Thực trạng sử dụng bài tập bổ trợ chuyên môn trong giảng dạy kỹ thuật nhảy cao úp bụng cho nam học sinh khối 10 trường THPT Sóc Sơn – Hà Nội.. Đánh giá hiệu quả sử dụng hệ thống bài tập
Trang 1KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: CNKHSP GDTC
Người hướng dẫn khoa học:
ThS TẠ HỮU MINH
HÀ NỘI - 2015
Trang 2Tôi xin cam đoan đề tài: “Lựa chọn bài tập bổ trợ nhằm nâng cao
hiệu quả kỹ thuật nhảy cao kiểu úp bụng cho nam học sinh khối 10 trường THPT Sóc Sơn - Hà Nội” là công trình của riêng tôi, đề tài này không trùng
hợp với kết quả của các tác giả khác Toàn bộ những vấn đề nêu ra trong đề tài là những vấn đề mang tính cấp thiết và đúng thực tế khách quan của trường THPT Sóc Sơn - Hà Nội
Hà Nội, tháng 5 năm 2015
Sinh viên
Nguyễn Anh Ngọc
Trang 3Chương 1 3
TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 3
1.1 Quan điểm của Đảng về công tác GDTC trong trường học 3
1.2 Đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi THPT 4
1.2.1 Đặc điểm tâm lí lứa tuổi học sinh THPT 4
1.3 Vai trò tác dụng của bài tập bổ trợ chuyên môn 6
1.4 Các quan điểm về bài tập bổ trợ chuyên môn 8
1.5 Tố chất thể lực đặc trưng trong kỹ thuật nhảy cao úp bụng 8
1.5.1 Cơ sở sinh lý của tố chất sức nhanh 9
1.5.2 Cơ sở sinh lý của tố chất sức mạnh tốc độ và sức mạnh bột phát 11
1.6 Xu thế nghiên cứu sử dụng các bài tập bổ trợ trong thể thao nói chung và trong giảng dạy môn nhảy cao úp bụng nói riêng 12
1.6.1 Cải tiến, sáng tạo nhiều loại công cụ và phương tiện để sử dụng cho các bài tập bổ trợ chuyên môn 12
1.6.2 Xu thế tập luyện bài tập chuyên môn theo nhịp sinh học của người tập 13
1.6.3 Xu thế mô hình hoá cảm giác để dẫn dắt và chương trình hoá động tác 13
1.7 Cơ sở nguyên lý kỹ thuật: 14
1.8 Các thông số biển diễn động lực học khi thực hiện kỹ thuật nhảy cao úp bụng 15
Chương 2 17
NHIỆM VỤ - PHƯƠNG PHÁP VÀ TỔ CHỨC NGHIÊN CỨU 17
2.1 NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU 17
2.1.1 Nhiệm vụ 1: 17
2.1.2 Nhiệm vụ 2: 17
2.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 17
Trang 42.2.3 Phương pháp quan sát sư phạm 18
2.2.4 Phương pháp kiểm tra sư phạm 18
2.2.5 Phương pháp thực nghiệm sư phạm 18
2.2.6 Phương pháp toán học thống kê 19
2.3 TỔ CHỨC NGHIÊN CỨU 20
2.3.1 Thời gian nghiên cứu 20
2.3.2 Đối tượng nghiên cứu: 20
2.3.3 Địa điểm nghiên cứu: 20
Chương 3 21
KẾT QUẢ VÀ PHÂN TÍCH KẾT QUẢ 21
3.1 Thực trạng sử dụng bài tập bổ trợ chuyên môn trong giảng dạy kỹ thuật nhảy cao úp bụng cho nam học sinh khối 10 trường THPT Sóc Sơn – Hà Nội 21
3.2 Lựa chọn và đánh giá hiệu quả nhóm các bài tập bổ trợ chuyên môn trong giảng dạy kỹ thuật nhảy cao úp bụng 24
3.2.1 Lựa chọn bài tập bổ trợ chuyên môn trong giảng dạy nhảy cao úp bụng cho nam học sinh khối 10 trường THPT Sóc Sơn – Hà Nội 24
3.2.2 Đánh giá hiệu quả sử dụng hệ thống bài tập bổ trợ chuyên môn trong qúa trình giảng dạy kỹ thuật nhảy cao úp bụng cho nam học sinh khối 10 trường THPT Sóc Sơn – Hà Nội 36
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 44 TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
PHIẾU PHỎNG VẤN
Trang 5Bảng 3.2: Kết quả phỏng vấn thực trạng sử dụng các bài tập bổ trợ chuyên môn trong giảng dạy kỹ thuật nhảy cao úp bụng (n=20) 21Bảng 3.3: Kết quả học tập kỹ thuật nhảy cao úp bụng của nam học sinh khối
10 trường THPT Sóc Sơn – Hà Nội (n=20) 23Bảng 3.3: Kết quả phỏng vấn đánh giá mức độ ưu tiên các bài tập bổ trợ
chuyên môn trong qúa trình giảng dạy kỹ thuật nhảy cao úp bụng cho nam học sinh khối 10 trường THPT Sóc Sơn – Hà Nội (n=20) 34Bảng 3.4: Kết quả phỏng vấn lựa chọn Test đánh giá hiệu quả của các bài tập
bổ trợ chuyên môn (n = 20) 37Bảng 3.5: Mối tương quan giữa các chỉ số thể lực với thành tích nhảy cao úp bụng 38Bảng 3.6: Kết quả kiểm tra các chỉ số hình thái thể lực trước thực nghiệm của
2 nhóm thực nghiệm và đối chứng (nA = nB = 20) 38Bảng 3.8 Tiến trình giảng dạy tập luyện các bài tập bổ trợ chuyên môn cho nam học sinh khối 10trường THPT Sóc Sơn - Hà Nội 40Bảng 3.9: Kết quả kiểm tra chỉ số hình thái và thể lực sau thực nghiệm của 2 nhóm thực nghiệm và đối chứng (nA = nB = 20) 41Bảng 3.10: Kết quả kiểm tra thành tích và trình độ kỹ thuật sau thực nghiệm của 2 nhóm thực nghiệm và đối chứng (nA = nB = 20) 42
Trang 6
ĐẶT VẤN ĐỀ
Thể dục thể thao chiếm một vị trớ quan trọng trong hệ thống giỏo dục thể chất, giỳp cho con người củng cố và tăng cường sức khoẻ, nõng cao thành tớch thể thao, rốn luyện và hoàn thiện cỏc mặt: Trớ tuệ, đạo đức nõng cao hiệu xuất lao động, khắc phục được một số bệnh tật nhằm phỏt triển con người toàn diện Chớnh vỡ vậy phỏt triển TDTT khụng phải mục tiờu của một quốc gia mà cũn là mục tiờu của toàn thế giới
Điền kinh là một phần quan trọng của TDTT, là một mụn học hết sức quan trọng Một trong những nội dung dào tạo cơ bản trong cỏc trường Đại học, Cao đẳng, Trung học chuyờn nghiệp, Trung học phổ thụng Điền kinh là một trong những mụn thể thao cơ bản nú bao gồm nhiều nội dung như: Đi bộ thể thao, chạy, nhảy và nộm đẩy Tập luyện Điền kinh thường xuyờn sẽ làm cho cơ thể cú những biến đổi rừ rệt về hỡnh thỏi và chức năng của cỏc bộ phận trờn cơ thể Tập Điền kinh rất đơn giản khụng đũi hỏi sõn bói dụng cụ phức tạp, người tập cú thể tiến hành tập luyện trờn mọi địa hỡnh Do Điền kinh đơn giản và dễ tập luyện lại đạt hiệu quả cao nờn thu hỳt được nhiều người tham gia tập luyện ở mọi lứa tuổi
