1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Giải pháp mở rộng hoạt động thanh toán quốc tế theo phương thức tín dụng chứng tù tại Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển Nông thôn chi nhánh Nam Hà Nội

45 435 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Giải pháp mở rộng hoạt động thanh toán quốc tế theo phương thức tín dụng chứng tù tại Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển Nông thôn chi nhánh Nam Hà Nội
Trường học Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển Nông thôn
Thành phố Nam Hà Nội
Định dạng
Số trang 45
Dung lượng 273 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Giải pháp mở rộng hoạt động thanh toán quốc tế theo phương thức tín dụng chứng tù tại Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển Nông thôn chi nhánh Nam Hà Nội

Trang 1

LỜI MỞ ĐẦU

Mỗi khi xã hội phát triển, đến một trình độ nhất định, tự trong bảnthân nó cho ra đời những sản phẩm - những công cụ để phục vụ chínhcho sự phát triển đó Từ khi có sự phân công lao động xã hội, và sựxuất hiện sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất đã tạo ra rất nhiều sảnphẩm, mà một trong những sản phẩm của nó chính là quan hệ tín dụng.Đến lượt nó, khi ra đời sẽ thúc đẩy cho nền kinh tế phát triển lên trình

độ cao hơn Do đó, sự tồn tại của nó như một tất yếu khách quan

Ngày nay, chúng ta biết rằng, khi kinh tế thị trường là sự phát triển củanền kinh tế ở một trình độ cao Trong đó, các chủ thể độc lập với nhau vềtính chất sản xuất kinh doanh, về quyền sở hữu, về sự tuần hoàn và luânchuyển vốn Như vậy trong nền kinh tế có những doanh nghiệp “thừa” vốn

Ví dụ như các doanh nghiệp có tiền bán hàng nhưng không phải trả lương,thuế và các khoản chi khác do đó tạm thời thừa tương đối Trong khi đó cónhững doanh nghiệp thiếu vốn những người thừa vốn sử dụng vốn này đểthu lợi nhuận còn doanh nghiệp thiếu vốn muốn sử dụng phải đi vay để duytrì hoặc tiến hành sản xuất kinh doanh thu lợi nhuận Như vậy hai nhu cầunày đều giống nhau ở chỗ để thu lợi nhuận và mang tính chất tạm thời.Nhưng chúng khác nhau về chiều vận động và quyền sở hữu Do đó trongnền kinh tế tất yếu tồn tại quan hệ tiêu dùng và tín dụng Vì vậy việc nângcao chất lượng tín dụng có ý nghĩa to lớn đến sự thành công của các ngânhàng thương mại trong chiến lược huy động và sử dụng vốn cho đầu tư vàphát triển Nâng cao chất lượng không chỉ là những biện pháp cải thiện chấtlượng mà phải bao gồm những biện pháp mở rộng tín dụng có hiệu quả, cónhư vậy hoạt động kinh doanh của các ngân hàng thương mại mới ngàycàng phát triển, hòa nhập được với xu thế tiên tiến của công nghệ ngânhàng

Trang 2

CHƯƠNG 1 NHỮNG LÝ THUYẾT CHUNG VỀ TÍN DỤNG NGÂN HÀNG

1.1 Khái niệm

Tín dụng là quan hệ vay mượn vốn lẫn nhau dựa trên sự tin tưởng sốvốn đó sẽ được hoàn trả lại trong tương lai cùng với chi phí của khoản tíndụng đó Tín dụng ngân hàng là quan hệ chuyển nhượng vốn giữa ngânhàng với các chủ thể kinh tế khác trong xã hội trong đó ngân hàng đóng vaitrò vừa là người đi vay vừa là người cho vay Vì vậy bản thân tín dụngngân hàng phải làm tốt hai mặt Thứ nhất là đối với người cho ngân hàngvay và thứ hai đối với người mà ngân hàng cho vay Chính thực hiện tốtchức năng này và với nghiệp vụ của riêng mình về việc kinh doanh tiền tệ

mà tín dụng ngân hàng đã trở thành một hình thức tín dụng không thể thiếutrong mọi nền kinh tế

Tín dụng ngân hàng thực chất dây là một hình thức quan hệ tín dụnggián tiếp mà người tiết kiệm thông qua vai trò trung gian của ngân hàngthực hiện đầu tư vốn vào các chủ thể có nhu cầu về vốn Sự xuất hiện củatín dụng ngân hàng trên cơ sở là thu lợi nhuận một hình thức tín dụng sẽkhông xuất hiện nếu nó không được hưởng lợi ích gì từ dịch vụ mà nómang lại Nhưng lợi nhuận của tín dụng ngân hàng mang lại dựa trên sựthoả mãn ngày một tốt hơn nhu cầu khách hàng Thứ nhất là nhu cầu vốnnhàn rỗi của các chủ thể trong nền kinh tế Khi có vốn nhàn rỗi muốn đầu

tư sinh lời và ngân hàng là nơi đầu tư lí tưởng và an toàn, ít gặp rủi ro.Cùng với sự đổi mới trong chiến lược phát triển của hệ thống ngân hàng,khách hàng còn được hưởng lãi theo lãi suất thoả thuận giữa họ và ngânhàng Thứ hai nhu cầu đòi hỏi vốn của các chủ thể thiếu vốn trong nền kinh

tế Họ sẽ không có được nguồn vốn theo thời hạn và khối lượng vốn màmình mong muốn nếu không thông qua tín dụng ngân hàng Chỉ có ngânhàng là người đáp ứng đầy đủ, đồng thời ngân hàng có thể tư vấn, có thểxem xét dự án đầu tư tránh gây thiệt hại cho nền kinh tế Như vậy lợi nhuận

Trang 3

mà ngân hàng thu được dựa trên sự đáp ứng đầy đủ hai mặt đối với người

đi vay và người cho vay Hiện nay nghiệp vụ ngân hàng có nhiều sự phatrộn giữa nghiệp vụ truyền thống và các công ty tài chính Nhưng tín dụngngân hàng vẫn là hình thức tín dụng không thể thiếu trong nền kinh tế Trong lịch sử phát triển của kinh tế hàng hoá, tín dụng ngân hàng đa trảiqua một quá trình phát triển từ đơn giản đến phức tạp về kĩ thuật và nghiệp

vụ, từ phạm vi hẹp đến phạm vi rộng lớn về không gian phù hợp với quátrình phát triển của nền sản xuất hàng hoá ngày càng hoàn thiện

