1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Chính sách tài khóa Việt Năm năm 2014 và kiến nghị cho chính sách tài khóa năm 2015

20 762 4

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 20
Dung lượng 134,12 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Phân loại Chính sách tài khóa gồm 2 loại: - Chính sách tài khóa dài hạn: được sử dụng để thay đổi cơ cấu kinh tế và thúc đẩy tăng trưởng - Chính sách tài khóa ngắn hạn: nhằm chống suy th

Trang 1

Đề tài: Chính sách tài khóa Việt Năm năm 2014 và kiến nghị

cho chính sách tài khóa năm 2015

I.Khái quát chung về chính sách tài khóa

1 Định nghĩa

Là việc chính phủ sử dụng công cụ thuế (T) và chi tiêu chính phủ (G) để điều tiết nền kinh tế

2 Phân loại

Chính sách tài khóa gồm 2 loại:

- Chính sách tài khóa dài hạn: được sử dụng để thay đổi cơ cấu kinh tế và thúc đẩy

tăng trưởng

- Chính sách tài khóa ngắn hạn: nhằm chống suy thoái, lạm phát, thất nghiệp hoặc cân bằng ngân sách (bao gồm chính sách tài khóa mở rông và chính sách tài kháo thăt chặt)

2.1 Chính sách tài khóa mở rộng:

Chính sách tài khoá mở rộng được áp dụng khi nền kinh tế có mức sản lượng thấp hơn sản lượng tiềm năng, nhằm tăng tổng cầu cho nền kinh tế

Khi chính phủ tăng chi tiêu (G) hoặc giảm thuế (T) nhằm kích thích tổng cầu (AD),

tổng cầu về hàng hoá và dịch vụ tăng làm cho đường AD dịch chuyển sang phải Lúc này

Trang 2

sản lượng cân bằng tăng do đó làm tăng cầu tiền để phục vụ mục đích giao dịch Sự gia tăng cầu tiền này đẩy lãi suất tăng lên và làm giảm đầu tư Sự lấn át đầu tư như vậy triệt tiêu một phần ảnh hưởng của chính sách mở rộng tài khoá đối với tổng cầu

Giả sử nền kinh tế lúc ban đầu cân bằng tại điểm A(Y0, P0 ) với đường AD0 và đường AS,Khi chính phủ gia tăng chi tiêu một lượng là DG làm tổng cầu (AD) tăng, với mức lãi suất chưa kịp thay đổi, đường AD dịch chuyển đến mức sản lượng Y1’ Như khi sản lượng cân bằng trên thị trường hàng hoá tăng đếnY1’ thì cầu tiền tệ bắt đầu tăng để phục vụ mục tiêu giao dịch và mức lãi suất tăng lên Do đó, sau khi tăng chi tiêu chính

Trang 3

phủ thay vì nền kinh tế đạt mức sản lượng tại Y1’ với mức lãi suất là i0 thì lại cân bằng tại C(Y1, P1) do ảnh hưởng của hiệu ứng lấn át đầu tư Nền kinh tế đạt trạng thái cân bằng trên thị trường hàng hoá và tiền tệ mới tại C(Y1, P1) với sản lượng và lãi suất cân bằng đều cao hơn điểm cân bằng ban đầu A

2.2 Chính sách tài khóa thu hẹp (thắt chặt):

Chính sách tài khoá thu hẹp được chính phủ áp dụng khi nền kinh tế có sản lượng thực tế cao hơn sản lượng tiềm năng, nhằm giảm tổng cầu cho nền kinh tế

 Khi chính phủ giảm chi tiêu hoặc tăng thuế, tổng cầu giảm làm cho sản lượng

đến cầu tiền tệ cũng giảm Khi cầu tiền giảm

giảm khuyến khích đầu

sản lượng cân bằng giảm từ Y0xuống Y1’ lãi suất chưa thay đổi, thị trường hàng hoá cân bằng tại B(Yi’, P0) Nhưng khi sản lượng giảm thì cầu tiền tệ phục vụ cho giao dịch giảm, điều này làm cho lãi suất giảm, đến lược nó lãi suất giảm khuyến khích đầu tư vàlàm tăng tổng cầu trở lại Lúc này thị trường hàng hoá và tiền tệ tái lập cân bằng tại C (Y1, P1)

