Bảo Thắng là vùng bảo tồn được nhiều loại hình văn hóa dân gian và nếp sống của cộng đồng có tính chất tộc người.. Đó là cuộc sống gần cuộc sống gần gũi của đồng bào Dao với thiên nhiên
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA LỊCH SỬ
-TRƯƠNG THỊ THU TRANG
TRANG PHỤC CỦA NGƯỜI DAO TUYỂN
Ở HUYỆN BẢO THẮNG, TỈNH LÀO CAI
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Chuyên ngành : Lịch sử văn hóa Người hướng dẫn khoa học: Th.s Nguyễn Thị Tuyết Nhung
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Đầu tiên tôi xin được cảm ơn các thầy cô khoa Lịch sử trường Đại Học Sư Phạm Hà Nội 2 những người đã trao truyền cho tôi kiến thức và niềm say mê từ trong giảng đường Đại Học để tôi nghiên cứu trong lĩnh vực này
Để hoàn thành khóa luận này, tôi xin trân trọng cảm ơn các thầy cô khoa Lịch sử trường Đại Học Sư Phạm Hà Nội 2 đã giúp đỡ tôi tận tình trong suốt khóa học Đặc biệt tôi cảm ơn sâu sắc sự chỉ bảo của Thạc Sĩ Nguyễn Thị Tuyết Nhung – cô hướng dẫn trực tiếp tôi thực hiện khóa luận này
Tôi xin cảm ơn chân thành về sự giúp đỡ quý báu của Phòng văn hóa-thông tin huyện Bảo Thắng đã cung cấp tư liệu, tạo điều kiện thuận lợi cho tôi tìm hiểu và nhân dân trong xã đóng góp cung cấp tư liệu, nhiều
ý kiến quý báu để hoàn thiện khóa luận
Mặc dù có nhiều cố gắng tinh thần trách nhiệm cao, nhưng vì khó khăn về tư liệu lịch sử, thời gian lịch sử dài …nên khóa luận không tránh khỏi thiếu sót Kính mong nhận được ý kiến đóng góp của quý thầy cô, bạn bè và đồng nghiệp
Hà Nội, ngày tháng năm 2015
Tác giả khóa luận
TRƯƠNG THỊ THU TRANG
Trang 3Mục Lục
Phần mở đầu:……….1
1 Lí do chọn đề tài………1
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề……….3
3 Mục đích nghiên cứu……….4
4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu……….4
5 Phương pháp nghiên cứu, nguồn tư liệu………5
6 Đóng góp của đề tài:……… 5
7 Bố cục của đề tài:……… 6
CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT CHUNG NGƯỜI DAO TUYỂN Ở BẢO THẮNG, TỈNH LÀO CAI……… 7
1.1 Vị trí địa lí và điều kiện tự nhiên ở huyện Bảo Thắng……… 7
1.1.1 Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên ở huyện Bảo Thắng……… 7
1.1.2 Điều kiện kinh tế- xã hội………9
1.2 Người Dao Tuyển ở huyện Bảo Thắng – Lào Cai……….11
1.2.1 Tên gọi, dân số và sự phân bố……… 11
1.2.2 Lịch sử cư trú………13
1.2.3 Hoạt động kinh tế……… 15
1.2.4 Tổ chức xã hội……… 17
1.2.5.Các trưng văn hóa……… 20
Tiểu kết chương 1……… 32
CHƯƠNG 2: TRANG PHỤC TRUYỀN THỐNG CỦA NGƯỜI DAO TUYỂN VÀ BIẾN ĐỔI CỦA TRANG PHỤC………33
2.1 Quy trình làm ra trang phục……… 33
2.1.1 Nguyên liệu tạo ra vải……… 33
2.1.2 Quy trình tạo ra vải……… 35
Trang 42.1.3 Chế biến cao chàm và nhuộm vải………37
2.1.4 Kỹ thuật thêu, dệt……… 38
2.2 Các kiểu trang phục truyền thống của người Dao Tuyển……… 40
2.2.1.Các kiểu trang phục thường ngày……… 40
2.2.1.1 Y phục và trang sức nữ………40
2.2.1.2 Y phục và trang sức nam……….44
2.2.1.3 Y phục trẻ em……… 44
2.3 Lễ phục……….45
2.3.1 Trang phục cô dâu………45
2.3.2 Trang phụ thầy cúng………49
2.4 Trang phục tang lễ……… 55
2.5 Giá trị trang phục của người Dao Tuyển……… 52
2.6 Sự biến đổi trang phục của người Dao Tuyển ở huyện Bảo Thắng… 55
2.6.1 Biểu hiện của sự biến đổi………55
2.6.2 Những nhân tố dẫn đến sự biến đổi………56
2.7 Vấn đề bảo tồn và thách thức đặt ra cho trang phục truyền thống của người Dao Tuyển………58
2.7.1 Một số vấn đề đặt ra hiện nay đối với việc bảo tồn trang phục truyền thống………58
2.7.2 Một số kiến nghị về giải pháp……… 59
Trang 52.7.3 Thách thức đặt ra cho việc bảo tồn trang phục truyền thống của người
Dao Tuyển 60
Tiểu kết chương 2:……… 66
KẾT LUẬN………68
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO……….71
PHỤ LỤC………72
Trang 6Mở Đầu
1 Lí do chọn đề tài
Việt Nam là một quốc gia đa dân tộc với một nền văn hóa đa dạng trong thống nhất Văn hóa là dòng chảy xuyên suốt quá khứ, hiện tại và tương lai của một dân tộc Trải qua hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước, mỗi dân tộc đã tạo dựng cho mình một lâu đài văn hóa đồ sộ, một truyền thống văn hóa riêng để phân biệt với các dân tộc khác Những giá trị văn hóa đó tạo nên bản sắc văn hóa tộc người, làm thành những chuẩn mực để phân biệt tộc người này với tộc người kia Nếu dân tộc nào để mất đi văn hóa truyền thống của mình thì nó không còn là một cộng đồng tộc người riêng biệt nữa
Dân tộc Dao là một trong số 54 dân tộc anh em đang sinh sống trên đất nước Việt Nam Trong các tộc người thiểu số ở nước ta, người Dao có dân số khá đông, xếp vào hàng thứ 9 với khoảng 620.538 người [24; tr.21], cư trú phân tán ở nhiều địa phương chủ yếu ở các tỉnh vùng cao biên giới phía Bắc như Lào Cai, Hà Giang, Tuyên Quang, Cao Bằng, Lạng Sơn… Người Dao có nhiều nhóm ngành khác nhau lại cư trú trên địa bàn nhiều tỉnh đã tạo nên những sắc thái văn hóa phong phú và đa dạng Người Dao có nguồn gốc xa xưa ở phía Nam Trung Quốc
di cư sang nước ta theo nhiều đợt bằng đường bộ, đường sông và đường biển Trong số bẩy nhóm người Dao địa phương thì ở Lào Cai có 3 nhóm là: Dao Tuyển, Dao Đỏ và Dao Nga Hoàng Bảo Thắng là một trong hai huyện có người Dao Tuyển sống tập trung đông nhất của tỉnh Lào Cai
Bảo Thắng là vùng bảo tồn được nhiều loại hình văn hóa dân gian và nếp sống của cộng đồng có tính chất tộc người Một trong những giá trị văn hoá mang
Trang 7phục Tìm hiểu về trang phục nhóm Dao Tuyển Bảo Thắng giúp ta hiểu hơn về cuộc sống, quan niệm, suy nghĩ của người Dao Tuyển nơi đây Đó là cuộc sống gần cuộc sống gần gũi của đồng bào Dao với thiên nhiên (điều này được thể hiện trên các hoa văn của trang phục người Dao Tuyển, nó thể hiện sự quan sát tinh tế của người Dao trong cuộc sống), là một trong những con đường giúp chúng ta dựng lại cuộc sống cổ truyền của người Dao Vì vậy, qua nghiên cứu trang phục của người Dao Tuyển Bảo Thắng, chúng ta sẽ có cơ sở để hiểu biết sâu sắc và đầy
đủ hơn sắc thái văn hoá mang tính địa phương của cộng đồng người Dao Việt Nam nơi đây
Việc nghiên cứu trang phục của Dao Tuyển còn giúp cho chúng ta có thể phục dựng bức tranh về trang phục của người Dao thường sử dụng trong đời sống
xã hội, tạo cơ sở cho các bảo tàng có thêm nguồn tư liệu tham khảo khi lập bảo tàng trưng bày về trang phục
Với sự phát triển không ngừng của khoa học công nghệ, những sản phẩm của nền kinh tế thị trường như quần áo may sẵn, vải vóc các loại…đang hàng ngày hàng giờ len lỏi vào từng hang cùng ngõ hẻm của núi rừng và đang có nguy cơ cuốn đi những giá trị văn hoá truyền thống của nhiều tộc người, trong đó có người Dao Tuyển Chính vì thế, việc nghiên cứu về trang phục cổ truyền của người Dao Tuyển ở huyện Bảo Thắng còn nhằm góp phần sưu tầm, gìn giữ và giới thiệu trang phục của người Dao trong bộ sưu tập trang phục truyền thống của 54 tộc người Việt Nam Đây là một việc làm cần thiết
Trang phục của người Dao Tuyển ở huyện Bảo Thắng là một khoảng trống trong nghiên cứu cơ bản và trong hoạt động phục vụ nghiên cứu, giảng dạy về lịch
sử địa phương hay tộc người Vì vậy, việc sưu tầm, trưng bày để giới thiệu với công chúng về những giá trị độc đáo của trang phục người Dao Tuyển ở huyện