Trong thời kì đầu của lịch sử sản xuất và lưu thông hàng hoá, có một sốngười không trực tiếp sản xuất và lưu thông hàng hoá, mà đứng ra làmtrung gian nối liền giữa sản xuất và lưu thông hàng hoá qua đồng tiền.Chức năng ban đầu của họ là “ nhận giữ hộ tiền của một số thương nhân,đồng thời tiến hành thanh toán các khoản tiền trong giao dịch mua bánhàng hoá” Đương nhiên để làm việc đó họ phải thu về một lượng chi phí( lợi tức ) nhất định từ những đối tác mà họ làm dịch vụ

Nhờ hoạt động trung gian này tạo điều kiện cho sản xuất và lưu thônghàng hoá phát triển thuận lơị Đến lượt nó, sản xuất và lưu thông càng pháttriển thuận lợi, lại càng làm cho những người hoạt động trung gian cũngtích luỹ ngày một nhiều tiền Như vậy, những người này đã trở thànhnhững người “ buôn tiền ” Càng về sau để có thể có lợi nhiều hơn, họcùng tập hợp nhau lại để có nhiều vốn thực hiện các hoạt đông trung giannói trên toàn bộ hoạt động của nó mặc dù còn rất sơ khai về kĩ thuật nhưngdẫu sao đó cũng là mầm mống cuả tín dụng ngân hàng sau này

Trong lịch sử phát triển tín dụng, tín dụng thương mại xuất hiện sớmhơn tín dụng ngân hàng nhưng lại tồn tại và phát triển song song với nhau.điều cần nhấn mạnh ở đây là cả cả hai loại hình tín dụng này chỉ có thể pháttriển thuận lợi khi chúng dựa vào nhau, cùng làm diều kiện “ tiền đề ” chonhau

Trang 4

Tín dụng ngân hàng tuy khác tín dụng thương mại về hình thức, phạm

vi, qui mô và thời gian hoạt động Song giữa chúng có mối liên hệ chặt chẽ,

hỗ trợ và bổ sung cho nhau Tín dụng ngân hàng giúp khắc phục một sốmặt hạn chế của tín dụng thương mại về không gian và địa lí, về quy mô tíndụng thương mại về trường hợp khi đến kì hạn trả tiên nếu vì lí do nào đó

mà người mua chịu không có hoặc không có tiền để trả

Hoạt động tín dụng thương mại thông qua công cụ thương phiếu đã tạo

ra tiền đề cho sự gắn bó giưã tín dụng thương mại và tín dụng ngân hàng

Sự gắn bó này nhờ thông qua việc thực hiện nghiệp vụ chiết khấu thươngphiếu và tái chiết khấu thương phiếu tại ngân hàng, khi các đối tác cóthương phiếu có nhu cầu về tiền của mình Hoạt động tín dụng ngân hàngthông qua cơ chế hoạt động của các tổ chức ín dụng trung gian ở nước ta,ngay từ khi có Pháp lệnh của Hội đồng Nhà nước ban hành ngày 23-5-1990

có quy định các loại ngân hàng và các tổ chức tín dụng được phép hoạtđộng tại Việt Nam, trong đó có ngân hàng thương mại

Ngân hàng thương mại là tổ chức kinh doanh tiền tệ mà hoạt động chủyếu và thường xuyên là tiền gửi của khách hàng với trách nhiệm hoàn trả

và sử dụng số tiền đó để cho vay, thực hiện nhiệm vụ chiết khấu và làmphương tiện thanh toán

Thuộc loại ngân hàng này bao gồm: Ngân hàng thương mại quốc doanh;Ngân hàng thương mại cổ phần; Ngân hàng liên doanh và chi nhánh ngânhàng nước ngoài Ngoài ra còn có ngân hàng đầu tư và phát triển, các trunggian tài chính khác…

Các ngân hàng thương mại, khi cần vốn cũng có thể đem thương phiếu

đã chiết khấu đến ngân hàng trung ương để tái chiết khấu trong phạm viquy định

Như vậy, nghiệp vụ chiết khấu và tái chiết khấu về thực chất là nghiệp

vụ tín dụng ngân hàng, một nghiệp vụ qua đó ngân hàng dành cho kháchhàng được quyền sử dụng đến thời hạn của thương phiếu một khoản tiền

Trang 5

của thương phiếu, sau khi đã khấu trừ khoản lãi phải thu, tức là khoản tiềnchiết khấu.

Sự phát triển các hình thức tín dụng, nhất là tín dung ngân hàng nhiềuthập kỉ qua cho đến nay trên thế giới đã có nhiều thay đổi và phát triển cả

về chiều rộng và chiều sâu Dưới tác động như vu bão của cuộc cách mạngkhoa học-công nghệ; của sự toàn cầu hoá và khu vực hoá thông qua các tổchức tiền tệ quốc tế và khu vực đã được tín dụng ngân hàng phát triển ởtrình độ cao, đặc biệt là việc áp dụng điện toán sự phát triển chiến lược sảnphẩm đa dạng (séc du lịch, cartecredet, leasing, các loại tín phiếu, tráiphiếu…) và các mặt hoạt động marketing ngân hàng

1.2 Phân loại tín dụng ngân hàng

1.2.1 Theo thời hạn tín dụng

Thời gian liên quan mật thiết đến tính an toàn và sinh lợi của tín dụngcũng như khả năng hoàn trả của khách hàng Theo thời gian tín dụng đượcphân thành :

- Tín dụng ngắn hạn: Là loại tín dụng có thời hạn dưới một năm và

được sử dụng để bổ sung sự thiếu hụt tạm thời về vốn lưu động của doanhnghiệp và phục vụ các nhu cầu sinh hoạt của các cá nhân Với loại tín dụngnày, ít có rủi ro cho ngân hàng vì trong thời gian ngắn ít có biến động xảy

ra và nếu có xảy ra thì ngân hàng có thể dự tính được

- Tín dụng trung hạn: Là loại tín dụng có thời hạn từ một năm đến năm

năm và chủ yếu được sử dụng để mua sắm tài sản cố định, cải tiến và đổimới kỹ thuật, mở rộng sản xuất và xây dựng các công trình nhỏ, có thời hạnthu hồi vốn nhanh Loại tín dụng này có mức độ rủi ro không cao vì ngânhàng có khả năng dự đoán được những biến động có thể xảy ra