Trang 4

3 Hạn chế của chính sách tài khóa:

- Mâu thuẫn giữa tập trung vào NSNN với tích luỹ trong các cơ sở kinh doanh Vì vậy

chính sách tài khoá cần giải quyết tốt mâu thuẫn này, đó là yêu cầu khách quan của phát triển kinh tế - xã hội Mâu thuẫn này hiện nay ở nước ta đang gay gắt, biểu hiện ở chỗ tốc

độ tăng thu vào NSNN năm sau cao hơn năm trước và lớn hơn nhiều lần so với tốc độ tăng tổng sản phẩm quốc dân, trong khi tình trạng thất thu từ thuế còn lớn

- Mâu thuẫn giữa tăng trưởng kinh tế với việc thực hiện công bằng xã hội Nguyên nhân

của mâu thuẫn này: từ một mặt NSLĐ xã hội còn thấp kém, muốn tăng trưởng thì phải tích luỹ, do đó tiêu dùng bị hạn chế, không giải quyết đúng mức những vấn đề xã hội cấp bách Nếu ngược lại thì không đảm bảo thực hiện được mục tiêu kinh tế Mặt khác, do phát triển kinh tế theo cơ chế thị trường, sẽ dẫn tới phân hoá giàu nghèo là không tránh khỏi Vì vậy, để giải quyết mâu thuẫn trên, chính sách tài khoá phải thể hiện nội dung điều tiết thu nhập sao cho hợp lý

- Khó tính toán một cách chính xác liều lượng cần thiết của chính sách Khó xác định

chính xác số nhân k → điều chỉnh G, T không chính xác

- Độ trễ trong phát huy hiệu quả của chính sách tài chính: Chính sách tài khóa có độ trễ

bên trong và bên ngoài do sự phụ thuộc vào các yếu tố chính trị và cơ cấu tổ chức bộ máy khá lớn Độ trễ bên trong gồm thời gian thu thập thông tin, xử lý thông tin và ra quyết định Độ trễ bên ngoài bao gồm quá trình phổ biến, thực hiện và phát huy tác dụng

- Những trở ngại về chính trị:Ở nhiều nước, chính phủ muốn tiến hành đầu tư (chi tiêu

chính phủ) thường phải xin quốc hội phê duyệt Khả năng bị quốc hội bác bỏ không phải

Trang 5

là không có.Vì thế, không phải cứ muốn thực hiện chính sách tài chính nới lỏng thông qua tăng chi tiêu chính phủ là luôn có thể làm được.Mặt khác khi đã chi và tiến hành đầu

tư rồi, mà lại muốn thực hiện chính sách tài chính thắt chặt lại cũng khó khăn vì không thể bỏ dở các công trình đầu tư đang triển khai được

- Chính sách tài khóa thường được thực hiện thông qua các dự án công cộng xây dựng cơ

sở hạ tầng, phát triển việc làm và trợ cấp xã hội với kết quả đa số dự án kém hiệu quả

kinh tế

- Khả năng quản lý chính sách tài khóa của chính phủ còn kém.

- Tác động của chính sách tài khóa thiếu quyết liệt so với chính sách tiền tệ

- Chính sách tài khóa mở rộng dễ thực hiện hơn chính sách tài khóa thu hẹp Thực hiện

chính sách tài chính nới lỏng thông qua giảm thuế thì dễ.Nhưng khi muốn thực hiện chính sách tài chính thắt chặt thông qua tăng thuế lại rất dễ bị người dân phản đối

II Các công cụ của chính sách tài khóa

1 Ngân sách nhà nước, hay ngân sách chính phủ

- Là một phạm trù kinh tế và là phạm trù lịch sử; là một thành phần trong hệ thống tài

chính Luật Ngân sách Nhà nước của Việt Nam đã được Quốc hội Việt Nam thông qua

ngày 16/12/2002 định nghĩa: Ngân sách Nhà nước là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nước trong dự toán đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định và được thực hiện trong một năm để đảm bảo thực hiện các chức năng và nhiệm vụ của nhà nước.

Trang 6

Ngân sách nhà nước bao gồm ngân sách trung ương và ngân sách địa phương.

