trang 22BAN KS
B GIÁM ĐỐC
P Tổ chức Hành chính
P Kỹ thuật Công nghệ
P K/hoạch SXKD P Tài chính Kế toán
Tổ
sửa
chữa
Tổ Ch/bị
X
May nhựaTổ X mũ
Ban TCSX
- Kỹ thuật
Tổ Hành chính
Tổ sửa chữa
Tổ Ch/
bị
X
Giầy da
X
Giầy vải
Ban TCSX
- Kỹ thuật
Tổ Hành chính
Tổ sửa chữa
X
Nội địa
X
Xuất khẩu
Ban nghiệp vụ
Ban thị trường
Ban
TCSX
- Kỹ
thuật
Trang 233 Cơ cấu bộ máy quản lý của công ty.
- Hội đồng quản trị: Là cơ quan quản lý công ty có toàn quyền nhân danh công
ty để quyết định mọi vấn đề liên quan đến mục đích quyền lợi của công ty, trừnhững vấn đề thuộc Đại hội cổ đông (ĐHCĐ)quyết định Định hướng các chínhsách tồn tại và phát triển để thực hiện các quyền quyết định của ĐHCĐ qua việchoạch định chính sách, ra quyết định hành động cho từng thời điểm phù hợp vớitình hình sản xuất kinh doanh của công ty
- Ban kiểm soát: Do ĐHCĐ bầu rat hay mặt cổ đông kiểm soát mọi hoạt động
kinh doanh quản trị và điều hành của công ty
- Tổng giám đốc công ty: là người đại diện cho pháp nhân của công ty, là người
điều hành cao nhất trong công ty, chịu trách nhiệm trước Nhà nước, BQP vàTCHC ( là cấp trên trực tiếp) và trước HĐQT về mọi hoạt động của công ty.Tổng giám đốc công ty được quyết định mọi hoạt động của công ty theo quy địnhcủa Nhà nước và của BQP, điều lệ công ty cổ phần, Nghị quyết của Đảng ủy,Nghị quyết của Đại hội công nhân viên chức hàng năm
- Các Phó Tổng Giám đốc công ty: là người được HĐQT và TGĐ công ty lựa
chọn để giúp TGĐ công ty, được TGĐ công ty ủy quyền hoặc phân công chịutrách nhiệm trong một số lĩnh vực quản lý, chuyên môn và chịu trách nhiệm trướcHĐQT, TGĐ công ty về kết quả thực hiện nhiệm vụ được giao và các quyết địnhcủa mình Trong từng thời kỳ có thể được TGĐ công ty ủy nhiệm trực tiếp quyếtđịnh các vấn đề khác không thuộc trách nhiệm dưới đây:
Các đồng chí Phó TGĐ có trách nhiệm thường xuyên tổ chức thanh tra, tổnghợp báo cáo tình hình về các vấn đề mình được phân công trước TGĐ công ty Trong trường hợp TGĐ công ty đi vắng, TGĐ sẽ chỉ định Phó TGĐ thay thế
để điều hành và giải quyết các công việc của công ty
- Phòng KHSX-KD: là cơ quan tham mưu tổng hợp cho TGĐ công ty về mọi
mặt trong đó chịu trách nhiệm trực tiếp về các mặt: công tác kế hoạch hóa, tổ chứcsản xuất, quản lý vật tư- hàng hóa, tổ chức lao động- tiền lương, chính sách đối vớingười lao động
- Phòng Kỹ thuật- Công nghệ: Là cơ quan tham mưu cho TGĐ công ty công tác
nghiên cứu quản lý khoa học kỹ thuật, công nghệ sản xuất, chất lượng sản phẩm
Trang 24Nghiên cứu mẫu, chế thử sản phẩm mới, quản lý máy móc thiết bị, bồi dưỡng vàđào tạo công nhân kỹ thuật trong toàn công ty Tổng hợp sáng kiến cải tiến áp dụngkhoa học kỹ thuật ứng dụng vào sản xuất trong toàn công ty Tham mưu các biệnpháp có tính chất kỹ thuật nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm, bảo đảm antoàn lao động, vệ sinh môi trường và một số lĩnh vực hoạt động khác.