- Tín dụng dài hạn: Là loại tín dụng có thời hạn trên năm năm, được sử

dụng để cấp vốn cho xây dựng cơ bản, đầu tư xây dựng các xí nghiệp mới,các công trình thuộc cơ sở hạ tầng( đường xá, bến cảng, sân bay ), cải

Trang 6

tiến và mở rộng sản xuất với quy mô lớn Loại tín dụng này có mức độ rủi

ro rất lớn vì trong thời gian dài thì có những biến động xảy ra không lườngtrước được

- Tín dụng không thời hạn: Là loại tín dụng mà thời hạn hoàn trả tiền

vay không được xác định khi ký hợp đồng vay mà thay vào đó là điều kiện

về việc thu hồi khoản tiền cho vay của ngân hàng hoặc việc trả nợ củangười vay Ví dụ ngân hàng không thu gốc theo thời hạn nhất định mà chỉthu lãi; người vay sẽ trả nợ cho Ngân hàng khi nhu cầu vay thêm không cầnthiết nữa do quy mô sản xuất giảm hoặc doanh nghiệp lấy nguồn khác để tự

bổ xung; ngân hàng muốn thu hồi gốc phải báo trước cho người vay Nhưvậy khi quy mô sản xuất của doanh nghiệp tăng lên, doanh nghiệp sẽ đi vaykhông thời hạn (vì hết tiền đầu tư cho chu kỳ sản xuất kinh doanh này lạicần tiếp)

Nghiệp vụ chiết khấu được coi là đơn giản, dựa trên sự tín nhiệm giữangân hàng và những người ký tên trên thương phiếu

Do tối thiểu có hai người cam kết trả tiền cho ngân hàng nên độ an toàncủa thương phiếu tương đối cao ( trừ trường hợp ngân hàng miễn truy đòiđối với khách hàng ) Hơn nữa, ngân hàng thương mại có thể tái chiết khấu

Trang 7

thương phiếu tại ngân hàng nhà nước để đáp ứng nhu cầu thanh khoản vớichi phí thấp vì vậy thương phiếu có thể được coi là loại tài sản có khả năngchuyển nhượng – có tính thanh khoản cao

- Cho vay là việc ngân hàng đưa tiền cho khách hàng với cam kếtkhách hàng phải hoàn trả cả gốc và lãi trong khoảng thời gian xácđịnh

Hiện nay có nhiều hình thức cho vay khác nhau : thấu chi, vay trực tiếpnhiều lần, cho vay theo hạn mức, cho vay luân chuyển, cho vay trả góp,cho vay gián tiếp

● Thấu chi

Là nghiệp vụ cho vay qua đó ngân hàng cho phép người chi vượt trên

số dư tiền gửi thanh toán của mình đến một giới hạn nhất định và trongkhoảng thời gian xác định Giới hạn này được gọi là hạn mức thấu chi.Thấu chi dựa trên cơ sở thu và chi cả khách hàng không phù hợp về thờigian và quy mô Thời gian và số lượng thiếu có thể dự đoán ngân quỹ songkhông chính xác Do vậy, hình thức cho vay thấu chi này tạo điều kiệnthuận lợi cho khách hàng trong quá trình thanh toán

Thấu chi là hình thức tín dụng ngắn hạn, linh hoạt, thủ tục đơn giản,phần lớn không có đảm bảo, có thể cấp cho cả doanh nghiệp và cá nhân.Hình thức này thường chỉ sử dụng với các khách hàng có độ tin cậy cao,thu nhập đều, kỳ thu nhập ngắn

● Cho vay trực tiếp nhiều lần

Là hình thức cho của ngân hàng đối với khách hàng không có nhu cầuvay thường xuyên, không có điều kiện để cấp hạn mức thấu chi Vốn củangân hàng chỉ tham gia vào một số giai đoạn nhất định của chu kỳ sản xuấtkinh doanh

 Cho vay theo hạn mức

Trang 8

Ngân hàng thỏa thuận với khách hàng cấp cho khách hàng hạn mức tíndụng Hạn mức này là số dư tối đa tại thời điểm tính, được cấp trên cơ sở

kế hoạch sản xuất kinh doanh, nhu cầu vốn và nhu cầu vay vốn của kháchhàng

Đây là hình thức cho vay thuận tiện cho những khách hàng vay mượnthường xuyên, vốn vay tham gia thường xuyên vào quá trình sản xuất kinhdoanh

 Cho vay luân chuyển

Cho vay dựa trên luân chuyển hàng hóa Doanh nghiệp khi mua hàng cóthể thiếu vốn Ngân hàng có thể cho vay để mua hàng và sẽ thu nợ khidoanh nghiệp bán hàng

Cho vay luân chuyển thường áp dụng với các doanh nghiệp thươngnghiệp hoặc doanh nghiệp sản xuất có chu kỳ tiêu thụ ngắn ngày, có quan

hệ vay - trả thường xuyên với ngân hàng Tuy nhiên nếu doanh nghiệp gặpkhó khăn trong tiêu thụ thì ngân hàng sẽ gặp khó khăn trong thu hồi vốn dothời hạn của khoản vay không được quy định rõ ràng

 Cho vay trả góp

Ngân hàng cho phép trả gốc làm nhiều lần trong thời hạn tín dụng đãthỏa thuận Cho vay trả góp thường được áp dụng với các khoản vay trung

và dài hạn, tài trợ tài sản cố định hoặc hàng lâu bền

Ngân hàng thường cho vay trả góp đối với người tiêu dùng thông quahạn mức nhất định Đây là hình thức tín dụng tài trợ cho người mua ( qua

đó đến người bán) nhằm thúc đẩy tiêu thụ hàng hóa

Hình thức này rủi ro cao do khả năng trả nợ phụ thuộc vào thu nhập đềuđặn của người vay Chính vì vậy vay trả góp thường có lãi suất cao nhấttrong khung lãi suất cho vay của ngân hàng