Trong môn Điền kinh nhảy cao là một nội dung quan trọng trong đào tạo chuyờn mụn, là nội dung rốn luyện thể chất trong hệ thống giỏo dục quốc gia Nhảy cao là một hoạt động khụng cú chu kỳ nhưng tương đối phức tạp nú đũi hỏi người tập cần nắm vững cỏc yếu lĩnh kỹ thuật của động tỏc ngay từ khi mới học, họ cũn phải vừa thực hiện vừa tư duy động tỏc đó học sao cho những động tỏc đú trở thành thuần thục, chớnh xỏc và nhịp nhàng Trong mụn nhảy cao người ta chia làm nhiều kỹ thuật khỏc nhau như: Kỹ thuật nhảy cao bước qua, kỹ thuật nhảy cao cắt kộo, kỹ thuật nhảy cao nằm nghiờng, kỹ thuật nhảy cao ỳp bụng và mới nhất là kỹ thuật nhảy cao lưng qua xà
Trang 7Kỹ thuật nhảy cao úp bụng được chia làm bốn giai đoạn đó là: Chạy đà giậm nhảy, trên không và tiếp đất Đây là những hoạt động đòi hỏi độ chính xác cao do là môn có kỹ thuật khó và phức tạp nên đối với những người mới tập việc mắc sai sót là không tránh khỏi chuẩn hoá kỹ thuật động tác là vấn đề cần thiết phải có đối với việc học kỹ thuật Và việc sử dụng các bài tập bổ trợ chuyên môn là rất cần thiết, hệ thống các bài tập chuyên môn càng phong phú càng nâng cao hiệu quả giảng dạy Việc sử dụng và lựa chọn các bài tập chuyên môn là một nhiệm vụ khó khăn và phức tạp đòi hỏi phải có phương pháp, phương tiện cũng như cách tổ chức khoa học
Do yêu cầu cấp thiết của việc tìm ra các biện pháp có hiệu quả xây dựng phong phú các bài tập chuyên môn đã có rất nhiều công trình nghiên cứu các bài tập, phương tiện nâng cao hiệu quả kỹ thuật nhảy cao úp bụng của các tác giả như: Bùi Quang Thụ "Xây dựng một số bài tập nhằm khắc phục những sai lầm thường mắc trong học kỹ thuật nhảy cao úp bụng", Nguyễn Giang Thu, Nguyễn Hữu Điền, Vũ Thị Hiền, Bùi Văn Thạch
Kế thừa các công trình của các tác giả đi trước chúng tôi mạnh dạn nghiên cứu đề tài:
“Lựa chọn bài tập bổ trợ nhằm nâng cao hiệu quả kỹ thuật nhảy cao kiểu úp bụng cho nam học sinh khối 10 trường THPT Sóc Sơn - Hà Nội” *
* MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
Mục đích của đề tài nghiên cứu là tìm ra một số bài tập nhằm nâng cao hiệu quả kỹ thuật nhảy cao úp bụng cho nam học sinh khối 10 trường THPT Sóc Sơn – Hà Nội
*GIẢ THUYẾT KHOA HỌC: Nếu lựa chọn ứng dụng và đánh giá được
đúng các bài tập đưa ra, thì sẽ làm nâng cao hiệu quả kỹ thuật nhảy cao kiểu
úp bụng cho nam học sinh khối 10 trường THPT Sóc Sơn – Hà Nội, góp phần nâng cao chất lượng TDTT của học sinh và tăng thành tích trong học tập và thi đấu cho các em
Trang 8Chương 1
TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1 Quan điểm của Đảng về công tác GDTC trong trường học
Đất nước ta đang trong thời kì đổi mới, thời kì công nghiệp hóa - hiện đại hóa, mọi mặt trong đời sống xã hội đều có những thay đổi rõ rệt Để có được sự thay đổi đó Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm sát sao đưa ra những đường lối, chính sách phù hợp đối với những vấn đề của xã hội Công tác GDTC trong trường học cũng không nằm ngoài sự quan tâm đó
Chỉ thị 36/CT-TW ngày 24/3/1994 của Ban Bí thư Trung ương Đảng
(khóa VII) đã nêu: “Giao trách nhiệm cho Bộ Giáo dục - Đào tạo và Tổng cục TDTT thường xuyên phối hợp chỉ đạo tổng kết công tác GDTC, cải tiến chương trình giảng dạy, tiêu chuẩn rèn luyện thân thể, đào tạo giáo viên TDTT cho trường học các cấp, tạo những điều kiện cần thiết về cơ sở vật chất
và kinh phí để thực hiện việc giảng dạy và học Thể dục bắt buộc ở tất cả các trường học, làm cho việc tập luyện TDTT trở thành nếp sống hàng ngày của hầu hết học sinh, sinh viên qua đó phát hiện và tuyển chọn được nhiều tài năng thể thao cho quốc gia ” [1]
Ngày 21/10/2002 Ban Bí thư Trung ương Đảng đã ban hành Chỉ thị 17/CT-TW về phát triển TDTT đến năm 2010 đã nêu rõ phương hướng và nhiệm vụ, giải pháp thực hiện việc đẩy mạnh phong trào TDTT rộng khắp
trong cả nước Với thể thao trường học Chỉ thị nêu : “ Đẩy mạnh hoạt động TDTT ở trường học tiến tới đảm bảo mỗi trường đều có giáo viên Thể dục chuyên trách và lớp học đúng tiêu chuẩn, tạo điều kiện nâng cao chất lượng GDTC xem đây là một tiêu chí xét công nhận trường chuẩn quốc gia ” [2]
Trang 9Nhà nước coi trọng TDTT trường học nhằm phát triển và hoàn thiện thể chất cho tầng lớp thanh niên, thiếu niên, nhi đồng GDTC là nội dung giáo dục bắt buộc đối với học sinh, sinh viên được thực hiện trong hệ thống giáo dục quốc dân từ Mầm non đến Đại học Nhà nước khuyến khích và tạo điều kiện cho học sinh được tập luyện TDTT phù hợp với đặc điểm lứa tuổi và điều kiện từng nơi GDTC là một bộ phận quan trọng để thực hiện mục tiêu giáo dục toàn diện, góp phần nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa
1.2 Đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi THPT
1.2.1 Đặc điểm tâm lí lứa tuổi học sinh THPT
