1.1.3 Sơ lược về trung tâm dịch vụ việc làm: Để thị trường lao động có thể hoạt động được, bên cạnh các chủ thể chính của thị trường này là người bán và người mua sức lao động, còn cần c
Trang 1BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC Dược HÀ NỘI
NGUYỄN THỊ LAN ANH
XÂY DỰNG MÔ HÌNH CÔNG TY T ư VÂN
(KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP Dược SỸ KHOÁ 1999-2004)
Trường Đại học Dược Hà Nội Thời gian thực hiện : Tháng 3 - 5 / 2004
Người hướng dẫn: Th.s Nguyễn Tuấn Anh
Nơi thực hiện : Bộ môn Quản lý và Kinh tế dược
b U Ỉ Ỉ -', l ù i ì
Trang 2ĐẶT VÂN ĐỂ 1
PHẦN 1 TỔNG QUAN l.l.Thị trường lao động 1.1.1 Khái niệm về thị trường lao động 3
1.1.2 Điều kiện để phát triển thị trường lao động 4
1.1.3 Sơ lược về trung tâm dịch vụ việc làm 5
1.1.4 Cơ chế chính sách thị trường lao động ởmột số nước trên thế giới 7
1.1.5 Thị trường lao động Việt Nam 9
1.2 Các nội dung và tiến trình của hoạch định Marketing 1.2.1 Phân tích môi trường kinh doanh 12
1.2.2 Các chính sách Marketing 15
PHẦN 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN c ứ u 2.1 Đối tượng nghiên cứu 19
2.2 Phương pháp nghiên cứu 19
PHẦN 3 KẾT QUẢ NGHIÊN cứ u VÀ BÀN LUẬN 3.1 Phân tích môi trường kinh doanh 20
3.1.1 Môi trường vĩ m ô 20
3.1.2 Môi trường vi m ô 23
3.2 Nghiên cứu, dự báo và đo lường nhu cầu thị trường 31
3.3 Kê hoạch Marketing 33
3.3.1 Mục tiêu Marketing 33
3.3.2 Chiến lược tổng thể 33
3.3.3 Các chiến lược phát triển của công ty 34
MỤC LỤC
Trang 33.3.4 Chính sách dịch vụ cung ứng 35
3.3.5 Chính sách giá dịch vụ 41
3.3.6 Chính sách phân phối dịch vụ 42
3.3.7 Chính sách xúc tiến và hỗ trợ kinh doanh 42
3.3.8 Xây dựng mối quan hệ công chúng 43
3.4 Tổ chức và nhân sự 43
3.4.1 Loại hình công ty 43
3.4.2 Cơ cấu tổ chức 44
3.5 Kê hoạch tài chính 46
3.6 Kê hoạch triển khai trong thực tiễn 50
3.6.1 Các ưu tiên khi triển khai 50
3.6.2 Cụ thể các bước triển khai dự á n 51
3.7 Bàn luận 52
PHẨN 4 KẾT LUẬN VÀ ĐỂ XUẤT 4.1 Kết luận 53
4.2 Đề xuất 56
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Phụ lục 1 Bộ câu hỏi khảo sát tình trạng việc làm của sinh viên y dược khi ra
trường
Phụ lục 2 Bộ câu hỏi khảo sát việc tuyển dụng nhân sự của một số doanh nghiệp
dược phẩm tại Hà Nội
Trang 4M teQcÀM ƠQl
Nhân dịp hoàn thành khoá luận, em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới:
Thầy giáo : Th.s Nguyễn Tuấn Anh
Giảng viên trường Đại học Dược Hà Nội.
Người thầy đã tận tình giúp đỡ, chỉ bảo và hướng dẫn em trong suốt quá trình nghiên cứu để hoàn thành khoá luận tốt nghiệp này
Em cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành tới:
- Toàn thể các thầy cô giáo trong bộ môn Quản lý và Kinh tế dược
- Các thầy cô trường Đại học Dược Hà Nội
- Ban lãnh đạo cùng toàn thể cán bộ, nhân viên Nhà trường
- Bạn bè, người thân
Những người đã tạo mọi điều kiện thuận lợi, giúp đỡ em trong suốt quá trình học tập, rèn luyện tại trường và trong thời gian thực hiện khoá luận tốt nghiệp này
Hà Nội, ngày 30 tháng 5 năm 2004
Sinh viên
Nguyễn Thị Lan Anh
Trang 5QfU<ụ QỦỞ& @ x>(ữ(03ế& G ẤG
Trang 6ĐẶT VẤN ĐỂ
Sau hơn 10 năm phát triển kinh tế thị trường dưới sự quản lý của Nhà nước, nền kinh tế Việt Nam đã có những bước phát triển vững mạnh vượt bậc Cũng như các ngành kinh tế quốc dân khác, ngành dược Việt Nam bước vào thời kì đổi mới thực hiện sự chuyển đổi từ cơ chế bao cấp sang cơ chế thị trường đã có những bước phát triển rất cơ bản về tổ chức, quản lý, sản xuất và cung ứng thuốc
Với đường lối kinh tế mở cửa và khuyến khích các thành phần kinh doanh dược phẩm trong và ngoài nước, thị trường dược phẩm trong những năm gần đây thực sự sôi động bởi sự tham gia của các công ty dược phẩm hàng đầu thế giới, các công ty đa quốc gia, các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh dược phẩm có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam Đặc biệt là sự chuyển đổi cơ cấu tổ chức quản lý và chất lượng sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp dược phẩm trong nước
Từ năm 1990 trở lại đây, thị trường dược phẩm Việt Nam đã liên tục tăng trưởng, tiền thuốc tiêu dùng bình quân hàng năm của người Việt Nam đã tăng lên hơn 25 lần, từ 0,3 USD (1990) đến 7,6 USD (2003) [7,16] Trong rất nhiều yếu tố cấu thành sự phát triển bền vững của ngành dược nói riêng và của nền kinh tế đất nước nói chung như khoa học kỹ thuật, tài chính , cải cách hành chính và tổ chức quản lý thì yếu tố con người có một vai trò vô cùng to lớn Quan điểm triết học Mác- Lênin đã khẳng định : “ Con người vừa là chủ thể vừa là động lực của mọi hoạt động”
Để thị trường dược phẩm được vận hành một cách hiệu quả đòi hỏi phải có một đội ngũ nhân lực được đào tạo giỏi về chuyên môn nghiệp vụ, có hiểu biết sâu rộng về ngành nghề và có đạo đức nghề nghiệp Đội ngũ nhân sự
ấy muốn phát huy hết năng lực của mình thì phải được tuyển chọn trên cơ sỏ' đúng người cho đúng công việc vào đúng thời điểm Trên thị trường lao động
Trang 7Việt Nam hiện nay đã xuất hiện nhiều công ty tư vấn nhân lực nhưng chưa có công ty nào hoạt động chuyên về cung ứng nhân lực trong lĩnh vực dược Chọn đúng người đúng việc là nhu cầu có thực và rất cần thiết đối với hầu hết các doanh nghiệp đang trên đà phát triển, do bất cứ ở đâu và lúc nào, sự thành đạt của công ty cũng khởi đầu từ chính nguồn nhân lực.