Trang 8Bảo Thắng là một yêu cầu cấp thiết cần được triển khai để nhằm giúp cho mọi người có thêm hiểu biết về tính đa dạng trong văn hoá Dao của nước ta
Tìm hiểu về trang phục của người Dao Tuyển ở Bảo Thắng tỉnh Lào Cai là đóng góp cho việc bảo tồn và phát huy những giá trị văn hóa của người Dao nói chung theo chủ trương Nghị quyết Hội nghị lần thứ V Ban chấp hành Trung ương
Đảng khóa VIII đã đề ra: “Chúng ta cần nỗ lực xây dựng nền văn hóa tiên tiến đậm
đà bản sắc dân tộc, thống nhất mà đa dạng trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam Đảng và Nhà nước ta thừa nhận các dân tộc sống trên đất nước ta đều có những giá trị và sắc thái văn hóa riêng và chủ trương tạo điều kiện cho các giá trị và các sắc thái văn hóa đó bổ sung cho nhau, làm phong phú nền văn hóa Việt Nam và củng cố sự thống nhất dân tộc, là cơ sở để giữ sự bình đẳng và phát huy tính đa dạng văn hóa của các dân tộc anh em” [25; tr.206] Xuất phát từ những nhận thức
trên, tôi đã chọn đề tài: “Trang phục của người Dao Tuyển ở huyện Bảo Thắng,
tỉnh Lào Cai” làm đề tài khóa luận tốt nghiệp
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Cho đến nay, nhiều vấn đề về người Dao ở nước ta đã được đề cập trong nhiều tác phẩm, công trình nghiên cứu của không ít nhà khoa học, nhà nghiên cứu
Trong tác phẩm, “Trang phục cổ truyền và hoa văn trên vải các dân tộc Việt
Nam” Hội văn học dân gian Việt Nam ( 2012 ), các tác giả đã trình bày những họa
tiết hoa văn chủ yếu, phố biến trên trang phục của người Dao, trong đó có người Dao Áo Dài ( Dao Tuyển ) Chưa đi sâu vào từng thành tố tạo nên trang phục
Trong tác phẩm,“ Nhận diện văn hóa các dân tộc thiểu số Việt Nam”
Nguyễn Đăng Duy (2004), đã đưa ra nhưng dấu hiệu nhận biết người Dao qua trang phục Nhưng chưa đề cập đến trang phục của Dao Áo Dài
Trang 9Trong tác phẩm, “Trang phục cổ truyền của người Dao ở Việt Nam” Nguyễn
Khắc Tụng, Nguyễn Anh Cường (2011) đã trình bày một cách hệ thống, đầy đủ thành tố tạo nên trang phục của tất cả các nhóm người Dao, các tác giả đã đề cập đến trang phục của nhóm Dao Áo Dài ( Dao Tuyển )
Tác phẩm “Lễ cưới người Dao Tuyển” của TS Trần Hữu Sơn ngoài trình
bày chi tiết về quan niệm, nguyên tắc hôn nhân, tiến trình của lễ cưới người Dao Tuyển Còn trình bày về trang phục cô dâu và chú rể Giúp ta tìm hiểu sâu hơn về trang phục truyền thống của người Dao Tuyển
Trong bài nghiên cứu “Trang trí trang phục thầy cúng của người Dao
Tuyển” của Trần Hữu Sơn (2004) đăng trên Tạp chí văn hóa nghệ thuật, số 7, tác
giả đã trình bày một cách khái quát, chi tiết về trang phục của thầy cúng của người Dao Tuyển Bài nghiên cứu góp phần hoàn thiện bức tranh về trang phục của người Dao Tuyển, bổ sung một mảng còn thiếu trong việc tìm hiểu trang phục của người Dao Tuyển Giúp người nghiên cứu tìm hiểu được toàn bộ các loại trang phục của người Dao Tuyển
Trong bài nghiên cứu “Trang phục của cổ truyền của nhóm Dao Áo Dài”
của Nguyễn Anh Cường (1999) đăng trên Tạp chí dân tộc học số 3, bài nghiên cứu
đã trình bày một cách khái quát, đầy đủ các thành tố của bộ trang phục Là một nguồn tài liệu quan trọng trong nghiên cứu, tìm hiểu về trang phục nhóm Dao Áo Dài
Như vậy, các công trình nghiên cứu trên đã ít nhiều đề cập đến trang phục truyền thống của người Dao Tuyển Song phần lớn các tác phẩm nghiên cứu ở phạm vi rộng với những đặc trưng văn hóa của người Dao và Dao Tuyển nói
chung, chưa làm rõ được những sắc thái phong phú, đa dạng, đặc trưng của văn hóa Dao Tuyển ở huyện Bảo Thắng để từ đó rút ra những giá trị tiêu biểu của tộc
Trang 10người Mặc dù vậy, những công trình nghiên cứu trước đây giúp cho chúng tôi có
cơ sở, phương pháp và một số tư liệu cần thiết để có thể hoàn thành vấn đề mà khóa luận đề cập đến
3 Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của khóa luận là nhằm tìm hiểu sâu hơn về trang phục truyền thống của người Dao Tuyển ở Lào Cai, rút ra những giá trị tiêu biểu Từ đó đưa ra những biện pháp, chính sách để bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa của người Dao Tuyển ở huyện Bảo Thắng nói riêng và của đồng bào dân tộc Dao ở tỉnh Lào Cai nói chung
4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Trang phục của người Dao Tuyển ở huyện Bảo Thắng tỉnh Lào Cai
Phạm vi nghiên cứu: Do điều kiện có hạn nên khóa luận của tôi nghiên cứu chỉ giới hạn trong phạm vi người Dao Tuyển trong huyện Bảo Thắng - Tỉnh Lào Cai
5 Nguồn tư liệu, Phương pháp nghiên cứu
* Phương pháp nghiên cứu: Để làm rõ vấn đề nghiên cứu, tôi sử dụng trong khóa
luận các phương pháp như: Phương pháp điền dã dân tộc học, phương pháp logic,
phương pháp lịch sử, phương pháp phân tích, tổng hợp, …
* Nguồn tư liệu: Quá trình nghiên cứu đề tài này, tôi đã sử dụng 2 nguồn tư liệu:
+ Tư liệu thành văn: các văn kiện của Đại hội Đảng, những bài viết trên sách, báo,
về: tình hình kinh tế của huyện Bảo Thắng; văn hóa dân gian; các tục lệ cưới xin; văn hoá ẩm thực và trang phục của dân tộc Dao; Hoa văn trên sản phẩm thêu dệt
Trang 11của dân tộc Dao Tuyển Bảo Thắng và những báo cáo của huyện Bảo Thắng về: dân
số các tộc người trong huyện; mật độ dân số trong huyện; diện tích đất đai (đất nông nghiệp, lâm nghiệp, đất ở); tình hình văn hoá trong huyện
+ Tư liệu điền dã: Qua quá trình nghiên cứu, tôi đã lấy tư liệu do đồng bào Dao
Tuyển cung cấp Ngoài ra, tôi còn trực tiếp quan sát quá trình dệt vải, may, thêu
6 Đóng góp của đề tài
Khóa luận là công trình đầu tiên nghiên cứu và giới thiệu một cách có hệ thống và đầy đủ nhất về trang phục của Dao Tuyển ở Bảo Thắng ( Lào Cai ) và những giá trị văn hoá thông qua đặc trưng nghệ thuật trong trang phục Khóa luận còn đưa ra các giải pháp bảo tồn và phát triển các giá trị văn hoá trong trang phục truyền thống của người Dao Khóa luận có thể sử dụng cho việc học tập và nghiên cứu về trang phục của người Dao Tuyển huyện Bảo Thắng, và những ai yêu thích lịch sử văn hóa của dân tộc
Trang 12Chương 1 KHÁI QUÁT VỀ NGƯỜI DAO TUYỂN Ở HUYỆN BẢO THẮNG
TỈNH LÀO CAI 1.1 Khái quát về huyện Bảo Thắng tỉnh Lào Cai
1.1.1 Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên ở huyện Bảo Thắng
Bảo Thắng là huyện biên giới cửa ngõ của tỉnh Lào Cai, phía Bắc giáp
huyện Hà Khẩu (Vân Nam - Trung Quốc) với đường biên giới dài 6,5 km, phía Đông và Đông Bắc giáp giới với huyện Bắc Hà và Mường Khương, phía Nam giáp huyện Bảo Yên và Văn Bàn, phía Tây giáp huyện Sa Pa và Tây Bắc giáp thành phố Lào Cai
Dưới thời Hùng Vương, Bảo Thắng thuộc đất Tây Âu của Thục Phán, thời Bắc thuộc là châu Cam Đường quận Giao Chỉ, đến đời Lý thuộc Châu Đăng, đời Trần thuộc Quy Hóa Từ thời nhà Lê đến khi thực dân Pháp chiếm đóng (1428 -1886), Bảo Thắng thuộc châu Thủy Vĩ, phủ Quy Hóa, tỉnh Hưng Hóa
Năm 1905, thực dân Pháp lấy phần đất của châu Thuỷ Vỹ bên hữu ngạn sông Hồng sáp nhập vào Chiêu Tấn, vẫn lấy tên là châu Thuỷ Vỹ Từ đó địa danh Chiêu Tấn không còn Phần đất của châu Thuỷ Vỹ bên tả ngạn sông Hồng được tách ra lập thành châu Bảo Thắng, ổn định đến khi lập tỉnh Lào Cai (1907)