Lứa tuổi này, tâm lí học sinh có nhiều thay đổi đáng kể Các em đang trong giai đoạn chuyển giao từ trẻ con sang người lớn Các em đã có được những kiến thức nhất định, đã có khả năng tư duy trừu tượng, logic, đã biết phân tích vấn đề và tổng hợp vấn đề một cách chặt chẽ, có căn cứ và nhất quán Trong lứa tuổi này tính cách và tình cảm của các em được hình thành
và thể hiện ra bên ngoài, những phẩm chất nhân cách được bộc lộ rõ ( lòng yêu lao động, tính cần cù, dũng cảm ) những quan hệ nhiều mặt của nhân cách được thể hiện như tinh thần trách nhiệm, lòng tự trọng, tình cảm, nghĩa vụ… Tuy nhiên ở tuổi mới lớn do chưa có nhiều kinh nghiệm trong cuộc sống, tự đánh giá về một vấn đề nào đó của các em không tránh khỏi sự vội vàng, cảm tính, không tránh được sai lầm khi tự đánh giá Các em cần được
sự giáo dục, giúp đỡ một cách khoa học, khéo léo của nhà trường, gia đình
để hình thành được một biểu tượng khách quan về nhân cách của mình
1.2.2 Đặc điểm sinh lí lứa tuổi THPT
Đối với học sinh lứa tuổi THPT, cơ thể các em đã phát triển tương đối hoàn chỉnh, các bộ phận của cơ thể vẫn tiếp tục lớn lên nhưng chậm dần Các
Trang 10hệ cơ quan trong cơ thể đã đi vào ổn định, khả năng hoạt động và tập luyện TDTT được nâng lên rõ rệt, trong giai đoạn này các em có thể áp dụng các bài tập luyện để phát triển sức nhanh, sức mạnh, sức bền một cách có hiệu quả Đây là giai đoạn hoàn thiện kĩ thuật của rất nhiều môn thể thao mà các em tập luyện và đạt đến trình độ cao
1.2.2.1 Hệ thần kinh
Ở lứa tuổi học sinh THPT, hệ thần kinh tiếp tục được phát triển và đi đến hoàn thiện, kích thước não và hành tủy đạt đến mức của người trưởng thành Các em đã có khả năng nhận định, phân tích và tổng hợp vấn đề một cách logic, từ đó tạo điều kiện thuận lợi cho việc hình thành nhanh chóng phản xạ có điều kiện Đây là điều kiện thuận lợi để các em nhanh chóng tiếp thu và hoàn thiện kĩ thuật động tác
Lứa tuổi này học sinh có thể tiếp thu được kĩ thuật động tác một cách rất nhanh, tuy nhiên nếu bài tập đưa ra không gây được hứng thú hoặc đơn điệu đối với học sinh thì các em sẽ tập luyện không nỗ lực và chóng gây nên cảm giác mệt mỏi Do đó, cần phải có những hình thức tập luyện đa dạng, phù hợp, gây được hứng thú cho học sinh Giáo viên và HLV cần chú ý đến đặc điểm cơ thể của từng cá nhân, từng học sinh để có thể đưa ra bài tập, cách tập luyện phù hợp nhất và cá biệt đối với học sinh đó
1.2.2.2 Hệ vận động (hệ xương - cơ)
- Hệ xương: Đối với học sinh lứa tuổi THPT, ở đa số các em hệ xương
đã phát triển tương đối và hoàn thiện và bắt đầu giảm tốc độ phát triển Đối với các em nữ mỗi năm cao thêm khoảng 1 - 3cm Do hệ xương đã phát triển tương đối hoàn thiện nên các em có thể tập luyện các bài tập có khối lượng và cường độ vận động tương đối lớn mà không tạo ra sự phát triển lệch lạc của
cơ thể
Trang 11- Hệ cơ: Ở lứa tuổi học sinh THPT, hệ cơ phát triển chậm hơn so với hệ xương Và sự phát triển của cơ phụ thuộc rất nhiều vào mức độ phát triển của xương Cùng với lứa tuổi, khối lượng cơ tăng lên dần Tuy nhiên, sự tăng trưởng cơ xảy ra không đều, phát triển với nhịp điệu nhanh nhất là cơ chân, chậm nhất là cơ tay, các cơ duỗi phát triển nhanh hơn các cơ co Giai đoạn này có thể áp dụng các bài tập phát triển sức mạnh để góp phần thúc đẩy sự phát triển của các cơ
1.2.2.3 Hệ tuần hoàn
Ở lứa tuổi học sinh THPT, hệ tuần hoàn đang phát triển và đi đến hoàn thiện khả năng hồi phục sau những hoạt động thể lực nặng nhanh hơn lứa tuổi trước đó Sau vận động mạch đập và huyết áp hồi phục tương đối nhanh chóng Lứa tuổi này có thể áp dụng các bài tập đòi hỏi sự giai sức và những bài tập có khối lượng và cường độ vận động tương đối lớn Tuy vậy, giáo viên
và HLV cần đưa ra các bài tập phù hợp cần có thời khóa biểu hợp lí để không gây ra sự quá tải đối với học sinh, cần thường xuyên kiểm tra, theo dõi sức khỏe của học sinh
1.2.2.4 Hệ hô hấp
Ở lứa tuổi học sinh THPT, hệ hô hấp đã phát triển tương đối hoàn thiện, tần số hô hấp giảm so với lứa tuổi trước, khả năng hấp thụ ôxi lớn, dung tích sống và thông khí phổi tăng lên Vòng ngực trung bình của nam từ
67 - 72 cm, của nữ từ 69 - 74 cm Tuy nhiên, ở lứa tuổi này các cơ hô hấp vẫn còn yếu, sự co dãn của lồng ngực còn nhỏ Vì vậy, trong tập luyện cần thở sâu
và chú ý thở bằng ngực Các bài tập bơi, chạy cự li trung bình, chạy việt dã có tác dụng rất tốt đến sự phát triển của hệ hô hấp
1.3 Vai trò tác dụng của bài tập bổ trợ chuyên môn
Theo các nhà khoa học, các huấn luyện viên thể thao, các chuyên gia thể thao thì các bài tập bổ trợ chuyên môn là các biện pháp quan trọng trọng giảng dạy và huấn luyện kỹ thuật
Trang 12Chúng ta đã biết, một kỹ thuật thường có cấu trúc là các chuỗi động tác được gắn kết có trình tự, có sự liên quan phối hợp tác động lẫn nhau, thúc đẩy hoặc hạn chế lẫn nhau để cùng thực hiện yếu lĩnh kỹ thuật động tác nào đó
Một kỹ thuật thường được gắn nhiều khác, nhiều cử động nhiều giai đoạn nên cùng một lúc người học không thể hình thành ngay các khái niệm cũng như tạo ra các đường dây liên hệ tạm thời trên vỏ đại não các cử động