Ngân sách trung ương là ngân sách của các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và các cơ quan khác ở trung ương Ngân sách địa phương bao gồm ngân sách của đơn vị hành chính các cấp có Hội đồng Nhân dân và Ủy ban Nhân dân

* Ngân sách cân bằng với mục tiêu ổn định:

- Sản lượng cân bằng trong điều kiện cân bằng ngân sách:

Ngân sách cân bằng khi thu = chi: T = G

Sảnlượng cân bằng thỏa hệ phương trình:

Y = C + I + G + X – M

G = T

- Cân bằng ngân sách không phải lúc nào cũng tốt đối với nền kinh tế

- Tuyệt đối hóa mục tiêu cân bằng ngân sách có thể làm cho sự dao động của sản lượng trong các chu kỳ kinh doanh trở nên trầm trọng hơn

- Thâm hụt hoặc thặng dư ngân sách có thể góp phần ổn định kinh tế

- Cần duy trì chính sách thuế ổn định → chấp nhận thâm hụt khi suy thoái hoặc khi nhu cầu chi tiêu cao bất thường

- Một số khoản chi hiện tại là dành cho tương lai → chấp nhận thâm hụt

Chính sách tài khoá của Nhà nước được sử dụng trong việc huy động các nguồn thu vào NSNN và sử dụng nó trong hạn nhất định (thường là 1 năm)

Trang 7

2 Thuế

2.1 Khái niệm:

- Trên góc độ phân phối thu nhập: “Thuế là hình thức phân phối và phân phối lại tổng sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân nhằm hình thành các quý tiền tệ tập trung của nhà nước để đáp ứng các nhu cầu chi tiêu cho việc thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của nhà nước.”

- Trên góc độ người nộp thuế: “Thuế là khoản đóng góp bắt buộc mà mỗi tổ chức,

cá nhân phải có nghĩa vụ đóng góp cho nhà nước theo luật định để đáp ứng nhu cầu chi tiêu cho việc thực hiện các chức năng , nhiệm vụ của nhà nước.”

- Trên góc độ kinh tế học: “Thuế là một biện pháp đặc biệt, theo đó, nhà nước sử dụng quyền lực của mình để chuyển một phần nguồn lực từ khu vực tư sang khu vực công nhằm thực hiện các chức năng kinh tế – xã hội của nhà nước.”

- Theo từ điển tiếng việt: “ Thuế là khoản tiền hay hiện vật mà người dân hoặc các

tổ chức kinh doanh, tuỳ theo tài sản, thu nhập, nghề nghiệp… buộc phải nộp cho nhà nước theo mức quy định.”

2.2 Phân loại:

• Theo đối tượng chịu thuế:

- Thuế thu nhập bao gồm các sắc thuế có đối tượng chịu thuế là thu nhập nhận được, thu nhập này được hình thành từ nhiều nguồn khác nhau: thu nhập từ lao động dưới dạng tiền lương, tiền công, thu nhập từ hoạt động sản xuất kinh doanh dưới dạng lợi nhuận, lợi tức cổ phần…

Trang 8

Do vậy thuế thu nhập cũng có nhiều hình thức khác nhau : Thuế thu nhập cá nhân, thuế thu nhập doạnh nghiệp

- Thuế tiêu dùng là các loại thuế có đối tượng chịu thuế là phần thu nhập được mang tiêu dùng trong hiện tại Bao gồm: Thuế doanh thu, thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế giá trị gia tăng…

- Thuế tài sản là các loại thuế có đối tuợng chịu thuế là giá trị tài sản.Bao gồm ,thuế bất động sảnlà thuế tài sản đánh trên giá trị của tài sản cố định,thuế động sản là thuế đánh trên tài sản chính

• Theo phương thức đánh thuế:

- Thuế trực thu là loại thuế đánh trực tiếp vào thu nhập hoặc tài sản của người nộp thuế ở thuế trực thu bao gồm: Thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao,thuế thu nhập doanh nghiệp ,thuế nhà đất…

- Thuế gián thu là loại thuế không trực tiếp đánh vào thu nhập và tài sản của người nộp thuế mà đánh một cách gián tiếp thông qua giá cả hàng hóa và dịch vụ Bao gồm: Thuế giá trị gia tăng ,thuế tiêu thụ đặc biệt,thuế xuất khẩu và nhập khẩu

• Theo mối quan hệ đối với khả năng nộp thuế

- Thuế thực là loại thuế không dựa vào khả năng của người nộp thuế Thuế thực bao gồm: Thuế điền thổ,thuế nhà cửa,thuế tài sản