 Cho vay gián tiếp

Trang 9

Là hình thức cho vay thông qua các tổ chức trung gian Ngân hàng chovay thông qua các tổ, đội, nhóm,…Các tổ chức này liên kết các thành viêntheo những mục đích khác riêng, song chủ yếu đều hỗ trợ lẫn nhau, bảo vệquyền lợi cho các thành viên

Ngân hàng có thể chuyển một vài khâu của hoạt động cho vay sang các

tổ chức trung gian như phát tiền vay, thu nợ,…Tổ chức trung gian cũng cóthể đứng ra tín chấp cho các thành viên vay hoặc các thành viên trongnhóm bảo lãnh cho một thành viên vay Điều này rất thuận tiện khi ngườivay không có đủ hoặc không có tài sản thế chấp Để bù đắp một phần chiphí của trung gian, ngân hàng trích một phần thu nhập để lại cho trunggian Bên cạnh đó, ngân hàng cũng có thể cho vay thông qua người bán lẻcác sản phẩm đầu vào của quá trình sản xuất Việc cho vay theo cách nàyhạn chế người vay sử dụng tiền sai mục đích

Cho vay gián tiếp thường được áp dụng đối với thị trường có nhiều mónvay nhỏ, người vay phân tán, cách xa ngân hàng Trong trường hợp nhưvậy thì cho vay qua trung gian có thể tiết kiệm chi phí cho vay ( phân tích,giám sát, thu nợ )

Cho vay qua trung gian nhằm giảm bớt chi phí cho ngân hàng nhưngkhông ít trường hợp trung gian đã lợi dụng vị thế của mình và nếu ngânhàng không kiểm soát tốt sẽ tăng lãi suất để cho vay lại, hoặc giữ lấy sốtiền của các thành viên khác cho riêng mình Các nhà bán lẻ có thể lợi dụng

để bán hàng kém chất lượng hoặc với giá đắt cho người vay vốn

- Bảo lãnh là việc ngân hàng cam kết thực hiện các nghĩa vụ tài chính hộkhách hàng của mình Mặc dù không phải xuất tiền ra song ngân hàng đãcho khách hàng sử dụng uy tín của mình

- Bảo lãnh của ngân hàng là cam kết của ngân hàng dưới hình thức thưbảo lãnh về việc thực hiện nghĩa vụ tài chính thay cho khách hàng của ngânhàng khi khách hàng không thực hiện đúng nghĩa vụ như cam kết

Trang 10

Bảo lãnh thường có 3 bên : Bên hưởng bảo lãnh, bên được bảo lãnh, vàbên bảo lãnh Bảo lãnh ngân hàng có nghĩa ngân hàng là bên bảo lãnh,khách hàng của ngân hàng là người được bảo lãnh, còn người được bảolãnh là bên thứ 3

* Phân chia bảo lãnh theo mục tiêu làm 5 loại

● Bảo lãnh đảm bảo tham gia dự thầu

Là cam kết của ngân hàng với chủ đầu tư ( hay chủ thầu ) về việc trảtiền phạt thay cho bên dự thầu nếu bên dự thầu vi phạm các quy định tronghợp đồng dự thầu

● Bảo lãnh thực hiện hợp đồng

Là cam kết của ngân hàng về việc chi trả tổn thất hộ khách hàng nếukhách hàng không thực hiện đầy đủ hợp đồng như cam kết, gây tổn thấtcho bên thứ ba

● Bảo lãnh đảm bảo hoàn trả tiền ứng trước

Là cam kết của ngân hàng về việc sẽ hoàn trả tiền ứng trước cho bênmua ( người hưởng bảo lãnh ) nếu bên cung cấp ( người được bảo lãnh)không trả

● Bảo lãnh đảm bảo hoàn trả vốn vay ( bảo lãnh vay vốn )

Là cam kết của ngân hàng đối với người cho vay ( tổ chức tín dụng,các cá nhân,…) về việc sẽ trả gốc và lãi đúng hạn nếu khách hàng ( người

đi vay ) không trả được

● Bảo lãnh đảm bảo thanh toán

Là cam kết của ngân hàng về việc sẽ thanh toán tiền theo đúng hợpđồng thanh toán cho người thụ hưởng nếu khách hàng của ngân hàngkhông thanh toán đủ

* Như vậy bảo lãnh ngân hàng có bản chất và ý nghĩa :

Trang 11

Bảo lãnh là một hình thức tài trợ của ngân hàng cho khách hàng, qua

đó có thể tìm nguồn tài trợ mới, mua được hàng hóa hoặc thực hiện đượccác hoạt động sản xuất kinh doanh nhằm thu lợi

Bảo lãnh là hình thức tài trợ thong qua uy tín Ngân hàng không phảixuất tiền ngay từ khi bảo lãnh, do vậy, bảo lãnh được coi như tài sản ngoạibảng Tuy nhiên, khách hàng không thực hiện được cam kết, ngân hàngphải thực hiện nghĩa vụ chi trả cho bên thứ ba Khoản chi trả này được xếpvào loại tài sản “xấu” trong nội bảng, cấu thành nợ quá hạn Chính vì vậy,bảo lãnh chứa đựng các rủi ro như một khoản cho vay và đòi hỏi ngân hàngphân tích khách hàng như khi cho vay

Bảo lãnh của ngân hàng tạo mối lien kết trách nhiệm tài chính và san

sẻ rủi ro Trách nhiệm tài chính trước hết thuộc về khách hàng, trách nhiệmcủa ngân hàng là thứ cấp khi khách hàng không thực hiện nghĩa vụ với bênthứ ba Do mối lien hệ giữa ngân hàng và khách hàng có khả năng ràngbuộc khách hàng phải thực hiện các cam kết Bảo lãnh cũng góp phẩn giảmbớt thiệt hại tài chính cho bên thứ ba khi tổn thất xảy ra

Ngân hàng cố gắng tìm kiếm các khoản thu từ bảo lãnh nhằm bù đắp chiphí Ngoài phí, ngân hàng có thể yêu cầu khách hàng phải kí quỹ, tạonguồn tiền thanh toán cho ngân hàng với mức lãi suất rất thấp Bảo lãnhcũng góp phần mở rồng các dịch vụ khác như kinh doanh ngoại tệ, tư vấn,thanh toán,…

