1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Ôn tập củng cố phần cảm ứng điện từ vật lý 11 (nâng cao) nhằm nâng cao kết quả học tập của học sinh

77 574 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 77
Dung lượng 613,8 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Phần “Cảm ứng điện từ” có nhiều ứng dụng trong thực tế, cho nên cần tổ chức quá trình học tập cho HS để HS nắm vững kiến thức và ứng dụng được vào thực tế.. Mục đích nghiên cứu Sử dụng p

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2

KHOA VẬT LÝ - -

KHỔNG THỊ HỒNG ĐIỆP

ÔN TẬP CỦNG CỐ PHẦN “CẢM ỨNG

ĐIỆN TỪ”- VẬT LÝ 11 (NÂNG CAO) NHẰM

NÂNG CAO KẾT QUẢ HỌC TẬP CỦA HỌC SINH

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Chuyên ngành: Lí luận và Phương pháp dạy học bộ môn Vật lí

Người hướng dẫn khoa học:

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Trong quá trình học tập và nghiên cứu hoàn thành đề tài khóa luận “Ôn

tập củng cố phần “Cảm ứng điện từ”-vật lý 11 (nâng cao) nhằm nâng cao kết

quả học tập của học sinh’’, tôi đã nhận được sự giúp đỡ nhiệt tình từ phía các

thầy cô giáo, gia đình và bạn bè

Tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến thầy giáo - Th.s Ngô Trọng Tuệ đã

hướng dẫn, chỉ bảo tận tình trong suất quá trình tôi nghiên cứu và hoàn thành

khóa luận

Tôi xin chân thành cảm ơn ban Giám Hiệu trường Đại học sư phạm Hà

Nội 2, ban chủ nhiệm khoa vật lý đã tạo điều kiện cho tôi nghiên cứu và bảo

vệ khóa luận Đồng thời tôi xin cảm ơn đến các thầy cô giáo trong khoa đã tận

tình giảng dạy trong suất 4 năm học qua cũng là tiền đề để tôi nghiên cứu và

hoàn thành khóa luận này

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, tháng 5 năm 2015

Sinh viên

Khổng Thị Hồng Điệp

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Khóa luận tốt nghiệp Đại học với đề tài: “Ôn tập củng cố phần “Cảm

ứng điện từ” - Vật lý 11 (nâng cao) nhằm nâng cao kết quả học tập của học

sinh” được hoàn thành trên sự cố gắng của bản thân và sự hướng dẫn tận tình

của thầy giáo – Th.s Ngô Trọng Tuệ , tôi xin cam đoan khóa luận này là thành

quả của quá trình làm việc nghiêm túc của bản thân và nội dung khóa luận

không trùng lặp với các công trình nghiên cứu của các tác giả trước đã công

bố

Hà Nội, tháng 5 năm 2015

Sinh viên

Khổng Thị Hồng Điệp

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lí do chọn đề tài 1

2 Mục đích nghiên cứu 2

3 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu 2

4 Giả thuyết khoa học 2

5 Nhiệm vụ nghiên cứu 2

6 Phương pháp nghiên cứu 3

7 Đóng góp của đề tài 3

8 Cấu trúc khóa luận 3

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC ÔN TẬP CỦNG CỐ TRONG DẠY HỌC VẬT LÍ 5

1.1 Ôn tập củng cố kiến thức vật lí cho học sinh 5

1.2 Sử dụng phần mềm dạy học, bài tập trong ôn tập củng cố 9

1.3 Nâng cao kết quả nắm vững kiến thức của học sinh 13

1.4 Thực trạng ôn tập củng cố phần “Cảm ứng điện từ” ở một số trường THPT 18

Kết luận chương 1 23

CHƯƠNG 2: TỔ CHỨC ÔN TẬP ỦNG CỐ CHO HỌC SINH PHẦN “CẢM ỨNG ĐIỆN TỪ” – VẬT LÍ 11 (NÂNG CAO) 25

2.1 Cấu trúc nội dung phần “Cảm ứng điện từ” 25

2.2 Mục tiêu khi dạy học phần “Cảm ứng điện từ” 31

2.2.1 Mục tiêu về kiến thức 31

2.2.2 Mục tiêu về kĩ năng 31

2.3 Lựa chọn phần mềm, xây dựng bài tập để ôn tập củng cố cho học sinh 31 2.4 Xây dựng tiến trình ôn tập củng cố cho học sinh 49

Kết luận chương 2 51

CHƯƠNG 3: DỰ KIẾN THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 52

Trang 6

3.1 Mục đích, đối tượng thực nghiệm sư phạm 52

3.2 Phương pháp thực nghiệm sư phạm 52

3.3 Dự kiến tiến hành thực nghiệm sư phạm 52

Kết luận chương 3 57

KẾT LUẬN 58

TÀI LIỆU THAM KHẢO 59

PHỤ LỤC 60

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Bước sang thế kỷ thứ 21- thế kỷ của sự phát triển khoa học công nghệ

và kinh tế tri thức Khi công nghệ thông tin càng phát triển thì việc ứng dụng công nghệ thông tin vào tất cả các lĩnh vực là điều tất yếu Trong lĩnh vực đào tạo thì tin học đã bước vào trong quản lý và dạy học Tuy nhiên việc đưa tin học vào trong giảng dạy còn chưa được phổ biến ở nước ta

Vật lí là một trong trong các môn khoa học thực nghiệm, vì vậy trong giảng dạy môn vật lí thí nghiệm là một khâu rất quan trọng, nó không chỉ làm tăng tính hấp dẫn của môn học mà còn giúp HS hiểu sâu sắc hơn về kiến thức

lý thuyết đã được học, hiểu được bản chất của các hiện tượng vật lí đã xảy ra, các thí nghiệm thực hiện khó, xảy ra trong các môi trường đặc biệt mà chúng

ta khó có thể tiến hành trực tiếp được Có thể các thí nghiệm không được tiến hành vì các lí do: không đủ thời gian, các thiết bị kém chất lượng nên cho sai

số cao, thí nghiệm xảy ra trong trường hợp đặc biệt mà ta không thể tiến hành (chân không, độ cao… )

Trong các phần ôn tập chương do có thời gian rất ngắn nên không thể nói chi tiết cho HS hiểu và ghi nhớ lại bài được Vì vậy, để giúp HS hiểu hơn

về bản chất của một số hiện tượng vật lí hoặc các thí nghiệm trong bài học và

có đầy đủ thời gian giảng dạy trên lớp thì việc ứng dụng các phần mềm tin học vào việc giảng dạy là cần thiết

Phần “Cảm ứng điện từ” có nhiều ứng dụng trong thực tế, cho nên cần

tổ chức quá trình học tập cho HS để HS nắm vững kiến thức và ứng dụng được vào thực tế

Khi dạy học phần “Cảm ứng điện từ” có nhiều nội dung HS có thể nghiên cứu nhờ các PMDH, qua việc sử dụng phần mềm này kết hợp với các BTVL sẽ giúp HS nắm vững kiến thức cũng như kĩ năng làm bài tập, tư duy của HS sẽ nâng cao kết quả học tập của HS

Trang 8

Vì những lí do trên chúng tôi lựa chọn đề tài “Ôn tập củng cố phần

“Cảm ứng điện từ”-vật lý 11 (nâng cao) nhằm nâng cao kết quả học tập

của học sinh”

2 Mục đích nghiên cứu

Sử dụng phần mềm và xây dựng, lựa chọn một số bài tập để ôn tập

củng cố kiến thức cho HS trong chương “Cảm ứng điện từ” nhằm giúp HS

nắm vững kiến thức, nâng cao kết quả học tập

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng: hoạt động của GV và HS trong việc ôn tập chương “Cảm

ứng điện từ” bằng cách sử dụng phần mềm nhằm nâng cao kết quả học tập

của HS

Phạm vi: hệ thống lý thuyết và bài tập chương “Cảm ứng điện từ” sách

giáo khoa vật lí 11 (Nâng cao)