Khi đó châu Bảo Thắng có 11 xã, phố trại và 30 làng, bản, phố: Lào Cai, Phố Mới,Trại Mới, Soi Mười, Sơn Mãn, Giang Đông, Cánh Chín, Thái Niên, Phố
Lu, Xuân Quang, Phong Niên Còn châu Thuỷ Vĩ có 4 xã là xã Nhạc Sơn (16 thôn bản), xã Xuân Giao (14 thôn bản), xã Cam Đường (137 thôn, bản) và xã Gia Phú (16 thôn bản)
Trang 13Ngày 9/3/1944, Thống sứ Bắc Kỳ ban hành nghị định bãi bỏ châu Thuỷ Vĩ, châu Bảo Thắng để thành lập phủ Thuỷ Vĩ, phủ Bảo Thắng, 3 châu Bát Xát, Sa
Pa, Bắc Hà và khu đô thị Lào Cai Phủ Bảo Thắng gồm 17 xã, làng: Nhạc Sơn, Cam Đường, Gia Phú, Xuân Giao, Pha Long, Mường Khương, Bản Lầu, Phong Niên, Xuân Quang, Phố Mới, Trại Mới, Soi Mười, Sơn Mãn, Cánh Chín, Giang Đông, Thái Niên, Phố Lu Lỵ sở của phủ đặt tại Lào Cai
Từ 1944, Bảo Thắng mới gọi là huyện Tuy địa giới đã điều chỉnh nhiều lần nhưng địa danh “Bảo Thắng” thì giữ nguyên cho đến ngày nay
Hiện nay, Bảo Thắng là một trong 9 huyện, thành của tỉnh Lào Cai với diện tích tự nhiên là 682,19 km2
và dân số là 102.519 người (2009) [3; tr.12 ] Bảo Thắng có 15 xã và thị trấn, phía hữu ngạn sông Hồng có 5 xã và 1 thị trấn: Sơn Hà, Sơn Hải, Phú Nhuận, Xuân Giao, Gia Phú, thị trấn Tằng Loỏng; phía tả ngạn sông Hồng có 7 xã và 2 thị trấn bao gồm: thị trấn Phố Lu, xã Phố Lu, Trì Quang, Xuân Quang, Phong Niên, thị trấn Nông trường Phong Hải, Bản Cầm, Bản Phiệt, Thái Niên
Huyện Bảo Thắng là một vùng thung lũng nằm ven hai bên sông Hồng với
độ cao phổ biến từ 80m đến 400m Địa hình bao gồm dải thung lũng hẹp chạy dài ven sông Hồng, phía Tây là dải núi thấp của dãy Phan Xi Păng - Pú Luông, phía Đông là dải núi thấp của dãy thượng nguồn sông Chảy án ngữ Đoạn sông Hồng chảy qua huyện dài 38 km, chia huyện thành hai khu vực hữu ngạn và tả ngạn Khu vực hữu ngạn có nhiều suối lớn đều bắt nguồn từ dãy núi Phan Xi Păng tạo thuận lợi cho giao thông đường thủy như ngòi Bo, ngòi Nhù, suối Chát… Tổng nhiệt độ của Bảo Thắng trong một năm là 8.0000C, nhiệt độ trung bình/năm từ 220C đến
240C Lượng mưa toàn huyện thuộc loại trung bình khoảng 1.600 mm - 1.800 mm
Những điều kiện tự nhiên trên đã tác động đến sự hình thành trang phục của
Trang 14các dân tộc trên mảnh đất Bảo Thắng, để phù hợp với khí hậu, công việc hằng ngày Trang phục người Dao Tuyển ở huyện Bảo Thắng cũng không ngoại lệ Bộ trang phục của người Dao Tuyển đã đáp ứng được những điều kiện khắc nghiệt của vùng núi phía bắc Người Dao Tuyển đã chọn bông là nguyên liệu tạo ra vải, vì bông là cây dễ trồng, phù hợp với khí hậu nơi đây Không chỉ vậy quần áo làm từ bông còn giữ ấm về mùa đông, mát mẻ về mùa hè đặc biệt khi đi làm giúp thấm
mồ hôi Với nền kinh tế là làm rương rẫy thường xuyên tiếp xúc với đất, cỏ,… nên người Dao Tuyển đã nhuộm vải bông từ màu trắng thành màu chàm để không nhìn thấy vết bẩn bám vào quần áo Do người Dao Tuyển còn thường xuyên đi rừng, sống gần rừng để tránh côn trùng, gai cây,… vì vậy kiểu áo là áo dài để bảo vệ con người tránh những ảnh hưởng từ cuộc sống trong tự nhiên
Từ xưa người Dao Tuyển sống gần gũi với tự nhiên, làm rương rẫy và đi rừng nên khi trang trí họa tiết hoa văn trên trang phục ta thường thấy hình hoa, hình động vật, các loại hình học như: hình tam giác, hình chữ thập,… Qua đó, thấy được suy nghĩ, lối sống, tâm tư, tình cảm của người Dao Tuyển
1.1.2 Điều kiện kinh tế- xã hội
Phần lớn đất đai của huyện Bảo Thắng là đất lâm nghiệp với 56.303 ha Đất nông nghiệp toàn huyện có khoảng hơn 8.600 ha, nhưng chỉ có hơn 3.000 ha trồng cây lương thực, hoa màu và cây công nghiệp ngắn ngày Số còn lại phần lớn ở Bảo Thắng là đất ferarit màu đỏ, vàng hoặc vàng đỏ thuận lợi cho việc trồng rừng, cây công nghiệp dài ngày và cây ăn quả
Huyện Bảo Thắng có nhiều tài nguyên khoáng sản quý Mỏ Apatit với trữ lượng lớn, hàm lượng cao, chạy dài hàng chục kilômét bên hữu ngạn sông Hồng thuộc các xã Cam Đường, Tả Phời, Hợp Thành… Apatit ở đây hầu như nguyên
Trang 15chất, trải rộng không những là tài nguyên quý mà còn làm giàu cho đất rất thuận tiện cho trồng trọt Bảo Thắng còn có các mỏ cao lanh, mi ca, đất sét trắng…
Về lâm sản có các loại gỗ quý như lát, đinh, lim, sến… Đặc biệt có khu công nghiệp Tằng Loỏng chuyên chế biến, sản xuất các chất hóa học và phân bón phục
vụ sản xuất công - nông nghiệp làm giàu cho tổ quốc, góp phần thay đổi bộ mặt kinh tế xã hội của địa phương nói riêng và của tỉnh Lào Cai nói chung
Bảo Thắng cũng là vùng bảo tồn được nhiều loại hình văn hoá dân gian và nếp sống cộng đồng có tính chất dân chủ, bình đẳng Đó là sinh hoạt văn hoá dân gian độc đáo của đồng bào Dao Họ ở xã Sơn Hà Cả hệ thống múa nhảy (múa
kiếm, múa sạp, múa hoá trang), đến hệ thống dân ca phong phú (tử làn điệu du con, hát giao duyên, hát giáo huấn ) đã hoà quyện vào nhau tạo thành các lễ hội dân gian độc đáo Đặc biệt các nhạc cụ như trống, tăng sành, trống đất với những hình thức độc tấu, hoà tấu, làm nhạc đệm cho các sinh hoạt văn hoá đã trở thành sản phẩm văn hoá tinh thần nhiều giá trị của Lào Cai Ở những vùng đồng bào Tày có sinh hoạt hát then, hát giao duyên đêm xuân, hội xuống đồng Văn học dân gian phát triển khá mạnh với các loại hình truyện cổ, dân ca, tục ngữ Nhiều sáng tác dân gian được tuyển chọn trong các tập "Dân ca Giáy”, “Dân ca Mông”, “Truyện
cổ Dao”, “Truyện cổ Phù Lá” Các dân tộc ở Bảo Thắng chung sống xen kẽ ở dải biên cương, nên đã tạo thành nếp sống cộng đồng, đoàn kết, các gia đình đều
quanh tụ trong làng bản
Thời phong kiến, cư dân ở Bảo Thắng gồm nhiều dân tộc cư trú theo từng bản, từng mường Có các mường lớn như Mường Bo, Mường Cái… Đứng đầu mỗi mường là chủ mường Các chủ mường này đều thuần phục quan cai trị của các triều đình phong kiến Việt Nam Thời Minh Mạng cả Bảo Thắng mới có khoảng
2000 người, chủ yếu là đồng bào các dân tộc: Tày, Thái, Dao, Phù Lá (cả nhóm
Trang 16Xá Phó), Giáy, Nùng… Ở ngay cửa quan có các binh lính người Kinh và một số thương nhân Hoa Kiều, năm 1928 Bảo Thắng có 5000 khẩu Đến năm 1945, Bảo Thắng có khoảng 8000 dân có 1.200 người Kinh còn chủ yếu là người các dân tộc thiểu số Năm 1960 có trên 13.000 người Năm 1989 Bảo Thắng có 86.633 người Năm 1999 có 99.819 người Đến năm 2008 Bảo Thắng đã có 102.519 người… Gồm 17 dân tộc anh em, trong đó người Kinh chiếm 72,99%, người Tày chiếm 16%, người Dao chiếm 9,6%, người H’mông chiếm 4,4%, người Giáy chiếm
3,2% [3; tr.20] Các dân tộc cư trú ở Bảo Thắng dù ít hay nhiều người, đến Bảo Thắng vào những thời gian khác nhau nhưng đều đoàn kết, bảo vệ và xây dựng vùng biên cương của tổ quốc
Với quá trình công nghiệp hóa đất nước, cơ cấu dân cư trong những thập kỷ qua có nhiều biến đổi theo xu hướng đô thị hóa Thời kỳ phong kiến, Bảo Thắng tuy là một cửa quan, là đầu mối giao thông, nhưng do nền kinh tế tự cung tự cấp quá nặng nề, nên chưa có một điểm dân cư nào mang tính chất đô thị Trong thời
kỳ thực dân Pháp đô hộ, chúng tuy có mở đồn điền, phát triển giao thông, khai thác
