Tại Việt Nam, TPCN được định nghĩa trong thông tư số 08/2004/TT- B YT: “TPCN là thực phẩm dùng để hỗ trợ chức năng của các bộ phận trong cơ thể người, có tác dụng dinh dưỡng, tạo cho cơ
Trang 1B ộ YTÉ TRƯỜNG ĐẠI HỌC • • Dược • HÀ NỘI•
9i±fc 3l±lc sCbc y í k 3t±k aCbc lứ k ?cbc sCtk aCbc aCbc 3«&e 3i±Jc
ĐỎ THỊ THU HIÈN
KHẢO SÁT THựC TRẠNG • • Lưu HÀNH THựC PHẲM •
CHỨC NĂNG HIỆN NAY TRÊN ĐỊA BÀN HÀ NỘI• • •
(K hoá luận tốt nghiệp D ược sĩ khoá 2001 - 2006)
N gư ờ i h ư ớ n g dẫn: TS N guyễn Thanh Bình
N ơ i th ự c hiện: B ộ m ôn Quản lý và kỉnh tế D ư ợc
Thời gian thực hiện: 3/2006 - 5/2006
HÀ NỘI THÁNG 6 - 2006
Trang 2LỜ3 CẢm ƠR
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới TS Nguyễn Thanh Bình, giảng
viên bộ môn Quản lý và kinh tế Dược - Trường đại học Dược Hà Nội, người thầy đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo tôi trong suốt quá trình thực hiện khoá luận tốt nghiệp
Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành tới:
- DS Nguyễn Thanh Phong - Trưởng phòng truyền thông Cục An
Toàn Vệ Sinh Thực Phẩm cùng toàn thể cán bộ công tác tại Cục
- T/ĩ.S Nguyễn Văn Nhiên - thanh tra Bộ Y Tế và toàn thể cán bộ tại cơ
quan thanh tra Bộ Y Tế
- PGS TS Nguyễn Thị Thái Hằng và các thầy cô giáo trong bộ môn
Quản lý và kinh tế Dược
- Các thầy cô giáo trường đại học Dược Hà Nội đã dạy dỗ, dìu dắt tôi trong suốt quá trình học tập tại trường
Cuối cùng, tôi xin cảm ơn những người thân trong gia đình và bạn bè đã luôn quan tâm, ủng hộ, giúp đỡ tôi trong cuộc sống
Hà Nội, thảng 5 năm 2006
Sinh viên
ĐỎ THỊ THU HIỀN
Trang 3QUY ƯỚC CHỮ VIẾT TẤT
FDA Cơ quan quản lý thuốc và thực phẩm Hoa Kỳ.FOSHU Thực phẩm có tác dụng sức khỏe đặc hiệu.KDĐC Kinh doanh đa cấp
Trang 4MỤC LỤC
Trang
ĐẶT VẤN Đ È 1
Phần 1 TỎNG Q U A N 3
1 Định nghĩa thực phấm chức năng 3 ^
2 Công tác quản lý thực phẩm chức năng của một số nước trên thế giới 5
2.1 Quản ỉý hoạt động sản xuất, kinh doanh thực phẩm chức năng 5
2.2 Quản lý những thông tin liên quan đến sức khoẻ trên nhãn thực phẩm chức năng 6
2.3 Quản lý thông tin quảng cáo thực phẩm chức năng 8
3 Tình hình lưu hành thực phẩm chức năng của một nước trên thế giới 10
3.1 Tình hình sản xuất, kinh doanh và sử dụng thực phẩm chức năng 10 3.2 Một sổ vấn đề tồn tại liên quan đến thực phẩm chức năng 16
3.2.1 An toàn 16
3.2.2 Chất lượng và hiệu quả 17
3.2.3 Giá cả 18
3.2.4 Thông tin 18
4 Công tác quản lý thực phẩm chức năng tại Việt Nam 19
4.1 Điều kiện để xác định là thực phẩm chức năng 20
4.2 Quản lý nội dung ghi nhãn thực phẩm chức năng 20
4.3 Vấn đề thông tin quảng cáo thực phẩm chức năng 21
Phần 2 ĐỐI TƯỢNG, PHƯƠNG PHÁP VÀ NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 22
1 Đối tưọng và thời gian nghiên cứu 22
Trang 51.1 Đối tượng nghiên cứu 22
1.2 Thời gian nghiên cứu 22