- Phòng tài chính kế toán: là cơ quan tham mưu cho TGĐ công ty về các công
tác TC-KT, đảm bảo phản ánh kịp thời, chính xác các nghiệp vụ kinh tế phát sinhtrong toàn công ty, là cơ quan sử dụng chức năng giám đốc đồng tiền để kiểm tragiám sát mọi nghiệp vụ kinh tế phát sinh trong công ty
Kế toán trưởng là người do HĐQT bầu ra, giúp TGĐ công ty chỉ đạo về công
tác hạch toán, kế toán trong toàn công ty
- Phòng tổ chức hành chính: là cơ quan tham mưu cho TGĐ về các mặt: tổ chức
lao động- tiền lương, chính sách đối với người lao động Là cơ quan đảm nhiệmcông tác Đảng, công tác chính trị ở công ty Cơ quan này thực hiện các mặt côngtác quản lý hành chính, văn thư bảo mật, bảo đảm an toàn trật tự nội vụ, công tácbảo đảm hậu cần đời sống, công tác quản lý doanh trại đầu tư XDCB, quản lýphương tiện vận tải, công tác phục vụ nơi làm việc của chỉ huy và khối cơ quancông ty
Công ty có 4 xí nghiệp thành viên là:
- Xí nghiệp 26.1: Chuyên sxkd các sản phẩm ngành may, mũ, nhựa
- Xí nghiệp 26.3: Chuyên sxkd các sản phẩm ngành giầy da, giầy vải
- Xí nghiệp 26.4: Chuyên sxkd các sản phẩm ngành đồ gỗ, bao bì
- Xí nghiệp TMDV: Chuyên kinh doanh các sản phẩm ngành hàng do công ty sảnxuất và các dịch vụ thương mại
Trang 254 Đặc điểm hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty.
4.1 Đặc điểm về thị trường và sản phẩm của công ty.
Công ty cổ phần 26 là một trong những doanh nghiệp của Ngành Quân nhu, đơn vịchuyên sản xuất kinh doanh các sản phẩm phục vụ Quân đội, các sản phẩm phục vụdân sinh Công ty xác định ưu tiên số một là hướng tới các khách hàng quân đội vàcác cơ quan sử dụng đồng phục như: Bộ công an, Tổng cục thuế, Viện kiểm soát…
Từ đó mới mở rộng phát triển sản xuất kinh tế Thị trường kinh doanh của công tyvẫn còn hạn hẹp ở trong nước và một số ít mặt hàng là gia công xuất khẩu Trongđiều kiện công ty mới chuyển sang hình thức cổ phần hóa, hoạt động kinh doanh củacông ty vướng phải nhiều khó khăn trong nền kinh tế thị trường Hơn nữa công tycũng gặp phải nhiều đối thủ cạnh tranh như là công ty 20, 28, 32…và nhiều doanhnghiệp hoạt động sản xuất gỗ, giày da, may mặc…Vì vậy, nhiệm vụ đặt ra là phải đadạng hóa ngành nghề, đa dạng hóa sản phẩm để các lĩnh vực có thể hỗ trợ lẫn nhau.Hiện tại nhóm hàng phục vụ Quốc phòng chiếm tới gần 70% doanh thu của công ty.Dưới đây là danh mục mặt hàng sản xuất của công ty năm 2008:
Trang 26Bảng3: Chi tiết kế hoạch sản xuất năm 2008.