Từ thực tế trên, đề tài:
“Xây dựng mô hình công ty tư vân và khai thác nhân lực dược ” được tiến
hành nhằm các mục tiêu:
1 Xây dựng mô hình tổ chức và cách thức quản lý doanh nghiệp
2 Hoạch định Marketing cho các sản phẩm sẽ cung ứng trên thị trường
3 Xây dựng kế hoạch tài chính cho hoạt động của công ty, và kế hoạchđưa vào triển khai trong thực tiễn
Khoá luận có thể có mối quan hệ mật thiết nhưng có nội dung, đối tượng và phương pháp nghiên cứu không trùng với bất kì một công trình khoa học nào đã được công bố tại Việt Nam
Trang 8PHẦN 1 TỔNG QUAN
1.1 Thị trường lao động[l,19]
1.1.1 Khái niệm về thị trường lao động
Thị trường lao động là một bộ phận không thể tách rời của nền kinh tế thị trường, nó mang tính chất đặc biệt vì liên quan trực tiếp đến con người Khái niệm về thị trường lao động thay đổi và hoàn thiện cùng với quá trình phát triển của kinh tế thị trường Trong các quốc gia phát triển theo quỹ đạo thị trường có những xuất phát điểm khác nhau, có những đặc điểm kinh tế, chính trị- xã hội và tự nhiên khác nhau, và tất nhiên khác nhau về trình độ phát triển kinh tế xã hội, vì thế thị trường lao động có những biểu hiện đa dạng khác nhau Chính vì vậy nhận thức về thị trường lao động không thể đồng nhất, bất biến, và việc tồn tại những giải thích khác nhau là lẽ đương nhiên trong quá trình khám phá các quy luật vận động của thị trường lao động
- Theo Adam Smith, thị trường lao động là không gian trao đổi dịch vụ lao động (hàng hoá sức lao động) Định nghĩa này nhấn mạnh vào đối tượng trao đổi trên thị trường lao động là dịch vụ lao động chứ không phải người lao động
- Theo từ điển kinh tế học Pengiun, thị trường lao động là thị trường trong đó tiền công, tiền lương và các điều kiện lao động được xác định trong bối cảnh của quan hệ cung lao động và cầu lao động Định nghĩa này nhấn mạnh vào kết quả của tương tác cung- cầu thị trường lao động
đó là tiền công, tiền lương và các điều kiện lao động
- Theo từ điển kinh tế MIT, thị trường lao động là nơi cung và cầu lao động tác động qua lại với nhau Định nghĩa này nhấn mạnh vào quan hệ trên thị trường lao động cũng là quan hệ cung-cầu như bất kì một thị trường nào khác
Trang 9- Theo tìm hiểu một số khái niệm trong văn kiện Đại hội IX của Đảng, thị trường lao động là “Thị trường mua bán các dịch vụ của người lao động, về thực chất là mua bán sức lao động, trong một phạm vi nhấtđịnh Ở nước ta, hàng hoá sức lao động được sử dụng trong các doanh nghiệp tư bản tư nhân, các doanh nghiệp tư bản nhà nước, các doanh nghiệp tiểu chủ và trong các hộ gia đình neo đơn thuê mướn người làm dịch vụ trong nhà Trong các trường hợp đó có người đi thuê, có người làm thuê, có giá cả sức lao động dưới hình thức tiền lương, tiền công.” Theo định nghĩa này thị trường lao động chỉ bó hẹp trong một vài thành phần kinh tế nhất định Toàn bộ các quan hệ lao động trong khu vực kinh tế Nhà nước, khu vực kinh tế tập thể và quan hệ lao động trong khu vực hành chính sự nghiệp được đặt ra ngoài các quy luật của thị trường.Mặc dù còn có nhiều điểm khác biệt, nhưng các các định nghĩa hiện có về thị trường lao động đều thống nhất với nhau các nội dung cơ bản của thị trường lao động Có thể tóm lược các nội dung này thành một định nghĩa tương đối hoàn chỉnh về thị trường lao động như sau:
Thị trường lao động (hoặc thị trường sức lao động) là nơi thực hiện các quan hệ xã hội giữa người bán sức lao động (người lao động làm thuê) và người mua sức lao động (người sử dụng sức lao động) thông qua các thoả thuận về giá cả (tiền công, tiền lương ) và các điều kiện làm việc khác, trên cơ
sở một hợp đồng lao động bằng văn bản, bằng miệng hoặc thông qua các dạng hợp đồng hay thoả thuận khác
1.1.2 Điều kiện để phát triển thị trường lao động:
Để thị trường lao động phát triển, cần có các điều kiện sau:
- Các tiền đề để phát triển hàng hoá sức lao động : người lao dộng tự do buôn bán sức lao động của mình cho người sử dụng có nhu cầu
- Tạo môi trường pháp lý thông qua hệ thống luật pháp:
Trang 10Nhà nước ra các chính sách, các quy định về pháp luật, các thể chế, định chế về quyền và nghĩa vụ của người lao động và người sử dụng lao động.
- Hình thành các tổ chức công đoàn các cấp, các hiệp hội nghề nghiệp
nhằm giải quyết các mối quan hệ (tranh chấp, xung đột về lao động) giữa người lao động và người sử dụng lao động Hình thành hệ thống các tổ chức
hỗ trợ phát triển thị trường lao động như các trung tâm dịch vụ việc làm, thông tin về thị trường lao động nhằm cung cấp thông tin về cơ hội việc làm, nhu cầu của người tìm việc, khả năng bố trí và giới thiệu việc làm trên thị trường
1.1.3 Sơ lược về trung tâm dịch vụ việc làm:
Để thị trường lao động có thể hoạt động được, bên cạnh các chủ thể chính của thị trường này là người bán và người mua sức lao động, còn cần có giới trung gian hoạt động với chức năng tạo điều kiện cho hai phía cung -cầu lao động gặp nhau nhanh chóng và thuận tiện hơn hoặc với chi phí rẻ hơn
Giới trung gian trên thị trường lao động có thể bao gồm hệ thống các cơ quan quản lý lao động, các tổ chức cá nhân giới thiệu việc làm, các trung tâm giao lưu về nhân tài Những cơ quan này thông qua việc xây dựng mạng lưới thông tin về việc làm có thể phục vụ việc tìm kiếm, cung cấp nhân lực, phục
vụ việc đàm phán để tuyển dụng, xúc tiến các giao dịch trên thị trường lao động bằng cách làm cho hai phía cung và cầu sức lao động xích lại gần nhau hơn Thực tiễn trên thị trường lao động thế giới cho thấy: đại bộ phận các giao dịch trên thị trường lao động được thực hiện thông qua giới trung gian thị trường lao động
* Vai trò của trung gian :
Giả sử ta kí hiệu: s : người cung ứng (Supplier)
C: người mua (Customer)M: người trung gian (Mediator) thì Quan hệ trên thị trường khi không có trung gian :
Trang 11s _ ^ c Như vậy tổng số mối quan hệ sẽ là một cấp số
c nhân E s xLC —> gây tốn kém rất lớn cho
s —^ c xã hội.
Quan hệ trên thị trường khi có trung gian M:
c Như vậy tổng số mối quan hệ sẽ là một cấp số
c cộng I S +SC —> giảm được rất nhiều chi
c phí cho xã hội
Từ phân tích trên ta có thể thấy ưu điểm và lợi ích của một trung gian là làm giảm đi chi phí quan hệ cho các nhà cung ứng và khách hàng trên thị trường
Trung tâm dịch vụ việc làm: Với sự phát triển mạnh mẽ của thị trường
lao động, hình thức đàm phán trực tiếp đã không còn đủ sức đáp ứng nhu cầu tuyển dụng nhân công của bên mua Các trung tâm dịch vụ việc làm là nơi để nhu cầu của cả người mua và người bán sức lao động có thể gặp nhau, tạo điều kiện cho cả hai bên có sự chọn lựa thích hợp nhất đối với yêu cầu của bản thân
Từ điển thuật ngữ lao động- thương binh - xã hội Việt Nam ghi:
“ Dịch vụ việc làm là hoạt động nhằm hỗ trợ cho người lao động dễ dàng tìm được việc làm.”