mỏ Apatit, nhưng cư dân ở thành thị rất ít Sau hơn 30 năm xây dựng chủ nghĩa xã hội, Bảo Thắng đã từng bước chuyển nền kinh tế từ tự cung, tự cấp sang nền kinh
tế mang tính chất sản xuất hàng hóa theo cơ chế thị trường Trong huyện đã xuất hiện 3 thị trấn, thị trấn Phố Lu trở thành một trung tâm kinh tế buôn bán, giao dịch khá sầm uất Cư dân thành thị tăng lên nhanh chóng Sự thay đổi cơ cấu dân cư góp phần làm phát triển nền kinh tế - xã hội ở Bảo Thắng
Với quá trình phát triển và vị trí địa lý như trên, Bảo Thắng là nơi sinh sống của nhiều dân tộc từ lâu đời trong đó có tộc người Dao Tuyển Trong quá trình sinh sống nơi đây họ đã tạo dựng được những nét văn hóa riêng biệt mang đậm bản sắc dân tộc mình, phù hợp với điều kiện tự nhiên cũng như điều kiện xã hội của một
Trang 171.2 Người Dao Tuyển ở huyện Bảo Thắng – Lào Cai
1.1.2 Tên gọi, dân số và sự phân bố
Dao là tên gọi chính thức của cộng đồng Dao ở Việt Nam Trước đây mang nhiều tên gọi khác nhau như: Mán, Động, Trại, Xá,… Người Dao tự gọi mình là Kềm Miền, Kìm Mùn hoặc Dìu Miền Theo tiếng Dao thì Kềm hoặc Kìm là rừng còn Miền hoặc Mùn là người Bởi vậy, Kềm Miền hay Kìm Mùn có nghĩa là người của núi rừng Hiện nay tộc người Dao ở nước ta được nhà nước công nhận chính thức và được các nhà khoa học xếp vào nhóm ngôn ngữ Hmông - Dao thuộc ngữ
hệ Nam Á
Dựa vào kết quả tổng điều tra dân số năm 1999 thì người Dao ở nước ta có 620.538 nhân khẩu, chiếm 0,8% tổng dân số cả nước, đứng vào hàng thứ 9 trong bảng danh mục các tộc người ở Việt Nam [24; tr.21] Người Dao cư trú tập trung
ở 18 tỉnh như: Hà Giang, Tuyên Quang, Cao Bằng, Lạng Sơn, Lào Cai, Yên Bái, Quảng Ninh, Thái Nguyên, Bắc Cạn, Lai Châu, Hòa Bình, Sơn La, Phú Thọ, Bắc Giang, Thanh Hóa, Đắc Lắc, Đồng Nai, Hà Tây (nay thuộc Hà Nội)
Người Dao ở Việt Nam thuộc về hai phương ngữ:
* Phương ngữ thứ nhất gồm hai ngành lớn là Đại Bản và Tiểu Bản
+ Ngành Đại Bản có các nhóm Dao Đỏ (Hùng Thầu Đào, Dao Coóc Ngáng, Dao Quý Lâm), Dao Quần Chẹt (Dao Sơn Đầu, Dao Tam Đảo, Dao Nga Hoàng), Dao Thanh Phán (Dao Coóc Mùn, Dao Đội Ván, Dao Lô Giang)
+ Ngành Tiểu Bản có Dao Tiền (Dao Đeo Tiền)
* Phương ngữ thứ hai gồm có hai ngành: Dao Quần Trắng (Dao Họ, Mán Đen) và Dao Làn Tiẻn Trong đó Dao Làn Tiẻn có hai nhóm nhỏ là Dao Thanh Y
và Dao Tuyển (Dao Áo Dài, Dao Chàm, Dao Bằng Đầu, Dao Slán Chỉ) [23; tr.30 -
Trang 1837] Như vậy, Dao Tuyển là một nhóm nhỏ của ngành Dao Làn Tiẻn thuộc về phương ngữ thứ hai Dao Tuyển là tên gọi địa phương ở vùng Lào Cai
Người Dao Tuyển ở Việt Nam cư trú tập trung tại Lào Cai, Hà Giang và rải rác ở một số tỉnh khác Bảo Thắng và Bảo Yên là hai huyện tập trung người Dao Tuyển đông nhất của tỉnh Lào Cai Tại huyện Bảo Thắng, người Dao Tuyển cư trú tại các xã Xuân Quang, Trì Quang, Phong Niên, Phong Hải, Bản Cầm, Bản Phiệt với dân số 6378 người chiếm 6,2% dân số toàn huyện (2009)
(Nguồn UBND huyện Bảo Thắng)
1.2.2 Lịch sử cư trú
Người Dao Tuyển di cư đến Lào Cai nói riêng và Việt Nam nói chung bằng đường bộ là chính Trong cuốn “Tín ca thiên di” của người Dao Tuyển ghi rất rõ
từng chặng đường thiên di “Người Dao từ Lưỡng Quảng đến Lào Cai Năm Giáp
Thân triều Minh kết thúc (1644), Người Dao từ Quảng Tây di cư đi Vân Nam Họ định cư ở Giám Yên, Mông Tự đến năm Nhâm Thân, Quý Dậu (1812 - 1813) lại đi tiếp vào rừng sâu phương Nam Mãi đến năm Tân Dậu triều Thanh (1871), người Dao Làn Tiẻn mới tới Hà Khẩu, Quỳnh Sơn và sau đó vào Lào Cai” [17; tr.58]
Như vậy người Dao Tuyển thiên di đến Lào Cai nói chung và huyện Bảo Thắng nói riêng qua hai tuyến:
Tuyến thứ nhất: Vào cuối triều đại nhà Minh (thế kỷ XV II), người Dao Làn Tiẻn từ Quảng Đông vào Móng Cái (Quảng Ninh) qua Lục Ngạn sông Đuống đến vùng Yên Bái ngược sông Chảy lên Lào Cai
Tuyến thứ hai: Vào năm Mậu Thân đầu triều Thanh (1668), người Dao Tuyển đến Vân Nam ở hai vùng Vân Sơn và Mông Tự Năm Tân Dậu triều Thanh
Trang 19(1801) người Dao từ Mông Tự đến Kiến Thủy, Hà Khẩu theo sông Hồng vào châu Thủy Vĩ (Lào Cai) và châu Chiêu Tấn (Lai Châu)
Như vậy, đến đầu thế kỷ XIX người Dao Tuyển đã có mặt ở vùng sông Hồng Lào Cai [17; tr.9 -10]
Tiếp đó trong các thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, người Dao Tuyển có một số đợt thiên di đến vùng Tam Đường, Phong Thổ, Sìn Hồ ( Lai Châu) và Bát Xát ( Lào Cai)
Nguyên nhân di cư của người Dao nói chung và người Dao Tuyển nói riêng
là do sự đàn áp các phong trào khởi nghĩa người Dao của các triều đình phong kiến
Trung Quốc Sách “Tín ca thiên di” của người Dao Tuyển có ghi:
“Triều Minh điều binh 16 vạn Phân binh 4 đường, 12 nhánh Đánh qua 26 ngày Không rút động binh, tự rút binh…
Giết người, đốt nhà không để gì lại Khắp trời, rợp đất đầy lửa khói Quan phủ ra lệnh giết người Dao…
Giết chết người Dao hơn 5 vạn
Từ đây người Dao ly tán tứ phương”
[17; tr.55]
Trang 20Nguyên nhân thứ hai là do thời đó Trung Quốc hạn hán, đất chật người đông
lại thấy Việt Nam đất tốt, dễ làm ăn nên người Dao di cư vào Việt Nam Sách
“Diệu Thảo sình chà lầy” ghi rõ:
“Nhân vì người đông đất lại hẹp Cùng nhau phân tán khắp núi sông Phần lên Quảng Tây, ở Hồ Quảng Phần đến Quý Châu để an cư Một phần về phía đạo Vân Nam Lại một phần đến Giao Chỉ ”
[17; tr.56]
1.2.3 Hoạt động kinh tế
Người Dao Tuyển là cư dân nông nghiệp canh tác nương rẫy và làm ruộng lúa nước Trước đây nương rẫy là hình thức canh tác chủ yếu và phổ biến nhưng về sau người Dao Tuyển đã biết khai phá làm ruộng lúa nước hoặc ruộng bậc thang Trong canh tác nương rẫy đồng bào Dao rất chú trọng khâu chọn đất Để có nương tốt phải chọn đất có nhiều mùn và ở phía mặt trời mọc vì sẽ đón được nhiều ánh nắng mặt trời Đồng bào ở đây chỉ làm nương trong 3 vụ sau đó bỏ hoang từ 4 - 6 năm rồi mới quay lại gieo trồng tiếp So với việc canh tác nương rẫy thì việc khai
phá ruộng lúa công phu hơn cần có sự tham gia của cả dòng họ, cả làng Làm
ruộng lúa nước năng suất cao và đời sống ổn định hơn nên đồng bào Dao Tuyển ngày nay canh tác ruộng lúa nước phổ biến hơn trước Người Dao Tuyển có tục
ngữ:
Trang 21Làm ruộng trời hạn không lo Làm nương trời hạn không được ăn”
[16; tr.11 - 12]
Ở Bảo Thắng, người Dao Tuyển còn phát triển trồng quế Đồng bào đã biết kết hợp trồng quế với làm ruộng lúa nước, trồng quế xen canh với lúa nương và sắn đem lại hiệu quả kinh tế cao Với việc phát triển trồng quế, trồng chè, trồng bông, cây ăn quả, người Dao Tuyển dần phá vỡ thế độc canh cấy lúa nương,
chuyển dịch cơ cấu cây trồng theo hướng sản xuất hàng hóa Nhờ đó đời sống được nâng cao
Bên cạnh đó, người Dao Tuyển ở Bảo Thắng còn tiến hành chăn nuôi Trước đây chăn nuôi nhằm đáp ứng nhu cầu tự cung tự cấp, lấy sức kéo cho nông nghiệp, lấy thực phẩm phục vụ cho các nghi lễ tôn giáo, tín ngưỡng như lễ cấp sắc, lễ làm chay, lễ cúng Bàn Vương… Ngày nay chăn nuôi còn để đem bán và trao đổi hàng hóa Họ chăn nuôi các loại con như: trâu, bò, dê, ngựa, nuôi cá…