1 Áo bạt gác 10.000 1 Áo phao các loại 30.000
2 Áo VNL K04 40.000 2 Bộ quần áo mưa các loại 20.000
3 Bạt bếp Hoàng Cầm 500 3 Bộ quần áo BHLĐ 150000
4 Bạt chia ăn 100 4 Quần áo chiến sỹ DQTV 30.000
5 Ba lô các loại 60.000 5 Dép nhựa kinh tế 120000
6 Dây lưng nhỏ 70.000 6 Giầy da kinh tế các loại 50.000
7 Dép nhựa nam, nữ 250000 7 Giầy vải kinh tế các loại 250000
8 Ghế nhựa + Lồng bàn 100000 8 Mũ cứng BHLĐ 20.000
9 Giầy da SQ các loại 200000 9 Mũ cứng DQTV 30.000
10 Giầy vải các loại 410000 10 Sản phẩm may tạp trang 300000
11 Mũ mềm các loại 150000 11 Sản phẩm may xuất khẩu 350000
12 Mũ cứng cuốn viền 225000 12 Giầy da xuất khẩu 10.000
13 Mũ kê pi các loại 70.000 13 Khuôn cửa các loại 9000
14 Nền cấp hiệu các loại 290000 14 Cánh cửa các loại 3000
15 Phù hiệu 325000 15 Sản phẩm mộc quy đổi 10.000
16 Túi lót ba lô 80.000 16 Bao bì Carton, PP các loại 110000
17 Tăng vinilon 45.000 17 Gỗ ghép xuất khẩu 1000
18 Sản phẩm mộc DA
Nguồn: phòng Kế hoạch sản xuất kinh doanh
Hiện nay công ty đã áp dụng hệ thống quản lý chất lượng ISO 9001: 2000, do vậymọi hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty đều phải tổ chức và quản lý một cáchkhoa học, chặt chẽ
Trang 27Đặc điểm sản phẩm của công ty là nhu cầu ít biến động, công ty có thể dự đoántrước dựa trên các đơn hàng, theo mức tiêu thụ năm trước và nghiên cứu tình hình thịtrường để điều chỉnh so với năm trước Các sản phẩm của công ty đều thuộc nhữngngành nghề truyền thống và công ty đã có kinh nghiệm lâu năm sản xuất các mặthàng này Vì là các sản phẩm quân trang, quân dụng nên việc đảm bảo chất lượngbền lâu là cực kỳ cao Nhất là đối với các sản phẩm là đơn đặt hàng phục vụ quốcphòng thì yêu cầu lại càng nghiêm ngặt khắt khe về mẫu mã, kích thước, màu sắc…đáp ứng được các yêu cầu về kỹ thuật, chất lượng sản phẩm và đảm bảo đúng tiếnđộ.
4.2 Đặc điểm về nguồn lực tài chính.
Bảng 4: Tình hình tài chính công ty cổ phần 26
Đơn vị: Triệu đồng
Chỉ tiêu
Nguồn: Phòng tài chính kế toán
Căn cứ vào bảng tổng hợp ta có thể thấy:
- Về tổng tài sản: Giá trị tổng tài sản công ty tăng lên qua các năm ( tăng 47% từnăm 2007- 2009), điều này cho thấy sản xuất kinh doanh của công ty đang được mởrộng và tăng cường, tốc độ tăng cũng được tăng lên qua các năm ( 38,14% năm
2008 lên 6,23% năm 2009)
Trang 28Trong đó:
Về mặt giá trị: Giá trị tài sản cố định giảm 21,8% từ năm 2007- 2009 Tài sản cốđịnh giảm là do công ty đang trong quá trình tiến hành cổ phần hóa , thực hiệntinh giảm bộ máy và thanh lý bớt tài sản cố định, có đầu tư thêm máy móc thiết
bị, mở rộng quy mô nhưng chỉ chiếm phần nhỏ Hơn nữa, theo thời gian giá trị tàihao mòn của tài sản tăng Đây là điều tất yếu trong quy trình sử dụng tài sản cốđịnh Công ty cần có những biện pháp tăng cường đầu tư tài sản cố định mới đểtăng năng lực sản xuất, tạo thế mạnh cạnh tranh; giá trị tài sản lưu động (TSLĐ)tăng gần 64% Công ty thường xuyên đổi mới trang thiết bị máy móc, trang bịnhững máy móc hiện đại để đảm bảo chất lượng sản phẩm
