Việc tổ chức bài học ôn tập tổng kết chương trong dạy học Vật lí nói riêng cũng như trong dạy học các bộ môn khoa học nói chung là một việc làm cần thiết để học sinh không chỉ nắm vững đ
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA VẬT LÝ
VŨ THỊ MAI HƯƠNG
TỔ CHỨC BÀI HỌC ÔN TẬP TỔNG KẾT CHƯƠNG “ĐỘNG LỰC HỌC CHẤT ĐIỂM”-
VẬT LÍ 10 THPT
KHÓA luËn TèT NGHIÖP §¹I HäC
Chuyên ngành: Lí luận và Phương pháp dạy học bộ môn Vật lí
Người hướng dẫn khoa học
TS NGUYỄN THẾ KHÔI
hµ néi - 2015
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Tôi xin chân trọng cảm ơn Ban Giám hiệu, Ban Chủ nhiệm khoa Vật
lý – Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2
Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trong tổ bộ môn Lí luận
và Phương pháp dạy học bộ môn Vật lí đã luôn quan tâm, động viên và tạo điều kiện cho tôi trong thời gian học tập và thực hiện đề tài
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới TS Nguyễn Thế Khôi đã tận tình hướng dẫn, động viên, giúp đỡ tôi trong suốt thời gian thực hiện đề tài
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban Giám hiệu Trường THPT Sóc Sơn cùng các thầy cô giáo trong tổ Tự nhiên 1 đã giúp đỡ tôi trong suốt thời gian học tập và thực hiện đề tài
Cuối cùng tôi xin cảm ơn sự động viên, giúp đỡ nhiệt tình của gia đình, bạn bè và các bạn sinh viên lớp K37C
Hà Nội, tháng 5 năm 2015
Tác giả
Vũ Thị Mai Hương
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu trong khoá luận là trung thực và chưa được công bố trong bất kì một công trình khoa học nào khác
Hà Nội, tháng 5 năm 2015
Tác giả
Vũ Thị Mai Hương
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 3
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
4 Giả thuyết khoa học 3
5 Nhiệm vụ nghiên cứu 3
6 Phương pháp nghiên cứu 4
7 Đóng góp của khoá luận 4
8 Cấu trúc khoá luận 4
Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC TỔ CHỨC BÀI HỌC ÔNG TẬP TỔNG KẾT CHƯƠNG VỀ VẬT LÍ Ở TRƯỜNG THPT 6
1.1 Bài học ôn tập tổng kết chương trong dạy học Vật lí 6
1.1.1 Bài học Vật lí 6
1.1.1.1 Định nghĩa 6
1.1.1.2 Phân loại 7
1.1.2 Cấu trúc bài học ôn tập tổng kết chương 8
1.2.Tính tích cực học tập và chất lượng nắm vững kiến thức của học sinh 11
1.2.1 Tính tích cực học tập của học sinh 11
1.2.2 Chất lượng nắm vững kiến thức của học sinh 12
1.2.3 Mối quan hệ giữa tính tích cực học tập và nắm vững kiến thức 13
1.3 Thực trạng của việc tổ chức bài học ôn tập tổng kết chương “Động lực học chất điểm” – Vật lí 10 THPT 13
1.3.1 Mục đích điều tra 14
1.3.2 Đối tượng và thời gian điều tra 14
Trang 61.3.3 Cách thức điều tra 14 1.3.4 Kết quả điều tra 14 1.3.4.1 Tình hình dạy và học bài ôn tập tổng kết chương “Động lực học chất điểm” – Vật lí 10 THPT 14 1.3.4.2 Chất lượng nắm vững kiến thức của học sinh trong quá trình học tập 16 1.3.4.3 Khó khăn, sai lầm phổ biến của HS khi ôn tập tổng kết 18 KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 20 Chương 2: TỔ CHỨC BÀI HỌC ÔN TẬP TỔNG KẾT CHƯƠNG “ĐỘNG LỰC HỌC CHẤT ĐIỂM” – VẬT LÍ 10 THPT 21 2.1 Mục tiêu dạy học chương “Động lực học chất điểm” – Vật lí 10 THPT 22 2.1.1 Vị trí, nhiệm vụ của chương “Động lực học chất điểm” – Vật lí 10 THPT 22 2.1.2 Cấu trúc chương “Động lực học chất điểm” – Vật lí 10 THPT 22 2.1.3 Mục tiêu dạy học chương “Động lực học chất điểm” – Vật lí 10 THPT 23 2.1.4 Phân loại và phương pháp giải bài tập chương “Động lực học chất điểm” – Vật lí 10 THPT 25 2.1.4.1 Phân loại bài tập chương “Động lực học chất điểm” – Vật lí 10 THPT 25 2.1.4.2 Phương pháp chung giải bài tập về động lực học 28 2.2 Tổ chức bài học ôn tập tổng kết chương “Động lực học chất điểm” – Vật lí 10 THPT 28 2.2.1 Thiết kế tiến trình bài ôn tập tổng kết chương “Động lực học chất điểm” – Vật lí 10 THPT 28 2.2.2 Tổ chức bài học ôn tập tổng kết chương “Động lực học chất điểm” – Vật lí 10 THPT 34 KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 35 Chương 3: THỬ NGHIỆM SƯ PHẠM 36
Trang 73.1 Mục đích 36
3.2 Nhiệm vụ 36
3.3 Đối tượng 36
3.4 Tiến hành 36
3.5 Kết quả thử nghiệm sư phạm 37
3.6 Phân tích kết quả thử nghiệm sư phạm 38
3.6.1 Tiêu chí đánh giá 38
3.6.2 Phân tích định tính 38
3.6.3 Phân tích định lượng 38
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 43
KẾT LUẬN 44
TÀI LIỆU THAM KHẢO 46 PHỤ LỤC
Trang 8rõ: “Phải đổi mới mạnh mẽ phương pháp Giáo dục – Đào tạo, khắc phục lối
truyền thụ một chiều, rèn luyện thành nếp tư duy sáng tạo của người học, từng bước áp dụng các phương pháp tiên tiến và phương tiện hiện đại vào quá trình dạy học, đảm bảo điều kiện và thời gian tự học, tự nghiên cứu, tự giải quyết vấn đề, phát triển năng lực thực hành sáng tạo cho người học”
Nghị quyết TƯ 2 (khoá VIII) của Đảng đã khẳng định: “Cuộc cách mạng về