4 Giả thuyết khoa học

Trong dạy học chương “Cảm ứng điện từ” nếu GV sử dụng và lựa

chọn các phần mềm tin học để ôn tập sẽ giúp cho HS nắm vững các kiến thức

cơ bản

5 Nhiệm vụ nghiên cứu

Nghiên cứu lí luận về việc sử dụng phần mềm vật lí nhằm giúp HS

Nghiên cứu sử dụng PMDH khi ôn tập củng cố phần “Cảm ứng điện

từ”-Vật lý 11 (nâng cao) nhằm nâng cao kết quả học tập của HS

Lựa chọn bài tập chương “Cảm ứng điện từ” và đề ra cách sử dụng hệ

thống bài tập đó nhằm giúp HS nắm vững kiến thức cơ bản

Trang 9

Dự kiến TNSP nhằm đánh giá tính khả thi và hiệu quả của các phần

mềm tin học được sử dụng

6 Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu lí luận về ôn tập củng cố, về các mức độ nắm vững kiến

thức của HS

Nghiên cứu cấu trúc, nội dung chương “Cảm ứng điện từ” - Vật lí 11

(nâng cao)

Điều tra thực trạng dạy học bài tập vật lí chương “Cảm ứng điện từ”

của GV và HS lớp 11 THPT bằng cách trao đổi với GV và HS, khảo sát qua

các bài kiểm tra 15 phút, 1 tiết

Dự kiến TNSP để kiểm tra tính khoa học, khả thi, hiệu quả của phần

mềm, bài tập đã lựa chọn

7 Đóng góp của đề tài

7.1 Đóng góp về mặt lí luận

Hệ thống hóa một số cơ sở lí luận về việc ôn tập vật lí Khẳng định vai

trò của các phần mềm ứng dụng trong việc giúp HS nắm vững kiến thức cơ

bản, nâng cao kết quả học tập

7.2 Đóng góp về mặt thực tiễn

Hệ thống các phần mềm tin học đã được lựa chọn giúp cho HS ghi nhớ

kiến thức một cách khoa học và rõ ràng, giúp HS định vị được kiến thức

8 Cấu trúc khóa luận

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, khóa

luận gồm ba chương:

Chương 1 Cơ sở lí luận và thực tiễn của việc ôn tập củng cố trong

dạy học vật lí

1.1 Ôn tập củng cố kiến thức vật lí cho học sinh

1.2 Sử dụng phần mềm dạy học, bài tập trong ôn tập củng cố

1.3 Nâng cao kết quả nắm vững kiến thức của học sinh

Trang 10

1.4 Thực trạng ôn tập củng cố phần “Cảm ứng điện từ” ở một số

trường THPT

Kết luận chương 1

Chương 2 Tổ chức ôn tập củng cố cho học sinh phần “Cảm ứng

điện từ” - Vật lí 11 (Nâng cao)

2.1 Cấu trúc nội dung phần “Cảm ứng điện từ”

2.2 Mục tiêu khi dạy học phần “Cảm ứng điện từ”

Chương 3 Dự kiến thực nghiệm sư phạm

3.1 Mục đích, đối tượng thực nghiệm sư phạm

3.2 Phương pháp thực nghiệm sư phạm

3.3 Dự kiến tiến hành thực nghiệm sư phạm

Kết luận chương 3

KẾT LUẬN

Trang 11

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC ÔN TẬP

CỦNG CỐ TRONG DẠY HỌC VẬT LÍ

1.1 Ôn tập củng cố kiến thức vật lí cho học sinh

1.1.1 Vai trò và vị trí của ôn tập trong quá trình nhận thức

Ôn tập là một quá trình củng cố kiến thức Nó là một bộ phận tất yếu và

nhất thiết phải có của toàn bộ quá trình phức tạp chiếm lĩnh tài liệu học của

HS

Ôn tập không đơn thuần là nhắc lại kiến thức đã học, mà là sự vận động

tiến lên bao hàm những yếu tố mới như: Nội dung cũ đã được nhắc lại dưới

hình thức mới (cách sắp xếp vấn đề mới, giải bài tập và tiến hành thí nghiệm

mới…); Nội dung đã học được phát triển cả về bề rộng lẫn bề sâu phù hợp với

yêu cầu của chương trình (có thêm những hiểu biết mới…) Nội dung đã học

được phát triển cả về bề rộng lẫn bề sâu phù hợp với yêu cầu của chương trình

(có thêm những hiểu biết mới , có sự vận dụng vào thực tiễn đa dạng hơn…)

Ôn tập có thể tiến hành theo đề cương khác cách trình bày trước kia trong

từng bài học của SGK hay của GV làm phong phú hơn những điều đã học

bằng những tư tưởng mới và làm cho HS lí giải một cách sâu sắc những kiến

thức đã học.[2, tr 108]

Ôn tập nhằm tái hiện lại kiến thức của nhân loại một cách chính xác,

khoa học, dễ hiểu, dễ tiếp thu là một yếu tố cực kì quan trọng trong dạy học

Ôn tập được tổ chức tốt cũng chiếm một vị trí quan trọng trong quá trình dạy

học ở bất cứ môn học nào trong nhà trường Nó là biện pháp cần thiết mà GV

phải sử dụng trong việc dạy học của mình và nó giúp người học trong quá

trình hoàn thiện tri thức và rèn luyện kỹ năng, kỹ xảo Nhờ ôn tập được tổ

chức tốt mà những kiến thức đã được học không chỉ được ghi lại trong trí nhớ

mà còn được hệ thống lại, khắc sâu một cách sáng tạo hơn

Trang 12

Thông qua việc ôn tập củng cố giúp HS hệ thống hóa được kiến thức,

luyện tập và phát triển các kĩ năng đã được học, giúp HS đào sâu, mở rộng,

khắc sâu các kiến thức, sửa và tránh được những quan niệm sai lầm thường

mắc phải trong và sau khi tiếp thu kiến thức mới

1.1.2 Nội dung cần ôn tập củng cố trong dạy học vật lí

Ôn tập là một khâu trong các hình thức tổ chức dạy học ở trường phổ

thông vì thế không tự đề ra nội dung, chương trình riêng cho nó mà phải dựa

trên cơ sở nội dung chương trình cho từng môn học mà lựa chọn những vấn

đề cơ bản cần ôn tập và sắp xếp có hệ thống những vấn đề đó Ôn tập không

tự đề ra phương pháp riêng cho mình mà dựa trên phương pháp dạy học của

bộ môn với nội dung cần ôn tập để lựa chọn phương pháp thích hợp nhất

trong khoảng thời gian cho phép được qui định của chương trình

Đối với bộ môn vật lí, những kiến thức vật lí cơ bản sẽ tạo nên nội

dung chính của môn học Thông qua việc hình thành những kiến thức cơ bản

đó mà thực hiện các nhiệm vụ khác của dạy học vật lí, trước hết là phát triển

năng lực nhận thức, năng lực sáng tạo, hình thành thế giới quan khoa học thực

hiện các nhiệm vụ khác của dạy học vật lí

Trong vật lí, một mặt HS phải quan sát thực tế để cảm nhận được sự

tồn tại của thực tế khách quan và những đặc tính bên ngoài của nó, mặt khác

học sinh phải thực hiện được các phép suy luận, biến đổi để rút ra các đặc tính

bản chất và các mối quan hệ phổ biến khách quan, nhờ thế mà rút ra chân lí

mới Trình tự hợp lí của những hoạt động vật chất và tinh thần đảm bảo cho

kết luận cuối cùng rút ra phản ánh đúng thực tế khách quan gọi là phương

pháp nhận thức vật lí Các phương pháp nhận thức vật lí đều do các nhà bác

học đúc kết được thông qua các hoạt động thực tiễn, đã được thực tiễn khẳng

định Muốn cho HS làm quen dần với phương pháp đi tìm chân lí mới trong

quá trình học tập, nhất thiết phải dạy cho họ những phương pháp nhận thức

phổ biến

Trang 13

Những kiến thức vật lí cơ bản cần hình thành trong quá trình học kiến

thức mới cũng như trong quá trình ôn tập củng cố trong chương trình vật lí

phổ thông gồm các loại sau:

 Những khái niệm vật lí, đặc biệt là khái niệm là đại lượng vật lí

 Những định luật vật lí

 Những thuyết vật lí

 Những ứng dụng của vật lí trong kĩ thuật

 Những phương pháp nhận thức vật lí.[2, tr20]

Một số kĩ năng HS cần phải có để nâng cao hiệu quả ôn tập củng cố:

- Kĩ năng thu thập thông tin: quan sát các hiện tượng tự nhiên, đời sống

hàng ngày; kĩ năng đọc sách, tài liệu; kĩ năng quan sát, đọc đồ thị,biểu đồ; kĩ

năng khai thác thông tin trên mạng internet,…

- Kĩ năng xử lí thông tin: kĩ năng gây dựng bảng biểu; đồ thị; sử dụng

công cụ để tính toán, xử lí số liệu thu được; kĩ năng so sánh, đánh giá; phân

tích, tổng hợp…

- Kĩ năng truyền đạt thông tin: trình bày, viết, báo cáo kết quả, nhận xét

ý kiến cá nhân…

1.1.3 Các hình thức ôn tập

Hoạt động học tập ôn tập của HS chủ yếu thông qua hoạt động học tập

trên lớp và hoạt động tự học ở nhà Ôn tập của HS ở nhà cũng chính là tạo

điều kiện để học tập trên lớp theo giờ giảng đạt hiệu quả hơn Ôn tập củng cố

có thể thực hiện dưới nhiều hình thức nhưng chủ yếu là 2 hình thức: Ôn tập

củng cố kiến thức ngay trong giờ lên lớp và ôn tập củng cố ngoài giờ học

chính khóa

1.1.3.1.Ôn tập củng cố kiến thức ngay trong giờ lên lớp

Ôn tập ngay trước và trong khi HS tìm hiểu, tiếp thu kiến thức mới dựa

trên cơ sở của những kiến thức đã học trước đó Hình thức này thường được

Trang 14

tiến hành ngay trong mỗi bài học hàng ngày, thực tiễn thông qua hệ thống các

câu hỏi được GV chuẩn bị sẵn, đó là các câu hỏi kiểm tra bài cũ đầu giờ, hoặc

những câu hỏi đặt ra trong tiết học nhằm gợi lại kiến thức cũ mà nó là cơ sở

để hình thành kiến thức mới trong bài học

Ôn tập được tiến hành ngay sau khi HS vừa học bài mới, nhằm củng cố

kiến thức mà HS vừa mới lĩnh hội, chốt lại những kiến thức cơ bản, cốt lõi

của bài học Hình thức này được tiến hành vào cuối tiết học bằng cách đưa ra

các câu hỏi để HS trả lời hoặc làm các bài tập có tính chất hệ thống hóa, tổng

kết những kiến thức cơ bản của bài học

Ôn tập sau khi kết thúc một chương hoặc một phần chương trình Hình

thức ôn tập này được thực hiện trong một (hoặc một vài) tiết học riêng biệt

Mục đích sư phạm của các tiết ôn tập như vậy là chỉnh lý lại, hệ thống lại, tìm

ra mối liên hệ logic giữa các kiến thức mà HS đã được lĩnh hội trong một

phần của tài liệu học; tạo cho HS có cái nhìn toàn diện về nội dung kiến thức

trong phần đó

Ôn tập tổng kết được áp dụng khi chương trình kết thúc vào cuối kì,

cuối năm Ôn tập tổng kết không đơn thuần là khôi phục lại trí nhớ mọi tri

thức đã học Mục đích của nó là nâng cao tri thức cho HS lên một trình độ

mới cao hơn Trước hết là nó đảm bảo hệ thống hóa lại các tri thức đã học,

điều đó đạt được nhờ nội dung của vấn đề cần ôn tập

1.1.3.2.Ôn tập củng cố kiến thức ngoài giờ lên lớp

Hình thức này diễn ra sau giờ lên lớp và dưới sự hướng dẫn gián tiếp

của GV thông qua hệ thống câu hỏi và bài tập mang tính định hướng trong

các giờ học tự chọn, bổ trợ kiến thức HS thực hiện việc ôn tập của mình bằng

cách đọc lại bài học hoặc tái hiện nội dung bài học như cấu trúc của các phần,

các mục, nội dung của các đề mục trong bài Sau đó trả lời các câu hỏi của

GV hoặc câu hỏi trong SGK, hoặc tự đặt ra câu hỏi để trả lời Đồng thời cần

đọc các tài liệu có liên quan để mở rộng và đào sâu kiến thức đã học

Trang 15

Theo quan điểm lấy HS làm trung tâm hiện nay, dạy học là dạy HS biết

tự học, tự chiếm lĩnh kiến thức cũng như tự ôn tập củng cố kiến thức, dạy học

là dạy cho HS biết phối hợp hoạt động trong nhóm dưới sự hướng dẫn của

thầy Hoạt động tự ôn tập củng cố cũng như hoạt động ôn tập củng cố trong

nhóm HS hiện tại và tương lai hết sức quan trọng

1.2 Sử dụng phần mềm dạy học, bài tập trong ôn tập củng cố

Phương tiện dạy học là các phương tiện sư phạm đối tượng-vật chất do

GV hoặc (và) HS sử dụng dưới sự chỉ đạo của GV trong quá trình dạy học,

tạo những điều kiện cần thiết nhằm đạt được mục đích dạy học Phương tiện

dạy học có thể được sử dụng một cách đa dạng trong quá trình củng cố (ôn

tập, đào sâu, mở rộng, hệ thống hóa) kiến thức, kĩ năng của HS Hiện nay, các

phương tiện được dùng trong ôn tập, củng cố thường là các phương tiện:

 Sách (sách giáo khoa, bài tập, các tài liệu khác…)

 Các tài liệu, bài tập, bài kiểm tra (trắc nghiệm, tự luận) trên

mạng (dưới dạng web…)

 Phần mềm dạy học (PMDH)

1.2.1 Sử dụng phần mềm dạy học trong ôn tập củng cố

PMDH là một trong những phương tiện dạy học hỗ trợ ôn tập, củng cố

một cách hiệu quả cho HS PMDH là phương tiện chứa chương trình để ra

lệnh cho máy tính thực hiện các yêu cầu về nội dung và phương pháp dạy học

theo mục tiêu đã định

Khác với các phương tiện dạy học khác, PMDH là một dạng thiết bị

đặc biệt, là các câu lệnh chứa thông tin, dữ liệu để hướng dẫn máy vi tính thực

hiện các thao tác xử lý theo một thuật toán xác định từ trước Các PMDH

được lưu trữ trong các thiết bị nhớ ngoài của máy tính như trong các đĩa cứng,

đĩa mềm, đĩa CD PMDH rất gọn nhẹ, rất dễ nhân bản với số lượng lớn,

không công kềnh, dễ bảo quản, dễ vận chuyển, dễ sử dụng, sinh động và hấp

dẫn Tùy thuộc vào từng môn học cụ thể mà xây dựng các PMDH tương ứng

Trang 16

để phục vụ cho dạy và học môn ấy, do vậy có các PMDH bộ môn Tùy thuộc

vào hình thức sử dụng và chức năng sư phạm mà phần mềm đảm nhận có thể

phân chia các PMDH thành các loại khác nhau

Từ thực tế sư phạm cho thấy, trong nhiều trường hợp nếu chỉ sử dụng

các phương tiện dạy học truyền thống thì không thể quan sát, thu thập thông

tin về các đối tượng cần nghiên cứu nên nhiều quá trình vật lí không thể đưa

vào trong chương trình vật lí phổ thông

Ngày nay, cả lí luận và thực tiễn đã chứng minh phương pháp sử dụng

PMDH trong quá trình dạy học theo hướng tích cực hóa hoạt động học tập

của học sinh sẽ làm cho quá trình dạy học đạt hiệu quả cao

PMDH rất phong phú về nội dung và hình thức thể hiện Vì vậy, người

GV cần có sự lựa chọn để có được PMDH thích hợp với ý đồ sư phạm của

mình Đối với việc dạy học các môn khoa học tự nhiên, khi sử dụng PMDH

cần phải xuất phát từ các căn cứ sau:

- Căn cứ mục đích lí luận dạy học và nội dung của bài học GV cần xác

định đây là loại bài học gì? Loại bài hình thành tri thức mới, loại bài ôn tập

củng cố kiến thức, loại bài tập luyện tập, rèn luyện kĩ năng hay loại bài kiểm

tra

- Căn cứ vào đặc điểm, đối tượng HS cùng một nội dung học tập có thể

sử dụng những PMDH khác nhau Ngoài căn cứ vào mục đích lí luận dạy học,

GV cần căn cứ vào đặc điểm đối tượng HS để lựa chọn PMDH

Trong dạy học vật lí có thể phân chia các PMDH thành các nhóm sau:

- Phần mềm mô phỏng, minh họa: thường gọi là phần mềm mô phỏng

- Phần mềm thu thập và sử lí các số liệu thực nghiệm dung hỗ trợ cho

Trang 17

Như vậy PMDH có rất nhiều chức năng trong đó chức năng ôn tập

củng cố là một trong những chức năng cơ bản nhất

Theo chúng tôi, có thể kể ra một số tác dụng của phần mềm trong ôn

tập củng cố như sau:

- Mô phỏng trực quan hiện tượng vật lí quan sát được trong tự nhiên:

Chuyển động cơ học (của xe, thuyền ), các hiện tượng vật lí (khúc xạ ánh

sáng, cầu vồng )

- Mô phỏng trực quan các hiện tượng vật lí không quan sát được trong

tự nhiên: Chuyển động của electron trong kim loại, quá trình phân rã hạt

nhân

- Mô phỏng các mô hình: Đường sức điện trường, từ trường…

- Mô phỏng nguyên lý làm việc của một số thiết bị, qua đó hiểu rõ các

hiện tượng vật lí trong thiết bị đó: Như cơ chế tạo tia laze trong thiết bị tạo

ánh sáng laze, nguyên lý tạo lực nâng ở cánh máy bay

- Mô phỏng các phương trình toán học dưới dạng đồ thị, mô hình giúp

làm trực quan các kết quả tính toán lý thuyết: Như đồ thị động năng và thế

năng của dao động điều hòa, mô hình sóng điện từ dao động theo hai phương

vuông góc

1.2.2 Sử dụng bài tập trong ôn tập củng cố

Sử dụng bài tập trong ôn tập củng cố là một trong những phương pháp

được sử dụng phổ biến của giáo viên THPT

1.2.2.1 Quan niệm về bài tập vật lí (BTVL)

Theo X.E.Camentxki và V.P.Owrrekhov: Trong thực tiễn dạy học,

BTVL là một vấn đề không lớn mà trong trường hợp tổng quát được giải

quyết nhờ những suy luận logic, những phép toán và thí nghiệm trên cơ sở

các định luật và phương pháp vật lí…Thông thường trong các SGK và các tài

liệu lí luận dạy học bộ môn, người ta hiểu BTVL là những bài luyện tập được

lựa chọn phù hợp với mục đích chủ yếu là nghiên cứu các hiện tượng vật lí,

Trang 18

hình thành khái niệm, phát triển tư duy vật lí của HS và rèn luyện kĩ năng vận

dụng kiến thức của họ vào thực tiễn.[6]

Hiểu theo nghĩa rộng thì sự tư duy định hướng tích cực đến bất kì một

vấn đề nào đó luôn là việc giải bài tập Còn về thực chất thì mỗi một vấn đề

mới xuất hiện khi nghiên cứu vật lí cần phải giải quyết chính là một bài tập

đối với HS

Quan niệm về BTVL nêu trên được nhiều nhà lí luận dạy học bộ môn

và GV tán thành, chấp nhận

1.2.2.2 Tác dụng của BTVL trong dạy học

BTVL giúp HS hiểu sâu sắc hơn những qui luật vật lí, biết phân tích

ứng dụng chúng vào những vấn đề thực tiễn, vào việc tính toán kĩ thuật

BTVL là một trong những phương tiện hình thành kiến thức mới đảm

bảo cho HS nắm được kiến thức một cách vững chắc và sâu sắc

BTVL là một phương tiện để phát triển tư duy, óc tưởng tượng Bởi lẽ

trong quá trình giải quyết tình huống cụ thể là do bài tập đề ra, HS phải vận

dụng các thao tác tư duy để tự lực giải quyết vấn đề do đó hình thành ở học

sinh tính độc lập trong suy luận, kiên trì khắc phục khó khăn

BTVL là phương tiện ôn tập củng cố kiến thức đã học Thông thường

khi giải bài tập, HS không chỉ đơn thuần vận dụng các kiến thức của bài vừa

học mà phải nhớ lại các kiến thức cũ đã học có liên quan, có khi phải vận

dụng tổng hợp các kiến thức đã học trong một chương, phần Khi đó HS sẽ

nắm được mối liên hệ giữa các kiến thức cơ bản với nhau, nhờ đó ghi nhớ sâu

sắc hơn những kiến thức đã học

BTVL là một trong những phương tiện kiểm tra, đánh giá mức độ nắm

bắt kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo và thói quen của HS một cách chính xác Khi

vận dụng kiến thức để giải bài tập, HS không những phải hiểu các kiến thức

có liên quan mà còn phải biết vận dụng sáng tạo vào tình huống cụ thể để tìm

ra lời giải Vì vậy sẽ giúp phát hiện được trình độ trí tuệ, làm bộc lộ những

Trang 19

khó khăn, sai lầm của HS trong học tập, giúp họ vượt qua khó khăn, khắc

phục sai lầm đó

BTVL có tác dụng giáo dục tư tưởng, đạo đức kĩ thuật tổng hợp và

hướng nghiệp cho HS

Những tác dụng của BTVL cho thấy việc sử dụng bài tập để ôn tập

củng cố là một trong những phương pháp cần thiết

1.2.2.3 Những yêu cầu khi lựa chọn hệ thống BTVL cho một đề tài,

chương,phần của sách vật lí

Hệ thống bài tập được lựa chọn cho bất cứ một đề tài nào dù lớn hay

nhỏ phải thỏa mãn một số yêu cầu sau:

Các bài tập trong hệ thống phải sắp xếp từ dễ đến khó, từ đơn giản đến

phức tạp về mối quan hệ giữa các khái niệm, đại lượng vật lí sao cho dần dần

HS hiểu được kiến thức, nắm được vững chắc và có kĩ năng vận dụng kiến

thức đó

Mỗi bài tập được lựa chọn phải là một mắt xích trong hệ thống bài tập

đóng góp được một phần nào đó vào việc hoàn chỉnh các kiến thức của HS,

giúp họ hiểu được mối quan hệ giữa các đại lượng, cụ thể hóa các khái niệm

và vạch ra những nét mới nào đó chưa được làm sáng tỏ

Hệ thống bài tập được lựa chọn phải giúp cho HS phát hiện được

những khó khăn chủ yếu, sai lầm phổ biến của các em trong việc chiếm lĩnh

từng kiến thức cơ bản, đồng thời giúp họ vượt qua những khó khăn, tránh

được những sai lầm ấy

Số lượng bài tập lựa chọn phải phù hợp với thời gian qui định của

chương trình học và thời gian học ở nhà của HS

1.3 Nâng cao kết quả nắm vững kiến thức của học sinh

Theo lý luận dạy học, kiến thức được hiểu là kết quả của quá trình nhận

thức bao gồm một tập hợp nhiều mặt về chất lượng và số lượng các biểu

tượng và khái niệm lĩnh hội được, được giữ lại trong trí nhớ và được tái tạo

Trang 20

khi có đòi hỏi tương ứng [5] Kiến thức vật lí có thể chia thành các nhóm cơ

bản:

1) Khái niệm vật lí, đặc biệt là khái niệm về đại lượng vật lí; 2) Định

luật vật lí; 3) Thuyết vật lí; 4) Những phương pháp nghiên cứu(nhận thức) vật

lý; 5) Những ứng dụng trong kĩ thuật [2,tr20]