- Cho thuê là việc ngân hàng bỏ tiền mua tài sản để cho khách hàngthuê theo thỏa thuận nhất định Sau thời gian nhất định, khách hàng phải trảcho ngân hàng cả gốc và lãi

Cho thuê của ngân hàng thường là hình thức tín dụng trung và dài hạn.Ngân hàng mua tài sản cho khách hàng thuê với thời hạn sao cho ngânhàng thu gần đủ ( hoặc thu đủ ) giá trị của tài sản cho thuê cộng lãi ( thờihạn khoảng 80% - 90% đời sống kinh tế của tài sản ) Hết hạn thuê, kháchhàng có thể mua lại tài sản đó

Trang 12

Cho thuê giống như một khoản cho vay thông thường chỗ ngân hàngphải xuất tiền với kỳ vọng thu về cả gốc lẫn lãi sau một thời gian nhất định,khách hàng phải trả gốc và lãi dưới hình thức tiền thuê hàng kì Ngân hàngcũng phải đối đầu với rủi ro khi khách hàng kinh doanh không có hiệu quảkhông trả được tiền thuê đầy đủ và đúng hạn Tuy nhiên, cho thuê có nhiềuđiểm khác biệt so với cho vay như tài sản cho thuê vẫn thuộc quyền sở hữucủa ngân hàng ( vì vậy không ghi vào bảng cân đối của người cho vay,không làm tăng cơ cấu nợ của người vay ), ngân hàng có quyền thu hồi nếuthấy người thuê không thực hiện đúng hợp đồng, đồng thời ngân hàng cũngphải có trách nhiệm cung cấp đúng loại tài sản cần cho khách hàng và phảiđảm bảo về chất lượng Cho thuê không có tài sản đảm bảo, nhiều tài sảnthuê mang tính đặc chủng, khó bán, khi thu hồi chi phí tháo dỡ cao,…nêncho thuê rủi ro rất cao đối với ngân hàng.

Ngân hàng có thể lập phòng cho thuê hoặc công ty cho thuê thực hiện

và quản lý hoạt động cho thuê

1.2.3 Theo đối tượng đầu tư

Căn cứ vào tiêu thức này, người ta chia tín dụng ra làm hai loại:

- Cho vay để đáp ứng yêu cầu về tài sản lưu động: Là loại tín dụngđược sử dụng được sử dụng để bù đắp vốn lưu động thiếu hụt tạm thời.Đây là loại tín dụng được sử dụng để bù đắp vốn lưu động thiếu hụt tạmthời Đây là loại tín dụng có mức độ rủi ro thấp vì vốn lưu động của doanhnghiệp là vốn luân chuyển trong chu kỳ sản xuất kinh doanh nên ngân hàng

có thể theo dõi thường xuyên và nếu có biến đọng xảy ra thì kịp thời thuhồi vốn

- Cho vay để đáp ứng yêu cầu về tài sản cố định : Là loại tín dụngđược sử dụng để đầu tư mua sắm tài sản cố định, cải tiến và đối mới kỹthuật, mở rộng sản xuất, xây dựng các xí nghiệp và các công trình mới.Hình thức này thường có mức độ rủi ro cao vì khả năng thu hồi vốn chậmhơn

Trang 13

1.2.4 Theo hình thức đảm bảo

Căn cứ vào tiêu thức này, tín dụng được chia thành hai loại :

- Tín dụng có bảo đảm: Là loại tín dụng dựa trên cơ sở các bảođảm như thế chấp, cầm cố, hoặc có sự bảo lãnh của người thứ ba Ngânhàng nắm giữ tài sản của người vay để xử lý thu hồi nợ khi người vaykhông thực hiện được các nghĩa vụ đã được cam kết trong hợp đồng tíndụng Hình thức này được áp dụng đối với những khách hàng không có uytín cao với ngân hàng Mặc dù là có tài sản đảm bảo nhưng hình thức tíndụng này vẫn có độ rủi ro cao vì tài sản có thể bị mất giá hay người bảolãnh không thực hiện nghĩa vụ của mình

- Tín dụng không có bảo đảm : Là loại tín dụng không có tài sảnthế chấp, cầm cố, hoặc không có sự bảo lãnh của người thứ ba Việc cấp tíndụng chỉ dựa vào uy tín của bản than khách hàng Muốn vậy, ngân hàngphải đánh giá hiệu quả sử dụng tiền vay của người vay, khách hàng khôngđược phép giao dịch với bất kỳ ngân hàng nào khác Mặc dù không có tàisản đảm bảo nhưng đây là một loại tín dụng ít rủi ro cho ngân hàng vìkhách hàng có uy tín rất lớn và khả năng trả nợ rất cao thì mới được cấp tíndụng mà không cần đảm bảo

1.2.5 Theo xuất xứ tín dụng

Theo xuất xứ tín dụng phân chia thành hai loại :

- Cho vay trực tiếp : Ngân hàng cấp vốn trực tiếp khách hàng, đồngthời người đi vay trực tiếp hoàn trả món nợ vay cho ngân hàng

- Cho vay gián tiếp : Là khoản vay được thực hiện thông qua việcmua lại các khế ước hay chứng từ nợ đã phát sinh còn trong thời hạn thanhtoán như : chứng khoán, thương phiếu, giấy chứng nhận nợ

Trang 14

1.3 Đặc điểm của tín dụng ngân hàng

1.4.1 Nguyên tắc: Hoàn trả vốn và lãi đúng hạn

Khách hàng phải cam kết hoàn trẩ vốn (gốc) và lãi với thời gian xácđịnh Các khoản tín dụng ngân hàng chủ yếu có nguồn gốc tứ các khoảntiền gửi của khách hàng và các khoản ngân hàng vay mượn Ngân hàngphải có trách nhiệm hoàn trả cả gốc và lãi như đã cam kết Do vậy, ngân

Trang 15

hàng luôn yêu cầu người nhận tín dụng phải thực hiện đúng cam kết này.Đây là điều kiện để ngân hàng tồn tài và phát triển.