phương pháp giáo dục phải hướng vào người học, rèn luyện và phát triển khả năng suy nghĩ, khả năng giải quyết vấn đề một cách năng động, độc lập, sáng tạo ngay trong quá trình học tập ở nhà trường phổ thông” Điều đó đã được
thể chế hóa trong điều 28 – Luật Giáo dục năm 2005 và được cụ thể hóa trong các chỉ thị của Bộ Giáo dục và Đào tạo
Trang 9Để phát huy tính tích cực học tập, đồng thời nâng cao chất lượng nắm vững kiến thức của HS thì việc tổ chức ôn tập tổng kết nội dung các bài học theo từng chương, từng phần ngay sau khi kết thúc chương hay phần đó là một việc làm quan trọng Cơ sở tâm lí của việc ôn tập là học thuyết của I.P.Pavlop về sự hoạt động của thần kinh cấp cao, cho rằng: “Sự thấm nhuần kiến thức là một chuỗi dài những phản xạ có điều kiện và dần theo thời gian sau khi nguyên nhân gây ra phản xạ đã ngừng tác dụng thì mọi quá trình sẽ bị xóa nhòa trong hệ thần kinh” Vì thế, muốn cho kiến thức được vững chắc thì bên cạnh việc trình bày tài liệu dễ hiểu, dễ nhớ cần phải thường xuyên củng
cố kiến thức, kĩ năng, kĩ xảo đã được học chính là nhằm củng cố các phản xạ
có điều kiện làm cơ sở sinh lí thần kinh cho việc hình thành các kiến thức, kĩ năng, kĩ xảo ấy được vững chắc
Bài học là đơn vị cơ sở đầu tiên và quan trọng nhất của quá trình dạy học [4] Nội dung của một bài học (tương ứng với nó là kĩ năng, kĩ xảo) nằm trong một hệ thống phát triển bao gồm cả sự phát triển của một môn khoa học
và sự phát triển của tâm lí sinh lí của người lĩnh hội nó Một bài học phải được thiết kế như thế nào mới đảm bảo được nguyên tắc đó Trong dạy học Vật lí ở trường phổ thông, các tác giả Nguyễn Đức Thâm, Nguyễn Ngọc Hưng, Phạm Xuân Quế [13] khẳng định: Bài học (Bài lên lớp) là hình thức cơ bản của quá trình dạy học Vật lí ở trường phổ thông hiện nay
Việc tổ chức bài học ôn tập tổng kết chương trong dạy học Vật lí nói riêng cũng như trong dạy học các bộ môn khoa học nói chung là một việc làm cần thiết để học sinh không chỉ nắm vững được những kiến thức đã học mà còn giúp học sinh phát huy tính tích cực học tập Tuy vậy, hiện nay vẫn chưa
có nhiều đề tại nghiên cứu về vấn đề này Tác giả Nguyễn Văn Phùng trong
đề tài “Bàn về việc tự học thông qua việc ôn tập chương” (2013) đã nêu ra
tầm quan trọng của bài học ôn tập tổng kết chương trong dạy học ở trường
Trang 10THPT nhưng chưa đi sâu vào việc thiết kế tiến trình và tổ chức bài học ôn tập tổng kết chương một cách rõ ràng
Xuất phát từ những lí do trên, chúng tôi lựa chọn đề tài: “Tổ chức bài
học ôn tập tổng kết chương “ĐỘNG LỰC HỌC CHẤT ĐIỂM”– Vật lí 10 THPT” làm đề tài nghiên cứu của mình
2 Mục đích nghiên cứu
Thiết kế tiến trình và tổ chức bài học ôn tập tổng kết chương “Động lực học chất điểm” – Vật lí 10 THPT nhằm phát huy tính tích cực học tập, góp phần nâng cao chất lượng kiến thức của học sinh
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Hoạt động dạy học của GV và HS trong bài
học ôn tập tổng kết chương ở trường THPT
- Phạm vi nghiên cứu: Bài học ôn tập tổng kết chương “Động lực học
chất điểm” – Vật lí 10 THPT
4 Giả thuyết khoa học
Nếu thiết kế nội dung, tiến trình tổ chức bài học ôn tập tổng kết chương
“Động lực học chất điểm” một cách khoa học, hợp lí thì sẽ phát huy được tính tích cực học tập, đồng thời nâng cao chất lượng kiến thức của HS lớp 10 THPT
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1 Nghiên cứu một số cơ sở lí luận về bài học ôn tập tổng kết về vật lí trong việc phát huy tính tích cực học tập và nâng cao chất lượng kiến thức của
HS trong dạy học ở trường THPT
5.2 Điều tra thực trạng của việc tổ chức bài học ôn tập tổng kết chương
“Động lực học chất điểm” – Vật lí 10 THPT
5.3 Xác định nội dung dạy học chương “Động lực học chất điểm” – Vật lí 10 THPT
Trang 115.4 Thiết kế nội dung, tiến trình tổ chức bài học ôn tập tổng kết chương “Động lực học chất điểm” – Vật lí 10 THPT
5.5 Tiến hành thử nghiệm sư phạm để đánh giá tính khả thi và hiệu quả của nội dung và tiến trình bài học đã soạn thảo
6 Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình hình thành khóa luận chúng tôi sử dụng phối hợp ba phương pháp:
+ Nghiên cứu lí luận: Nghiên cứu các tài liệu, sách giáo khoa, sách giáo
viên nhằm xác định mục tiêu dạy học Vật lí trong giai đoạn hiện nay nói chung và mục tiêu dạy học bài ôn tập tổng kết chương trong dạy học Vật lí ở trường phổ thông nói riêng trong việc phát huy tính tích cực và nâng cao chất lượng kiến thức của HS trong dạy học Vật lí ở trường THPT
+ Điều tra cơ bản: Tìm hiểu thực trạng của việc tổ chức bài học ôn tập
tổng kết chương “Động lực học chất điểm” – Vật lí 10 THPT trong dạy học Vật lí hiện nay ở trường THPT
+ Thử nghiệm sư phạm: Thử nghiệm sư phạm tiến trình đã soạn thảo