“Trung tâm dịch vụ việc làm là một tổ chức có chức năng tìm và chắp nối thông tin cung-cầu lao động, giúp cho người lao động dễ dàng tìm kiếm việc làm và cơ hội học nghề; giúp cho người sử dụng lao động, người đào tạo nghề thoả mãn nhu cầu về lao động và đào tạo nghề ”
Như vậy dịch vụ việc làm bao gồm :
- Thông tin về những nhu cầu cần tuyển lao động
- Đào tạo bổ sung để người lao động có trình độ chuyên môn kĩ thuật phù hợp với công việc
Trang 12- Giới thiệu, tuyển chọn người lao động phù hợp với yêu cầu công việctheo sự uỷ quyền của người sử dụng lao động
- Tuyên truyền hướng nghiệp cho người lao động
Dịch vụ việc làm thực hiện một trong những nhiệm vụ của nó là cầu nối trung gian giữa người lao động và người sử dụng lao động Cung cấp cho người lao động những thông tin về yêu cầu của người sử dụng lao động, về lĩnh vực cần tuyển dụng lao động, những đòi hỏi về trình độ chuyên môn - kĩ thuật cũng như mức tiền công có thể nhận được
Dịch vụ việc làm với vai trò là một trung gian trên thị trường lao động, giúp người sử dụng lao động nhanh chóng thoả mãn nhu cầu về lao động, từ
đó làm tăng hiệu quả sản xuất kinh doanh, góp phần làm cho nền kinh tế thị trường năng động hơn, giúp tăng GDP, tăng vị thế cạnh tranh của đất nước trong khu vực và trên thế giới
1.1.4 Cơ chế chính sách thị trường lao động ở một số nước trên thế giới:
* Thụy Điển
Là một nước có nền kinh tế phát triển ở trình độ cao, Thụy Điển chú trọng việc phát triển thị trường lao động, coi đó là một trong những hướng đi chính để đảm bảo ổn định kinh tế và trật tự xã hội Đặc điểm cơ bản của thị trường lao động Thụy Điển là mức độ bảo trợ cao từ phía Nhà nước với một hệ thống các cơ quan quản lý thị trường lao động xuyên suốt từ trung ương tới địa phương Thụy Điển chi 10% ngân sách Nhà nước cho việc thực hiện các chính sách thị trường lao động, chủ yếu là các chương trình: xây dựng và vận hành hệ thống dịch vụ việc làm, đào tạo nghề cho người thất nghiệp, các chương trình tạo việc làm mới, bảo hiểm thất nghiệp, hỗ trợ khởi sự doanh nghiệp
* New Zealand
Trang 13Trong hai thập kỷ qua, New Zealand đã thực hiện một cuộc chuyển đổi mạnh mẽ, từ một nhà nước phúc lợi được điều tiết mạnh thành một trong những nước có tốc độ giải điều tiết nhanh nhất trong khối OECD.Tỷ lệ thất
nghiệp ở nước này giảm từ 12% trong thập kỉ 80 xuống còn khoảng 7% trong
năm 98 Đây là kết quả không chỉ của tăng trưởng kinh tế nhanh (bình quân 1,2%/ năm) kéo theo tăng việc làm, mà còn là thành tựu của quá trình giảm bớt sự điều tiết từ phía Nhà nước và tự do hoá Luật hợp đồng lao động sửa đổi
đã chuyển việc thoả thuận hợp đồng lao động ở cấp doanh nghiệp sang chế độ
thoả thuận trực tiếp giữa người lao động và người sử dụng lao động Bên cạnh
đó, cũng như Hà Lan, New Zealand thực hiện việc cắt giảm trợ cấp xã hội để kích thích người lao động đi tìm việc làm và chấp nhận việc làm dễ dàng hơn Hai quốc gia này đều có các chính sách hỗ trợ tìm kiếm việc làm, đào tạo nâng cao tay nghề, cải cách các chính sách thuế, tiền lương và đã đạt được những kết quả to lớn trong giải quyết công ăn việc làm, giảm tỉ lệ thất nghiệp trong những năm qua
■ Nhật Bản
Sau thế chiến thứ 2, Nhật Bản thiệt hại khoảng 1/4 nhân công và khoảng 1/3 phương tiện sản xuất so với thời kì trước chiến tranh Để hình thành nguồn nhân lực, chính phủ đã thúc đẩy đào tạo công cộng và tạo thêm nhiều điều kiện thuận lợi cho việc đào tạo Chính phủ yêu cầu các hãng phải có trách nhiệm nhất định trong việc đào tạo nhân lực Hiện nay những hãng lớn có trách nhiệm đào tạo khoảng 1000 lao động mỗi năm với chi phí chiếm 2% tổng lương chi trả cho lao động toàn công ty
■ Trung Quốc
Vấn đề nan giải của thị trường lao động Trung Quốc hiện nay là sự mất cân bằng về cung-cầu lao động: cung đang lớn hơn cầu Bên cạnh đó, thị trường lao động Trung Quốc còn phải đối mặt với những vấn đề như : các rào cản về thể chế, các cơ quan quản lý lợi dụng chức năng quyền hạn đưa ra các
Trang 14quy định chồng chéo, trùng lặp, Trung Quốc mới gia nhập WTO, cạnh tranh trên thị trường lao động sẽ ngày càng quyết liệt Trước tình hình đó, Trung Quốc đã đặt mục tiêu phát triển thị trường lao động, giải quyết công ăn việc làm cho người lao động là nhiệm vụ cấp bách nhất với các biện pháp cụ thể như : cải cách cơ cấu kinh tế theo hướng phát triển nhanh các khu vực dịch vụ; hoàn thiện thể chế thị trường lao động; đầu tư xây dựng cơ sở vật chất kĩ thuật cho các trung tâm cơ sở giao dịch lao động, các dịch vụ giới thiệu việc làm ; xây dựng chính sách tiền lương nhằm thu hút nhân tài một cách hợp lý, tăng cường công tác đào tạo và đào tạo lại nguồn nhân lực bằng cách huy động cả sức dân vào công tác này
Từ năm 1992, Trung Quốc đã thành lập các trung tâm giới thiệu việc làm của cả Nhà nước và dân doanh Các trung tâm việc làm của Nhà nước thường mang tính công ích, giao dịch miễn phí trong khi đó các trung tâm việc làm dân doanh hoạt động hoàn toàn theo cơ chế thị trường
■ Singapore
Singapore là một quốc đảo nhỏ hầu như không có nguồn tài nguyên thiên nhiên và gần như phải đối mặt với sự thiếu hụt lao động cả về số lượng
và chất lượng Chính phủ Singapore do vậy tập trung nỗ lực vào việc thiết lập
và mở rộng các trung tâm đào tạo để có thể tiêu chuẩn hoá chất lượng lao động trên phạm vi quốc gia Chính phủ Singapore có vai trò rất quan trọng trong việc hình thành nguồn nhân lực và mục tiêu chính là thiết lập theo đuổi chính sách thị trường lao động mang tính chủ động Singapore có xu hướng thuê nhân công nước ngoài bắt đầu từ những năm 90 và hiện nay khoảng 25% lao động tại nước này là người nước ngoài
1.1.5 Thị trường lao động Việt Nam :
Theo số liệu của Bộ LĐ-TB-XH Việt Nam, dân số Việt Nam tính đến năm 2003 là khoảng 86 triệu người, 60.66% là người trong độ tuổi lao động, trong đó có 40.694.360 người có hoạt động kinh tế thường xuyên
Trang 15Có thể thấy cung trên thị trường lao động Việt Nam quá lớn.Trong khi
đó cầu về lao động của các cơ quan, doanh nghiệp lại tăng chậm do tốc độ đầu
tư phát triển sản xuất kinh doanh chưa cao Hơn nữa việc tìm kiếm việc làm cho người lao động cũng như việc thuê mướn lao động của người sử dụng lao động gặp nhiều khó khăn do những yêu cầu về văn hoá, trình độ chuyên môn, ngành nghề đào tạo Tất cả những điều đó đòi hỏi phải có khâu trung gian môi giới việc làm Vì thế sự ra đời của các trung tâm dịch vụ lao động là một tất yếu, khách quan Hiện nay đây là kênh giao dịch chủ yếu trên thị trường lao động Việt Nam
* Các luật và văn bản pháp quy liên quan [10]
_ Luật Lao động : Điều 18 bộ luật Lao động có ghi:
“ Tổ chức dịch vụ việc làm được thành lập theo quy định của pháp luật