Ngoài ra một số khoản tài trợ ngân hàng không thu lãi ( ví dụ tín dụng

ưu đãi) Tuy nhiên đó chỉ phản ánh chính sách ưu đãi của ngân hàng đốivới khách hàng riêng biệt, không phản ánh bản chất của hoạt động tín dụng

1.4.2 Nguyên tắc : Sử dụng đúng mục đích và có hiệu quả

Khách hàng phải cam kết sử dụng tín dụng theo đúng mục đích đượcthỏa thuận với ngân hàng, không tráu với các quy định của pháp luật và cácquy định khác của ngân hàng cấp trên Bên cạnh đó mỗi ngân hàng có thể

có mục đích và phạm vi hoạt động riêng Mục đích tài trợ được ghi tronghợp đồng tín dụng đảm bảo ngân hàng không tài trợ cho các hoạt động tráipháp luật và việc tài trợ đó là phù hợp với cương lĩnh của ngân hàng

1.5 Vai trò của tín dụng ngân hàng

1.5.1 Đối với nền kinh tế

Trong nền kinh tế thị trường, các quan hệ kinh tế vận động theo cácquy luật khách quan như: Quy luật giá trị, quy luật cung- cầu, quy luật cạnhtranh Các doanh nghiệp để có thể đứng vững trên thương trường thì cầnphải có vốn để đầu tư và tín dụng ngân hàng là một trong những nguồn vốntối ưu để doanh nghiệp có thể khai thác Các doanh nghiệp phát triển cũng

Trang 16

có nghĩa là nền kinh tế phát triển Như vậy, tín dụng ngân hàng là đòn bẩymạnh mẽ thúc đẩy sự tăng trưởng kinh tế và góp phần điều hành nền kinh

tế thị trường Vai trò của tín dụng ngân hàng được thể hiện trên các khíacạnh sau:

- Thứ nhất: Tín dụng ngân hàng làm tăng hiệu quả kinh tế, góp phần

phát triển kinh tế

Các doanh nghiệp hoạt động sản xuất kinh doanh dựa trên vốn chủ sởhữu và vốn vay Một trong những nguồn để vay là từ ngân hàng, đó lànguồn tài trợ hiệu quả bởi vì nó thoả mãn nhu cầu vốn về số lượng và thờihạn Hơn nữa, để có thể vay vốn được từ ngân hàng thì các doanh nghiệpcần phải nâng cao uy tín của mình đối với ngân hàng, đảm bảo được cácnguyên tắc tín dụng Muốn vậy, trong các dự án kinh doanh của mình,doanh nghiệp phải chọ dự án có mức sinh lãi cao nhất Để các dự án khảthi, doanh nghiệp phải tìm hiểu thị trường khai thác thông tin để định lượnghoạt động kinh doanh của mình sao cho có hiệu quả Điều đó làm tăng hiệuquả kinh tế của dự án, phương án

Mặt khác, một trong những quy định tín dụng của ngân hàng là khâugiám sát sử dụng vốn vay Với việc giám sát này của ngân hàng, bắt buộcdoanh nghiệp phải sử dụng vốn vay đúng mục đích, phải nhạy bén vớinhững thay đổi của thị trường, từ đó góp phần nâng cao hiệu quả kinh tế.Bên cạnh đó, vai trò tư vấn của cán bộ tín dụng sẽ giúp cho doanh nghiệplường trước được những khó khăn, vượt qua khó khăn để đứng vững, điềunày cũng góp phần nâng cao hiệu quả kinh tế

Tín dụng ngân hàng góp phần vào quá trình vận động liên tục củanguồn vốn, làm tăng tốc độ chu chuyển tiền tệ trong nền kinh tế tạo cơ chếphân phối vốn một cách có hiệu quả Do đặc điểm tuần hoàn vốn nên trongquá trình sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp luôn có sự không ănkhớp về thời gian và khối lượng giữa lượng tiền cần thiết để dự trữ vật tưhàng hoá cho quá trình sản xuất kinh doanh trước đó Vì vậy, luân chuyển

Trang 17

tiền tệ của doanh nghiệp có lúc thừa, có lúc thiếu vốn Nguồn vốn doanhnghiệp tạm thời nhàn rỗi cùng với các nguồn tiết kiệm từ dân cư, nguồn kết

dư từ ngân sách được ngân hàng thương mại huy động và sử dụng để đầu

tư cho các doanh nghiệp đang tạm thời thiếu vốn, cho nhu cầu tiêu dùngtạm thời vượt quá thu nhập của dân chúng, cũng như cho nhu cầu chi củangân sách nhà nước khi chưa có nguồn thu

Thông qua cơ chế sàng lọc, giám sát Ngân hàng thương mại sẽ chỉ chovay các dự án có tính khả thi cao, khả năng thu hồi vốn lớn Điều này tạonên một cơ chế phân phối vốn hiệu quả

- Thứ hai: Tín dụng ngân hàng góp phần ổn định tiền tệ và ổn định giá cảMột trong những đặc điểm quan trọng của ngân hàng thương mại làkhả năng tạo tiền thông qua hoạt động tín dụng và thanh toán Khi nhànước muốn tăng khối lượng tiền cung ứng thì Ngân hàng nhà nước có thểtăng hạn mức tín dụng của các ngân hàng thương mại đối với nền kinh tế

và ngược lại Do vậy thông qua hình thức tín dụng ngân hàng nhà nước cóthể kiểm soát được khối lượng tiền cung ứng trong lưu thông

- Thứ ba: Tín dụng ngân hàng góp phần thúc đẩy mối quan hệ kinh

tế đối ngoại và giao lưu kinh tế quốc tế

Trước xu thế quốc tế hoá, sự giao lưu kinh tế giữa các nước luôn đượcđặt ra Trong nền kinh tế mở thì các doanh nghiệp không chỉ có quan hệ muabán với các thành phần khác trong nền kinh tế mà còn có những quan hệ xuấtnhập khẩu với các doanh nghiệp nước ngoài Ngân hàng thương mại có thểthúc đẩy mối quan hệ này thông qua hình thức bảo lãnh, cho vay đối với cácdoanh nghiệp để từ đó nâng cao uy tín của doanh nghiệp trên trường quốc tế.Ngân hàng với tư cách là một tổ chức kinh tế đắc thù về kinh doanh tiền tệqua hoạt động tín dụng sẽ cung cấp vốn cho các nhà đầu tư kinh doanh xuấtnhập khẩu, kinh doanh du lịch và dịch vụ thu ngoại tệ Ngân hàng thôngqua các hoạt động thu đổi ngoại tệ thông qua các quỹ tiền tệ thế giới và khu

Trang 18

vực tạo điều kiện thuận lợi cho việc huy động vốn nước ngoài dưới nhiềuhình thức góp phần vào sự tăng trưởng kinh tế nước ta.