Nghề thủ công của người Dao Tuyển là nghề phụ mang tính chất thời vụ nên các sản phẩm làm ra chủ yếu phục vụ nhu cầu trong gia đình Người Dao Tuyển ở Bảo Thắng đến nay vẫn có các nghề như: nghề dệt vải nhuộm chàm Người Dao Tuyển tiến hành nhuộm chàm vải sau khi dệt xong với nhiều công đoạn khá phức tạp Trước hết là ngâm chàm từ 3 đến 5 ngày trong thùng gỗ, khi nhựa chàm đã tan hết vào nước ngâm mới vớt bã chàm ra rồi hòa với bột, quấy đều Trước khi cho vải vào nhuộm phải giặt vải qua nước lã rồi mới nhúng vào thùng chàm ngâm 20 phút Sau đó vớt ra để ráo nước rồi ngâm nước lã từ 5 - 7 lần Vải của người Dao Tuyển vừa đẹp vừa bền màu
Nghề chạm bạc cũng khá nổi tiếng, các dân tộc khác nhau như Tày, Nùng, Hmông thường đến mua đồ chạm bạc của người Dao Tuyển Sản phẩm bạc chủ yếu là đồ trang sức trong lễ cưới (người Dao Tuyển quan niệm sự giàu có, giá trị
Trang 22của cô dâu thể hiện ở số trang sức bằng bạc), trong sinh hoạt của người Dao
Trưởng làng “Giăng châu” là người có uy tín, giỏi làm ăn, là người nắm vững luật tục, quy ước chung của làng, có khả năng tập hợp, chỉ đạo dân làng và
Trang 23am hiểu pháp luật, chủ trương chính sách của Đảng, Nhà nước để có thể truyền đạt tới nhân dân trong làng Hiện nay trưởng làng do nhân dân bầu
Già làng “Giăng cố” là người am hiểu phong tục, tập quán, biết các nghi lễ cúng bái, gương mẫu thực hiện mọi việc công và là người có uy tín lớn trong làng Già làng còn có vai trò giám sát thực hiện các nghi lễ chung của làng và của mỗi gia đình Hoặc giám sát việc cúng của các thầy cúng ở nơi khác đến hành lễ cho gia đình Đặc biệt già làng là một nghệ nhân, am hiểu văn hóa truyền thống, biết chữ Nôm Dao Trước khi thực hiện các công việc quan trọng trưởng làng thường đến hỏi ý kiến của già làng
Mỗi làng có một vị thần cai quản gọi là Giăng man Thần làng là người có công khai phá làng, bảo hộ làng Mỗi làng có một miếu thờ dựng ở đầu hoặc giữa làng Miếu thường được dựng ở gốc cây đa, cây si Trong miếu không chỉ thờ thần làng mà còn thờ thần nông phù hộ cho mùa màng tốt tươi và thờ thần thổ địa
Mỗi làng có một hệ thống luật tục bảo vệ nguồn nước, bảo vệ rừng, bảo vệ mùa màng, chống trộm cướp… Hệ thống luật tục của làng hàng năm đều được dân làng tự do dân chủ thảo luận, bàn bạc bổ sung Luật tục trở thành một công cụ quản
lý làng của đồng bào Dao Tuyển Ai vi phạm sẽ bị phạt Ở Bảo Thắng, luật tục của người Dao Tuyển quy định: ai chặt phá 5 cây non ở rừng chung của làng bị phạt 5 đồng bạc trắng, chặt cây to bị phạt 10 đồng bạc trắng, đốt rừng làm nương rẫy bị phạt 20 đồng bạc trắng [14; tr.24] Luật tục có tác dụng giữ vững an ninh của làng, bảo vệ tài nguyên thiên nhiên và thực sự trở thành công cụ quản lý các thành viên trong làng người Dao Tuyển
b, Dòng họ
Người Dao Tuyển có 12 họ chính Mỗi họ có nhiều dòng họ khác nhau Mỗi dòng họ của người Dao Tuyển có 6 tên đệm là Kim, Kinh, Diện, Đạo, Huyền, Vân
Trang 24- đây là hệ thống tên đệm âm được đặt trong lễ cấp sắc Mỗi dòng họ có một ông trưởng họ là người con trưởng của ngành trưởng, có nhiệm vụ chỉ đạo những công việc chung của dòng họ và giải quyết những xích mích trong dòng họ Trưởng họ cũng là người đại diện cho dòng họ giao tiếp, giao dịch với các dòng họ khác Sự thống nhất về mặt tín ngưỡng của dòng họ thể hiện ở lễ giỗ tổ dòng họ Giỗ tổ dòng họ để tưởng nhớ tổ tiên dòng họ, để ghi tên âm các thành viên nam đã mất trong năm vào danh sách thờ cúng họ đồng thời cũng là dịp để anh em trong dòng
họ gặp nhau
c, Gia đình
Khác với dòng họ, gia đình là thành viên cộng đồng, là một bộ phận quan trọng của dòng họ, là đơn vị sản xuất, đồng thời cũng là nơi trực tiếp thể hiện và duy trì các sắc thái văn hóa của đồng bào Dao Tuyển Phần lớn hiện nay gia đình người Dao Tuyển là gia đình nhỏ phụ hệ hai thế hệ gồm một cặp vợ chồng và các con chưa lập gia thất Chủ gia đình là ông bố, khi bố chết thì con trưởng thay thế Người chủ gia đình có trách nhiệm chỉ đạo công việc sản xuất đảm nhiệm các công việc nặng nhọc Là người thực hiện các nghi lễ gia đình Đồng thời cũng là người trực tiếp dạy dỗ con trai làm nương, làm rẫy, thực hiện các phong tục của dân tộc, của dòng họ Tuy nhiên nhiều việc quan trọng người chủ gia đình cũng bàn bạc với
vợ và các con lớn.Trong sinh hoạt hàng ngày tính chất phụ quyền chi phối đậm nét mối quan hệ của các thành viên trong gia đình Vợ phải nghe lời chồng, con cái phải nghe lời cha Bố chồng, anh chồng không ăn cùng mâm với con dâu , em dâu
và con rể không ngồi ăn chung với mẹ vợ Nhưng đặc biệt trong một số lễ nghi tôn giáo vai trò của người con dâu được đề cao Chẳng hạn như trong cấp sắc, người được chọn thực hiện nghi lễ giã gạo, vẩy gạo vào tốp nam đang nhảy bát quái nhất thiết phải là người vợ của chủ gia đình hoặc con dâu trưởng
Trang 25Người Dao Tuyển ở huyện Bảo Thắng có tục nhận con nuôi kể cả trong trường hợp người khác dân tộc Nhận con nuôi có nhiều nguyên nhân như: chữa khỏi bệnh, đỡ đầu ăn học, truyền dạy nghề cúng bói… Khi gia đình bố mẹ nuôi gặp khó khăn hay công việc bận rộn thì người con nuôi phải có trách nhiệm giúp
đỡ, vào dịp lễ tết phải đến lễ tết và khi bó mẹ nuôi qua đời cũng phải để tang báo hiếu, có lễ vật mang đến hiến tế như đối với bố mẹ đẻ mình Ngược lại bố mẹ nuôi cũng phải có trách nhiệm chăm sóc, giúp đỡ con nuôi song chủ yếu là về mặt tinh thần
Như vậy, nếu như làng là đơn vị liên kết các dòng họ và dòng họ là đơn vị liên kết các gia đình nằm trong phạm vi của mình để bảo tồn, giám sát việc thực hiện và duy trì các đặc trưng văn hóa cổ truyền của đồng bào thì gia đình là nơi trực tiếp lưu giữ và thực hiện các đặc trưng văn hóa đó, đặc biệt là các nghi lễ trong chu kỳ đời người Gia đình người Dao Tuyển cũng là nơi trực tiếp thể hiện
và duy trì các thành tố khác của văn hóa dân tộc từ các món ăn, cách trao truyền các nghề, tri thức dân gian cho đến việc duy trì những phong tục tập quán truyền thống
1.2.5.Các đặc trưng văn hóa
a Văn hóa vật chất
+ Ăn
Xưa kia do điều kiện kinh tế khó khăn, lương thực còn thiếu nên ngoài gạo
ra trong các bữa ăn hàng ngày người Dao Tuyển còn phải ăn ngô "mùng may", đao
"pang" Ngày nay do cuộc sống được nâng cao hơn nên họ ăn cơm tẻ là chủ yếu Ngoài các món lương thực, người dân ở đây còn thường xuyên dùng các loại thực phẩm như: rau pang làm từ cây đao, củ đao được làm bột, ngọn đao dùng làm rau nấu canh ăn rất ngọt Tiếp đến lá rau đắng "pua" còn gọi là mướp đắng rừng, chỉ
Trang 26dùng lá xào ăn mới không đắng, nếu nấu canh rất đắng Một loại rau thường dùng nhất đó là rau mét "tùng pan" Loại rau này được trồng bằng hạt theo mùa vụ, dùng
lá nấu canh hoặc xào ăn rất ngon
Tiếp đến là rau mướp "cà đây" cũng dùng lá nấu canh Đu đủ " cùng qua" cũng là món mà người Dao Tuyển thường dùng để xào làm nguyên liệu cho bữa ăn hàng ngày Ngoài ra khi đi rừng họ còn tìm được hoa chuối rừng “cà đíu” thái nhỏ ngâm nước nấu canh gà hoặc cá thì quả là tuyệt vời Một loại rau nữa có tên trong thực đơn hàng ngày của người Dao Tuyển là rau rớn được dùng xào hoặc nấu canh cho bữa cơm