có nhiệm vụ tư vấn, giới thiệu và giúp tuyển lao động, thu thập và cung ứng thông tin về thị trường lao động” ; “ Tổ chức dịch vụ việc làm được thu lệ phí, được nhà nước xét giảm miễn thuế và được tổ chức dạy nghề ”
_Nghị định 72/CP ngày 31/10/1995 của chính phủ quy định :
“ Trung tâm dịch vụ việc làm là đơn vị sự nghiệp có thu thuộc lĩnh vực hoạt động xã hội, do Nhà nước và các đoàn thể, hội quần chúng thành lập.” Đây là nghị định quan trọng quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điểm của bộ luật Lao động về việc làm Nghị định này đã khẳng định: hệ thống các trung tâm dịch vụ việc làm được Nhà nước đầu tư hỗ trợ cơ sở vật chất ban đầu từ ngân sách Nhà nước để hoạt động phục vụ cho việc tạo công
ăn việc làm, tăng thu nhập, hỗ trợ việc hình thành thị trường lao động
_ Nghị định 90/CP ngày 15/12/1995 của chính phủ quy định :
“ Trung tâm dịch vụ việc làm được tổ chức dạy nghề ”
_Thông tư 08/LĐTBXH-TT ngày 10/03/1997 do Bộ LĐ-TB-XH ban hành đã cụ thể hoá và hướng dẫn thi hành một số điểm của nghị định 72/CP về chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của một trung tâm dịch vụ việc làm:
Trang 16• Nhiệm vụ:
> Tư vấn cho người lao động và người sử dụng lao động
> Giới thiệu việc làm và nơi học nghề
> Tổ chức cung ứng lao động
> Thông tin thị trường lao động
• Quyền hạn:
> Được tổ chức dạy nghề gắn với tạo việc làm
> Được tổ chức sản xuất, dịch vụ để tận dụng cơ sở vật chất
> Được thu phí, học phí theo quy định của pháp luậtNgoài ra còn có một số các luật và văn bản pháp quy khác như: Luật Doanh nghiệp, luật Khuyến khích đầu tư trong nước, luật Dân sự
*Quan điểm của Đảng về phát triển thị trường lao động:
Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng trang 323 nhấn mạnh “phải tiếp tục hoàn thiện khung pháp luật và chính sách nhằm mở rộng thị trường lao động” trong thời gian trước mắt với 8 nội dung chủ yếu:
• Tạo cơ hội bình đẳng và tiếp cận trực tiếp về đào tạo và việc làm cho mỗi công dân, khuyến khích người lao động học tập, đào tạo và tự kiếm việc làm
• Bảo đảm sự chuyển dịch linh hoạt của người lao động trong khu vực kinh tế Nhà nước
• Khuyến khích moi thành phần kinh tế tham gịa đào tao nshề, hoat đôns dich vu giới thiêu viêc làm và xuất khẩu lao động
• Có chính sách thích hợp thu hút nhân tài và lao động chuyên môn cao trong và ngoài nước
• Sửa đổi bổ sung Bộ luật Lao động phản ánh những thực tế đã thay đổi, bảo vệ lợi ích hợp lý của người lao động, đồng thời khuyến khích người
sử dụng lao động tạo thêm việc làm, tạo điều kiện thuận lợi cho việc dịch chuyển lao động tìm việc làm trong nước và ngoài nước
Trang 17• Đẩy mạnh xuất khẩu lao động nhất là lao động có đào tạo.
• Thu hút moi nguồn lưc để phát triển manh mẽ và hiên đai hoá hê thống đào tao nghề phù hơp với nhu cầu thi trường và sư phát triển khoa hoc công nshê.
• Cải cách hệ thống bảo hiểm xã hội, tạo sự bình đẳng về cơ hội được bảo hiểm xã hội đối với người lao động trong mọi thành phần kinh tế, giải quyết thoả đáng quyền lợi của người lao động và người sử dụng lao động
1.2 Các nội dung và tiến trình của hoạch định Marketing
1.2.1 Phân tích môi trường kinh doanh [12,23]
Môi trường kinh doanh là tổng hợp tất cả các yếu tố, những lực lượng bên trong và bên ngoài doanh nghiệp có ảnh hưởng tích cực hoặc tiêu cực đến hoạt động hoặc ra các quyết định kinh doanh của doanh nghiệp, đến khả năng thiết lập hoặc duy trì mối quan hệ của doanh nghiệp với khách hàng
Môi trường kinh doanh là tập hợp của môi trường vi mô và môi trường
vĩ mô Môi trường vĩ mô bao gồm các yếu tố, các lực lượng mang tính chất xã hội rộng lớn mà từng doanh nghiệp không thể kiểm soát và thay đổi được Đó
là các yếu tố như : kinh tế, chính trị-pháp luật, nhân khẩu, khoa học công nghệ, văn hoá Các doanh nghiệp hoạt động và cạnh tranh với nhau trong cùng một môi trường vĩ mô Do đó, yêu cầu khách quan đặt ra với mỗi doanh nghiệp là phải hiểu biết tường tận các nhân tố của môi trường vĩ mô có ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của mình Việc nắm vững đặc điểm các nhân tố
ở hiện tại và dự báo chính xác xu hướng phát triển của nó trong tương lai sẽ giúp doanh nghiệp hoạch định chiến lược kinh doanh phù hợp
Môi trường vi mô bao gồm các yếu tố liên quan chặt chẽ đến doanh nghiệp và nó ảnh hưởng đến khả năng của doanh nghiệp khi phục vụ khách hàng Đó là các nhân tố nội tại của doanh nghiệp, các kênh marketing, thị
Trang 18trường khách hàng, người cạnh tranh, người cung cấp, các tổ chức trung gian, vv Trong chừng mực nhất định, doanh nghiệp có thể tác động để cải thiện môi trường vi mô.
Để có thể xâm nhập thị trường và phát triển bền vững thì việc nghiên cứu các đối thủ cạnh tranh và khách hàng là một khâu không thể thiếu trong tiến trình hoạch định Marketing của bất kì một doanh nghiệp nào Muốn giành được lợi thế cạnh tranh, chúng ta phải có hiểu biết rõ về những điểm mạnh, điểm yếu của đối thủ và của chính doanh nghiệp mình Từ đó, đưa ra những chính sách phù hợp về sản phẩm và giá cả, cũng như cách thức phân phối và xúc tiến kinh doanh trên thị trường
❖ Nghiên cứu thị trường:
Đây là công việc rất quan trọng nhằm xác định khả năng tiêu thụ sản phẩm và mức độ ưu ái của thị trường đối với sản phẩm của công ty, hoặc tìm
ra các thuộc tính mới cần có của sản phẩm Trên cơ sở đó, công ty cải tiến sản phẩm cũ và nghiên cứu sáng chế sản phẩm mới mà thị trường đòi hỏi Việc nghiên cứu này đặc biệt quan trọng khi công ty mới thâm nhập thị trường hoặc tham gia vào một lĩnh vực mới Quá trình nghiên cứu thị trường gồm 2 bước: thu thập thông tin và xử lý thông tin
> Thu thập thông tin: có thể đi theo các phương pháp:
Phương pháp nghiên cứu tài liệu: nghiên cứu sơ bộ do ít tốn kém nhưng
thiếu chính xác Các tài liệu được sử dụng là các sách báo thương mại do Nhà nước xuất bản, các tin tức kinh tế, các số liệu thống kê về sản xuất, tiêu thụ, giá cả, từ đó đánh giá khái quát tình hình phát triển kinh tế nói chung, sự phát triển của ngành, bao quát thị trường và xu hướng phát triển
Phương pháp nghiên cứu hiện trường: phương pháp này chính xác
nhưng tốn kém, nghiên cứu sau khi đã có kết quả sơ bộ từ phương pháp trên Nội dung chủ yếu của phương pháp là tiến hành điều tra đặc biệt về khách hàng Do số lượng khách hàng lớn nên người ta tiến hành điều tra bằng thăm
Trang 19dò thông qua một số đại diện (mẫu) Giá trị của những đánh giá phụ thuộc chất lượng hay tính chất đại biểu của bộ phận mẫu Tính chất đại biểu này lại phụ thuộc vào phương pháp chọn mẫu Độ chính xác của phương pháp phụ thuộc số mẫu (hay quy mô tổng thể mẫu) Các phương pháp chọn mẫu có thể
sử dụng là: chọn mẫu ngẫu hiên hay xác suất và chọn mẫu không xác suất
Phương pháp đặt câu hỏi điều tra : thiết kế bộ câu hỏi.