Như vậy, tín dụng Ngân hàng có vai trò quan trọng đối với sự pháttriển kinh tế xã hội của một đất nước, nó thúc đẩy nền kinh tế tăng trưởng

và phát triển

1.5.2 Đối với khách hàng:

Tín dụng phát ra phải được sử dụng đúng mục đích, đáp ứng được nhucầu sản xuất kinh doanh, phục vụ cho đời sống của khách hàng với lãi suấthợp lý, hồ sơ thủ tục đơn giản theo đúng quy định của pháp luật Mặt khác,khách hàng sử dụng vốn vay có trách nhiệm thanh toán đẩy đủ vốn gốc vàlãi cho Ngân hàng đúng kỳ hạn theo thoả thuận trong hợp đồng tín dụng.Việc sử dụng vố đó không những có hiệu quả, mang lai lợi nhuận cao chokhách hàng mà còn mang lại lợi ích về kinh tế cho đất nước góp phần làmtăng tổng doanh thu

1.5.3 Đối với ngân hàng:

Phạm vi mức độ giới hạn tín dụng phải phù hợp với thực lựccủa bản thân ngân hàng, vừa đảm bảo được tính cạnh tranh trên thị trườngvới nguyên tắc hoàn trả đúng hạn thu được tiền vay, vừa đảm bảo an toàntrong hoạt động của Ngân hàng nhằm thực hiện các mục tiêu về kinh tế xãhội góp phần hỗ trợ thúc đẩy các doanh nghiệp phát triển dựa trên nguyêntắc sử dụng vốn

1.6 Chức năng tín dụng ngân hàng

1.6.1 Tập trung và phân phối lại tài nguyên vốn theo nguyên tắc có hoàn trả

Các ngân hang thương mại thực hiện huy động vốn và cho vay trênnguyên tắc có hoàn trả Đối với tín dụng ngân hang, chức năng này baogồm hai loại nghiệp vụ được tách rời ra : Huy động vốn tạm thời nhàn rỗi

và cho vay đối với những nhu cầu đang thiếu vốn tạm thời Đó là đặc điểm

mà nhiều loại tín dụng khác không có

Trang 19

1.6.2 Chức năng phản ánh và kiểm soát hoạt động kinh tế

Khả năng kiểm soát các hoạt động kinh tế của tín dụng ngân hang làrộng lớn hơn so với các hình thức tín dụng khác Bởi vì, bên cạnh quan hệtín dụng với các doanh nghiệp và cá nhân, ngân hang còn có quan hệ vớitiền tệ, thanh toán với khách hang Các mỗi quan hệ này bổ sung cho nhautạo điều kiện cho ngân hang kiểm soát các doanh nghiệp dễ dàng hơn trongquan hệ tín dụng so với các doanh nghiệp khác Tín dụng ngân hang cũng

để nhà nước kiểm soát các hoạt động kinh tế xã hội

1.7 Rủi ro tín dụng

1.7.1 Khái niệm rủi ro tín dụng

Rủi ro tín dụng là khả năng xảy ra những tổn thất ngoài dự kiến chongân hàng do khách hàng vay không trả đúng hạn, không trả, hoặc khôngtrả đầy đủ vốn và lãi Khi thực hiện cho vay một khách hàng cụ thể, ngânhàng không dự kiến là khoản cho vay đó sẽ bị tổn thất Tuy nhiên nhữngkhoản cho vay đó luôn hàm chứa rủi ro Một số ý kiến cho rằng trên quanđiểm quản lý toàn bộ ngân hàng, tỷ lệ tổn thất dự kiến đối với hoạt động tíndụng luôn được xác định trước trong chiến lược hoạt động chung Do vậy,khi tổn thất dưới mức tỷ lệ tổn thất dự kiến, ngân hàng coi đó là một thànhcông trong quản lý

Rủi ro tín dụng gắn liền với hoạt động quan trọng nhất, có qui mô lớnnhất của ngân hàng thương mại – hoạt động tín dụng Khi thực hiện mộthoạt động tài trợ cụ thể, ngân hàng cố gắng phân tích các yếu tố của ngườivay sao cho độ an toàn là cao nhất Và nhìn chung ngân hàng chỉ quyếtđịnh cho vay khi thấy an toàn Tuy nhiên, không một nhà kinh doanh ngânhàng tài ba nào có thể dự đoán chính xác các vấn đề sẽ xảy ra Khả nănghoàn trả tiền vay của khách hàng có thể bị thay đổi do nhiều nguyên nhân.Hơn nữa, nhiều cán bộ ngân hàng không có khả năng thực hiện phân tíchtín dụng thích đáng Do vậy, trên quan điểm quản lý toàn bộ ngân hàng, rủi

ro tín dụng là không thể tránh khỏi, là khách quan Nhiều quan điểm nhất

Trang 20

trớ rằng , rủi ro tớn dụng là bạn đường trong kinh doanh, cú thể đề phũng,hạn chế, chứ khụng thể loại trừ Do vậy rủi ro tớn dụng dự kiến luụn đượcxỏc định trước trong chiến lược hoạt động chung của ngõn hàng

1.7.2 Cỏc loại rủi ro tớn dụng

Rủi ro tớn dụng cú thể xảy ra ở 4 trường hợp đối với nợ lói và nợ gốc

Đú là việc khụng thu được lói đỳng hạn hoặc khụng thu đủ lói ,khụng thuđược vốn đỳng hạn hoặc khụng thu đủ vốn Tuỳ trường hợp mà ngõn hànghạch toỏn vào cỏc khoản mục theo dừi khỏc nhau như lói treo hoặc nợ qỳahạn Khi khụng thu được lói đỳng hạn ,nguy cơ rủi ro đang ở mức thấp vàchỉ đưa vào mục lói treo phỏt sinh Nếu ngõn hàng khụng thể thu đủ lói thỡ

sẽ cú khoản mục lói treo đúng băng,trừ những trường hợp ngõn hàng miễngiảm lói đú cho doanh ngiệp Cũn khi khụng thu được vốn đỳng hạn, ngõnhàng sẽ cú khoản nợ quỏ hạn phỏt sinh Tuy nhiờn ,khoản này vẫn chưa thểcoi là khoản mất mỏt hoàn toàn của ngõn hàng vỡ cú thể vỡ lý do nào đúdoanh nghiệp chậm trả nợ gốc và sẽ trả sau hạn cam kết trong hợp đồng