đó Do đó, người ta chia nhỏ kỹ thuật phức tạp thành các giai đoạn khác nhau: Như trong nhảy cao úp bụng người ta chia kỹ thuật thành các giai đoạn: Giai đoạn chạy đà - giai đoạn giậm nhảy - giai đoạn bay qua xà, giai đoạn tiếp đất Trên cơ sở đó để người học nắm bắt được tưng phần sau đó liên kết lại thành một kỹ thuật hoàn chỉnh Ở mỗi giai đoạn kỹ thuật đó để giúp người học hình thành được kỹ thuật người ta sử dụng các bài tập khác nhau như:
- Các bài tập mang tính chuẩn bị đưa người tập vào trạng thái tâm sinh
lý thích hợp với việc tiếp thu kỹ thuật
- Các bài tập mang tính dẫn dắt nhằm giúp cho người tập nắm được các yếu lĩnh kỹ thuật từ dễ đến khó, từ đơn giản đến phức tạp, từ đơn lẻ đến hoàn thiện một kỹ thuật
- Các bài tập mang tính chuyển đổi từ động tác này sang động tác khác với khoảng không gian và thời gian khác nhau nhằm lợi dụng sự chuyển kỹ năng tốt sẵn có và hình thành kỹ năng mới
Và để đáp ứng cho người học có thể thực hiện thuận lợi các kỹ năng đang học người ta còn sử dụng các bài tập bổ trợ thể lực chuyên môn cho người tập Ví dụ như: Muốn vượt qua độ cao nhất định thì người tập phải có đôi chân để bật cao đồng thời cần phải có sức mạnh, độ mềm dẻo và khả năng phối hợp động tác Vì vậy đi đôi với bài tập bổ trợ chuyên môn về kỹ thuật người ta cũng rất chú trọng đưa vào trong quá trình giảng dạy các bài tập để tăng cường một số tố chất thể lực chuyên môn cần thiết Có thể nói bài tập bổ trợ chuyên môn vừa là biện pháp để nắm kỹ thuật phức tạp và
Trang 13khó, vừa là một khâu quan trọng để thúc đẩy nhanh quá trình hình thành kỹ năng vận động
1.4 Các quan điểm về bài tập bổ trợ chuyên môn
Theo các nhà khoa học nước ngoài cho rằng:
Bài tập bổ trợ là một trong những phương tiện giảng dạy, bao gồm các bài tập chuẩn bị cho người tập, bài tập mang tính chuyển đổi, bài tập tăng cường các tố chất thể lực
Quan điểm của các tác giả Trung Quốc thì:
Bài tập bổ trợ chuyên môn là các bài tập bổ trợ mang tính chuyên biệt cho từng môn thể thao khác nhau, từng kỹ thuật riêng biệt (từ điển Trung Quốc, trang 17, XB 1993)
Còn quan điểm của PGS.TS Nguyễn Toán và TS Phạm Danh Tốn cùng các cộng sự thì cho rằng: Bài tập bổ trợ chuyên môn là các bài tập phức hợp các động tác thi đấu cùng các biến dạng của chúng cũng như các bài tập dẫn dắt tác động có chủ định và có hiệu quả đến sự phát triển của tố chất thể lực
và các kỹ thuật ở ngay chính môn thể thao đó
Như vậy, các quan điểm trên đều có sự thống nhất với nhau, sự khác biệt chỉ là do cách diễn đạt của mỗi khái niệm Vậy có thể tóm lại về khái niệm của bài tập bổ trợ chuyên môn là các bài tập mang tính chuẩn bị, tính dẫn dắt, tính chuyển đổi và tính thể lực chuyên biệt cho từng kỹ thuật và từng môn thể thao
1.5 Tố chất thể lực đặc trưng trong kỹ thuật nhảy cao úp bụng
Tố chất thể lực đặc trưng của từng môn thể thao được xem như là một trong những tiêu chí cơ bản để động tác tài năng của vận động viên Lapinso
1965, VM Batgacốp, A.M Dusiôpki, Carôpva 1969, Gure vích 1970, Javoxky, Vazmi 1970 đều nhận xét rằng: Khả năng về tiềm năng có thể xác định được thông qua tố chất thể lực đặc trưng và nhịp độ tăng trưởng ở mọi thể loại hoạt động thể thao
Là một hoạt động không có chu kỳ bao gồm nhiều động tác được liên kết với nhau một cách chặt chẽ với mục đích sử dụng, sự nỗ lực của cơ bắp để đưa cơ thể vượt qua xà với độ cao tối đa, ngoài sự phát triển thể lực toàn diện,
Trang 14nhảy cao còn đòi hỏi vận động viên phải có một tố chất thể lực đặc thù riêng Đặc điểm các môn nhảy nói chung và môn nhảy cao nói riêng là cần phải kéo dài khoảng cách bay trên không do quá trình chạy đà và giậm nhảy tạo nên Quỹ đạo của trọng tâm cơ thể của người nhảy lúc bay phụ thuộc vào ba yếu tố chính: Tốc độ chạy đà lực giậm nhảy và góc độ giậm nhảy Nhiệm vụ chủ yếu của quá trình chạy đà là nhằm tạo ra tốc độ nằm úp lớn cần thiết Quá trình giậm nhảy vừa có nhiệm vụ tạo ra tốc độ thẳng đứng, vừa có nhiệm vụ tạo ra góc độ bay thích hợp Chính vì vậy, có thể nói rằng: Thành tích thể thao của vận động viên nhảy cao phụ thuộc chủ yếu vào hai quá trình này Để tạo ra được tốc độ chạy đà và sức mạnh giậm nhảy lớn đòi hỏi người tập phải có năng lực sức mạnh và sức mạnh chuyên môn Tất nhiên để thực hiện kỹ thuật chính xác và có hiệu quả trong các giai đoạn kỹ thuật nói chung và giai đoạn qua xà nói riêng, người học không thể thiếu khả năng phối hợp vận động
Phân tích nguyên lý, đặc điểm kỹ thuật, tính chất hoạt động của nhảy cao và nghiên cứu mối tương quan giữa các tố chất thể lực chuyên môn với thành tích, các nhà chuyên môn cho rằng, các tố chất thể lực đặc trưng của vận động viên nhảy cao bao gồm: Sức nhanh, sức mạnh tốc độ và khả năng phối hợp vận động
1.5.1 Cơ sở sinh lý của tố chất sức nhanh
Sức mạnh là một tố chất thể lực của con người Đó là khả năng thực hiện động tác trong khoảng thời gian ngắn nhất Sức nhanh có thể biểu hiện ở dạng đơn giản và ở dạng phức tạp Dạng đơn giản của sức nhanh bao gồm Thời gian phản ứng, thời gian của một động tác đơn (riêng lẻ) và tần số hoạt động cục bộ