> Xử lý thông tin:
+ Xác định thái độ chung của khách hàng đối với sản phẩm của công ty.+ Lựa chọn các thị trường mục tiêu mà công ty có khả năng thâm nhập vàphát triển việc tiêu thụ sản phẩm của mình
❖ Dự báo thị trường:
Mục tiêu: đánh giá lợi hại khi thâm nhập thị trường; đánh giá khả năng thâm nhập thị trường; phân tích và quyết định việc duy trì hay thay đổi chính sách Marketing
Quan điểm dự báo thị trường:
+ Dự báo sự vận động tự phát của thị trường
+ Dự báo sự phản ứng của thị trường: tức là dự đoán những hậu quả, những phản ứng của thị trường trước những quyết định của công ty
❖ Đo lường nhu cầu thị trường:
Việc ước tính nhu cầu sản phẩm có ý nghĩa rất lớn đến hiệu quả kinh doanh của công ty Để giành ưu thế trong điều kiện cạnh tranh gay gắt hiện nay, công ty phải nắm bắt được số liệu về nhu cầu hiện tại và tương lai Đây là một việc rất cần thiết nhưng cũng là một việc tương đối khó Nhu cầu không phải là một con số mà nó là hàm của rất nhiều biến số Trên thị trường lao động, nhu cầu nhân lực của mỗi doanh nghiệp là toàn bộ lao động cần thiết cho thực hiện, hoàn thành các nhiệm vụ trước mắt (kế hoạch sản xuất kinh doanh) và các nhiệm vụ chuẩn bị cho tương lai (chiến lược kinh doanh ) Cơ
sở, căn cứ xác định nhu cầu nhân lực của các doanh nghiệp bao gồm:
Trang 20+ Chiến lược kinh doanh: chiến lược phát triển, phương hướng, lộ trình và các định mức tổng hợp.
+ Kế hoạch sản xuất kinh doanh cụ thể và hệ thống định mức lao động + Số người về hưu, chuyển đi nơi khác, đi đào tạo
Thông thường thì việc tính toán nhu cầu nhân lực của mỗi doanh nghiệp là
do phòng Tổ chức phát triển nguồn nhân lực của chính doanh nghiệp đó thực hiện Chúng ta không thể tìm hiểu được chiến lược kinh doanh hay kế hoạch kinh doanh của các doanh nghiệp để tìm ra nhu cầu nhân lực của doanh nghiệp đó, mà chỉ có thể dựa trên phỏng vấn trực tiếp về nhu cầu nhân lực của doanh nghiệp khách hàng Ngoài ra có thể dựa trên kế hoạch phát triển toàn ngành để ước lượng nhu cầu tổng cộng
1.2.2 Các chính sách Marketing:
Đối với một công ty tư vấn và cung ứng nhân lực thì sản phẩm mà công ty cung cấp cho thị trường chính là các dịch vụ Vì vậy, các chính sách Marketing của công ty sẽ có nhiều khác biệt so với sản phẩm hàng hoá thông thường khác
Trang 21trên thị trường Đây là một vấn đề quan trọng nhưng cũng rất khó, đóng vai trò quan trọng trong sự thành đạt của doanh nghiệp trên thị trường.
❖ Chính sách giá dịch vụ:
Trong các biến số của Marketing-mix đối với dịch vụ, giá cả có ý nghĩa đặc biệt quan trọng Trước hết, giá cả là hình ảnh về chất lượng dịch vụ cung ứng Nó là chỉ tiêu quan trọng trong quá trình lựa chọn và tiêu dùng dịch vụ vì giá cả ảnh hưởng mạnh mẽ đến nhận thức của khách hàng về chất lượng dịch
vụ chuyển giao Quan hệ giá cả và chất lượng dịch vụ phụ thuộc đồng thời vào đánh giá chủ quan của khách hàng và chất lượng dịch vụ của nhà cung cấp Chính vì vậy, việc xác định giá dịch vụ phải dựa trên những hiểu biết sâu sắc
về 3 vấn đề quan trọng: chi phí, cạnh tranh và nhận thức của khách hàng
- Chi p h í: Là cơ sở để hình thành giá bán Phương pháp thường sử dụng
để xác định giá bán theo chi phí là phân tích điểm hoà vốn
- Cạnh tranh: Mặc dù cầu thị trường quy định giá trần và chi phí của công
ty xác định giá sàn, song khi định giá sản phẩm của mình, công ty không thể
bỏ qua các thông tin và các phản ứng về giá của đối thủ cạnh tranh, bởi vì, với khách hàng, “giá tham khảo” mà họ sử dụng để đánh giá mức giá của công ty trước hết là giá của đối thủ cạnh tranh
- Nhận thức của khách hàng về giá: phụ thuộc vào việc đánh giá quan hệ giá cả/ chất lượng Do tính chất vô hình của dịch vụ, khách hàng khó hiểu được vì sao mức giá của một dịch vụ nhất định lại được đặt ở mức này Thực
tế cho thấy rằng, sự nhận thức của khách hàng về mức giá ảnh hưởng đến sự nhận thức của họ về chất lượng dịch vụ cung ứng Xu hướng chung là : mức giá càng cao, khách hàng sẽ cho rằng chất lượng dịch vụ càng cao Tuy nhiên
để có được lòng tin và sự trung thành từ phía khách hàng thì chất lượng dịch
vụ cũng phải xứng đáng với chi phí mà họ phải trả
Trang 22❖ Chính sách phân phối:
Trong lĩnh vực dịch vụ, chính sách phân phối được thể hiện thông qua việc lựa chọn số lượng điểm bán/số lượng dịch vụ, tức là tìm cách đạt được sự cân bằng giữa chính sách phân phối và chính sách sản phẩm Tuy nhiên, do tính phức tạp, doanh nghiệp khó có thể làm chủ sự phát triển đồng thời mạng lưới phân phối và cung ứng dịch vụ Để có thể bao phủ thị trường, cần thiết phải phát triển các đơn vị của mạng phân phối Trong khi đó, mong muốn làm tăng thêm sự trung thành của khách hàng đòi hỏi phát triển và đa dạng hoá dịch vụ.Trên thực tế, cung dịch vụ trực tiếp không qua các trung gian là hình thức phân phối dịch vụ thích hợp và phổ biến nhất Tuỳ theo loại dịch vụ cung ứng
và mục tiêu của mình, doanh nghiệp có thể lựa chọn và sử dụng các mạng phân phối khác nhau
❖ Xúc tiến và hỗ trợ kinh doanh:
Hoạt động xúc tiến bán dịch vụ hướng tới các mục tiêu như làm tăng sự nổi tiếng của dịch vụ, kích thích thử tiêu dùng dịch vụ hiện tại và dịch vụ mới, làm tăng thêm mức độ trung thành của khách hàng hiện tại, thay đổi nhu cầu thị trường cho phù hợp với khả năng cung ứng dịch vụ, làm cho sự tham gia của khách hàng trong quá trình chuyển giao dịch vụ được thuận tiện và dễ dàng hơn
Trong lĩnh vực cung ứng dịch vụ, các cồng cụ thường được sử dụng trong chính sách này là:
- Giao tiếp trực tiếp giữa nhân viên của công ty với khách hàng, gồm giúp
đỡ, thông tin và thuyết phục khách hàng sử dụng dịch vụ của công ty
- Truyền thông bên ngoài: quảng cáo trên báo, đài, truyền hình, tạp chí, Internet và gửi thư trực tiếp
- Đánh giá mức độ thoả mãn của khách hàng nhằm củng cố hình ảnh về chất lượng dịch vụ của mình
Trang 23❖ Xây dựng các mối quan hệ với công chúng:
Đây là một trong những hoạt động Marketing rất quan trọng, bao gồm nhiều hoạt động rất phong phú và đa dạng Những hoạt động chủ yếu là :