nhằm đánh giá tính khả thi của tiến trình dạy học đó trong việc phát huy tính tích cực, nâng cao chất lượng kiến thức của học sinh
7 Đóng góp của khóa luận
- Về mặt lí luận: Hệ thống hóa một số cơ sở lí luận về việc tổ chức bài
học ôn tập tổng kết chương trong dạy học Vật lí ở trường THPT
- Về mặt thực tiễn: Nội dung và tiến trình bài học ôn tập tổng kết
chương “Động lực học chất điểm” có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho GV
và HS trong dạy học bộ môn Vật lí lớp 10 ở trường THPT
8 Cấu trúc khóa luận
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, cấu trúc khóa luận gồm ba chương:
Trang 12Chương 1 Cơ sở lí luận và thực tiễn của việc tổ chức bài học ôn tập tổng kết chương về Vật lí ở trường THPT
Chương 2 Tổ chức bài học học ôn tập tổng kết chương “Động lực học chất điểm”– Vật lí 10 THPT
Chương 3 Thử nghiệm sư phạm
Trang 13CHƯƠNG 1:
CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC
TỔ CHỨC BÀI HỌC ÔN TẬP TỔNG KẾT CHƯƠNG VỀ VẬT LÍ
Ở TRƯỜNG THPT
1.1 Bài học ôn tập tổng kết chương trong dạy học Vật lí
1.1.1 Bài học Vật lí
1.1.1.1 Định nghĩa
Theo từ điển Tiếng Việt [5], “bài học” có hai nghĩa:
- Hệ thống những điều cần hiểu, cần nhớ, cần biết, sau khi nghe thầy giảng
- Kết quả suy ra từ những điều đã từng trải qua (Bài học kinh nghiệm, bài học xương máu )
Trong Didactic đáng chú ý một số định nghĩa dưới đây:
- Theo Hồ Ngọc Đại [4,tr.184], “Bài học là một quá trình thầy tổ chức
cho trò hoạt động để lĩnh hội một khái niệm, kĩ năng, kĩ xảo tương ứng với nó, trong một thời gian xác định, ở một trình độ phát triển nhất định”
- M.N Xcatkin định nghĩa “Bài học là hình thức được sử dụng để giải
quyết nhiệm vụ truyền thụ kiến thức, giáo dục và phát triển học sinh, là hình thức tổ chức một hoạt động cố định của GV và HS trong một khoảng thời gian xác định” Trong định nghĩa này, tác giả cũng nhấn mạnh trong “bài
học” thì mọi các thành tố của quá trình dạy học phải có mặt: Mục tiêu, nội dung, thiết bị, phương pháp, hoạt động về tổ chức và điều khiển
- Trong dạy học Vật lí ở trường phổ thông, các tác giả Nguyễn Đức Thâm, Nguyễn Ngọc Hưng, Phạm Xuân Quế [13] khẳng định: Bài học (Bài lên lớp) là hình thức cơ bản của quá trình dạy học Vật lí ở trường phổ thông hiện nay “Theo hình thức này, trong một khoảng thời gian xác định (tiết học) tại một địa điểm xác định (lớp học) với một số lượng HS cố định có cùng
Trang 14trình độ phát triển, GV tổ chức hoạt động nhận thức cho cả lớp, có chú ý tới đặc điểm riêng của từng HS đều nắm vững những kiến thức, kĩ năng cơ bản, đồng thời qua đó phát triển được năng lực nhận thức và hình thành quan điểm đạo đức, thái độ ứng xử”
Trong khoá luận, chúng tôi sử dụng bài học theo quan điểm của ba tác giả này
1.1.1.2 Phân loại
Nói chung, có nhiều cách phân loại các bài học ở lớp về Vật lí, theo các
tác giả của “Phương pháp giảng dạy Vật lý ở trường Phổ thông cấp II” [3]
thì bài học Vật lí được chia thành các kiểu như sau:
Căn cứ vào nội dung cơ bản của bài học, giáo sư I.I Xôcôlôp phân kiểu
các bài học vật lý thành: Bài học trình bày kiến thức mới; Bài học thí nghiệm thực hành; Bài học luyện tập và củng cố kiến thức; Bài học kiểm tra sự lĩnh hội; Bài học ôn tập một phần của giáo trình
Căn cứ vào hình thức của bài học, giáo sư P.A Zơnamenxki phân kiểu
các bài học vật lý thành: Bài học nghiên cứu kiến thức mới; Bài học thí nghiệm thực hành; Bài học giải bài tập vật lý; Bài học chuẩn bị cho học sinh
đi tham quan, tiến hành tham quan, tổng kết tham quan; Bài học ôn tập và khái quát hóa tài liệu đã học; Bài học đánh giá kĩ năng và kĩ xảo của học sinh
Cả hai cách phân kiểu trên đều không thật sự “đơn trị”, vì nội dung của các bài học đó còn chồng chéo nhau Thực vậy, sự luyện tập và củng cố kiến thức thường có thể được thực hiện trong quá trình làm thí nghiệm thực hành (xem cách phân kiểu của giáo sư I.I Xôcôlôp); sự khái quát hóa tài liệu đã học
có thể được thực hiện trong quá trình giải bài tập vật lý (xem cách phân kiểu của giáo sư P.A Zơnamenxki) Ngoài ra, căn cứ của hai cách phân kiểu trên (nội dung và hình thức của bài học) không có tính chất cơ bản Căn cứ cơ bản
để phân kiểu phải là mục đích cơ bản của bài học
Trang 15Theo mục đích cơ bản của bài học, các bài học vật lí được chia thành: Bài học nghiên cứu kiến thức mới; Bài học hình thành kĩ năng, kĩ xảo; Bài học khái quát hóa và củng cố kiến thức; Bài học kiểm tra và đánh giá kiến thức; Bài học tổ hợp
Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, chúng tôi nhận thấy cách phân loại theo mục đích cơ bản của bài học phù hợp nhất với việc dạy và học bộ môn Vật lí ở trường THPT hiện nay
Bài học ôn tập tổng kết chương mà chúng tôi nghiên cứu trong để tài này thuộc loại bài khái quát hóa và củng cố kiến thức cho học sinh