Một trong những nhiệm vụ chủ yếu nhất của dạy học là đảm bảo cho

HS nắm vững những kiến thức cơ bản của nhà trường Nắm vững kiến thức

không những là hiểu đúng nội hàm, ngoại diên của nó, xác định được vị trí,tác

dụng của kiến thức ấy trong hệ thống kiến thức cơ bản đã tiếp thu từ trước,

mà còn biết quá trình hình thành nó và vận dụng được nó vào thực tiễn

Sự nắm vững kiến thức có thể được phân biệt ở ba mức độ: biết, hiểu,

vận dụng Vận dụng được chia ra thành 2 mức độ khác nhau đó là vận dụng ở

mức độ thấp và vận dụng ở mức độ cao

- Biết một kiến thức nào đó có nghĩa là nhận ra được nó, phân biệt

được nó với các kiến thức khác, kể lại được nội hàm của nó một cách chính

xác Đây là mức tối thiểu mà HS cần đạt được trong học tập

- Hiểu một kiến thức là gắn kiến thức ấy vào các kiến thức đã biết, đưa

được nó vào kinh nghiệm của bản thân Tức là nêu đúng nội hàm và ngoại

diên của nó xác lập được mối quan hệ giữa nó và hệ thống kiến thức khác và

vận dụng được hệ thống kiến thức ấy vào tình huống quen thuộc dẫn đến có

khả năng vận dụng nó một cách linh hoạt, sáng tạo

- Vận dụng kiến thức vào việc giải quyết các nhiệm vụ của thực tiễn

nghĩa là phải tìm được kiến thức thích hợp trong vốn kiến thức đã có để giải

quyết nhiệm vụ mới Nhờ vận dụng kiến thức mà nắm vững kiến thức một

cách thật sự sâu sắc

Để đảm bảo cho HS nắm vững kiến thức vật lí một cách chắc chắn, cần

phải hình thành cho họ kĩ năng, kĩ xảo không chỉ vận dụng mà còn chiếm lĩnh

được kiến thức thông qua nhiều hình thức luyện tập khác nhau Trong số đó

Trang 21

việc giải nhiều bài tập nhiều loại bài tập được sắp xếp có hệ thống từ dễ đến

khó là hình thức luyện tập được tiến hành nhiều nhất, do đó có tác dụng trong

việc hình thành kĩ năng, kĩ xảo vận dụng kiến thức Vật lí của HS

Hiểu theo nghĩa rộng, quá trình học tập là quá trình giải liên tiếp các

bài tập Bởi vậy, kiến thức sẽ được HS hoàn toàn nắm vững nếu họ tự lực,

tích cực, vận dụng linh hoạt, thành thạo kiến thức ấy để giải quyết các nhiệm

vụ khác nhau

Chất lượng nắm vững kiến thức bước đầu thể hiện ở chất lượng giải các

bài tập cơ bản về kiến thức ấy ở mức độ ghi nhớ và hiểu Còn chất lượng giải

hệ thống bài tập phù hợp với một đề tài, chương, phần của chương trình phản

ánh chất lượng nắm vững kiến thức và mối quan hệ của chúng trong đề tài,

chương, phần đó với nhau và vận dụng chúng trong những tình huống phức

tạp mới

Dạy học phát triển năng lực là một trong những phương pháp dạy học

định hướng kết quả đầu ra được bàn đến nhiều từ những năm 90 của thế kỷ

XX và ngày nay đã trở thành xu hướng giáo dục quốc tế Giáo dục định

hướng phát triển năng lực nhằm mục tiêu phát triển năng lực người học.Giáo

dục định hướng năng nhằm đảm bảo chất lượng đầu ra của việc dạy học, thực

hiện mục tiêu phát triển toàn diện các phẩm chất nhân cách, chú trọng năng

lực vận dụng tri thức trong những tình huống thực tiễn nhằm chuẩn bị cho con

người năng lực giải quyết các tình huống của cuộc sống và nghề nghiệp

Chương trình này nhấn mạnh vai trò của người học với tư cách chủ thể của

quá trình nhận thức

Khác với chương trình định hướng nội dung, chương trình dạy học định

hướng phát triển năng lực tập trung vào việc mô tả chất lượng đầu ra, có thể

coi là ”sản phẩm cuối cùng” của quá trình dạy học Việc quản lý chất lượng

dạy học chuyển từ việc điều khiển “đầu vào” sang điều khiển “đầu ra”, tức là

kết quả học tập của HS

Trang 22

Phương pháp dạy học theo quan điểm phát triển năng lực không chỉ chú

ý tích cực hoá HS về hoạt động trí tuệ mà còn chú ý rèn luyện năng lực giải

quyết vấn đề gắn với những tình huống của cuộc sống và nghề nghiệp, đồng

thời gắn hoạt động trí tuệ với hoạt động thực hành, thực tiễn Tăng cường việc

học tập trong nhóm, đổi mới quan hệ GV-HS theo hướng cộng tác có ý nghĩa

quan trọng nhằm phát triển năng lực xã hội Bên cạnh việc học tập những tri

thức và kỹ năng riêng lẻ của các môn học chuyên môn cần bổ sung các chủ đề

học tập phức hợp nhằm phát triển năng lực giải quyết các vấn đề phức hợp

Những định hướng chung, tổng quát về đổi mới phương pháp dạy học

các môn học thuộc chương trình giáo dục định hướng phát triển năng lực là:

- Phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động của người học, hình

thành và phát triển năng lực tự học (sử dụng sách giáo khoa, nghe, ghi chép,

tìm kiếm thông tin, ), trên cơ sở đó trau dồi các phẩm chất linh hoạt, độc lập,

sáng tạo của tư duy Có thể chọn lựa một cách linh hoạt các phương pháp

chung và phương pháp đặc thù của môn học để thực hiện Tuy nhiên dù sử

dụng bất kỳ phương pháp nào cũng phải đảm bảo được nguyên tắc “HS tự

mình hoàn thành nhiệm vụ nhận thức với sự tổ chức, hướng dẫn của GV”

- Việc sử dụng phương pháp dạy học gắn chặt với các hình thức tổ chức

dạy học Tuỳ theo mục tiêu, nội dung, đối tượng và điều kiện cụ thể mà có

những hình thức tổ chức thích hợp như học cá nhân, học nhóm; học trong lớp,

học ở ngoài lớp Cần chuẩn bị tốt về phương pháp đối với các giờ thực hành

để đảm bảo yêu cầu rèn luyện kỹ năng thực hành, vận dụng kiến thức vào

thực tiễn, nâng cao hứng thú cho người học

- Cần sử dụng đủ và hiệu quả các thiết bị dạy học môn học tối thiểu đã

qui định Có thể sử dụng các đồ dùng dạy học tự làm nếu xét thấy cần thiết

với nội dung học và phù hợp với đối tượng HS Tích cực vận dụng công nghệ

thông tin trong dạy học.[1]

Trang 23

-Để nhận biết HS nhận thức đến đâu thông thường người ta sẽ dựa vào

chính thang đo về các cấp độ nhận thức hay cấp độ tư duy.[7]

Nhận biết

- Nhận biết là HS nhớ các khái niệm cơ bản, có thể nêu lên hoặc

nhận ra chúng khi được yêu cầu

- Các hoạt động tương ứng với cấp độ nhận biết là: nhận dạng,

đối chiếu, chỉ ra…

- Các động từ tương ứng với cấp độ nhận biết có thể là: xác định,

đặt tên, liệt kê, đối chiếu hoặc gọi tên, giới thiệu, chỉ ra,…

Thông hiểu

- Thông hiểu là HS hiểu các khái niệm cơ bản và có thể vận dụng

chúng khi chúng được thể hiện theo các cách tương tự như cách

GV đã giảng hoặc như các ví dụ tiêu biểu về chúng trên lớp học

- Các hoạt động tương ứng với cấp độ thông hiểu là: diễn giải, tổng

kết, kể lại, viết lại, lấy được ví dụ theo cách hiểu của mình…

Vận dụng

ở cấp độ

thấp

- Vận dụng ở cấp độ thấp là HS có thể hiểu được khái niệm ở

một cấp độ cao hơn “thông hiểu”, tạo ra được sự liên kết logic

giữa các khái niệm cơ bản và có thể vận dụng chúng để tổ chức

lại các thông tin đã được trình bày giống với bài giảng của giáo

viên hoặc trong SGK

- Các hoạt động tương ứng với vận dụng ở cấp độ thấp là: xây

dựng mô hình, trình bày, tiến hành thí nghiệm, phân loại, áp

dụng quy tắc (định lí, định luật, mệnh đề…), sắm vai và đảo vai

trò, …

- Các động từ tương ứng với vận dụng ở cấp độ thấp có thể là:

thực hiện, giải quyết, minh họa, tính toán, diễn dịch, bày tỏ, áp

Trang 24

dụng, phân loại, sửa đổi, đưa vào thực tế, chứng minh, ước tính,

vận hành…

- Ví dụ: Viết bài luận ngắn về một chủ đề đã học trên lớp; Dùng

công thức nghiệm để giải phương trình bậc hai

Vận dụng

ở cấp độ

cao

- Vận dụng ở cấp độ cao có thể hiểu là HS có thể sử dụng các

khái niệm về môn học - chủ đề để giải quyết các vấn đề mới,

không giống với những điều đã được học hoặc trình bày trong

sách giáo khoa nhưng phù hợp khi được giải quyết với kỹ năng

và kiến thức được giảng dạy ở mức độ nhận thức này Đây là

những vấn đề giống với các tình huống HS sẽ gặp phải ngoài xã

hội

Ở cấp độ này có thể hiểu nó tổng hòa cả 3 cấp độ nhận thức là:

phân tích, tổng hợp và đánh giá theo bảng phân loại các cấp độ

nhận thức của Bloom

- Các hoạt động tương ứng với vận dụng ở cấp độ cao là: thiết

kế, đặt kế hoạch hoặc sáng tác; biện minh, phê bình hoặc rút ra

kết luận; tạo ra sản phẩm mới…

- Các động từ tương ứng với vận dụng ở cấp độ cao có thể là: lập

kế hoạch, thiết kế, tạo ra,…

- Ví dụ: Viết một bài luận thể hiện thái độ của bạn đối với một vấn

đề cụ thể; Biện luận nghiệm của phương trình có tham số

1.4 Thực trạng ôn tập củng cố phần “Cảm ứng điện từ” ở một số trường

THPT

1.4.1 Đánh giá vai trò của ôn tập củng cố từ phía giáo viên và từ phía học

sinh

Để đánh giá khách quan thực trạng của hoạt động ôn tập củng cố và

kiểm tra đánh giá của GV và HS trong các trường phổ thông, chúng tôi tiến

hành khảo sát nhiều lần bằng phương pháp Angket (điều tra) phương pháp

Trang 25

phỏng vấn và đàm thoại với HS và GV một số trường THPT Trao đổi trực

tiếp với HS, tham khảo kết quả học tập của HS trong năm học vừa qua Tham

quan, khảo sát việc sử dụng phòng thí nghiệm, phòng học bộ môn và phòng

máy vi tính

Thời điểm khảo sát: học kì I năm học 2014-2015

Đối tượng khảo sát: GV trường THPT Nam Sách(Hải Dương), THPT

Cổ Loa (Hà Nội), THPT Yên Dũng 1 (Bắc Giang),THPT Yên Dũng 2 (Bắc

Giang), THPT Mạc Đĩnh Chi (Hải Dương), THPT Phan Bội Châu (Hà Nội)

Mục tiêu khảo sát: đánh giá thực trạng về hoạt động ôn tập củng cố ở

một số trường THPT hiện nay về mặt: nhận thức về vai trò ôn tập, nội dung

ôn tập; phương pháp ôn tập; các phương tiện sử dụng hỗ trợ ôn tập…

- Số trường điều tra: 6

- Số phiếu điều tra: 13

Kết quả cho thấy: đa số các GV đều cho HS tiếp cận kiến thức và thu

thập thông tin từ các hiện tượng trong đời sống hàng ngày và trên mạng

internet còn thu thập thông tin từ thiết bị thí nghiệm thì ít được sử dụng hơn

Việc ôn tập củng cố của HS trên lớp được GV tổ chức đa số theo cách

nêu yêu cầu và để HS tự thực hiện và sau đó giáo viên kiểm tra hoặc HS báo

cáo trên lớp

Sau khi học xong HS nắm được kiến thức theo các mức độ được đánh

giá tăng dần và kết quả thu được như sau:

2 HS trình bày được kiến thức theo ý hiểu của mình 53,8%

3 Hiểu được kiến thức trình bày dưới dạng văn bản,

công thức, đồ thị

30,7%

Trang 26

5 Vận dụng được kiến thức để giải bài tập 30,6%

6 Vận dụng được kiến thức vào thực tế đời sống 25%

7 Nhận thấy mối liên hệ giữa các kiến thức trong một

tổng thể phần cảm ứng điện từ

23%

Bảng điều tra về thực trạng mức độ nắm vững kiến thức của HS ở một số

trường THPT

Từ kết quả trên cho thấy với cách dạy học sử dụng các thiết bị dạy học

hiện tại của GV thì HS nắm bắt được kiến thức một cách không đồng đều HS

mới chỉ nhớ lại được kiến thức và vận dụng giải bài tập nhưng chưa thực sự

hiểu kiến thức để nhận thấy mối liên hệ giữa các kiến thức trong một phần với

nhau Vì vậy để tăng mức độ nắm bắt kiến thức cho HS chúng ta cần ôn tập

củng cố lại kiến thức nhằm nâng cao kết quả học tập cho HS

1.4.2 Thực trạng việc ứng dụng các phần mềm dạy học vào ôn tập củng cố

phần “Cảm ứng điện từ” ở trường THPT

Để tìm hiểu các biện pháp rèn luyện kĩ năng và ôn tập kiến thức cho

học sinh mà GV đã và đang thực hiện, chúng tôi tiến hành khảo sát trên phiếu

điều tra Yêu cầu GV tích vào các ô mà GV cảm thấy phù hợp:

Mức độ sử dụng

Không thường xuyên

Thường xuyên

Rất thường xuyên

Không sử dụng

Trang 27

Phần mềm mô

Bảng khảo sát mức độ sử dụng các PMDH khi dạy học ôn tập củng cố

phần “Cảm ứng điện từ” của một số trường THPT

Và các loại thiết bị dạy học trên được sử dụng khi :

Sử dụng khi

Thiết bị thí nghiệm thực

Multimedia (video, ảnh liên quan đến hiện tượng cảm ứng điện từ)

- PPDH phần lớn còn nặng về lí thuyết, giảng giải một chiều Hầu hết

GV là người giữ vai trò trung tâm khi tổ chức hoạt động học tập, GV trực tiếp

làm xuất hiện các vấn đề học tập, đề xuất phương án sử dụng thiết bị thí

nghiệm, Multimedia (video, ảnh liên quan đến hiện tượng cảm ứng điện từ)

Phần mềm mô phỏng còn rất ít và không thường xuyên

Trang 28

- Đa phần GV khi dạy chương này đều không làm thí nghiệm mà chỉ

mô tả thí nghiệm bằng SGK và vẽ lên bảng Một số GV sử dụng PMDH

nhưng chỉ sử dụng để thao giảng hoặc các tiết thi GV giỏi

- GV chỉ sử dụng PMDH khi nghiên cứu kiến thức mới còn trong ôn

tập củng cố lại không hay sử dụng đặc biệt là không có GV nào sử dụng

PMDH vào ứng dụng giải bài tập

Những khó khăn khi dạy học ôn tập củng cố phần “Cảm ứng điện từ” :

- Những khó khăn, sai lầm phổ biến về kiến thức: khó nêu ra các

phương án thí nghiệm để kiểm tra hiện tượng cảm ứng điện từ (khi thay đổi B,

S, ) và khó đề xuất được giả thuyết về nguyên nhân gây ra hiện tượng cảm

ứng điện từ Hay mắc sai lầm khi xác định chiều của dòng điện cảm ứng (

trong mạch điện, đoạn dây dẫn chuyển động)

- Những khó khăn, sai lầm phổ biến về kĩ năng vận dụng kiến thức: khó

khăn giải thích hiện tượng trong thực tế đời sống liên quan đến hiện tượng

cảm ứng điện từ và khi làm bài tập xác định chiều của dòng điện cảm ứng

Nguyên nhân của những khó khăn và sai lầm đó chủ yếu là do HS ít

được sử dụng thí nghiệm và gần như không được sử dụng phần mềm mô

phỏng

Xuất phát từ những khó khăn trên chúng tôi nhận thấy việc ôn tập củng

cố kiến thức cho HS phần “Cảm ứng điện từ” giúp cho HS nâng cao kiến thức

là hết sức cần thiết

Trang 29

Kết luận chương 1 Trong phần này chúng tôi đã nghiên cứu tổng hợp các cơ sở lí luận, cơ

sở thực tiễn cho việc tiến hành đề tài

Những vấn đề đã được trình bày có thể được tóm tắt thành các những

luận điểm chính sau:

Hoạt động ôn tập củng cố có vai trò hết sức quan trọng trong quá trình

nhận thức của HS Thông qua hoạt động ôn tập củng cố giúp HS hệ thống hóa

kiến thức, xây dựng được một hệ thống về kiến thức, luyện tập và phát triển

kĩ năng đã được học, giúp HS đào sâu, mở rộng, khắc sâu các kiến thức, sửa

và tránh được các sai lầm thường mắc phải trong và sau khi tiếp thu kiến thức

mới

Trong nhà trường phổ thông cả GV và HS đều nhận thấy hoạt động ôn

tập là rất cần thiết cho việc củng cố tri thức, nắm vững tri thức và hoàn thành

tri thức Ôn tập còn có ý nghĩa lớn trong việc rèn luyện kĩ năng đặc biệt là kĩ

năng vận dụng kiến thức vào trong cuộc sống bởi vật lí là môn học thực

nghiệm

Tuy nhiên, trên thực tế ở các trường THPT, hoạt động ôn tập củng cố

chưa được quan tâm và tổ chức một cách có hiệu quả; số tiết ôn tập trong

chương trình rất ít nên GV chỉ có thể kết hợp tổ chức cho HS ôn tập vào các

tiết bài tập, khi kiểm tra bài cũ vào đầu tiết học hoặc củng cố lại kiến thức vào

cuối mỗi tiết học Nội dung ôn tập mới chỉ tập trung vào hướng dẫn trả lời câu

hỏi và giải các bài tập; hình thức ôn tập chưa đa dạng, chỉ dựa vào các tiết

chữa bài tập trên lớp; phương tiện hỗ trợ cho các hoạt động ôn tập cũng chưa

có gì khác ngoài các câu hỏi, bài tập dưới dạng trắc nghiệm hoặc tự luận trên

giấy, giáo án điện tử cũng đã và đang được một số ít giáo viên sử dụng,

nhưng nội dung còn đơn điệu sơ sài

Từ những phân tích trên chúng tôi nghĩ rằng: để tạo ra một môi trường

học tập tốt, nâng cao tính tích cực, chủ động,sáng tạo cho HS đặc biệt là trong

Trang 30

ôn tập củng cố để rèn luyện và nâng cao kiến thức, chúng tôi chọn hướng xây

dựng nội dung: ôn tập củng cố phần “Cảm ứng điện từ” trong chương trình

vật lí 11 THPT ban nâng cao Với nội dung được xây dựng có sự vận dụng lí

luận dạy học hiện đại, chúng tôi hi vọng rằng HS sẽ thấy hứng thú với bộ môn

vật lí, tự tin, tích cực và chủ động hơn trong quá trình học tập và đặc biệt là

nâng cao kiến thức cho HS

Trang 31

CHƯƠNG 2

TỔ CHỨC ÔN TẬP CỦNG CỐ CHO HỌC SINH PHẦN

“CẢM ỨNG ĐIỆN TỪ” – VẬT LÍ 11 (NÂNG CAO)

2.1 Cấu trúc nội dung phần “Cảm ứng điện từ” SGK Vật lí 11 nâng cao

2.1.1 Đặc điểm nội dung chương: “Cảm ứng điện từ”

Chương “Cảm ứng điện từ” là chương thứ V của vật lí 11 THPT

(chương trình nâng cao) Nó đề cập đến các vấn đề sau:

 Hiện tượng cảm ứng điện từ Suất điện động cảm ứng

 Suất điện động cảm ứng trong một đoạn dây dẫn chuyển động

 Dòng điện Fu-cô

 Hiện tượng tự cảm

 Năng lượng từ trường

Chương “Cảm ứng điện từ” là một chương quan trọng trong chương

trình vât lí lớp 11, nội dung kiến thức mới và tương đối khó, chương này cũng

liên quan đến chương trình vật lí 12, các bậc học cao hơn và có nhiều ứng

dụng trong kĩ thuật

2.1.2 Tóm tắt nội dung kiến thức chương “Cảm ứng điện từ”[3]

2.1.2.1 Hiện tượng cảm ứng điện từ Suất điện động cảm ứng

a Định nghĩa từ thông

Giả sử có một mặt phẳng diện tích S được đặt trong từ trường đều B



Tại một điểm bất kì trong S ta vẽ véc tơ pháp tuyến n

vuông góc với S, chiều của véc tơ n

được chọn tùy ý Góc tạo bởi véc tơ B

và véc tơ n

là α Đại lượng Ф = BS cosα được gọi là từ thông qua diện tích S

*Ý nghĩa: khái niệm từ thông để diễn tả số đường sức từ xuyên qua một diện

tích nào đó

Đơn vị của từ thông là Vê be (Wb): 1Wb=1T.1m2

Trang 32

b Hiện tượng cảm ứng điện từ

- Dòng điện cảm ứng:Dòng điện xuất hiện khi có sự biến đổi từ thông

qua mạch kín

- Suất điện động cảm ứng xuất hiện khi có sự biến đổi từ thông qua

mặt giới hạn bởi một mạch kín thì trong mạch

=> Hiện tượng xuất hiện suất điện động cảm ứng được gọi là hiện

tượng cảm ứng điện từ

c Chiều dòng điện cảm ứng Định luật Len – xơ

“ Dòng điện cảm ứng có chiều sao cho từ trường do nó sinh ra có tác

dụng chống lại nguyên nhân đã sinh ra nó”

d Định luật Fa-ra-đây về cảm ứng điện từ

- Định luật Fa-ra-đây : độ lớn của suất điện động cảm ứng trong mạch

kín tỉ lệ với tốc độ biến thiên của từ thông qua mạch

- Công thức xác định suất điện động cảm ứng:

Dấu trừ cho biết suất điện động cảm ứng bao giờ cũng có tác dụng

chống lại sự biến thiên của từ thông đã sinh ra nó ( định luật Len-xơ)

Nếu mạch điện là một khung dây có N vòng thì suất điện động cảm ứng

trong cuộn dây được xác định theo công thức:

e c N

t Ф

 

Trong đó Ф là từ thông qua diện tích giới hạn bởi một vòng dây

2.1.2.2 Suất điện động cảm ứng trong đoạn dây dẫn chuyển động

a Suất điện động cảm ứng trong một đoạn dây dẫn chuyển động trong từ

trường Quy tắc bàn tay phải

Khi một đoạn dây dẫn chuyển động cắt các đường cảm ứng từ của một

từ trường không đổi thì đoạn dây dẫn này có vai trò tương đương với một

Trang 33

nguồn có suất điện động bằng suất điện động cảm ứng của nguồn được xác

định bằng quy tắc bàn tay phải: “ Đặt bàn tay phải hứng các đường sức từ,

ngón cái choãi ra 90 0 hướng theo chiều chuyển động của đoạn dây, khi đó

đoạn dây dẫn đóng vai trò như một nguồn điện, chiều từ cổ tay đến bốn ngón

tay chỉ chiều từ cự âm sang cự dương của nguồn điện đó”

Từ đó ta xác định được cực của nguồn điện: Dòng điện có chiều đi ra từ

cực (+) và đi vào ở cực (-) của nguồn

b Biểu thức suất điện động cảm ứng trong đoạn dây

Suất điện động cảm ứng trong đoạn dây có độ lớn được xác định bởi

  )

c Máy phát điện

-Máy phát điện xoay chiều: dòng điện được đưa ra mạch ngoài là dòng

điện có chiều biến đổi theo thời gian

-Máy phát điện một chiều: dòng điện được đưa ra ngoài có chiều không

đổi

2.1.2.3 Dòng điện Fu-cô

a Khái niệm:

Dòng điện Fu-cô là dòng điện cảm ứng được sinh ra ở trong khối vật

dẫn khi vật dẫn chuyển động trong từ trường hay được đặt trong từ trường

biến đổi theo thời gian

b Tác dụng của dòng điện Fu-cô

- Gây ra lực hãm trong một số trường hợp cần thiết: cân nhạy, phanh

điện, trong công tơ điện

- Tuy nhiên dòng Fu-cô cũng có hại trong nhiều trường hợp như:

chống lại sự quay của động cơ, làm giảm công suất động cơ

Trang 34

2.1.2.4.Hiện tượng tự cảm

a Hiện tượng tự cảm

Hiện tượng cảm ứng điện từ trong một mạch điện do chính sự biến đổi

của dòng điện trong mạch đó gây ra gọi là hiện tượng tự cảm

* Chú ý: Hiện tượng tự cảm chỉ là trường hợp riêng của hiện tượng

cảm ứng điện từ nói chung

b Suất điện động tự cảm

- Suất điện động cảm ứng xuất hiện trong hiện tượng tự cảm gọi là suất

điện động tự cảm Với một mạch điện nhất định thì độ tự cảm của nó có giá

trị không đổi và phụ thuộc vào cường độ dòng điện trong mạch nên suất điện

động tự cảm được xác định bởi công thức:

2.1.2.5 Năng lượng từ trường

- Từ trường có năng lượng Năng lượng của ống dây có dòng điện được

xác định bởi biểu thức: W 1 2 1 107 2

Trang 35

- Mật độ năng lượng từ trường:

Trang 36

2.1.3 Sơ đồ Logic nội dung chương “ Cảm ứng điện từ”

c

t Ф

 

Suất điện động trong 1 đoạn dây dẫn chuyển động

2

1 2

Năng lượng từ trường W=

7 2

1 10

Trang 37

2.2 Mục tiêu khi dạy học phần “Cảm ứng điện từ”

2.2.1 Mục tiêu về kiến thức

- Viết được biểu thức định nghĩa từ thông qua một mặt kín S, ý nghĩa

của từ thông và phát biểu được các cách làm cho từ thông biến thiên

- Trình bày được dòng điện cảm ứng xuất hiện khi nào? Phát biểu

được khái niệm suất điện động cảm ứng và như thế nào là hiện tượng cảm

ứng điện từ

- Phát biểu được nội dung định luật len-xơ

- Viết được công thức tính suất điện động cảm ứng trong một mạch

điện kín

- Phát biểu được nội dung qui tắc bàn tay phải

- Viết được biểu thức tính suất điện động cảm ứng trong đoạn dây dẫn

- Phát biểu được định nghĩa hiện tượng tự cảm và giải thích được hiện

tượng tự cảm khi đóng và ngắt mạch điện

- Viết được biểu thức xác định năng lượng của từ trường trong ống dây

dài

- Viết được biểu thức xác định mật độ năng lượng từ trường

2.2.2 Mục tiêu về kĩ năng

- Biết vận dụng các công thức đã học của chương để giải các bài tập

đơn giản và các bài tập liên quan

- Biết vận dụng định luật Len-xơ, qui tắc bàn tay phải để xác định chiều

dòng điện cảm ứng trong các trường hợp khác nhau

Trang 38

- Giải thích hiện tượng vật lí: xuất hiện suất điện động cảm ứng trong

đoạn dây dẫn chuyển động trong từ trường, sự xuất hiện dòng điện Fu-cô,

máy phát điện

2.3 Lựa chọn phần mềm, xây dựng bài tập để ôn tập củng cố cho học

sinh

Để khắc phục những khó khăn phổ biến về kiến thức và những sai lầm

hay mắc phải khi vận dụng kiến thức vào thực tế Chúng tôi đã lựa chọn một

số phần mềm, mô phỏng,ảnh kết hợp với lựa chọn các bài tập vật lí phù hợp

để đánh giá mức độ nắm vững kiến thức trong quá trình học và ôn tập chương

“Cảm ứng điện từ” nhằm nâng cao kết quả học tập của HS

2.3.1 Lựa chọn phần mềm, mô phỏng, ảnh để ôn tập củng cố cho học sinh

- Thay đổi B: đưa nam châm

lại gần hay ra xa ống dây, thay

đổi cường độ dòng điện trong

mạch kín, thay đổi độ từ thẩm

của ống dây

- Thay đổi S: Bóp hoặc kéo

cuộn dây

- Thay đổi góc α: cho nam

châm quay quanh một trục

Ngày đăng: 23/09/2015, 12:10

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Công Khanh( chủ biên), Đào Thị Oanh, Lê Mỹ Dung, Tài liệu kiểm tra đánh giá trong giáo dục (dành cho giáo viên phổ thông), Bộ giáo dục và đào tạo, 2014 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu kiểm tra đánh giá trong giáo dục (dành cho giáo viên phổ thông)
Tác giả: Nguyễn Công Khanh, Đào Thị Oanh, Lê Mỹ Dung
Nhà XB: Bộ giáo dục và đào tạo
Năm: 2014
2. Nguyễn Thế Khôi, Giáo trình lí luận dạy học vật lí, NXB Đại học sư phạm Hà Nội 2, 2013 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình lí luận dạy học vật lí
Nhà XB: NXB Đại học sư phạm Hà Nội 2
3. Nguyễn Thế Khôi (tổng chủ biên), Nguyễn Phúc Thuần (chủ biên), Nguyễn Ngọc Hưng, Vũ Thanh Khiết, Phạm Xuân Quế, Phạm Đình Thiết, Phạm Đình Trắc, vật lí 11 nâng cao, NXB Giáo Dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: vật lí 11 nâng cao
Tác giả: Nguyễn Thế Khôi, Nguyễn Phúc Thuần, Nguyễn Ngọc Hưng, Vũ Thanh Khiết, Phạm Xuân Quế, Phạm Đình Thiết, Phạm Đình Trắc
Nhà XB: NXB Giáo Dục
4. Nguyễn Thế Khôi - Nguyễn Phúc Thuần (đồng chủ biên), Nguyễn Ngọc Hưng, Vũ Thanh Khiết, Phạm Xuân Quế, Phạm Đình Thiết, Phạm Đình Trắc, Bài tập vật lí 11 nâng cao, NXB Giáo Dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài tập vật lí 11 nâng cao
Nhà XB: NXB Giáo Dục
5. Nguyễn Đức Thâm, Nguyễn Ngọc Hưng, Phạm Xuân Quế (2002), Phương pháp dạy học vật lý ở trường phổ thông, NXB Đại học sư phạm, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp dạy học vật lý ở trường phổ thông
Tác giả: Nguyễn Đức Thâm, Nguyễn Ngọc Hưng, Phạm Xuân Quế
Nhà XB: NXB Đại học sư phạm
Năm: 2002
6. X.E.Camenhetxki – V.P.Ôrêkhôp (1997). Phương pháp giải bài tập vật lý. Tập 3. NXB Giáo dục.Các trang web tham khảo Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp giải bài tập vật lý. "Tập 3
Tác giả: X.E.Camenhetxki – V.P.Ôrêkhôp
Nhà XB: NXB Giáo dục. Các trang web tham khảo
Năm: 1997

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng điều tra về thực trạng mức độ nắm vững kiến thức của HS ở một số - Ôn tập củng cố phần cảm ứng điện từ   vật lý 11 (nâng cao) nhằm nâng cao kết quả học tập của học sinh
ng điều tra về thực trạng mức độ nắm vững kiến thức của HS ở một số (Trang 26)
Bảng khảo sát thực nghiệm sử dụng các thiết bị dạy học chương “Cảm - Ôn tập củng cố phần cảm ứng điện từ   vật lý 11 (nâng cao) nhằm nâng cao kết quả học tập của học sinh
Bảng kh ảo sát thực nghiệm sử dụng các thiết bị dạy học chương “Cảm (Trang 27)
2.1.3. Sơ đồ Logic nội dung chương “ Cảm ứng điện từ” - Ôn tập củng cố phần cảm ứng điện từ   vật lý 11 (nâng cao) nhằm nâng cao kết quả học tập của học sinh
2.1.3. Sơ đồ Logic nội dung chương “ Cảm ứng điện từ” (Trang 36)
Câu 10: Hình vẽ nào sau đây xác định đúng chiều dòng điện cảm ứng - Ôn tập củng cố phần cảm ứng điện từ   vật lý 11 (nâng cao) nhằm nâng cao kết quả học tập của học sinh
u 10: Hình vẽ nào sau đây xác định đúng chiều dòng điện cảm ứng (Trang 45)
Hình vẽ nào sau đây xác định đúng chiều dòng điện cảm ứng khi cho - Ôn tập củng cố phần cảm ứng điện từ   vật lý 11 (nâng cao) nhằm nâng cao kết quả học tập của học sinh
Hình v ẽ nào sau đây xác định đúng chiều dòng điện cảm ứng khi cho (Trang 45)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w