- Xây dựng quan hệ báo chí : đối với khách hàng, những thông tin về doanh nghiệp qua báo chí luôn là những thông tin khách quan và đáng tin cậy
- Triển lãm, hội chợ, phòng trưng bày : mục tiêu là tăng tiếp xúc với khách hàng, đối tác, quan sát đối thủ cạnh tranh và xu thế chung của thị trường
- Quan hệ nhằm gây tiếng tăm cho doanh nghiệp : mục tiêu nhằm củng cố
uy tín của doanh nghiệp trên thị trường thông qua quan hệ thân hữu với các quan chức trong ngành để có được sự đảm bảo uy tín của họ, tham gia bảo trợ các hoạt động xã hội, tham gia các hội nghị, hội thảo chuyên ngành để gây sự chú ý của các đối tác, tạo cơ hội trao đổi thông tin với các doanh nghiệp khách hàng cũng như giới báo chí
Trang 24PHẦN 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN cứu
2.1 Đối tượng nghiên cứu:
> Nghiên cứu môi trường kinh doanh của doanh nghiệp :
+ Môi trường vĩ mô: kinh tế, chính trị, khoa học công nghệ thông qua các báo cáo tổng kết, các văn bản pháp quy có liên quan của ngành dược cũng như của Bộ Y tế, Tổng cục thống kê, Bộ Tài chính, của Bộ LĐ-TB-XH
+ Môi trường vi mô:
- Đối thủ cạnh tranh: Nghiên cứu hoạt động của một số công ty
tư vấn nhân lực đã và đang hoạt động hiệu quả trên thị trường lao động Việt Nam; thông qua các báo, tạp chí, tài liệu, mạng Internet
- Khách hàng: Nghiên cứu nhu cầu việc làm của sinh viên Y dược khi ra trường, và nhu cầu tuyển dụng của một số doanh nghiệp dược phẩm tại Hà Nội
> Các chính sách Marketing cho sản phẩm chính của doanh nghiệp dịch vụ cung ứng nhân lực
> Phương pháp quản trị tài chính của doanh nghiệp
2.2 Phương pháp nghiên cứu:
• Hồi cứu số liệu:
Trang 25PHẦN3 KẾT QUẢ NGHIÊN cứu VÀ BÀN LUẬN
3.1 Phân tích môi trường kinh doanh:
3.1.1 Môi trường vĩ mô:
• Môi trường kinh tế:
Trong hơn 10 năm phát triển kinh tế thị trường dưới sự quản lý của Nhà nước, nền kinh tế Việt Nam đã có những bước phát triển vững mạnh và vượt bậc Năm 2003 kinh tế Việt Nam đạt thành tựu lớn với GDP tăng 7,24% đứng thứ 2 châu Á, thu ngân sách lẩn đầu tiên đạt 132.000 tỷ đồng và là năm thứ 6 liên tiếp vượt qua chỉ tiêu đề ra Đó là thành tựu lớn, thể hiện sự quyết tâm của toàn Đảng, toàn dân vượt qua khó khăn thách thức, tiếp tục sự nghiệp đổi mới
Để hoàn thành chỉ tiêu tăng trưởng kinh tế của kế hoạch 5 năm (2001-2005), Nhà nước ta đã và đang tập trung đầu tư đẩy nhanh quá trình hình thành và phát triển đồng bộ các loại thị trường, tạo môi trường đầu tư lành mạnh, thông thoáng, hấp dẫn cho các thành phần kinh tế Điều chỉnh mạnh cơ cấu đầu tư gắn với chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động Lựa chọn hoạt động dịch
vụ là khâu đột phá trong nền kinh tế Mục tiêu đến năm 2005, tỷ trọng dịch vụ trong GDP chiếm 41,42% Cùng với các thị trường vốn, bất động sản, khoa học công nghệ, tài chính tiền tệ, thị trường lao động là một trong các hoạt động dịch vụ được tập trung đầu tư chỉ đạo phát triển mạnh Nhà nước luồn chú trọng tập trung đầu tư mạnh hơn cho nguồn nhân lực Phát triển nguồn nhân lực là một trong 5 lĩnh vực được ưu tiên hợp tác trong Hiệp định khung
về Hợp tác kinh tế toàn diện ASEAN - Trung Quốc kí kết tháng 11/2002, có hiệu lực chính thức từ 01/07/2003
Để khai thác, phát huy và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực đầu tư cho phát triển trong nền kinh tế nhiều thành phần, Nhà nước đang hoàn thiện dần các giải pháp nhằm tạo môi trường đầu tư thuận lợi, minh bạch và cởi mở hơn nữa để các nhà đầu tư trong và ngoài nước mạnh dạn bỏ vốn vào sản xuất kinh
Trang 26doanh; nhanh chóng xoá bỏ những vướng mắc, ách tắc, những cơ chế chính sách, những thủ tục hành chính do chủ quan của cơ quan quản lý Nhà nước gây ra, đảm bảo tính nhất quán trong các chính sách và thực hiện đúng các quy định về quyền và nghĩa vụ của nhà đầu tư, tạo sự bình đẳng cho các khu vực kinh tế (về ngành nghề, lĩnh vực ưu đãi đầu tư, về giá các loại dịch vụ, việc tiếp cận các nguồn vốn tín dụng ưu đãi của các tổ chức tín dụng, chính sách tài chính doanh nghiệp và các ưu đãi về thuế suất )
Trong bối cảnh kinh tế toàn cầu, Việt Nam đã và đang từng bước hoà nhập với nền kinh tế thế giới, bên cạnh những thuận lợi, chúng ta phải đối mặt với không ít khó khăn Khi mà mức tăng trưởng cao nhưng giá trị tuyệt đối còn thấp, chất lượng tăng trưởng chưa thật vững chắc, quy mô nền kinh tế còn quá nhỏ bé, chúng ta muốn hướng tới cái đích phát triển bền vững thì hơn lúc nào hết, chất lượng đội ngũ cán bộ cần phải được nâng cao cho phù hợp tình hình mới Đây là vấn đề bức xúc, tác động trực tiếp đến hiệu quả phát triển kinh tế
- xã hội trong tiến trình hội nhập Từ những yêu cầu thực tế trên cho thấy sự
ra đời của doanh nghiệp tư vấn và cung ứng nguồn nhân lực trong hoàn cảnh kinh tế hiện nay là hoàn toàn phù hợp
• Môi trường chính trị:
Môi trường chính trị là một trong những yếu tố có ảnh hưởng mạnh tới các quyết định kinh doanh của doanh nghiệp Môi trường chính trị bao gồm hệ thống pháp luật và các văn bản dưới luật, các công cụ chính sách của Nhà nước, tổ chức bộ máy và cơ chế điều hành của chính phủ và các tổ chức chính trị - xã h ộ i
Tác động của môi trường chính trị tới các quyết định kinh doanh phản ánh
sự can thiệp của các chủ thể quản lý vĩ mô tới kinh doanh của doanh nghiệp
❖ Hệ thống pháp luật và các văn bản dưới luật:
Để điều chỉnh hành vi kinh doanh thậm chí tiêu dùng, quan hệ trao đổi thương mại các nước đều có một hệ thống luật pháp, ở Việt Nam trong
Trang 27những năm gần đây Nhà nước đã ban hành nhiều luật, pháp lệnh và nghị định như : Hiến pháp 1992, luật Doanh nghiệp, luật Thương mại, luật Khuyến khích đầu tư trong nước, luật Đầu tư nước ngoài, luật Thuế, dự thảo luật Cạnh tranh, luật Ngân hàng Nhà nước, luật Các tổ chức tín dụng Hiện nay Nhà nước vẫn tiếp tục sửa đổi, bổ sung pháp luật, cơ chế, chính sách để tạo khung pháp lý đồng bộ, bình đẳng giữa các thành phần kinh tế Trong lĩnh vực lao động cũng đã có các văn bản quản lý Nhà nước về lao động việc làm, đó là hành lang pháp lý tốt để doanh nghiệp tư vấn và cung ứng nhân lực ra đời và phát triển.