Về mặt cơ cấu: TSLĐ chiếm đa số ( trên 80% tổng tài sản), điều này là hợp lý.Đặc điểm sản xuất trong lĩnh vực đồ gỗ, da giày, may mặc là sản xuất hàng loạt,sản phẩm có mẫu mã kiểu dáng khác nhau, chính vì vậy vòng quay vốn phảinhanh
Ta có thể nhìn rõ hơn sự thay đổi cơ cấu của tổng tài sản theo biểu đồ sau:
Hình 5: Cơ cấu tổng tài sản qua các năm
0 20 40 60 80 100
Trong đó:
Trang 29Về giá trị: Nguồn vốn tăng lên chủ yếu là do tổng nợ phải trả trong tổng nguồnvốn tăng Công ty đang tìm nhiều hướng phát triển mới, điều này đòi hỏi cần cóvốn đầu tư nhiều hơn, nên giá trị tổng nợ phải trả qua các năm tăng lên.
Về cơ cấu: Khoản nợ phải trả chiếm đa số trong tổng nguồn vốn( trên 70%tổng nguồn vốn) Điều này thể hiện sự năng động của công ty Trong khi nguồnvốn chủ sở hữu được sử dụng chủ yếu trong các quỹ đầu tư phát triển và cho xâydựng cơ bản, đảm bảo bớt nguy cơ rủi ro cho sản xuất thì các khoản nợ chủ yếu là
do khách hàng trả trước, chi trả lương công nhân viên và vay để đầu tư thêm thiết
bị, thu mua các yếu tố phục vụ sản xuất
Hình 6: Cơ cấu tổng nguồn vốn qua các năm
0 20 40 60 80 100
%
T?ng n? ph?i tr?
V?n CSH
Tuy nhiên, vốn vay chiếm đa số trong tổng nguồn vốn cũng là một rủi ro lớn củacông ty trong điều kiện lãi suất không ổn định
4.3 Đặc điểm về nguồn nhân lực.
Lao động được coi là nguồn lực quan trọng của doanh nghiệp, nhất là đối với cácdoanh nghiệp sản xuất Công ty cổ phần 26 lại đa dạng ngành nghề nên cần có nguồnnhân lực dồi dào
Bảng 5: Kết cấu lao động công ty cổ phần 26
Trang 30Đơn vị: NgườiNăm
Chỉ tiêu
2007(1)
2008(2)
2009(3)
So sánh2008/2007 2009/2008(2-1) (2/1) (3-2) (3/2)Tổng số CBCNV 843 905 950 62 7,3% 45 4,9%
Giới tính
- Nữ
- Nam
511332
555350
590360
4418
8,6%
5,4%
3510
6,3%2,8%
Tính chất
- Lao động trực tiếp
- Lao động gián tiếp
710133
765140
805145
557
7,7%
5,2%
405
5,2%3,6%
70190390255
75210405260
37448
6,6%10,5%3,8%2,0%
120110675
125115710
81044
7,1%
10%
6,9%
5535
4,1%4,5%5,2%
Nguồn: Phòng Tổ chức- Hành chính
Có thể nhận thấy lực lượng lao động của công ty có xu hướng tăng qua các năm( tăng 12,7% từ năm 2007- 2009), điều này do xu hướng mở rộng quy mô sản xuất đểđáp ứng nhu cầu mở rộng thị trường của công ty
Nhìn chung, chất lượng lao động tăng lên rõ rêt Trong thời gian gần đây, công tyrất chú trọng đến việc tuyển dụng và đào tạo nguồn nhân lực ( gửi đi đào tạo hoặctrực tiếp tại công ty) tuy nhiên, có thể thấy bậc thợ trung bình của công ty không cao,gồm nhiều lao động phổ thông, phần lớn số lao động này đều cần có thời gian đàotạo lại trước khi đưa vào hoạt động sản xuất, làm giảm chi phí hiệu quả sản xuất Một đặc điểm dễ nhận thấy, công ty có tới gần 85% là lao động trực tiếp, còn lại làlao động gián tiếp Điều này cho thấy công ty có một cơ cấu lao động khá hợp lý
Trang 31Bước đầu, công ty đã có các chính sách giảm thiểu tối đa lượng lao động gián tiếp,tập trung đầu tư cho lao động trực tiếp nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất.