1.1.2 Cấu trúc bài học ôn tập tổng kết chương
1.1.2.1 Bài học ôn tập tổng kết sau mỗi đề tài, mỗi chương hay mỗi phần của giáo trình Vật lí phổ thông
Bài học ôn tập tổng kết còn gọi là ôn tập và hệ thống hoá, vì thuật ngữ tổng kết được hiểu là hệ thống hoá, khái quát hoá; hoặc còn gọi là củng cố và
hệ thống hoá, vì củng cố được hiểu theo nghĩa hẹp là ôn tập và luyện tập (ôn tập liên qua đến củng cố kiến thức; luyện tập nhằm củng cố kiến thức, kĩ năng
và thói quen)
Theo Nguyễn Thế Khôi [12,tr.111] “Ôn tập tổng kết là hình thức phối
hợp học sinh ôn tập tài liệu và giáo viên cùng học sinh tổng kết tài liệu học trong mỗi đề tài, chương hay phần của chương trình đã nghiên cứu”
Hình thức ôn tập này phải tuân theo một số yêu cầu sau:
- Không phải ôn tập tất cả chi tiết về các vấn đề đã học, cũng không phải là liệt kê tất cả các đề mục đã có trong từng bài đã học Mà trái lại, ôn tập tổng kết phải nêu lên được tất cả các khái niệm, quy tắc, định luật cơ bản của
hệ thống kiến thức đã nghiên cứu và nêu bật mối liên hệ giữa chúng
- Tổng kết phải có tác dụng nâng cao trình độ hiểu biết của HS về tài liệu học Yêu cầu này không đòi hỏi phải đưa thêm các kiến thức mới vào nội dung ôn tập, mà chủ yếu là giúp HS có cái nhìn tổng quát về vấn để riêng lẻ
Trang 16đã được giải quyết trước đây và khái quát hóa những tài liệu mà HS đã chiếm lĩnh được thêm trong quá trình giải bài tập, làm thí nghiệm, đọc tài liệu tham khảo, tham quan bổ sung cho phần lí thuyết cô đọng đã nghiên cứu Trong một số trường hợp, có thể phát triển thêm một số vấn đề nhằm mở rộng vốn hiểu biết của HS
- Tổng kết phải giúp học sinh nắm vững, dễ nhớ để từ đó, dễ vận dụng vào thực tiễn Thông thường, để đạt được điều này, GV nêu ra những thủ thuật, mẹo để nhớ các công thức, định luật và trình bày bản tổng kết dưới dangj sơ đồ hay bảng
1.1.2.2 Cấu trúc bài học ôn tập tổng kết chương
“Cấu trúc” thường được hiểu là một trật tự sắp xếp được qui định một
cách định tính, có tính bền vững tương đối của các mối liên hệ bên trong giữa các thành tố của một hệ thống Theo các tác giả Nguyễn Đức Thâm, Nguyễn
Ngọc Hưng, Phạm Xuân Quế “Cấu trúc của bài lên lớp sẽ gồm một chuỗi
những hoạt động của GV và HS được sắp xếp theo một trình tự hợp lí, đảm bảo cho HS hoạt động có hiệu quả, nhằm chiếm lĩnh kiến thức, phát triển năng lực và hình thành thái độ và đạo đức” [13] Các tác giả này nhấn mạnh
rằng với mỗi mục đích, mỗi nội dung học, ứng với mỗi đối tượng trong những điều kiện cơ sở vật chất, phương tiên dạy học xác định thì bài lên lớp phải có cấu trúc riêng thích hợp thì mới có hiệu quả Nhưng dựa vào đặc điểm của HS hoạt động trong một tập thể xác định, phải thực hiện những mục đích chung trong một thời gian xác định nên cũng có thể nêu ra một số hành động điển
hình phải thực hiện trong mỗi bài học “Những hành động đó là những yếu tố
cấu trúc của bài học, còn gọi là các khâu của bài học” Thông thường bài lên
lớp có các khâu:
1 Tổ chức lớp học;
2 Kiểm tra bài làm ở lớp, ở nhà của HS;
3 Xây dựng tình huống có vấn đề Giao nhiệm vụ cho học sinh;
Trang 174 Xây dựng, lĩnh hội kiến thức, kĩ năng, phương pháp hoạt động;
5 Sơ bộ luyện tập, củng cố kiến thức;
6 Khái quát hóa, hệ thống hóa kiến thức;
7 Giao và hướng dẫn bài làm về nhà
Đối với bài học ôn tập tổng kết chương, loại bài này được tiến hành khi kết thúc một chương nào đó trong chương trình học và có hai đặc trưng cơ bản là ôn tập và củng cố kiến thức Phương hướng thứ nhất là ôn tập, chính là việc hệ thống hóa kiến thức phù hợp với chu trình nhận thức lí luận của HS đối với các kiến thức đã học trong chương Tại đây, HS sẽ được nhắc lại những kiến thức đã học theo một hệ thống nhất định, theo một trật tự logic xác định GV có thể giúp học sinh ghi nhớ một các dễ dàng hơn các kiến thức
đó thông qua nhiều phương pháp (nhắc lại kiến thức, vẽ sơ đồ tư duy ) Thứ hai là khái quát và khắc sâu những kiến thức trên cơ sở của phương hướng thứ nhất GV củng cố lại kiến thức cho HS bằng cách phân loại và ra các bài tập củng cố kiến thức theo từng phần
Như vậy, cấu trúc một bài ôn tập tổng kết chương trong dạy học vật lí ở trường phổ thông sẽ có các phần như sau:
1 Định hướng mục tiêu, nhiệm vụ của bài học cho học sinh;
2 Tổ chức lớp học phù hợp với từng nội dung bài học;
3 Kiểm tra sự chuẩn bị cho bài ôn tập của HS (trả lời các câu hỏi và giải các bài tập về những vấn đề cơ bản cần ôn tập tổng kết mà GV
đã giao từ 1 – 2 tiết học trước);
4 Ôn tập các kiến thức cơ bản, trọng tâm đã học Hệ thống hóa các kiến thức ấy dưới dạng bảng hay sơ đồ
5 Hướng dẫn giải bài tập Nêu cách phân loại các bài tập trog đề tài, chương hay phần học và đề ra các phương pháp giải cho từng loại;