❖ Hệ thống các công cụ chính sách của Nhà nước:
Hệ thống này được đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng Sản Việt Nam, được hình thành trên cơ sở đường lối chung và đường lối kinh tế của Đẳng Bao gồm : chính sách tài chính tiền tệ, chính sách xuất nhập khẩu, chính sách phát triển các thành phần kinh tế tất cả đều có liên quan đến các quyết định kinh doanh của doanh nghiệp
♦> Cơ chế điều hành của chính phủ: quyết định trực tiếp tới tính hiệu lực của luật pháp và các chính sách kinh tế
Theo tinh thần của nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ IX và các nghị quyết của Quốc hội, Đảng và Chính phủ đang đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, chấn chỉnh lề lối cách thức làm việc, tăng cường hiệu lực của bộ máy Nhà nước, tăng cường kỉ cương phép nước trong quản lý kinh tế, quản lý xã hội, gắn vai trò, trách nhiệm cá nhân trong việc ra quyết định quản lý, điều hành Ban hành các quy định về chế độ trách nhiệm của người đứng đầu các cơ quan Nhà nước trong thi hành công vụ Nâng cao vai trò trách nhiệm và ý thức phục
vụ của đội ngũ cán bộ, công chức Nhà nước, thực hiện tốt sự phối hợp đồng bộ giữa các cơ quan quản lý Cùng với sự tập trung chỉ đạo điều hành một cách kiên quyết từ trung ương đến địa phương và cơ sở, chắc chắn các doanh nghiệp kinh doanh tại Việt Nam sẽ được tạo một điều kiện pháp lý an toàn,
Trang 28hợp lý để ổn định và phát triển, đạt được các mục tiêu kinh doanh của doanh nghiệp Cùng với nội dung của Nghị quyết Đại hội Đảng IX về mở rộng thị trường lao động, các doanh nghiệp khi kinh doanh trên lĩnh vực thị trường này
đã thực sự được tạo một điều kiện tốt, thuận lợi để phát triển
• Môi trường công nghệ kỹ thuật:
Môi trường công nghệ kỹ thuật bao gồm các nhân tố gây tác động ảnh hưởng đến công nghệ mới, sáng tạo sản phẩm và cơ hội thị trường mới
Sự phát triển của kỹ thuật công nghệ mới đã đem lại những phát minh trong lĩnh vực y tế: các thuốc mới, các trang thiết bị y tế mới ra đời Thị trường dược phẩm ngày càng sôi động bởi sự thay thế của các sản phẩm mới Con người ngày càng được chăm sóc sức khoẻ tốt hơn Vì thế nhu cầu về nhân lực trong ngành dược sẽ tăng cao hơn nhằm đảm bảo hoàn thành tốt nhiệm vụ chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ cộng đồng
• Môi trường nhân khẩu học:
Dân số nước ta hiện nay là khoảng 86 triệu người
Các chỉ số về sức khoẻ cộng đồng ở nước ta đã được nâng lên Tuổi thọ trung bình tăng từ 65 tuổi (1989) —> 68 tuổi (1999) Đời sống kinh tế - xã hội
và trình độ văn hoá - giáo dục của người dân ngày càng cao Ngành y tế cần tăng cường hiệu quả hoạt động để nâng cao chất lượng chăm sóc sức khoẻ cho nhu cầu của người dân, đặc biệt là trong lĩnh vực dược nhằm đảm bảo sản xuất cung ứng và quản lý kinh doanh thuốc tốt, hướng dẫn sử dụng thuốc an toàn hợp lý cho nhân dân
3.1.2 Môi trường vi mô:
Bao gồm các yếu tố liên quan chặt chẽ đến doanh nghiệp và nó ảnh hưởng đến khả năng của doanh nghiệp khi phục vụ khách hàng Đó là các nhân tố nội tại của doanh nghiệp, các kênh marketing, thị trường khách hàng, người cạnh tranh, người cung cấp, các tổ chức trung gian, vv Trong chừng mực nhất định, doanh nghiệp có thể tác động để cải thiện môi trường vi mô
Trang 29• Khách hàng:
Khách hàng là đối tượng mà doanh nghiệp phục vụ và là yếu tố quyết định
sự thành công hay thất bại của doanh nghiệp Đối với doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực cung ứng nhân lực, khách hàng của doanh nghiệp là các tổ chức, các công ty sử dụng dịch vụ cung cấp nhân lực để nhanh chóng tìm được nhân sự thích hợp với nhu cầu của tổ chức, công ty đó
Trong lĩnh vực Dược hiện nay có 50 doanh nghiệp Dược Nhà nước,73 doanh nghiệp cổ phần hoá, 589 doanh nghiệp Dược tư nhân, và đặc biệt là 248 công ty dược phẩm nước ngoài đã được cấp phép hoạt động tại Việt Nam Đây là khách hàng sẽ sử dụng dịch vụ của công ty cung ứng nhân lực dược EPLR
• Phân tích ngành kinh doanh và đối thủ cạnh tranh:
Ngày nay, đã không ai còn mơ hồ về những lợi ích to lớn do chất xám của đội ngũ nhân sự mang lại cho một doanh nghiệp Đó là thứ tài nguyên vô giá
và nếu biết sử dụng đúng mức, doanh nghiệp sẽ tìm được ưu thế trong cuộc cạnh tranh gay gắt Và ngày nay, cũng không ai lạ gì những cuộc săn tìm tri thức mà cụm từ "săn đẩu người" trong chừng mực nào đó, được nói đến như một thuật ngữ kinh tế, có nghĩa là đi tìm chất xám nói chung và những ứng viên sáng giá, những nhà quản lý xuất sắc nói riêng
Săn lùng những cái đầu thông minh, giàu chất xám là một nhu cầu bức thiết của hầu hết các chủ doanh nghiệp trong và ngoài nước Họ chấp nhận đầu tư dài hạn cho công việc tìm người dù rất tốn kém
Tại Singpore ngày nay, các trường đại học dành rất nhiều ưu đãi cho tài năng và các cơ quan thì có xu hướng chọn chuyên viên giỏi ở các nứớc phương Tây
Trang 30Ở Canada, người ta có nhiều điều kiện phát hiện và bồi dưỡng tài năng, vì các trường đại học đã lên mạng điểm số các sinh viên khá giỏi Các doanh nghiệp lớn thường bắt đẩu săn lùng chất xám khi họ còn ở năm cuối đại học, nghĩa là ở dạng tiềm năng Các sinh viên khá giỏi, xuất thân từ các đại học nổi
tiếng ở cắc nước này luôn nằm trong tầm ngắm của các doanh nghiệp Các tài
năng này thường dễ được cho nhập quốc tịch hoặc làm thường trú nhân
Tại Nhật, nơi tập trung tài năng cao nhất là các ngân hàng, vì người Nhật cho rằng đây là ngành mà công tác quản lý phức tạp hơn cả và hoạt động của
nó tác động vào toàn bộ nền kinh tế Các chuyên viên được tuyển chọn từ thực
tế và qua một kỳ thi tuyển dụng, nếu được nhận vào làm việc thì mức lương của họ sẽ làm nhiều người phải mơ ước
Việc các trường đại học và các doanh nghiệp đi săn tìm chất xám trước tiên
là do bị sức ép của cạnh tranh, sau đó là yếu tố lợi nhuận và uy tín mà những
"đầu người" này mang lại Nhiều nước đã có chính sách mở rộng việc nhập và hạn chế việc xuất chất xám
Hoạt động "săn đầu người" diễn ra khá rầm rộ ở các nước công nghiệp phát
triển và có không ít các công ty tư vấn tuyển dụng chính là các dịch vụ săn lùng tài năng Rõ ràng, khi cuộc cạnh tranh giữa các nền kinh tế trở nên gay gắt hơn, thì việc săn lùng trí tuệ là một thách thức lớn của nhiều nước Việc 160.000 nhà khoa học và kỹ sư được nhập cư vào Mỹ từ năm 1947 đến 1973
là một minh chứng rõ ràng cho hoạt động "săn đầu người"
Ở nước ta, hoạt động săn tìm chất xám đã xuất hiện trong vài năm trở lại đây và đang diễn ra ngày một sôi động hơn Các dịch vụ cung ứng nhân lực đang được nhiều nhà tuyển dụng ưa chuộng, thay thế dần cách rao tuyển đại trà như trước đây vì mất thời giờ mà hiệu quả lựa chọn hồ sơ lại thấp