Dạng phức tạp của sức nhanh là thời gian thực hiện hoạt động thể thao phức tạp khác nhau như chạy 100m tốc độ ra tay trong các môn ném đẩy, quyền anh, võ Các dạng đơn giản của sức nhanh liên quan chặt chẽ với kết quả của sức nhanh ở dạng phức tạp Thời gian phản ứng, thời gian của một động tác đơn lẻ hoặc tần số động tác sẽ càng cao Song các dạng biểu hiện sức
Trang 15nhanh đơn giản lại phát triển tương đối độc lập với nhau Thời gian phản ứng
có thể rất tốt nhưng động tác riêng lẻ lại chậm hoặc tần số của động tác lại thấp Vì vậy sức nhanh là tố chất tổng hợp của ba yếu tố cấu thành là: Thời gian phản ứng, thời gian của động tác đơn lẻ và tần số hoạt động Yếu tố quyết định tốc độ của tất cả các dạng sức nhanh nêu trên là độ linh hoạt của các quá trình thần kinh và tốc độ co cơ
Độ linh hoạt của quá trình thần kinh thể hiện ở khả năng biến đổi nhanh chóng giữa hưng phấn và ức chế Trong các trung tâm thần kinh, ngoài ra, độ linh hoạt thần kinh còn bao gồm cả tốc độ dẫn truyền xung động trong cả dây thần kinh ngoại vi Sự thay đổi nhanh giữa hưng phấn và ức chế làm cho các nơron vận động có khả năng phát xung động với tần số cao và làm cho đơn vị vận động thả lỏng nhanh, đó là yếu tố tăng cường tốc độ và tần số động tác Tốc độ hưng phấn của tế bào thần kinh còn ảnh hưởng trực tiếp tới thời kỳ tiềm tàng và cùng với tốc độ dẫn truyền xung động trong các dây thần kinh ngoại vi, chúng quyết định thời gian phản ứng
Tốc độ co cơ phụ thuộc trước tiên vào tỉ lệ sợi cơ nhanh và sợi cơ chậm trong bó cơ Các cơ có tỉ lệ sợi cơ nhanh, đặc biệt là sợi chơ nhóm II-A có khả năng tốc độ cao hơn Tốc độ co cơ chịu ảnh hưởng của hàm lượng các chất cao năng ATP và CP Như đã trình bày ở phần trên, hoạt động tăng tốc độ với thời gian ngắn sử dụng nguồn năng lượng phân giải yếm khí ATP và CP là chủ yếu Vì vậy khi hàm lượng ATP và CP trong cơ cao thì khả năng co cơ cũng tăng nhanh lên Theo một số tác giả, hàm lượng ATP và CP có thể tăng thêm 10-30% (Kox.I.H) Theo N.N.Iacoplep, tốc độ co cơ phụ thuộc vào hoạt tính của men phân giải tổng hợp ATP và CP Tập luyện tốc độ có thể làm tăng hoạt tính của các loại men này
Trong hoạt động thể dục thể thao, tốc độ và sức mạnh có liên quan mật thiết với nhau Mức độ phát triển sức mạnh ảnh hưởng rõ đến sức nhanh Trong nhiều môn thể thao, kết quả hoạt động không phụ thuộc vào sức nhanh
Trang 16hay sức mạnh riêng lẻ mà phụ thuộc vào sự phối hợp hợp lý giữa hai tố chất này (các môn ném, đẩy, nhảy, chạy ngắn)
Như vậy sức nhanh chỉ phụ thuộc chủ yếu vào tính linh hoạt của thần kinh và tốc độ co cơ Cả hai nhóm yếu tố ảnh hưởng đó, mặc dù có biến đổi dưới tác dụng của thành lập, nhưng nói chung đều là những yếu tố quyết định bởi đặc điểm di truyền Do đó, trong quá trình tập luyện, sức nhanh biến đổi chậm hơn sức mạnh và sức bền Cơ sở sinh lý để phát triển sức nhanh là tăng cường độ linh hoạt và tốc độ dẫn truyền hưng phấn ở trung tâm thần kinh và
bộ máy vận động, tăng cường sự phối hợp giữa các sợi cơ và các cơ, nâng cao tốc độ thả lỏng, các yêu cầu trên có thể đạt được bằng cách sử dụng các bài tập tần số cao, trọng tải nhỏ, có thời gian nghỉ dài
1.5.2 Cơ sở sinh lý của tố chất sức mạnh tốc độ và sức mạnh bột phát
Hoạt động của sức mạnh tốc độ bao gồm các dạng bài tập thể lực nhằm tạo cho một trọng tải ổn định một trọng tải ổn định một vận tốc lớn nhất Ví
dụ trong các môn nhảy, trọng lượng cơ thể vận động viên không thay đổi, độ cao hoặc độ xa của thành tích nhảy phụ thuộc vào tốc độ chạy đà, độ chính xác và lực giậm nhảy Trong các môn ném đẩy, trọng lượng của dụng cụ cũng
ổn định vận động viên cần phải tác động một lực tối đa trong thời gian tối thiểu Các hoạt động sức mạnh tốc độ bao giờ cũng có một số động tác tạo đà
có thể biến đổi về biên độ hình thức cũng như lực giậm nhảy Trong các hoạt động sức bền tốc độ vận động viên cần phải gắng sức ở mức tối đa Ngoài ra, hoạt động loại này còn đòi hỏi cơ phải có tính linh hoạt và phối hợp rất cao trong một thời gian ngắn, vì vậy còn gọi là hoạt động sức mạnh bột phát
Nhìn chung hoạt động sức mạnh tốc độ tác động đến trạng thái chức năng
cơ thể tương đối yếu hơn Trong các bài tập sức mạnh tốc độ, hệ máu của vận động viên hầu như không có gì biến đổi rõ rệt Trong các môn nhảy, tần số tim
có thể lên tới 140 - 150 lần/ 1 phút Đặc biệt quan trọng nhất là nhịp tim của vận động viên sau khi đã kết thúc các bài tập sức mạnh tốc độ Huyết áp của vận động viên tăng lên tuy không cao lắm nhất là huyết áp tối đa (150 - 160mm hệ
Trang 17thống) Tần số hô hấp tăng lên không đáng kể sau khi kết thúc hoạt động, thể tích hô hấp và hấp thụ oxy tăng lên ít nhiều Các bài tập sức mạnh tốc độ là các bài tập có công suất lớn được thực hiện trong thời gian ngắn Vì vậy năng lượng được sử dụng chủ yếu là do phân giải ATP và CP dự trữ trong cơ Nhu cầu ôxy được thoả mãn trong quá trình hoạt động làm cho cơ nợ ôxy lên tới 95% Song
do thời gian ngắn nên tổng lượng ôxy không lớn lắm Nợ ôxy vào khoảng 20-30 lít trong hoạt động kéo dài 1 phút Chức năng cơ quan bài tiết và điều hoà thân nhiệt biến đổi không đáng kể trong cacvs hoạt động sức mạnh tốc độ