6 Ra bài tập về nhà
Trang 181.2 Tính tích cực học tập và chất lượng nắm vững kiến thức của học sinh
1.2.1 Tính tích cực học tập của học sinh
Tính tích cực học tập thực chất là sự tích cực nhận thức của HS, đặc trưng ở khát vọng học tập, cố gắng trí tuệ và có nghị lực cao trong quá trình chiếm lĩnh tri thức Tích cực trong học tập có nghĩa là hoàn thành một cách chủ động, tự giác, có nghị lực, có đích rõ rệt và đầy hào hứng, những hành động trí óc và chân tay nhằm nắm vững kiến thức, kĩ năng, kĩ xảo, vận dụng chúng vào học tập và thực tiễn Như vậy, tích cực là rất cần thiết cho mọi quá trình nhận thức, là nhân tố rất quan trọng tạo nên hiệu quả học tập[6,tr5]
Những biểu hiện của tính tích cực nhận thức của học sinh được thể hiện
ở những dấu hiệu như:
- Biểu hiện bên ngoài, qua thái độ, hành vi, hứng thú:
+ HS chú ý lắng nghe, quan sát, theo dõi thầy cô giáo
+ HS khao khát tự nguyện tham gia vào các hoạt động học tập
+ HS tham gia trả lời các câu hỏi của GV, bổ sung các câu trả lời của bạn, phát biểu ý kiến của mình trước vấn đề nêu ra, nêu thắc mắc, đòi hỏi giải thích cặn kẽ những vấn đề chưa rõ
+ HS sẵn sàng, hồ hởi đón nhận các nhiệm vụ, tự giác thực hiện các nhiệm vụ, cố gắng hoàn thành công việc bằng mọi cách, hoàn thành công việc sớm hơn kế hoạch, xin nhận thêm nhiệm vụ thực hiện
+ HS thường xuyên tranh luận, trao đổi với bạn bè về vấn đề học tập, không nản chí khi gặp khó khăn
- Biểu hiện bên trong: những biểu hiện này khó phát hiện hơn, như có
tư duy chuyển biến, có những sáng tạo trong học tập hơn trước, tâp trung chú
ý vào vấn đề đang học
- Biểu hiện qua kết quả học tập: HS chủ động vận dụng linh hoạt những kiến thức, kĩ năng đã học để nhận thức vấn đề mới, kiên trì hoàn thành các bài
Trang 19tập, không nản lòng trước những tình huống khó khăn và đạt kết quả học tập tốt hơn
1.2.2 Chất lượng nắm vững kiến thức của học sinh
Theo lí luận dạy học, kiến thức được hiểu là kết quả của quá trình nhận thức bao gồm một tập hợp nhiều mặt về chất lượng và số lượng các biểu tượng và khái niệm lĩnh hội được, được giữ lại trong trí nhớ và được tái tạo khi có đòi hỏi tương ứng Kiến thức vật lí có thể được chia thành các nhóm cơ bản: Khái niệm (hiện tượng, đại lượng); Định luật, nguyên lí; Thuyết; Phương pháp nghiên cứu; Ứng dụng trong đời sống, sản xuất
Theo tâm lí học, “nắm vững kiến thức là hiểu đúng bản chất của nó và
vận dụng được”[14] Do đó, để đảm bảo cho học sinh nắm được kiến thức
một cách vững chắc, ngoài việc làm cho học sinh hiểu đúng bản chất của kiến thức theo tinh thần của chương trình, còn cần hình thành cho học sinh kĩ năng, kĩ xảo vận dụng kiến thức thông qua nhiều hình thức luyện tập khác nhau [3,tr22]
Một trong những nhiệm vụ chủ yếu nhất của dạy học là đảm bảo cho
HS nắm vững những kiến thức cơ bản ở nhà trường Nắm vững kiến thức không những là hiểu đúng nội hàm, ngoại diên của nó, xác định được vị trí, tác dụng của kiến thức ấy trong hệ thống kiến thức cơ bản đã tiếp thu từ trước,
mà còn biết quá trình hình thành nó và vận dụng nó vào thực tiễn
Sự nắm vững kiến thức có thể được phân biệt ở ba mức độ: biết, hiểu, vận dụng
- Biết một kiến thức nào đó có nghĩa là nhận ra được nó, phân biệt được nó với các kiến thức khác, kể lại được nội hàm của nó một cách chính xác Đây là mức tối thiểu HS cần đạt được trong học tập
- Hiểu một kiến thức là gắn kiến thức ấy vào những kiến thức đã biết, đưa được nó vào với kinh nghiệm của bản thân Tức là nêu đúng nội hàm và ngoại diên của nó, xác lập được mối quan hệ giữa nó và hệ thống những kiến
Trang 20thức khác, vận dụng được nó vào tình huống quen thuộc dẫn đến có khả năng vận dụng một cách linh hoạt, sáng tạo
- Vận dụng kiến thức vào việc giải quyết các nhiệm vụ của thực tiễn có nghĩa là phải tìm được kiến thức thích hợp trong vốn kiến thức đã có để giải quyết một nhiệm vụ mới Nhờ vận dụng kiến thức được nắm vững một cách sâu sắc
Chất lượng nắm vững kiến thức bước đầu được hiểu là chất lượng biết, hiểu và vận dụng những kiến thức được học của HS và thực tế
1.2.3 Mối quan hệ giữa tính tích cực học tập và nắm vững kiến thức
Để đảm bảo cho HS nắm vững kiến thức Vật lí một cách chắc chắn, cần phải hình thành cho họ kĩ năng, kĩ xảo không chỉ vận dụng mà còn chiếm lĩnh kiến thức thông qua nhiều hình thức luyện tập khác nhau Trong số đó, việc tổ chức cho học sinh ôn tập tổng kết từng chương, từng phần sau mỗi chương, phần được học là hình thức luyện tập không thể thiếu trong quá trình nâng cao chất lượng nắm vững kiến thức cho HS
Hiểu theo nghĩa rộng, quá trình học tập là quá trình liên tiếp tiếp thu và ôn tập, củng cố kiến thức Bởi vậy, kiến thức sẽ được học sinh hoàn toàn nắm vững nếu họ tự lực, tích cực học tập, vận dụng linh hoạt, thành thạo kiến thức