- Thuế cá nhân là loại thuế dựa trên khả năng của người nộp thuế, là thuế đánh vào thu nhập của người nộp thuế và được thu ngay từ khâu phát sinh thu nhập hoặc do khai

Trang 9

báo Các loại thuế cá nhân bao gồm: Thuế thu nhập cá nhân, thuế lợi tức, thuế thu nhập công ty, thuế doanh nghiệp, thuế lợi nhuận siêu ngạch…

• Theo phạm vi thẩm quyền:

- Thuế trung ương: Là các hình thức thuế do các cơ quan đại diện chính quyền nhà nước ở trung ương ban hành

- Thuế địa phương: Là các hình thức thuế do chính quyền địa phương ban hành

1.3 Vai trò:

• Là nguồn thu chủ yếu của ngân sách nhà nước: Một nền tài chính quốc gia lành mạnh phải dựa chủ yếu vào nguồn thu từ nội bộ nền kinh tế quốc dân.Tất cả các nhu cầu chi tiêu của Nhà nước đều được đáp ứng qua các nguồn thu từ thuế, phí và các hình thức thu khác như: vay mượn, viện trợ nước ngoài, bán tài nguyên quốc gia, thu khác vv Song thực tế các hình thức thu ngoài thuế đó có rất nhiều hạn chế, bị ràng buộc bởi nhiều điều kiện Do đó thuế được coi là khoản thu quan trọng nhất vì khoản thu này mang tính chất ổn định và khi nền kinh tế càng phát triển thì khoản thu này càng tăng

Bảng 1: Tình hình tỉ lệ thuế và phí trong tổng thu ngân sách nhà nước ta trong thời gian

qua ( Tài liệu của Tổng cục thuế ).

Năm Tổng số Thuế và Phí (Đơn

vị: Tỷ đồng)

Phần trăm so với Tổng Thu NSNN

Phần trăm so với GDP

Trang 10

• Điều chỉnh các mục tiêu kinh tế vĩ mô của Nhà nước: Chính sách thuế được đặt ra không chỉ nhằm mang lại số thu đơn thuần cho ngân sách mà yêu cầu cao hơn là qua thu góp phần thực hiện chức năng việc kiểm kê, kiểm soát, quản lý hướng dẫn và khuyến khích phát triển sản xuất, mở rộng lưu thông đối với tất cả các thành phần kinh tế theo hướng phát triển của kế hoạch nhà nước, góp phần tích cực vào việc điều chỉnh các mặt mất cân đối lớn trong nền kinh tế quốc dân

• Tái phân phối các nguồn tài chính, góp phần đảm bảo công bằng xã hội: Nhà nước dùng thuế để điều tiết phần chênh lệch giữa người giàu và người nghèo, thông qua việc trợ cấp hoặc cung cấp hàng hoá công cộng Thông qua thuế thu nhập, Nhà nước thực hiện vai trò điều chỉnh vĩ mô trong lĩnh vực tiền lương và thu nhập, hạn chế sự phân hoá giàu nghèo và tiến tới công bằng xã hội Một khía cạnh khác của chính sách thuế nhằm điều chỉnh thu nhập là các khoản thuế đánh vào tiêu dùng: Thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế Giá trị gia tăng Với những hàng hóa dịch vụ thiết yếu việc giảm thuế sẽ có lợi cho người nghèo hơn và sự chênh lệch về thu nhập cũng được giảm bớt Trái lại những mặt hàng xa xỉ, cao cấp việc tăng thuế sẽ góp phần phân phối lại một bộ phận thu nhập của người giàu trong

xã hội Tuy nhiên, khi sử dụng công cụ thuế để điều chỉnh thu nhập, mức thu nên xây dựng hợp lý tránh tình trạng điều tiết quá lớn làm giảm khát vọng làm giàu của nhà kinh doanh và giảm khả năng tăng trưởng kinh tế của đất nước

• Kiềm chế lạm phát: Nguyên nhân của lạm phát có thể do cung cầu làm cho giá cả hàng hoá tăng lên hoặc do chi phí đầu vào tăng Thuế được sử dụng để điều chỉnh lạm phát, ổn định giá cả thị trường Nếu cung nhỏ hơn cầu thì nhà nước dùng thuế để điều chỉnh bằng cách giảm thuế đối với các yếu tố sản xuất, giảm thuế thu nhập để kích thích đầu tư sản xuất ra nhiều khối lượng sản phẩm nhiều hơn Đồng thời tăng thuế đối với