Sức mạnh bột phát là một dạng sức mạnh tốc độ Đó là khả năng con người phát huy một lực lớn trong khoảng thời gian ngắn nhất Để đánh giá sức mạnh bột phát, người ta thường dùng chỉ số sức mạnh tốc độ
Nhìn chung ta có thể thấy các xu thế nghiên cứu sử dụng bài tập bổ trợ sau:
1.6.1 Cải tiến, sáng tạo nhiều loại công cụ và phương tiện để sử dụng cho các bài tập bổ trợ chuyên môn
Các cuộc thi chính thức khởi nguồn lịch sử môn nhảy cao lần đầu tiên
có từ hơn 100 năm trước Thực hiện những ngày đó môn nhảy cao, chủ yếu diễn ra trên hố cát và các đường chạy bằng đất nện hoặc sỉ than, các kỹ thuật còn nghèo nàn, công cụ và phương tiện cho tập luyện còn hạn chế Do vậy
Trang 18các hình thức của các bài tập bổ trợ chuyên môn cũng đơn điệu, nghèo nàn Nhưng từ những năm 80 của thế kỷ XX, nhờ có khoa học phát triển, nên có sự
ra đời của đệm mút, đường chạy nhựa tổng hợp và các máy móc tập luyện khác nhau làm cho các bài tập càng đa dạng phong phú hơn, đáp ứng các mục đích có yêu cầu chuyên biệt của các môn thể thao
1.6.2 Xu thế tập luyện bài tập chuyên môn theo nhịp sinh học của người tập
Nhịp sinh học được các nhà khoa học FuSe và Snaphotu (Mỹ) đề xuất vào thế kỷ XIX Theo hai ông, nếu tính từ ngày sinh thì cứ 23 ngày là một chu
kỳ thể lực, 28 ngày một chu kỳ tình cảm và 33 ngày là một chu kỳ trí lực Nếu tập luyện vào nhịp sinh học cao nhất của thể lực, trí lực hoặc tình cảm thì hiệu quả sẽ cao hơn, còn các ngày khác cần có sự tập luyện vào thời điểm nhịp sinh học cao sẽ có hiệu quả cao
1.6.3 Xu thế mô hình hoá cảm giác để dẫn dắt và chương trình hoá động tác
Đặc biệt trong hình thành nhịp điệu động tác Ví dụ: Trong nhảy cao úp bụng, muốn hoàn thành tốt một lần nhảy phải chạy đà với nhịp điệu ra sao, tốc độ chạy đà trước lúc giậm nhảy cần đạt bao nhiêu m/s? Giai đoạn giậm, thời gian, vị trí, không gian của cơ thể ra sao, lực giậm nhảy cần đạt bao nhiêu kg/ 1 kg trọng lượng cơ thể? Tất cả những vấn đề đó đều phải được mô hình hoá và chương trình mô hình hoá đó mà áp dụng các bài tập để hoàn thiện và nâng cao kỹ thuật, thể lực và thành tích thể thao
Tóm lại, bốn xu thế để nâng cao hiệu quả các bài tập bổ trợ chuyên môn đang ngày càng được các nước có nền thể thao tiên tiến sử dụng rộng rãi trong quá trình giảng dạy và huấn luyện thể thao Họ coi đó là những biện pháp để nâng cao chất lượng giảng dạy và huấn luyện các môn thể thao nói chung và môn nhảy cao nói riêng
Trang 191.7 Cơ sở nguyên lý kỹ thuật:
Nhảy cao úp bụng là môn thể thao mà con người bằng sự nỗ lực cơ bắp của bản thân vượt qua chướng ngại vật theo phương thẳng đứng Đây là một hoạt động không có chu kỳ, là môn thể thao đòi hỏi sự kết hợp của rất nhiều
tố chất thể lực sức nhanh, sức mạnh, khả năng phối hợp vận động kỹ thuật nhảy cao úp bụng được người ta chia làm 4 giai đoạn: Chạy đà, giậm nhảy, bay trên không và tiếp đất Với mỗi giai đoạn lại đòi hỏi một tố chất đặc trưng
ở giai đoạn chạy đà tố chất đặc trưng là sức nhanh giai đoạn giậm nhảy là sức mạnh tốc độ (sức mạnh bột phát), giai đoạn trên không và tiếp đất là sức mạnh tốc độ hoãn sung
Giai đoạn chạy đà được tính từ khi bắt đầu chạy đà cho đến khi đặt chân giậm nhảy vào điểm giậm nhảy Hướng chạy đà chếch 30-400
phía bên chân giậm nhảy theo đường thẳng
Giai đoạn giậm nhảy được tính từ khi đặt chân giậm nhảy đến khi chân giậm nhảy rời khỏi mặt đất đặt chân giậm phải nhanh, mạnh đồng thời khi đặt chân giậm nhảy chân chạm đất gần như thẳng điểm đặt chân giậm nhảy luôn luôn ở phía trước điểm rọi của trọng tâm cơ thể Chân giậm nhảy đưa về phía trước càng nhiều, khoảng cách từ điểm đặt chân giậm nhảy đến điểm rọi trọng tâm cơ thể càng xa thì khả năng chuyển từ tốc độ nằm ngang sang tốc độ nằm ngang sang tốc độ thẳng đứng càng cao Nhiệm vụ của giai đoạn giậm nhảy là chuyển hoá tối ưu tốc độ nằm ngang sang tốc độ thẳng đứng
Giai đoạn bay trên không được tính từ khi chân giậm nhảy rời khỏi mặt đất đến khi một bộ phận của cơ thể bắt đầu tiếp xúc với mặt đất Nhiệm vụ của giai đoạn này là hợp lý hoá mọi hoạt động Trong khi bay để nâng cao hiệu quả qua xà Sau khi chân giậm nhảy rời khỏi mặt đất trọng tâm cơ thể di chuyển theo một đường bay nhất định, đường bay phụ thuộc vào tốc độ bay ban đầu, góc độ bay và lực cản không khí Góc độ bay được tạo nên bởi tốc
độ nằm ngang và tốc độ thẳng đứng của cơ thể lúc kết thúc giậm nhảy Trong
Trang 20nhảy cao tốc độ nằm ngang gần như chuyển thành tốc độ thẳng đứng vì vậy góc độ bay lớn từ 60 - 650
Giai đoạn tiếp đất được tính từ khi kết thúc giai đoạn bay trên không cho đến khi chuyển động của cơ thể hoàn toàn dừng lại Giai đoạn này có nhiệm vụ là đảm bảo an toàn cho người nhảy
Thành tích của môn nhảy cao được tính theo công thức:
g
V h
H
2
sin2 02
0 0
Trong đó: H: Là thành tích nhảy cao
h0: Là độ cao của trọng tâm cơ thể trước khi chân giậm
nhảy rời khỏi mặt đất
V0: Là tốc độ bay ban đầu
g: Là gia tốc trọng trường (hằng số g 9,8 m/s
0: Là góc bay của trọng tâm cơ thể