Trên thị trường lao động Việt Nam hiện nay đã có một số công ty nước ngoài chuyên về tư vấn nhân sự như Price Water House Coopers, KPMG, Athur Andersen, Emst & Young, Deloite Đây là loại dịch vụ hiện đang có
Trang 31xu hướng nở rộ và trở thành lĩnh vực kinh doanh siêu lợi nhuận Hàng loạt các công ty tư nhân trong nước, các đơn vị Nhà nước cũng đã xuất hiện trên thị trường cung cấp nhân sự cạnh tranh với các công ty nước ngoài như NetViet, Sinh Minh, SHD, BCC, L&A, Human Capital, Tân Đức Các công ty tư vấn nhân sự hiện đang đi sâu vào nhu cầu cần tuyển dụng các quản trị viên cao cấp của các doanh nghiệp Họ tập trung vào việc giới thiệu ứng viên trong các lĩnh vực khác nhau như quản trị chung, kinh doanh tiếp thị, tài chính kế toán, nhân
sự, hành chính Các công ty nước ngoài có thế mạnh trong ngành kinh doanh kiểm toán hay kế toán, tài chính và rất có uy tín trong việc tìm kiếm nhân viên
là quản trị viên cao cấp Còn các công ty Việt Nam, mặc dù chưa có thâm niên lâu dài trong nghề như các công ty nước ngoài nhưng với sự năng động, chịu khó nghiên cứu học hỏi và cách tiếp cận nhanh chóng, tận dụng được ưu thế địa phương, các công ty Việt Nam đã chia sẻ một phần không nhỏ chiếc bánh thị phần từng nằm trong tay các công ty nước ngoài từ lâu
Làm việc với các nhà cung ứng nhân lực lớn của nước ngoài như Price Water House Coopers, KPMG, Athur Andersen, Emst & Young, Deloite các doanh nghiệp thường phải chịu mức phí khá lớn, khoảng từ 1,5 đến 3 tháng lương người lao động Chẳng hạn nếu họ phải trả cho một vị trí quản trị
là 500 USD thì phải trả cho các công ty cung ứng nhân lực này ít nhất 1000 USD, cá biệt có khi phải trả tới 1500 - 2000 USD để có được một nhân lực cao cấp Price Water House Coopers hiện là công ty nước ngoài cung ứng nhân lực cao cấp được tín nhiệm nhất trên thị trường lao động Việt Nam Khách hàng của Price Water House chủ yếu là các công ty đa quốc gia như Uniliver, Colgate-palmolive, Cocacola, BAT, Bayer và các công ty Việt Nam có tiềm lực tài chính mạnh mẽ như Toàn Mỹ, Kinh Đô, Trung Nguyên, Liên Bảo, Biti’s, Bảo Minh Mặc dù với chi phí đầu tư cho một “đầu người ” giỏi có được nhờ Price Water House là rất lớn nhưng các doanh nghiệp vẫn chấp nhận bởi đó thực sự là những tài năng sáng giá có khả năng mang lại lợi nhuận cao cho doanh nghiệp trong điều kiện cạnh tranh khắc nghiệt của thị trường hôm nay
Trang 32Ở những trung tâm cung ứng nhân lực cao cấp của Việt Nam giá một ứng viên thấp hơn nhiều so với các công ty lớn của nước ngoài, trung bình từ 30- 40% mức lương ứng viên, khoảng 100-300 USD/ người Cao nhất trong các nhà cung ứng nhân lực nội địa là NetViet với mức phí ổn định bằng 1,5 lần lương ứng viên Nếu công ty trả cho người lấy từ Net Viet 900USD thì phải trả cho Net Viet ngay 1300USD Theo ông Dương Xuân Giao, Giám đốc Net Viet cho biết hiện trong tay Net Viet có khoảng 2500 hồ sơ nhân sự đã qua phỏng
vấn, 3000 hồ sơ trong tầm quan sát Là công ty săn đầu người đầu tiên ở Việt
Nam, thành lập năm 2000, chỉ sau hơn 2 năm hoạt động Net Viet đã có hơn
270 đơn vị là khách hàng thường xuyên, trong đó có khoảng 15% là các công
ty trong nước, bởi các công ty Việt Nam ngày càng cần nhiều nhân tài để có thể cạnh tranh với các công ty đa quốc gia Lượng nhân sự cao cấp mà các công ty săn đầu người có thể cung cấp được cho thị trường còn quá nhỏ bé so với yêu cầu Net Viet cho hay rằng mỗi tháng, họ chỉ cung cấp khoảng 14 nhân viên cao cấp cho các công ty khách hàng, đáp ứng được 65 -7 5 % nhu cầu khách hàng Những công ty khác không tiết lộ thông tin nhưng cũng biết rằng con số hàng chục mà họ kiếm được không phải là dễ
Nhu cầu về nhân lực cao cấp của các công ty cần tuyển lao động không ngừng phát triển, trong khi mức cung của thị trường chưa tăng trưởng tương ứng Vấn đề nhân sự cao cấp đã làm đau đầu không ít các nhà đầu tư, các doanh nghiệp muốn phát triển hơn nữa, họ không ngại về vấn đề vốn đầu tư
mà chỉ ngại phải đối mặt với một vấn đề cực khó- vấn đề vốn nhân sự cao cấp.Nhìn chung các công ty cung ứng nhân lực cả trong nước và nước ngoài đều không thu bất kỳ một khoản phí nào của người lao động nhằm thu hút đầu vào Họ chỉ thu phí dịch vụ của khách hàng tìm kiếm nhân sự qua công ty mình, và cũng chưa có công ty nào hoạt động trong lĩnh vực Dược có hình thức đào tạo nhân sự rồi mới giới thiệu cho công ty tuyển dụng EPLR là công
ty đầu tiên trên thị trường cung cấp nhân lực dược có hình thức đào tạo các ứng viên, bởi thế EPLR không có đối thủ cạnh tranh trực tiếp trong ngành
Trang 33Qua bảng phân tích dưới đây chúng ta có thể thấy điểm mạnh, điểm yếu của các công ty cung ứng nhân lực trên thị trường Việt Nam có khả năng cạnh tranh với EPLR:
Price Water House
- Phí dịch vụ quá cao
- Chỉ nộp c v (lý lịch cá nhân) trực tiếp
- Đối tượng nhân sự cao cấp, bỏ quên những đoạn thị trường khá lớn, trong đó
- Ngoài nộp c V trực tiếp còn có thể gửi qua mạng Internet:
www vietnam works com
- Thị trường rộng hơn Price Water House Coopers, có cả nhu cầu về TDV
- Phí dịch vụ quá cao
- Không quan tâm nhiều đến lĩnh vực cung cấp nhân lực trong ngành dược
- Chưa có hình thức đào tạo ứng viên
- Không chuyên về dược
- Kinh nghiệm quốc tế
- Thế mạnh về các dịch vụ kiểm toán, tư vấn luật, tài chính, kinh doanh
- Phí dịch vụ quá cao
- Chưa tập trung vào nguồn nhân lực dược
- Không có hình thức đào tạo ứng viên
- Không chuyên về dược
Trang 34- Đang có ý tưởng mở chi nhánh đào tạo TDV tại Hà Nội.
- Chưa có trụ sở tại Hà Nội
- Uy tín chưa cao
- Chưa phối hợp được với những cơ sở đào tạo có uy tín
- Có trang web tư vấn quản lý nguồn nhân lực và tuyển dụng trên mạng
www.netviet.com.vn
-Mức phí thu khá cao, bằng 1.5 tháng lương người lao động
- Chưa có trụ sở tại Hà Nội
- Không có hình thức đào tạo ứng viên trước khi giới thiệu cho nhà tuyển dụng
- Không chuyên về dượcTân Đức TD&T
- Chưa có trụ sở tại Hà Nội
- Không chuyên về dược
- Mức phí đào tạo khá cao
so với các công ty trong nước
• Môi trường bên trong.
■ Thuận lợi.
+ EPLR cung cấp một dịch vụ chưa từng có trên thị trường Hà Nội, có
lợi thế của người đi tiên phong Cùng với các chiến lược quảng bá hiệu quả sẽ giúp EPLR nhanh chóng thâm nhập thị trường Khi đó EPLR sẽ là công ty dẫn đầu thị trường cung ứng nhân lực về sản phẩm đặc biệt của mình
+ Sản phẩm của EPLR là loại không dễ dàng thay thế