Lãi treo

phát sinh Nợ quá hạn phát sinh 1 Lãi treo đóng băng

2 Miễn giảm lãi

1 Nợ không

có khả năng thu hồi

Trang 21

Nếu như khoản này ngân hàng không thể thu hồi được(do doanh nghiệp bịphá sản cẳng hạn) thì lúc này ngân hàng coi như gặp rủi ro tín dụng ở mức

độ cao vì đã phát sinh khoản nợ không có khả năng thu hồi ,trừ nhữngtrường hợp đặc biệt ,doanh nghiệp vay vốn hội tụ đủ các điều kiện theo quyđịnh về xoá nợ thì ngân hàng có thể xem xét để xoá nợ cho doanh nghiệp

Rủi ro tín dụng tồn tại dưới nhiều hình thức ,các hình thức đóluôn chuyển biến cho nhau,mà mức độ cuối cùng là nợ không có khả năngthu hồi Khi nghiên cứu về rủi ro tín dụng người ta thường chú trọng vàocác nguy cơ xảy ra rủi ro như lãi treo và đặc biệt là nợ phát sinh ,còn lãitreo đóng băng và nợ quá hạn không có khả năng thu hồi được coi là cáctình huống rủi ro thực sự nên thường được xem xét để giải quyết hậu quả

và rút ra bài học

1.7.3 Tác động

* Đối với bản thân ngân hàng:

Rủi ro xảy ra có ảnh hưởng trực tiếp đến kinh doanh của ngân hàng,ảnh hưởng đến nguồn thu nhập , lợi nhuận ngân hàng, thậm chí ngân hàngphải lấy vốn tự có của mình để bù đắp các khoản thiếu hụt do rủi ro gây ra,lúc đó khả năng thanh toán của ngân hàng kém đi và lòng tin của kháchhàng không còn nữa, người gửi tiền muốn rút tiền đề tránh rủi ro cho chínhbản thân họ và người vay không muốn vay ở đó nữa, họ chuyển sang ngânhàng khác Vì vậy, khi rủi ro ở mức nhỏ, ngân hàng có thể bù đắp bằng lợinhuận kinh doanh hoặc bị lỗ, nhưng rủi ro ở mức độ nghiêm trọng, nguồnvốn tự có của ngân hàng không đủ để bù đắp thiệt hại, tất yếu sẽ dẫn ngânhàng đến bờ vục của sự phá sản Như vậy rủi ro có thể làm đảo lộn thànhquả hoạt động nhiều năm, thậm chí trở thành vấn đề sống còn của ngânhàng

* Đối với nền kinh tế : ới nền kinh tế : ền kinh tế : i v i n n kinh t : ế :

Ngân hàng hoạt động trong lĩnh vực kinh doanh tiền tệ tín dụng với tưcách là trung gian của đời sống kinh tế , nó có quan hệ trực tiếp và thườngxuyên với các tổ chức kinh tế , vì vậy kinh doanh ngân hàng gặp phải rủi ro

Trang 22

tất yếu sẽ gây ra những ảnh hưởng đối với nền kinh tế và đời sống kinh tế

xã hội Rủi ro làm cho lợi nhuận ngân hàng giảm, từ đó ngân hàng không

có khả năng đáp ứng nhu cầu về vốn cho khách hàng và chi trả chậm đốivới người cho vay Vì vậy, xét trong nền kinh tế, rủi ro làm cho sản xuất bịđình trệ, các doanh nghiệp phải đóng cửa, hàng hoá không đủ đáp ứng nhucầu của thị trường, tới một chừng mực nào đó làm giá cả hàng háo tăng vọt,

đó chính là một trong những nguyên nhân của lạm phát Mặt khác, cácngân hàng thường lập một hệ thống chặt chẽ có mối liên hệ với nhau, khimột ngân hàng gặp phải rủi ro có nguy cơ dẫn đến phá sản dễ dàng kéotheo tình trạng khủng hoảng của cả hệ thống ngân hàng, gây mất ổn địnhtrên thị trường tiền tệ Đặc biệt trong điều kiện nền kinh tế phát triển, mọihoạt động thanh toán giao dịch của khách hàng đều được thực hiện quangân hàng, các doanh nghiệp sông chủ yếu nhờ vốn ngân hàng, nên khingân hàng gặp rủi ro lớn có thể gây chậm trễ trong công tác thanh toán củakhách hàng, làm cản trở trực tiếp quá trình chu chuỷen vốn , tất yếu làmgiảm lợi nhuận kinh doanh của doanh nghiệp

* Đối với khách hàng :

Nếu rủi ro xảy ra từ phía ngân hàng, khách hàng có thể mất vốn dẫnđến khó khăn trong sản xuất kinh doanh

Mặt khác nếu rủi ro xảy ra đối với chính khách hàng, các khoản nợ của

họ sẽ trở thành các khoản nợ khó đòi, gây khó khăn và ảnh hưởng đến quan

hệ của họ đối với ngân hàng Khi đó khách hàng cần vốn họ buộc phảiquan hệ với các ngân hàng khác và phải chịu một khoảng thời gian tìm hiểugây trì hoãn cho quá trình sản xuất Đông thời, nếu rủi ro lớn, chính họ sẽ

bị phá sản

1.7.4 Các chỉ số đánh giá ( Chỉ tiêu phản ánh rủi ro tín dụng )

Rủi ro tín dụng là khách quan song ngân hàng phải quản lý rủi rotín dụng nhằm hạn chế đến mức thấp nhất các tổn thất có thể xảy ra Từ

Ngày đăng: 17/04/2013, 16:18

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

  • Đang cập nhật ...

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w