Ta có thể thấy trong công thức này có h0, g là hằng số, sin2 rất nhỏ không đáng kể Như vậy H phụ thuộc vào V0 hay nói một cách chính xác là thành tích nhảy cao phụ thuộc vào tốc độ bay ban đầu trong khi đó tốc độ bay tạo bởi 2 yếu tố:
Trang 21Bảng 1: Các thông số biểu diễn kỹ thuật nhảy cao úp bụng
4 Góc bay ban đầu của trọng tâm cơ thể 60 - 650
Trang 22Chương 2
NHIỆM VỤ - PHƯƠNG PHÁP VÀ TỔ CHỨC NGHIÊN CỨU
2.1 NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
Để giải quyết mục đích của đề tài, đề tài cần giải quyết hai nhiệm vụ cơ bản sau:
2.1.1 Nhiệm vụ 1:
Thực trạng việc sử dụng các bài tập bổ trợ chuyên môn trong giảng dạy
kỹ thuật nhảy cao úp bụng cho nam học sinh khối 10 trường THPT Sóc Sơn – Hà Nội
2.1.2 Nhiệm vụ 2:
Nghiên cứu lựa chọn, ứng dụng và đánh giá hiệu quả các bài tập bổ trợ chuyên môn nhằm nâng cao hiệu quả trong kỹ thuật nhảy cao úp bụng cho nam học sinh khối 10 trường THPT Sóc Sơn – Hà Nội
2.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Để giải quyết nhiệm vụ nghiên cứu, chúng tôi sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:
2.2.1 Phương pháp phân tích và tổng hợp tài liệu
Phương pháp này chúng tôi sử dụng để nghiên cứu tổng hợp phân tích các tài liệu có liên quan đến đề tài, các tài liệu được tổng hợp từ các sách chuyên môn về lý luận sinh lý, tâm lý, huấn luyện thể dục thể thao, các tài liệu chuyên môn về Điền kinh nói chung cũng như về kỹ thuật nhảy cao nói riêng… Nhằm tạo cơ sở lý luận cho việc nghiên cứu, giải quyết các nhiệm vụ của đề tài một cách chính xác và thuận lợi
2.2.2 Phương pháp phỏng vấn
Chúng tôi đã sử dụng phương pháp này để tham khảo ý kiến kinh nghiệm của các nhà khoa học, các chuyên gia, các huấn luyện viên, các thầy
Trang 23cô giáo, góp phần tìm ra được các bài tập có hiệu quả nhằm nâng cao chất lượng công tác giảng dạy giai đoạn giậm nhảy của kiểu nhảy cao úp bụng
2.2.3 Phương pháp quan sát sư phạm
Phương pháp này được chúng tôi sử dụng để quan sát, theo dõi thực tiễn việc tập luyện môn nhảy cao úp bụng cho nam nam học sinh của trường THPT Sóc Sơn – Hà Nội
Từ đó có thể có cơ sở để đánh giá thực trạng của việc sử dụng bài tập bổ trợ chuyên môn trong học kỹ thuật nhảy cao của các em Đồng thời chúng tôi cũng dùng phương pháp này để quan sát thu thập các số liệu cần thiết trong thực nghiệm sư phạm để giúp cho việc rút ra được các kết luận chính xác
2.2.4 Phương pháp kiểm tra sư phạm
Để tiến hành nghiên cứu đề tài này được tốt, chúng tôi đã quan sát việc tập luyện các bài tập bổ trợ kỹ thuật, các bài tập phát triển thể lực môn nhảy cao cho nam học sinh khối 10 trường THPT Sóc Sơn – Hà Nội
Được chúng tôi sử dụng trong quá trình thực hiện sư phạm nhằm xác định những chỉ tiêu, tiêu chuẩn để xác định hiệu quả của những bài tập chuyên môn đã đề ra
2.2.5 Phương pháp thực nghiệm sư phạm
Được chúng tôi sử dụng trong việc xác định hiệu quả ứng dụng một số bài tập chuyên môn cho đối tượng nghiên cứu Đối tượng của chúng tôi bao gồm 20 nam học sinh khối 10 trường THPT Sóc Sơn – Hà Nội
Quá trình thực nghiệm được chúng tôi tiến hành trong một học kỳ, đối tượng thực nghiệm chúng tôi chia thành 2 nhóm
- Nhóm thực nghiệm: Gồm 10 học sinh, áp dụng những bài tập mà chúng tôi lựa chọn (A)
- Nhóm đối chiếu: Gồm 10 học sinh, tiến hành tập luyện với bài tập theo chương trình giảng dạy của nhà trường đang giảng dạy (B)
Trang 24Thực nghiệm sư phạm được tiến hành theo phương pháp so sánh thành tích trước và sau thực nghiệm của cả hai nhóm Kết quả kiểm tra được ghi vào văn bản để tổng hợp phân tích số liệu làm cơ sở để đánh giá bài tập mà chúng tôi lựa chọn và sử dụng có kết quả tốt
2.2.6 Phương pháp toán học thống kê
Các số liệu thu được sau thực nghiệm, chúng tôi sử dụng các thuật toán thống kê để xử lý, nhằm giúp cho việc rút ra kết luận có độ tin cậy và có sức thuyết phục cao hơn
Trong đề tài này các thuật toán được sử dụng là:
B i A
i
n n
x x x
B A
n n
x x t
Trang 25- Mối tương quan: r =
y y x
x
y y x x
i i
i i
2.3 TỔ CHỨC NGHIÊN CỨU
2.3.1 Thời gian nghiên cứu
Toàn bộ đề tài được tiến hành nghiên cứu từ tháng 08 năm 2014 đến tháng 05 năm 2015 Gồm 03 giai đoạn
- Giai đoạn 1: Từ tháng 08/2014 đến tháng 11/2015: Chọn tên đề tài
tiến hành xây dựng và bảo vệ đề cương nghiên cứu
- Giai đoạn 2: Từ tháng 12/2014 đến tháng 04/2015: Giai đoạn cơ bản
đi sâu vào thu thập tài liệu và giải quyết nhiệm vụ 1
+ Đọc và phân tích tài liệu tham khảo
+ Tiến hành phỏng vấn
+ Tiến hành quan sát
- Thực nghiệm trên đối tượng nghiên cứu
- Giai đoạn 3: Từ tháng 04/2015 đến tháng 05/2015 Hoàn thiện và báo
cáo đề tài trước Hội đồng khoa học
2.3.2 Đối tượng nghiên cứu:
- Chủ thể: Bài tập bổ trợ nâng cao hiệu quả kỹ thuật nhảy cao kiểu úp bụng cho nam học sinh khối 10 trường THPT Sóc Sơn – Hà Nội
- Khách thể: 20 nam học sinh khối 10 trường THPT Sóc Sơn – Hà Nội
2.3.3 Địa điểm nghiên cứu:
- Trường THPT Sóc Sơn – Hà Nội
- Trường ĐHSP Hà Nội 2
Trang 26Chương 3
KẾT QUẢ VÀ PHÂN TÍCH KẾT QUẢ
3.1 Thực trạng sử dụng bài tập bổ trợ chuyên môn trong giảng dạy kỹ thuật nhảy cao úp bụng cho nam học sinh khối 10 trường THPT Sóc Sơn – Hà Nội.