Do đặc thù ngành nghề công ty: ngành may mặc, ngành da giầy, ngành mộc đòihỏi lao động phải có sức khỏe, công việc khá vất vả, thường xuyên phải tăng ca, làmthêm vào ngày nghỉ; nhất là vào những dịp phải hoàn thành đơn đặt hàng phục vụquốc phòng Lợi thế của công ty là có đội ngũ lao động dồi dào, trẻ Lao động trẻ cókhả năng tiếp thu ứng dụng khoa học công nghệ một cách nhanh nhạy và sáng tạo, dễdàng đào tạo và nâng cao tay nghề; nguồn lao động này cũng tiềm năng với nhữngsáng kiến cải tiến giúp phát triển công ty Bên cạnh đó phải kể đến đội ngũ lao độnghoạt động lâu trong nghề với bề dày kinh nghiệm sản xuất, là không thể thiếu nhất làvới một doanh nghiệp sản xuất đồ quân dụng như công ty
Ngoài ra còn một đặc điểm dễ nhận thấy là số lao động nữ chiếm nhiều hơn laođộng nam ( trên 60%) Vì ngành may mặc và da giầy đòi hỏi sự tỉ mỉ, khéo léo vàcẩn thận vì vậy lao động nữ chiếm phần lớn là hợp lý Đây cũng là một khó khăn vớicông ty, do trong quá trình lao động, lao động nghỉ đẻ, nuôi con nhỏ…sẽ ảnh hưởngđến kết quả sản xuất của công ty Tuy nhiên, công ty cũng có những chính sách ưuđãi, lương thưởng để khuyến khích, động viên lao động hợp lý
4.4 Đặc điểm về máy móc, trang thiết bị.
Công ty luôn chú trọng xây dựng cơ sở hạ tầng, cải tạo nâng cấp nhà xưởng, đảmbảo an toàn vệ sinh lao động Để đảm bảo sản phẩm tạo ra phù hợp nhu cầu kháchhàng, công ty đã đầu tư nhiều trang thiết bị mới, hiện đại, chất lượng cao Công tychú trọng đầu tư chiều sâu, đổi mới thiết bị máy móc như: 100% máy lưu hoá giàyvải cũ được thay bằng máy svít mới của Tiệp kèm theo hệ thống cán luyện mới.Công ty đầu tư dây chuyền thiết bị sản xuất giày da của Italia thay cho dây chuyềncủa Đài Loan Đổi mới thiết bị sản xuất dép nhựa và các sản phẩm nhựa Đặc biệtđầu tư hệ thống máy ép thuỷ lực gia nhiệt dầu để sản xuất cốt mũ cứng thay hoàntoàn hệ thống máy ép vít me quay tay, chất lượng sản phẩm ổn định và cải tạo cănbản điều kiện lao động của công nhân ngành mũ cứng Hiện nay Công ty đang đầu tư
áp dụng thực hiện các công nghệ tiên tiến cho ngành mộc đưa vào phục vụ các côngtrình và thị trường trong tương lai Các thiết bị ngành may thường xuyên được bổsung đổi mới có khả năng sản xuất tốt nhất các mặt hàng dệt kim, dệt thoi xuất khẩu