Để các món ăn hấp dẫn hơn người Dao Tuyển thường sử dụng các loại gia vị như: muối ớt, rau thơm các loại Muối ớt được làm từ ớt tươi, thái nhỏ trộn lẫn với bột canh hoặc muối tiêu giã thành bột, có thể vắt thêm nước chanh Muối ớt làm nước chấm, có vị cay, chua, ăn rất ngon Các loại rau thơm thường được sử dụng nhất là rau húng các loại Các món rau, nấu canh hoặc xào nếu mua hoặc đi săn được thú rừng người ta sẽ nấu lẫn thịt thú rừng đó với rau ăn rất ngon và bổ
Trong ngày lễ, tết đồng bào Dao Tuyển còn làm nhiều loại bánh như: bánh mật, bánh dầy tròn, bánh dầy dài, bánh chưng gù, bánh gio… Ngoài ra vào ngày tết, lễ, hội thịt lợn và thịt gà là thực phẩm không thể thiếu Ngay cả khi mùa gặt hoặc mùa cấy người Dao Tuyển cũng thịt lợn, nếu ăn không hết họ sẽ dùng kỹ thuật ướp để ăn lâu dài Thịt được thái mỏng, rắc đều muối, rượu và lá gia vị bóp đều rồi cho vào lọ đậy thật kín Có thể úp thêm một cái bát bên ngoài nắp lọ rồi dùng vôi chát kín có thể giữ được cả năm Người Dao Tuyển còn nấu rượu từ thóc nếp, sắn, ruột cây báng
+ Nhà cửa
Trang 27Người Dao Tuyển có 3 loại hình nhà cửa khác nhau: nhà sàn, nhà nửa sàn nửa đất và nhà đất tường gỗ, phên tre
Ở vùng sông Chảy, người Dao Tuyển ở nhà sàn Hiện nay nhà sàn đều làm bắng gỗ có 5 gian Nhà sàn chia làm hai phần theo chiều dọc Phần trước là nơi đặt bếp, đặt khung cửi, đồ dùng Phần sau là nơi ngủ, nơi thờ cúng
Ở vùng thung lũng sông Hồng thường ở nhà nửa sàn nửa đất Nhà chia làm hai phần: nền đất để sinh hoạt, phần sàn để ngủ Bàn thờ ở gian giữa, đối diện với cửa chính
Ở các xã vùng thấp, người Dao Tuyển thường ở nhà nền đất Nhà cũng được chia làm 3 phần theo chiều dọc Một phần để đồ đạc sinh hoạt, bếp, ở chính giữa là bàn thờ, bên kia là nơi ngủ
b Tục lệ xã hội
Chế độ hôn nhân là hôn nhân một vợ một chồng Nguyên tắc ngoại hôn dòng họ chi phối mọi quan hệ hôn nhân Lễ cưới của người Dao Tuyển gồm lễ so tuổi, lễ dạm hỏi, lễ cưới và lễ lại mặt Sau khi cưới phần lớn người con gái về ở hẳn nhà chồng Bên cạnh đó cũng có trường hợp cư trú bên nhà vợ
c Văn hóa tinh thần
*Tôn giáo, tín ngưỡng
Tôn giáo tín ngưỡng có một vai trò quan trọng trong đời sống tinh thần của người Dao Tuyển Điểm nổi trội trong tôn giáo tín ngưỡng của họ là chịu ảnh hưởng sâu sắc của Tam giáo Trong đó ảnh hưởng sâu đậm nhất là Đạo giáo
Đạo giáo ra đời ở Trung Quốc và đã ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống tinh thần của người Dao Tuyển, được họ tiếp và cải biến phù hợp với điều kiện xã hội
Trang 28của mình Thực tế cho thấy: Hầu hết các vị thần linh của Đạo giáo đều trở thành hệ thống thần linh của người Dao Tuyển như hệ thống miếu vạn thần là hệ thống miếu thờ thần của Đạo giáo Ngoài ra, có hệ thống bùa chú, vũ khí trừ tà như đạo tiên (soi đạo), đồng linh (chuông đồng), thần trượng (gậy thần), đại lực xoa (đinh ba đại lực) đều là vũ khí của Đạo giáo
Bên cạnh Đạo giáo, Phật giáo cũng ảnh hưởng khá sâu sắc đến đời sống của người Dao Tuyển Những phép thuật của Phật như uống nước thiêng, tư tưởng hóa kiếp luân hồi của Phật giáo đều thâm nhập vào đời sống tinh thần của người Dao Tuyển Bên cạnh đó, các hình thức xem tử vi tướng số, xem ngày tháng tốt, thực hiện các nghi lễ cưới xin, làm nhà mới đều được sử dụng rộng rãi
Sau Đạo giáo, Phật giáo, đời sống của người Dao Tuyển còn chịu ảnh hưởng của Nho giáo Biểu hiện rõ nhất trong việc thờ cúng tổ tiên, sùng bái thầy cấp sắc
Tuy ảnh hưởng của Tam giáo nhưng tàn dư tôn giáo vẫn tồn tại Đó là tàn dư
ma thuật tình yêu với các loại bùa ngải, ma thuật làm hại với quan niệm về ma Ngọ Hải Đặc biệt là tín ngưỡng liên quan đến việc chữa bệnh phát triển khá mạnh Từ quan niệm hồn đến nguyên nhân ốm đau, bệnh tật do là do bị hồn ma bắt, đến việc cúng bái chữa bệnh
Các tín ngưỡng liên quan đến sản xuất nông nghiệp tồn tại với nhiều hình thức như việc cầu cúng miếu làng, làm phép thuật trừ sâu bệnh, tổ chức lễ cúng cơm mới
Tóm lại: Tam giáo ảnh hưởng sâu sắc đến đời sống tín ngưỡng của đồng bào Dao Tuyển ở huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai Tuy nhiên, điểm đáng chú ý là biểu hiện của từng tôn giáo trong tín ngưỡng của người Dao Tuyển là không rõ riệt Tất
cả các tôn giáo đều quyệt chặt với nhau, cùng với những tàn dư tôn giáo sơ khai
Trang 29tạo nên hệ thống tôn giáo – tín ngưỡng hỗn hợp, phức tạp và đa dạng trong đời sống của con người
Tín ngưỡng dân gian của người Dao Tuyển gồm nhiều hình thức như thờ cúng tổ tiên, thờ thần bản mệnh cộng đồng, sa man giáo và đặc biệt là đạo giáo đã chi phối mạnh mẽ đời sống tôn giáo Trong đó thờ cúng tổ tiên là hình thức tín ngưỡng quan trọng của người Dao Tuyển
- Thờ cúng tổ tiên và các vị thần che chở cho gia đình:
Thờ cúng tổ tiên, tổ tiên của người Dao Tuyển gọi là “Cha Phìn” Tổ tiên người Dao Tuyển là những người đã khuất trong dòng họ tính từ 6 đời trở xuống Đồng bào chỉ cúng tổ tiên vào các ngày năm mới, cúng cơm mới và tết 6/6
Thờ thần hộ mệnh: Bên cạnh thờ tổ tiên, mỗi dòng họ người Dao Tuyển đều thờ một vị thần hộ mệnh cho gia đình Thần nhà được thờ ở bàn thờ đặt tại gian giữa nhà đối diện với cửa chính Khi làm xong nhà mới, gia chủ phải mời thầy cúng dựng bàn thờ thần nhà Người Dao Tuyển cũng như các dân tộc Dao khác còn thờ ông tổ cộng đồng dân tộc Dao là ông tổ Bàn Vương
Người Dao coi việc thờ cúng Bàn Vương là một việc làm liên quan đến vận mệnh của mỗi người, mỗi dòng họ và của cả dân tộc
Thờ thần bà mụ “má mụ”: Bà mụ trong tín ngưỡng của người Dao là bà mẹ
vĩ đại Bà có khả năng làm cho những linh hồn tại núi Hoa Sơn đến đầu thai tại nơi trần thế thông qua cách sinh đẻ của người phụ nữ Bà mụ còn là người chăm sóc phù hộ cho đứa bé và sức khỏe sản phụ Do vậy phải cúng lễ bà mụ ít nhất 3 lần trong thời gian người phụ nữ mang thai Cứ 3 tháng lại cúng một lần để bà mụ bảo
vệ cho mẹ con sản phụ Ngay cả khi đã sinh nở rồi người Dao Tuyển vẫn phải cúng
bà mụ trong lễ đặt tên, đầy tuổi của đứa trẻ
Trang 30Người Dao Tuyển quan niệm “vạn vật hữu linh”, đây là cơ sở hình thành nên tín ngưỡng đa thần Họ cho rằng vạn vật đều có linh hồn, bất kể nơi nào cũng
có các vị thần cai quản cho nên họ thờ rất nhiều các vị thần thánh trong nhà và trong làng
- Thờ thần bảo vệ làng bản
Thờ thần làng: Đây cũng là một trong những vị thần hết sức quan trọng trong đời sống tâm linh của người Dao Tuyển Thần làng là vị thần có công lập ra làng, được coi như ông tổ của làng và được thờ tại miếu làng
Hàng năm vào ngày mồng 1 tháng giêng tất cả dân làng đều đến thắp hương
và đặt lễ các loại bánh trái tại miếu thờ của làng rồi cầu xin phúc, lộc cho bản thân
và gia đình Người cầu nguyện không được nói thành lời mà chỉ để trong tâm niệm
Bên cạnh đó còn thờ thần thiên lôi, thần nước, thần thổ địa… Như vậy hệ thống thần thánh của người Dao Tuyển rất đa dạng và phức tạp Họ quan niệm vạn vật hữu linh nên trong mỗi lĩnh vực lại có một vị thần cai quản riêng Vì vậy để đáp ứng được nhu cầu tâm linh của mình họ phải thờ tất cả các vị thần đó tuỳ theo thời gian, địa điểm và lễ vật khác nhau
- Thờ thần nông và các nghi lễ liên quan đến nông nghiệp