Trang 11

hàng hoá tiêu dùng để giảm bớt cầu Nếu lạm phát do chi phí tăng, gia tăng thất nghiệp,

sự trì trệ của tốc độ phát triển kinh tế, giá cả đầu vào tăng, nhà nước dùng thuế hạn chế tăng chi phí bằng cách cắt giảm thuế đánh vào chi phí, kích thích tăng năng suất lao động

• Kích thích tăng trưởng kinh tế: Để thực hiện các mục tiêu này, một trong những công cụ quan trọng mà nhà nước sử dụng là chính sách thuế Nội dung điều tiết của thuế gồn hai mặt: Kích thích và hạn chế Nhà nước đã sử dụng chính sách thuế một cách linh hoạt trong từng thời kỳ nhất định, bằng việc tác động vào cung-cầu nhằm điều chỉnh chu

kỳ kinh doanh- một đặc trưng vốn có của nền kinh tế thị trường

3 Chi tiêu chính phủ

3.1.Phân loại

*Nhóm chi thường xuyên bao gồm các khoản chi nhằm duy trì hoạt động thường xuyên

của nhà nước;

*Nhóm chi đầu tư phát triển là các khoản chi dài hạn nhằm làm tăng cơ sở vật chất của

đất nước và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế;

*Nhóm chi trả nợ và viện trợ bao gồm các khoản chi để nhà nước thực hiện nghĩa vụ

trả nợ các khoản đã vay trong nước, vay nước ngoài khi đến hạn và các khoản chi làm nghĩa vụ quốc tế;

*Nhóm chi dự trữ là những khoản chi ngân sách nhà nước để bổ sung quỹ dự trữ nhà

nước và quỹ dự trữ tài chính

3.2 Nguyên tắc tổ chức chi ngân sách nhà nước

Trang 12

*Nguyên tắc thứ nhất: gắn chặt các khoản thu để bố trí các khoản chi:nếu vi phạm

nguyên tắc này dẫn đến bội chi nsnn,gây lạm phát mất cân bằng cho sự phát triển xã hội;

*Nguyên tắc thứ hai: đảm bảo yêu cầu kiệm và hiệu quả trong việc bố trí các

khoản chi tiêu của nsnn;

*Nguyên tắc thứ ba: theo nguyên tắc nhà nước và nhân dân cùng làm, nhất là các

khoản chi mang tính chất phúc lợi xã hội;

*Nguyên tắc thứ tư: tập trung có trọng điểm:đòi hỏi việc phân bổ nguồn vốn từ

nsnn phải tập trung vào các chương trình trọng điểm, các ngành mũi nhọn của nn;

*Nguyên tắc thứ năm: phân biệt rõ nhiệm vụ phát triển kinh tế, xã hội của các cấp

theo quy định của luật;

*Nguyên tắc thứ sáu: phối hợp chặt chẽ với khối lượng tiền tệ, lãi suất, tỷ giá hối

đoái

III.Chính sách tài khóa Việt Nam

1 Thực trạng chính sách tài khóa Việt Nam năm 2013 – 2014

a) Những kết quả đạt được năm 2013 – 2014:

Hoàn thành nhiệm vụ thu ngân sách nhà nước vượt dự toán:

Tổng thu ngân sách nhà nước (NSNN) năm 2014 ước đạt 858.053 tỷ đồng, bằng 109,6% dự toán Trong đó, thu nội địa bằng 107,5% dự toán, thu từ dầu thô bằng 117,5%

dự toán, thu cân đối ngân sách từ hoạt động xuất nhập khẩu đạt 112,9% dự toán Hầu hết các địa phương đều thu đạt và vượt dự toán được giao

Ngày đăng: 23/09/2015, 12:32

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1: Tình hình tỉ lệ thuế và phí trong tổng thu ngân sách nhà nước ta trong thời gian - Chính sách tài khóa Việt Năm năm 2014 và kiến nghị cho chính sách tài khóa năm 2015
Bảng 1 Tình hình tỉ lệ thuế và phí trong tổng thu ngân sách nhà nước ta trong thời gian (Trang 9)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w