ấy để giải quyết các nhiệm vụ khác nhau
Chất lượng nắm vững kiến thức bước đầu thể hiện ở tính tích cực học tập của HS, tích cực ghi nhớ, tìm tòi để hiểu Còn tính tích cực học tập của HS phần nào thể hiện ở trình độ nắm vững kiến thức của HS đó theo từng chương, phần, đề tài, từ đó vận dụng vào những tình huống phức tạp mới 1.3 Thực trạng của việc tổ chức bài học ôn tập tổng kết chương “Động lực học chất điểm” - Vật lí 10 THPT
Để phát hiện thực trạng của việc tổ chức bài học ôn tập tổng kết chương “Động lực học chất điểm” – Vật lí 10 THPT, chúng tôi tiến hành điều tra cơ bản
Trang 211.3.2 Đối tượng và thời gian điều tra
Đối tượng điều tra là GV dạy Vật lí 10 THPT và học sinh của lớp 10C (sĩ số 45HS) trường THPT Sóc Sơn (Sóc Sơn – Hà Nội) trong thời gian từ tháng 11 năm 2014 đến tháng 4 năm 2015 (thời gian chúng tôi thực tập Sư phạm)
1.3.3 Cách thức điều tra
Để đạt được mục đích nghiên cứu, chúng tôi đã sử dụng những hình thức như:
- Trao đổi trực tiếp với giáo viên, dự giờ và xem giáo án của giáo viên
- Trao đổi trực tiếp với học sinh: Lấy phiếu thăm dò ý kiến học sinh; Xem các bài kiểm tra của họ; Quan sát học sinh trên lớp (đặc biệt chú ý đến việc tham gia của học sinh vào tiến trình hình thành hệ thống kiến thức)
1.3.4 Kết quả điều tra
Công tác điều tra, khảo sát cho phép chúng tôi đưa ra được các nhận xét ban đầu như sau:
1.3.4.1 Tình hình dạy và học bài ôn tập tổng kết chương “Động lực học chất điểm” – Vật lí 10 THPT
* Về phía giáo viên:
- Vì số tiết được phân phối cho việc ôn tập, luyện tập trong chương trình còn ít so với lượng kiến thức cần ôn của chương (1 – 2 tiết ôn tập cho
Trang 22mỗi chương) nên đã ảnh hưởng trực tiếp đến không chỉ là phương pháp hướng dẫn, phương pháp ôn tập mà còn có thời gian ôn tập cho học sinh của đa số các giáo viên Không ít giáo viên chỉ cho học sinh làm bài tập cho là “điển hình” là hết tiết học
- Qua dự giờ, quan sát hoạt động của GV và HS, có thể rút ra nhận định: Trong các tiết học ôn tập của GV cũng đã chú ý tới việc hướng dẫn học sinh ôn tập như sau: Ôn lại những kiến thức trọng tâm của chương; từ những kiến thức đã học xây dựng sơ đồ cấu trúc chương; hướng dẫn học sinh phân loại bài tập và giải các bài tập điển hình của từng loại,…Tuy nhiên việc hướng dẫn HS ôn tập chủ yếu là do GV chuẩn bị sẵn nội dung ôn tập, giảng giải cho HS các nội dung đó hoặc giảng giải theo mẫu yêu cầu của HS thực hiện lại như GV hướng dẫn Việc chỉ ra cách thức thực hiện ít được GV quan tâm
- GV không chú ý chọn lọc kiến thức trọng tâm để ôn tập cho học sinh dẫn tới tình trạng hết tiết học vẫn không đảm bảo thực hiện tiến trình dạy học (không có nhiều thời gian cho học sinh luyện tập kĩ càng các dạng bài tập của chương)
* Về phía học sinh:
Khi khảo sát HS bằng phiếu điều tra với câu hỏi: “Nếu được tổ chức hướng dẫn ôn tập tổng kết chương thì em thích thầy cô giáo hướng dẫn theo cách nào sau đây?” thu được kết quả trong bảng sau:
Trang 234
Ôn tập thông qua các bài tập, thí
5
Hướng dẫn xây dựng sơ đồ kiến thức
chương kết hợp với việc luyện tập các
dạng bài tập điển hình
41/45 91,11%
6 Tổ chức thảo luận, trao đổi nhóm 22/45 48,89%
Từ kết quả trên đây ta thấy: Các em không chỉ mong muốn được GV hướng dẫn làm các dạng bài tập luyện tập (66,67%) hay hướng dẫn xây dựng
sơ đồ kiến thức chương (82,22%) mà phần lớn HS đều có nhu cầu muốn được giáo viên kết hợp cả hướng dẫn lập sơ đồ cấu trúc chương và hướng dẫn giải các bài tập điển hình (91,11%) Theo chúng tôi, những yêu cầu đó là hợp lí,
và GV cần hướng tiết ôn tập tổng kết chương vào các yêu cầu đó để tổ chức bài học
1.3.4.2.Chất lượng nắm vững kiến thức của học sinh trong quá trình học tập
Xem xét kết quả bài kiểm tra 15 phút chương “Động lực học chất điểm” với đề bài như sau:
Câu 1: Một hợp lực 1N tác dụng theo phương ngang vào một vật có khối lượng 2 kg lúc đầu đứng yên, trong khoảng thời gian 2s Quãng đường mà vật
đi được trong khoảng thời gian đó là:
Trang 24C Lớn hơn 500N
D Bằng 500N
Câu 4: Một ôtô khối lượng m = 1200kg( coi là chất điểm), chuyển động với vận tốc 36km/h trên chiếc cầu võng xuống coi như cung tròn bán kính R = 50m Lấy g = 10m/s2 Áp lực của ôtô lên mặt cầu tại điểm thấp nhất tính theo
A Không cần có lực tác dụng vào vật thì vật vẫn chuyển động tròn đều
B Lực là nguyên nhân duy trì chuyển động của một vật
C Lực là nguyên nhân làm biến đổi chuyển động của một vật
D Nếu không có lực tác dụng vào vật thì vật không thể chuyển động được Câu 7: Một vật khối lượng 1kg, ở trên mặt đất có khối lượng 10N Khi chuyển động tới một điểm cách tâm Trái Đất 2R (R là bán kính Trái Đất) thì
nó có trọng lượng bằng bao nhiêu Niutơn?