Là cư dân nông nghiệp, kinh tế tự cấp tự túc, dựa chủ yếu vào nông nghiệp Bởi vậy đối với người dân Dao Tuyển thần nông "dằn lồng" là thần có ý nghĩa nhất Vào tháng 6 âm lịch hàng năm, nếu năm nhuận có thể cúng vào tháng 5 (âm lịch)
Trong các nghi lễ liên quan đến sản xuất nông nghiệp của đồng bào nơi đây
Trang 31lễ cúng này được tiến hành trước khi đem thóc giống tra nương Người ta lập một đàn cúng trước bàn thờ tổ tiên, đặt vào đó một chum thóc giống, lấy một tờ giấy bản vẽ hình tròn tượng trưng cho mặt trời, hình một người đứng thẳng cầm nông
cụ, vẽ một đàn gà, cá…Tờ giấy này được kẹp chặt vào một que nứa rồi cắm vào chum thóc giống Khi cúng xong họ đem chum thóc giống đi tra, khi tra thóc giống
ở trên nương xong họ sẽ đem tờ giấy đó đi đốt
Lễ cúng cơm mới: Cúng cơm mới là lễ tạ ơn tổ tiên đã phù hộ cho mùa màng tốt tươi, lúa ngô đã có thể thu hoạch Trước hết người Dao Tuyển gặt lấy ít thóc đầu mùa đem về phơi khô, giã thành gạo và nấu cơm Sau đó họ đặt cơm mới
và các thức ăn như thịt gà, thịt lợn, và một bát canh rau lên bàn thờ tổ tiên Khi chủ gia đình làm lễ cúng tổ tiên xong, toàn thể gia đình quây quần ăn uống với nhau Cuối bữa cơm mỗi người trong gia đình cố ý để thừa trong bát một ít cơm, một ít thức ăn và hôm ấy người ta không rửa bát với ngụ ý là sau này cơm gạo sẽ đầy nhà
Lễ cúng hồn lúa: Lễ cúng này được tổ chức vào thời gian vừa thu hái xong Đồng bào ở đây quan niệm rằng mỗi bông lúa, hạt thóc đều có hồn, ở ruộng chúng được gần nhau nhưng khi con người thu hái làm hồn lúa bị thất lạc do rơi vãi, nên cần phải cúng để gọi hồn lúa về sum họp
* Văn học nghệ thuật
Một nét khác cũng góp phần làm giàu thêm đặc trưng văn hóa người Dao Tuyển đó là: Người Dao Tuyển có kho tàng văn học dân gian khá phong phú Đó
là dân ca, truyện cổ dân gian, câu đố, tục ngữ… Nhờ có chữ viết (chữ Nôm Dao)
mà nền văn học Dao được ghi chép trong các bộ sách cổ, trong các sách tôn giáo
Do đó văn học dân gian còn được bảo tồn
Trang 32Dân ca vẫn là nhu cầu không thể thiếu của người Dao Tuyển ở Bảo
Thắng.Trong vòng tuần hoàn của một cuộc đời con người từ khi trong bụng mẹ đến khi chết đi, mỗi giai đoạn đều có những bài hát mang đậm bản sắc dân tộc
Ngoài ra theo trình tự dòng chảy của thời gian, mùa vụ lại có các bài rất khác nhau Chẳng hạn: Năm mới tháng giêng con trai, con gái vui chơi trong lễ hội ném còn thì hát bài "vủng plau" Đến giữa tháng giêng, khi lúa trên nương đã bén
rễ, các cặp trai gái đi làm cỏ nương cũng cất lên lời tâm sự "cang xỉ"
Trong đám cưới, việc hát đối cũng là một thủ tục không thể thiếu Khi đi đón dâu, đến nhà gái bên nhà trai sẽ hát xin dâu Khi đưa dâu về nhà trai lại tiến hành hát báo với tổ tiên về công việc cưới xin và nhập thành viên mới…
Truyện cổ dân gian: Người Dao Tuyển có cả một kho tàng truyện cổ dân
gian đặc sắc Hình thức lưu truyền chủ yếu qua truyền miệng trong dân gian Ý nghĩa của truyện không nằm ngoài ngụ ý giáo dục con người sống chan hòa, yêu thương mọi người, ở hiền gặp lành
Câu đố: Để phản ánh toàn bộ các công việc và cuộc sống sinh hoạt hàng
ngày của nhân dân số lượng các câu đố đã được sản sinh rất đồ sộ Với số lượng lớn như vậy khó có thể biết hết được nhưng hầu như đã là người Dao Tuyển ai cũng thuộc vài câu:
“Con lạy xuống, bố quát to là cái gì?
Trả lời: Súng hỏa mai "phẳn trong hoặc"
Mẹ càng kêu, la, con càng lớn đẫy, đố là gì?
Trả lời: cái thoi dệt vải "phạt bui"
Trang 33Một buồng có mấy anh em Người đội mũ đỏ, người đội mũ đen, đố là cái gì?
Trả lời: bao diêm "hòm tầu"”
[16; tr.65 - 66]
Như vậy câu đố là 1 hình thức nghệ thuật của dân gian Nó phục vụ ngay các nhu cầu tinh thần của người lao động và phản ánh về cuộc sống sinh họat thường ngày của họ
Tục ngữ: Giống như câu đố, kho tàng tục ngữ trong nghệ thuật dân gian
người Dao Tuyển cũng hết sức phong phú đa dạng Nó phản ánh toàn bộ cuộc sống sinh hoạt của người dân lao động Nó gắn bó với họ trong từng hoạt động thường ngày, do vậy dù bất cứ ai cũng có thể ngâm nga vài câu những phút cao hứng Số lượng câu tục ngữ rất đồ sộ Nội dung phản ánh nhiều mặt của cuộc sống, mang ý nghĩa nhân văn sâu sắc
“Rền nhằn trong cu háo nhằn tàu (Cha ông xây dựng con cháu hưởng phúc) Hoặc: Thu sủn pặt pành pắn nhổn vay
Pu quay pằn gòng tặt sẻ mềnh (Số kiếp con người trời đã định Giàu nghèo ai trách được số trời)
Hoặc:
Nhàu mạ thỉnh lài sí pùn đi
Trang 34Cang say sền lài mền giàng tình (Cây có cội, chim có tổ, người có tông)”
[16; tr.27]
Nội dung các câu tục ngữ mang nặng ý nghĩa giáo dục con người biết cách ứng xử với con người, thiên nhiên và xã hội
Thơ ca dân gian: Thơ ca dân gian của người Dao Tuyển rất phong phú với
nhiều loại hình như:
Thơ ca lao động gắn liền với lao động, phản ánh kinh nghiệm sản xuất, gieo trồng, đặc biệt xuất hiện bài ca đối đáp nam nữ mang tính chất giao duyên trên khung cảnh lao động:
“Lấy sợi dệt vải cả hai lần Sinh con nối dõi nhờ cả hai Đạo lý trời sinh mong làm bạn Đâu phải một bên ân tình sâu Hạt giống mọc cây ta hợp duyên Thóc lúa về bồ ta chung gối”
Trang 35biệt, trong đó có thơ ca mang tính chất như thư tín đó là các bài thơ ca gửi người yêu; thư ca than thân, kể về số phận con người sống cơ cực, bần hàn; thư ca kể về quá trình thiên di của người Dao
Như vậy, người Dao Tuyển ở Bảo Thắng là một nhóm địa phương trong ngành Dao Làn Tiẻn có đời sống kinh tế khá ổn định, cư trú tập trung trong làng, xóm và có đời sống văn hóa phong phú, đa dạng với nhiều giá trị văn hóa đặc sắc Đặc biệt với việc cư trú tập trung đã tạo điều kiện cho đồng bào thừa kế và duy trì các đặc trưng văn hóa tộc người, văn hóa địa phương từ thế hệ này sang thế hệ khác
* Lễ hội
Lễ hội “Lồng Tồng” hay còn gọi là Lễ hội “Xuống Đồng”, đây không chỉ là
lễ hội truyền thống và phong tục tập quán của dân tộc Tày huyện Bảo Thắng được
tổ chức vào tháng Giêng hàng năm Mà còn là lễ hội truyền thống của các dân tộc khác trong vùng như Dao, Mường, Lễ hội Xuồng đồng được gắn với các địa danh như: Xã Phú Nhuận, xã Xuân Quang, xã Thái Niên, xã Xuân Giao huyện Bảo Thắng Trong tiết trời se lạnh, bà con các dân tộc Tày, Dao, Mường của huyện Bảo thắng nô nức chuẩn bị cho lễ hội Xuống đồng cầu cho một năm mới mưa thuận gió hoà, mùa màng tươi tốt, bội thu, thóc đầy bồ, lợn, gà đầy chuồng, con người được bình an, mạnh khoẻ
Lễ hội Cầu mùa, một lễ hội dân gian truyền thống tốt đẹp của người Dao Tuyển, không cầu kỳ nhưng mang nhiều yếu tố tâm linh sâu sắc của cả cộng đồng
Lễ hội thường diễn ra vào ngày Tý tháng giêng hàng năm Địa điểm chọn cho lễ cầu mùa là các khu đất bằng phẳng hay ở một khu ruộng với không gian thoáng đãng thuận tiện cho tổ chức các nghi lễ Qua các nghi lễ truyền thống, lễ hội cầu mùa thể hiện sự tôn kính của bà con dân bản với thần rừng, thần núi, thần
Trang 36trời và thần đất Nó mang nhiều nét tâm linh huyền bí trong tín ngưỡng thờ cúng các nhiên thần của cộng đồng các dân tộc Trên tất cả đó là ước vọng của người dân cầu mong cho mưa thuận gió hòa, mùa màng bội thu, cây cốt tốt tươi cho nhiều bông nhiều trái, thóc lúa đầy bồ, lợn gà đầy chuồng, bản làng no ấm…