Để có cơ sở thực tiễn lựa chọn các bài tập bổ trợ chuyên môn trong giảng dạy kỹ thuật nhảy cao úp bụng cho nam học sinh khối 10 trường THPT Sóc Sơn – Hà Nội Bằng hai phương pháp phỏng vấn và quan sát sư phạm Chúng tôi phỏng vấn các giáo viên, đang trực tiếp giảng dạy thể dục tại các trường THPT của Huyện Sóc Sơn – Hà Nội Về thực trạng sử dụng bài tập bổ trợ chuyên môn trong quá trình giảng dạy kỹ thuật nhảy cao úp bụng chúng tôi tiến hành phỏng vấn các bài tập bổ trợ cho từng giai đoạn dạy học của kỹ thuật Kết quả được thể hiện ở bảng 3.2
Bảng 3.2: Kết quả phỏng vấn thực trạng sử dụng các bài tập bổ trợ chuyên
môn trong giảng dạy kỹ thuật nhảy cao úp bụng (n=20)
Không thường xuyên
4 Đi bộ 3 bước giậm nhảy kết hợp
đá lăng và đánh tay trên đường 5 25 7 35 8 04
5 Chạy 3 bước đà giậm nhảy đá
Trang 274 Chạy đà 3 bước giậm nhảy 16 80 3 15 1 5
5 Chạy đà 5 bước giậm nhảy 4 20 5 25 11 55
6 Chạy đà 3 bước giậm nhảy liên
Ở đây chúng tôi nhận thấy tồn tại 2 vấn đề lớn:
Trang 28Bài tập đưa ra cho học kỹ thuật qua xà, tiếp đất và kỹ thuật hoàn chỉnh tương đối thống nhất giữa nội dung bài tập cũng như số lượng bài tập Qua tìm hiểu thực tế chúng tôi được biết đây là những nội dung chính mà các giáo viên giảng dạy tại trường THPT Sóc Sơn – Hà Nội quan tâm và sử dụng nhiều bài tập cho việc hình thành kỹ thuật và hoàn chỉnh kỹ thuật nhảy cao úp bụng
Ở nội dung kỹ thuật chạy đà và giậm nhảy chưa được quan tâm đúng mức biểu hiện ở việc giáo viên sử dụng bài tập cho nội dung này còn quá ít
Về nội dung phối hợp hoàn chỉnh kỹ thuật, khi quan sát và phỏng vấn chúng tôi thấy việc xây dựng các bài tập và nội dung bài tập đều phù hợp với mục đích và yêu cầu kỹ thuật của giai đoạn kỹ thuật đó Song vấn đề việc sử dụng các bài tập hoàn thiện toàn đà lại được đầu tư học thời gian quá ít góc độ
và nhịp điệu chạy đà tốt thì mới tạo ra lợi thế cho các khâu tiếp theo (giậm nhảy, qua xà, tiếp đất)
3.1.2 Thưc trạng kỹ thuật nâng cao úp bụng của nam học sinh khối 10 trường THPT Sóc Sơn – Hà Nội
Để làm rõ hơn về thực trạng sử dụng các bài tập bổ trợ chuyên môn trong giảng dạy kỹ thuật nhảy cao kiểu úp bụng, đề tài đánh giá thực trạng kỹ thuật qua kêt quả học tập của học sinh khối 10 trường THPT Sóc Sơn – Hà Nội Kết quả thu được chúng tôi trình bày ở bảng 3.3
Bảng 3.3: Kết quả học tập kỹ thuật nhảy cao úp bụng của nam học sinh
khối 10 trường THPT Sóc Sơn – Hà Nội (n=20)
Những sai sót của động tác kỹ thuật
Chạy đà Giậm nhảy Bay trên
không
Rơi xuống đệm
Tỷ lệ
%
Số người
Tỷ lệ
%
Số người
Tỷ lệ
% n=20 143,3 7,6 1/20 5 12/20 60 5/20 25 2/20 10
Trang 29Qua bảng 3.3 ta có thể thấy học tập mới chỉ đạt thành tích trung bình, trình độ kỹ thuật còn thấp
Khi quan sát, chúng tôi thấy rõ, việc tổ chức dạy cho các sinh viên một chương trình nội dung phù hợp Số thời gian giành cho việc hình thành kỹ thuật
là phù hợp nhưng số lượng các bài tập và việc sử dụng các phương tiện trong tập luyện còn ít
Vì vậy đối với những em tiếp thu chậm việc lĩnh hội kỹ thuật động tác
có những bài tập chưa nắm vững được thì phải chuyển sang học động tác kỹ thuật khác nên việc nắm kỹ thuật đúng còn nhiều hạn chế Phần lớn các giáo viên, huấn luyện viên chú trọng tới khâu nhảy qua xà là được hơn là chú trọng việc nắm vững nguyên lý kỹ thuật động tác Điều này ảnh hưởng tới quá trình tập luyện sau này cũng như ảnh hưởng tới quá trình hình thành kỹ thuật động tác
Để đảm bảo cho việc dạy và học kỹ thuật nhảy cao úp bụng có chất lượng thì việc lựa chọn các bài tập bổ trợ chuyên môn trong quá trình giảng dạy kỹ thuật nhảy cao úp bụng theo hệ thống có cơ sở khoa học là một trong những công tác hết sức cần thiết và quan trọng
3.2 Lựa chọn và đánh giá hiệu quả nhóm các bài tập bổ trợ chuyên môn trong giảng dạy kỹ thuật nhảy cao úp bụng
3.2.1 Lựa chọn bài tập bổ trợ chuyên môn trong giảng dạy nhảy cao úp bụng cho nam học sinh khối 10 trường THPT Sóc Sơn – Hà Nội
Sau khi dựa trên cơ sở lý luận và thực tiễn đã được trình bày ở trên quá trình lựa chọn bài tập của chúng tôi đã tiến hành theo hướng sau:
Qua quan sát các giờ tập của học sinh học kỹ thuật nhảy cao úp bụng, chúng tôi tiến hành tham khảo các tài liệu về chuyên ngành Điền kinh, các tạp chí khoa học TDTT, các tài liệu giảng dạy, huấn luyện của chuyên gia trong nước và nước ngoài, dựa vào cơ sở khoa học và các yêu cầu lựa chọn bài tập, bước đầu đó lựa chọn được một số bài tập bổ trợ chuyên môn trong quá trình giảng dạy kỹ thuật nhảy cao úp bụng gồm các bài tập sau:
Trang 30A Nhóm bài tập bổ trợ kỹ thuật chạy đà
- Bài tập 1: Chạy tăng tốc độ 15m đường thẳng (s)
+ Mục đích: Bài tập giúp cho người học có cảm giác hướng chạy đà + Yêu cầu: Khi chạy thân người phải gần như thẳng, tư thế thoải mái + Cách thức thực hiện: Học sinh nếu giậm nhảy chân trái thì chạy xuôi theo hướng chạy, nếu giậm chân phải thì ngược lại
+ Cách thức thực hiện: Chạy 3 bước đà trên đường thẳng, giậm nhảy đá lăng và đánh tay khi tiếp đất bằng chân giậm Thực hiện liên tục 30m
+ Mục đích: Phối hợp chạy đà và giậm nhảy
+ Yêu cầu: Vẽ đường chạy bằng phấn hoặc đánh dấu bằng băng dính, thực hiện chạy cần bám sát điểm dấu đó, tư thế của thân người, hông, tay phải thoải mái
+ Cách thức thực hiện: Xác định điểm giậm nhảy rồi sau đó xác định đà bằng cách góc độ của đà, thực hiện từng người một
Trang 31+ Khối lượng thực hiện: 5 - 8 lần
- Bài tập 5: Kết hợp chạy toàn đà và giậm nhảy với vật chuẩn (s/l)
+ Mục đích: Tạo ra nhịp điệu tốc độ chạy đà ổn định và điểm giậm nhảy chuẩn xác
+ Yêu cầu: Đảm bảo tốc độ chạy đà ổn định năm bước cuối đà phải đạt
độ chính xác cho từng lần nhảy, đặt chân giậm nhảy đúng với điểm đã xác định và đặt chân giậm phải tích cực
+ Cách thức thực hiện: Xác định vật chuẩn, xác định điểm giậm nhảy, xác định đường chạy đà Khi thực hiện chạy đà đánh dấu đoạn đường chạy thẳng và các bước cuối cùng (5 bước đường vòng)