Câu 8: Một lò xo có chiều dài tự nhiên 10 cm và có độ cứng 40N/m Giữ cố định một đầu và tác dụng vào đầu kia một lực 1N để nén lò xo Khi ấy, chiều dài của nó là bao nhiêu?
Câu 9: Một vật có khối lượng 8kg trượt xuống một mặt phẳng nghiêng với gia tốc 2m/s2 Lực gây ra gia tốc này bằng bao nhiêu? So sánh độ lớn của lực này với trọng lượng của vật Lấy g = 10 m/s2
A 16N, nhỏ hơn B 160N, lớn hơn C 4 N, lớn hơn D 1,6N, nhỏ hơn Câu 10: Câu nào đúng? Khi một xe buýt tăng tốc đột ngột thì các hành khách
Trang 25A Ngã người sang bên phải B Ngã người về phía sau
C Dừng lại ngay D Chúi người về phiá trước Kết quả bài kiểm tra được thống kê trong bảng sau:
Từ kết quả trên chúng tôi thấy rằng:
+ 50% học sinh có khả năng tái hiện lại kiến thức (thuộc định nghĩa, định luật, viết được công thức, biểu thức) Số % tương tự thực hiện được việc
sử dụng kiến thức vào các trường hợp đơn giản nhất Ngược lại, chỉ rất ít học sinh (20%) có khả năng áp dụng kiến thức vào những trường hợp tương đối phức tạp; giải thích các hiện tượng quan trọng điển hình
+ Nhiều học sinh không giải được bài tập cơ bản do các em không nắm được kiến thức cơ bản đã học hoặc hiểu chúng một cách máy móc Một số em giải được bài tập cơ bản tuy nhiên chỉ một số ít giải được bài tập phức hợp hoặc vận dụng vào các dạng bài tập mới
1.3.4.3 Khó khăn, sai lầm phổ biến của HS khi ôn tập tổng kết
Qua dự giờ, trao đổi với GV và HS chúng tôi nhận thấy nhiều HS không chuẩn bị bài trước khi đến lớp mà thường khi bắt đầu tiết học mới học lại, kiểm tra lại những nội dung cần thiết dẫn đến thụ động trong học tập và
hạn chế sự sôi nổi của các tiết học ôn tập tổng kết
Hơn nữa, học sinh thường có tâm lí bài ôn tập thì chỉ cần đến ngồi nghe, GV sẽ tự hướng dẫn ôn tập và đưa ra nội dung kiến thức trọng tâm nên những kiến thức thu nhận được thường không ghi nhớ được lâu
Qua điều tra, chúng tôi nhận thấy trong quá trình ôn tập tổng kết chương, học sinh thường gặp khó khăn chủ yếu, mắc sai lầm phổ biến sau:
Trang 26- Nhiều học sinh chưa nắm vững được kiến thức đã học trên lớp, không giải bài tập GV giao về nhà
- Không xác định được đâu là kiến thức cơ bản trọng tâm của chương
- Không biết cách lập sơ đồ cấu trúc chương
- Còn lúng túng trong việc phân loại các dạng bài tập và phương pháp giải từng loại
- Hầu hết các em không hiểu rõ bản chất của hiện tượng, chỉ nhớ máy móc nên rất khó khăn trong việc giải bài tập chương này
- Kĩ năng tính toán còn yếu
- Khi gặp các bài tập cần vận dụng kiến thức tổng hợp của chương thường bị rối trong việc sử dụng các công thức, định luật sao cho phù hợp và ngắn gọn nhất
- Trong giờ học rất nhiều học sinh lười suy nghĩ, không tích cực theo dõi quá trình giải bài tập của GV và bạn mà chỉ ghi chép vào vở một cách thụ động Tính tích cực, chủ động, tự lực của các em chưa cao
- Không tự tìm kiếm lời giải mà dựa vào lời giải có sẵn trong sách bài tập hoặc sách tham khảo hoặc chép lời giải của giáo viên một cách máy móc
Trang 27KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Từ việc phân tích cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn chúng tôi nhận thấy hoạt động ôn tập tổng kết có vai trò hết sức quan trọng trong quá trình nhận thức của HS không chỉ với riêng môn Vật lí mà còn ở bất kì môn học nào khác Thông qua hoạt động ôn tập tổng kết giúp học sinh hệ thống hóa kiến thức, luyện tập và phát triển các kĩ năng đã được học Từ đó giúp học sinh mở rộng, đào sâu, khắc sâu các kiến thức; sửa và tránh được những sai lầm thường mắc phải trong và sau khi tiếp nhận các kiến thức mới
Xuất phát từ thực trạng của vấn đề nghiên cứu, chúng tôi đã thực hiện
đề tài nghiên cứu “Tổ chức bài học ôn tập tổng kết chương “Động lực học chất điểm – vật lí 10 THPT” với sự vận dụng các lí luận dạy học hiện đại vào
tổ chức, định hướng hoạt động ôn tập tổng kết của học sinh theo 6 khâu, thành phần của cấu trúc một bài học ôn tập tổng kết chương thương thấy (đã trình bày ở trang 10, 11 của khoá luận) nhằm nâng cao hiệu quả của hoạt động này trong quá trình nhận thức của học sinh
Trang 28Trong giáo trình Vật lí phổ thông, nhiệm vụ chủ yếu của việc nghiên cứu phần này là cung cấp cho học sinh một hệ thống các khái niệm của Động lực học chất điểm, các định luật cơ bản của nó, các định luật Niu - tơn và cả những ứng dụng quan trọng nhất của chúng trong thực tiễn Đồng thời, một trong những nhiệm vụ đặc biệt của Động lực học là phát triển tiếp tục các biểu tượng của học sinh về chuyển động chất điểm, về không gian và thời gian
Chương “Động lực học chất điểm” là chương thứ hai của chương trình
Cơ học ở lớp 10 cơ bản nghiên cứu mối quan hệ giữa sự biến đổi trạng thái chuyển động của vật và nguyên nhân làm biến đổi trạng thái của chuyển động
đó Cụ thể, chương này nghiên cứu :