Lễ cúng rừng của người Dao Tuyển ở huyện Bảo Thắng được tổ chức vào ngày mùng 8 Tết hàng năm Đây là lễ hội bảo vệ và phát triển rừng cộng đồng, kết hợp lễ cúng rừng đầu xuân theo phong tục cổ truyền Lễ vật được rước đến dưới cây mí đại cổ thụ hàng trăm năm tuổi ở khu rừng cấm của làng, thầy cúng đỡ
những mâm cỗ trên đầu những nam thanh, nữ tú đặt vào miếu trước cây Bên trên mâm cỗ treo 5 đôi câu đối được viết bằng chữ của người Dao Tuyển với các nội dung như: rừng che chở cho con người và mùa màng; mọi người phải bảo vệ rừng; nhà nhà phải bảo vệ rừng; người người phải trồng và bảo vệ rừng Thay mặt bà con dân làng, thầy cúng cầu mong thần rừng che chở, mong cho một năm mưa thuận gió hoà, cuộc sống bình yên, ấm no, hạnh phúc Sau phần lễ cúng rừng, đến phần hội thi đấu một số môn thể thao dân tộc như kéo co, ném còn, đánh quay, đẩy gậy, nhảy ngựa,… luôn thu hút hàng ngàn người dân trong vùng cùng tham gia thi đấu
và dự cổ vũ
Trang 37Tiểu kết chương 1
Bảo Thắng là vùng có lịch sử lâu đời và có nhiều điều kiện thuận lợi cho việc định cư, sinh sống của đồng bào các dân tộc trong đó có người Dao Tuyển Người Dao Tuyển có nguồn gốc từ phía nam Trung Quốc, thiên di và ở Lào Cai nói chung và Bảo Thắng nói riêng từ khoảng thế kỷ XVII và định cư cho đến ngày nay Đồng bào Dao Tuyển chủ yếu làm ruộng và nương rẫy, bên cạnh đó còn phát triển trồng quế, các nghề thủ công như dệt vải, nhuộm chàm, khắc bạc làm đồ trang sức,… Thiết chế xã hội bao gồm làng, dòng họ và gia đình Gia đình của người Dao Tuyển là gia đình nhỏ phụ hệ với hai thế hệ, vai trò của người chủ trong gia đình rất lớn và được đề cao, coi trọng
Người Dao Tuyển còn tạo dựng được một đời sống văn hóa tinh thần phong phú, mang đậm bản sắc văn hóa tộc người Với quan niệm vạn vật hữu linh nên đồng bào ở đây thờ nhiều vị thần như thần Nông, thần Bà mụ, thần Bản mệnh,…
Họ tạo dựng được một kho tàng văn học, nghệ thuật dân gian đa dạng với nhiều thể loại như dân ca, tục ngữ, câu đố, thơ ca,… phản ánh cuộc sống lao động, sinh hoạt, lễ nghi của đồng bào
Trang 38Chương 2 TRANG PHỤC TRUYỀN THỐNG CỦA NGƯỜI DAO TUYỂN
VÀ SỰ BIẾN ĐỔI CỦA TRANG PHỤC 2.1 Quy trình làm ra trang phục
2.1.1 Nguyên liệu tạo ra vải
* Sự ra đời của trang phục
Từ xa xưa, những cư dân trồng trọt đã biết lấy vỏ cây mà che thân Cư dân chăn nuôi, săn bắn thì lấy da thú mà làm quần áo Ban đầu trang phục chỉ có giá trị vật chất, sau đó quần áo mang cả giá trị thẩm mĩ Từ những nguyên liệu ban đầu thô sơ nhất, con người đã biết tìm ra loại chất liệu mới để may quần áo sao cho vừa tiện lợi trong sử dụng vừa phù hợp với khí hậu, môi trường và bền đẹp Ở Việt Nam nhiều nhà nghiên cứu cho rằng trên nhiều đồ đồng, đồ gốm Đông Sơn đã có
in dấu vải bằng vỏ cây, đây có thể là vỏ cây sui mà trong kháng chiến chống Pháp
ta thấy trong căn cứ kháng chiến Việt Bắc Từ vải bằng vỏ cây sui con người ta
tiến đến sử dụng “vải chuối tiêu” (tiên cát) Sách Quảng chí Trung Quốc chép: “
Ở Giao Chỉ thân cây chuối xé ra như tơ, dệt thành vải gọi là tiêu cát, dễ rách nhưng đẹp, màu vàng nhạt, cũng gọi là vải Giao Chỉ” [7; tr113-114] Từ vải tơ
chuối lại tiến đến vải bông cây gạo gọi là vải cát bối hay vải cát bá Sách Ngô lục của Trương Bột nói: “Ở Giao Châu có cây bông gạo cao hơn 1 trượng, quả to như
chén rượu, da mỏng, trong ruột như mối tơ, sắc trắng bạch, làm vải được” [7;
tr113-114] Quần áo làm từ nguyên liệu bông mềm mại, bền đẹp mát về mùa hè,
Trang 39Để tiến hành trồng bông, đầu tiên người ta phải chọn đất trồng bông Loại đất này phải tốt, tơi xốp, mầu đen thẫm, dễ thấm nước và dễ thoát nước ở các bãi đất bằng phẳng ven suối hoặc sườn đồi thấp Thường các khoảng đất ấy không lớn lắm nên bông không được trồng thành từng vùng tập trung cho cả bản mà mỗi nhà
có mỗi mảnh đất riêng để trồng bông với hàng rào chống trâu bò rất chắc chắn và công phu
Giống bông đồng bào chọn trồng là giống bông cỏ - cây bông tên khoa học
là Gosypium Loại bông này có ưu điểm là thân ngắn nên thu hái dễ dàng, cây chịu được nắng hạn, sâu bệnh, khoẻ mạnh mọc lấn át cả cỏ dại Khi bông chín quả bông thường gục xuống, vỏ quả tạo thành chiếc nón che mưa cho sợi bên trong nên bông còn có thể chịu được cả mưa Tuy nhiên bông có nhược điểm là quả bé năng xuất thấp, sợi ngắn
Sau khoảng một tháng chọn đất phát nương, dọn cỏ để đất có đủ điều kiện tơi xốp thì đến tháng 1, tháng 2 âm lịch gieo hạt bông Trong suốt quá trình tạo ra trang phục có ba lần người đàn ông trực tiếp tham gia vào công việc là chọc lỗ tra hạt, làm hàng rào nương bông và tạo công cụ dệt vải Có lẽ đây là công việc cần đến sức mạnh cơ bắp nhiều hơn cho nên người đàn ông đảm nhiệm Một hình ảnh rất đẹp ở vùng núi rừng yên bình hẻo lánh là có đôi trai gái mới yêu nhau hay đôi
vợ chồng lúi húi như đôi chim gáy trên nương, chồng đi trước dùng gậy chọc lỗ,
vợ (có thể cả con cái trong gia đình) đi sau tra hạt bông vào lỗ Chọn ngày lành tháng tốt, đúng khi tiết trời mát mẻ có khi cả gia đình cùng đi gieo hạt cho xong trong ngày đó Mỗi lỗ người ta tra ba đến bốn hạt Bông mọc đều cả thì không cần tỉa Sau một tháng thì tiến hành nhổ cỏ, chặt những bụi cây còn sót trong khi đốt rẫy
Trang 40Đến tháng hai, tháng ba khí hậu mát mẻ, mưa phùn lất phất làm đất luôn có
độ ẩm cần thiết cho cây bông nảy mầm và sinh trưởng Sau hơn ba tháng thì bông thu hoạch được Đó cũng là lúc cái nắng gay gắt đổ xuống, đồng bào tranh thủ thu hoạch bông để tránh mưa Công việc thu hoạch là của phụ nữ và những em gái lớn hơn 10 tuổi Các em gái được theo mẹ lên nương làm quen với công việc gieo trồng chăm bón bông Phụ nữ thì gùi lớn, các em gái thì gùi bé, mùa thu hoạch bông thắng lợi là một niềm vui của cả gia đình, cả bản
2.1.2 Quy trình tạo ra vải
Bông hái về được đổ ra phơi nắng lại và thả sương đêm Cứ một ngày phơi nắng lại một đêm phơi sương cho bông nở hết, trắng và tơi xốp Bông được chế biến ngay hoặc cất đi dùng dần Bằng bàn tay khéo léo cần cù của người phụ nữ Dao Tuyển Từ những công cụ thô sơ, trang phục dần dần được xuất hiện
+ Chọn nhặt bông (kép phai): khi thu hoạch người Dao Tuyển hái tất cả các loại bông về bỏ chung vào “bế ” (chiếc bồ con) Trong đó quả tốt quả xấu lẫn lộn, quá trình cất giữ có khi bông lại bị hỏng một ít Do đó trước khi đem dùng phải chọn nhặt bông Loại bông để dệt vải mặc được chọn từ quả lứa đầu, sợi trắng, xốp, dài mịn và dai Những loại bông lứa sau hoặc bị kém chất lượng trong khi cất giữ thì sợi ngắn, không được trắng và tơi xốp dùng làm chăn, đệm, gối…
+ Cán bông (ịt phai): người ta có một dụng cụ đơn giản gọi là máy cán bông Đó là một dụng cụ làm bằng gỗ, có chân hình chữ T dày 3,5cm, rộng 10cm, dài 40cm Người ta để chữ T nằm xuống đục lỗ hai đầu rồi dựng lên hai thanh gỗ cao 30cm tạo thành một cái giá Người ta làm hai cái trục gỗ có xẻ rãnh theo chiều dọc, đặt song song gần sát nhau, nối bốn đầu của hai trục vào đầu của hai thanh gỗ dựng đứng, đầu của một trục có tay quay uốn bằng sắt Khi cán bông người ta cho bông vào khe hở giữa hai trục, một tay cầm tay quay quay mạnh Hai trục quay