Trang 29+ Mối quan hệ giữa gia tốc của chất điểm, hệ chất điểm với các lực tác dụng lên nó
+ Các phương trình động lực học rút ra chỉ được áp dụng đối với các vật có kích thước nhỏ - các chất điểm
2.1.2 Cấu trúc chương “Động lực học chất điểm” – Vật lí 10 THPT
Đây là chương thuộc phần đầu chương trình vật lí 10 THPT Trong sách giáo khoa Vật lí 10, chương này đề cập tới nguyên nhân gây ra chuyển động của chất điểm và một phương pháp giải các bài toán về chuyển động của vật: Phương pháp động lực học Chương này được trình bày cụ thể theo hệ thống lần lượt các bài sau:
Bài 13 Lực Tổng hợp và phân tích lực
Bài 14 Định luật I Niu-tơn
Bài 15 Định luật II Niu-tơn
Bài 16 Định luật III Niu-tơn
Bài 17 Lực hấp dẫn
Bài 18 Chuyển động của vật bị ném
Bài 19 Lực đàn hồi
Bài 20 Lực ma sát
Bài 21 Hệ quy chiếu có gia tốc Lực quán tính
Bài 22 Lực hướng tâm và lực quán tính li tâm Hiện tượng tăng giảm, mất trọng lượng
Trang 302.1.3 Mục tiêu dạy học chương “Động lực học chất điểm” – Vật lí 10 THPT
Mục tiêu kiến thức:
- Phát biểu được định nghĩa lực, nêu được quy tắc tổng hợp và phân tích lực
- Phát biểu được điều kiện cân bằng của một chất điểm
- Phát biểu được định luật I Niu-tơn, nêu được ý nghĩa của định luật
- Nêu được quán tính của vật và kể một số ví dụ về quán tính
Ba định luật Niu tơn
Định luật II Định luật III
Các lực cơ học
Lực hấp dẫn Lực đàn hồi Lực ma sát
Ứng dụng Định luật I
Chuyển động tròn đều Chuyển động của vật bị ném
Lực hướng
tâm
Tốc độ vũ trụ Phương pháp toạ độ Trọng lực
Trang 31- Nêu được mối liên hệ giữa lực, gia tốc và khối lượng, phát biểu cũng như viết được định luật II Niu-tơn
- Nêu được gia tốc rơi tự do, viết được biểu thức trọng lực
- Phát biểu được định luật III Niu-tơn, viết được biểu thức của định luật
- Nêu được đặc điểm của lực và phản lực
- Phát biểu được định luật vạn vật hấp dẫn và viết được biểu thức của định luật
- Phát biểu được định luật Huc và viết được hệ thức của định luật này
- Nêu được đặc điểm của các lực ma sát, viết được biểu thức lực ma sát
Kỹ năng:
Trong quá trình học tập cũng như sau khi học xong một chương học sinh sẽ được rèn luyện những kỹ năng cần thiết cho việc học tập kiến thức thực tại và nó cũng góp phần hình thành kỹ năng trong quá trình học tập ở những mức độ cao hơn và trong cuộc sống của bản thân như:
- Vận dụng kiến thức đã học vào thực tiễn cuộc sống một cách linh hoạt: Các vấn đề về quán tính, an toàn trong giao thông đi lại, ban đầu giải thích các hiện tượng thủy triền,… một cách khoa học, đồng thời thấy được tầm quan trọng của khoa học trong đời sống qua việc vận dụng cũng như những phát minh giúp con người hạn chế sử dụng sức lao động trong đời sống hàng ngày như các loại đồ gia dụng trong gia đình
- Vận dụng kiến thức đã học để giải được các bài tập về lực đàn hồi, lực hấp dẫn, lực ma sát, đồng thời vận dụng các định luật I, II, III Niu-tơn để rút
ra phương pháp động lực học, có thể giải đa số các bài tập trong chương, giải các bài tập đối với một vật, hoặc hệ nhiều vật, vận dụng giải bài toán chuyển động ném ngang
Trang 32- Thu thập thông tin từ các nguồn, khả năng tìm hiểu thực tế, sưu tầm tài liệu, khai thác trên tất cả phương tiện thông tin đại chúng cũng như trên mạng Internet
- Xử lý thông tin: phân tích, so sánh, suy luận, tổng hợp, khái quát hóa,… để rút ra kết luận
- Truyền đạt thông tin, tranh luận nhóm, thảo luận, báo các kết quả thực hiện
- Bước đầu hình thành khả năng tự bảo vệ ý kiến, làm việc tập thể, khả năng phân công công việc trong nhóm
- Thiết kế, lắp ráp và thực hiện các thí nghiệm với những dụng cụ đơn giản, gần gũi trong cuộc sống, dễ tìm
Thái độ:
- Tạo sự hứng thú trong học tập môn Vật lí, yêu thích, say mê nghiên cứu khoa học qua việc biết được ý nghĩa thực tiễn của kiến thức, những ứng dụng của Vật lí học trong đời sống, giảm bớt những căng thẳng trong học tập làm cho môn học trở nên gần gũi, dễ học hơn
- Sẵn sàng áp dụng kiến thức đã học để áp dụng vào các hoạt động thực tiễn
- Tác phong làm việc khoa học, trung thực, nghiêm túc, khách quan trong khoa học
- Tinh thần hợp tác trong học tập, có ý thức và tinh thần trách nhiệm, luôn nỗ lực để hoàn thành nhiệm vụ, đồng thời có thái đọ chia sẻ cũng như học hỏi ở mọi người xung quanh trong quá trình học tập cũng như trong lao động
2.1.4 Phân loại và phương pháp giải bài tập chương “Động lực học chất điểm” – Vật lí 10 THPT
2.1.4.1 Phân loại bài tập chương “Động lực học chất điểm”
Có nhiều cách phân loại bài tập vật lí: Theo nội dung, theo mục đích dạy học, theo mức độ khó dễ, theo đặc điểm và phương pháp nghiên cứu vấn
đề, theo phương thức giải hay phương thức cho điều kiện, theo hình thức lập luận logic, theo mức độ hoạt động tư duy Dựa trên cách phân loại bài tập