2 Phương pháp nghiên cứu 22
3 Nội dung nghiên cứu 23
Phần 3 KÉT QUẢ NGHIÊN c ứ u VÀ BÀN LUẬN 24
1 Các sản phẩm và nhóm sản phẩm thực phẩm chức năng đăng ký lưu hành trên thị trường Việt Nam 24
1.1 Số lượng số đăng ký cấp cho thực phẩm chức năng từ năm 2001 đến 2005 24
1.2 Phân nhóm thực phẩm chức năng đăng ký lưu hành tại Việt Nam 25 1.3 Cơ cấu sản phẩm sản xuất trong nước và nhập khẩu 27
2 Các hình thức kinh doanh đăng kỷ kinh doanh thực phấm chức năng tại Việt Nam 29V 2.1 Các hình thức kinh doanh đăng ký kinh doanh thực phẩm chức năng ở nước ta 29
2.2 Một số công ty có nhiều số đăng ký trong 5 năm 31
3 Tình hình đăng ký quảng cáo thực phẩm chức năng ở nước ta hiện nay 34
3.1 Số lượng cơ sở đăng ký quảng cáo thực phẩm chức năng 34
3.2 Số lượng sản phẩm thực phẩm chức năng đăng ký quảng cáo 35
3.3 Cơ cấu sản phẩm thực phẩm chức năng đăng ký quảng cáo 36
4 Tình hình vi phạm các quỉ định về vệ sinh an toàn thực phẩm của các CO’ sở kinh doanh thực phẩm chức năng tại Hà Nội hiện nay 38
4.1 Các hình thức vi phạm về vệ sinh an toàn thực phẩm 38
4.2 Xử lý các công ty kinh doanh thực phẩm chức năng vi phạm các qui định về vệ sinh an toàn thực phẩm 41
5 Bàn luận 42
Trang 65.1 Tình hình lưu hành thực phẩm chức năng hiện nay 42
5.2 Quản lý thực phẩm chức năng của nước ta hiện nay 50
Phần 4 KÉT LUẬN- ĐÈ XUẤT 52
1 Kết luận 52
2 Đe xuất 53 TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 7DANH SACH CAC BANG
3.1 Cơ cấu các nhóm sản phẩm thực phẩm chức năng phân loại
theo công dụng sản phẩm đăng ký từ năm 2001 đến 2005 26 3.2 Cơ câu sô lượng và tỷ lệ sô đăng ký thực phâm chức năng
nhập khẩu và sản xuất trong nước từ năm 2001 đến 2005 28 3.3 Danh mục 20 cơ sở kinh doanh thực phâm chức năng có
3.4 Cơ câu sản phâm thực phâm chức năng đăng ký quảng cáo
3.5 Phân loại các hành vi vi phạm của các cơ sở kinh doanh thực
phẩm chức năng trong năm 2005 39 3.6 Xử lý vi phạm các cơ sở kinh doanh thực phâm chức năng vi
phạm các qui định vệ sinh an toàn thực phẩm năm 2005 41
Trang 8DANH SACH CAC HINH
1.1 Thực phâm, thuôc và thực phâm chức năng i
1.2 Doanh sô bán thực phâm chức năng tại Mỹ qua các năm 101.3 Doanh sô bán thực phâm chức năng tại Nhật qua các năm 111.4 Sô lượng sản phâm FOSHU đăng ký tại Nhật năm 2004 111.5 Phân bô địa lý các cơ sở sản xuât thực phâm chức năng năm
2000 tại Trung Quốc 121.6 Danh mục thực phâm chức năng đăng ký tại Trung Quôc năm
1.7 Phân trăm thị phân các loại hình phân phôi sản phâm TPCN có
nguồn gốc thảo dược tại Mỹ năm 1996 143.1 Sô lượng sô đăng ký câp thêm cho thực phâm chức năng từ năm
3.2 Cơ câu các nhóm sản phâm thực phâm chức năng phân loại
theo công dụng sản phẩm đăng ký từ năm 2001 đến 2005 253.3 Cơ câu các sản phâm thực phâm chức năng sản xuât trong nước
và nhập khẩu qua các năm 283.4 Tỷ lệ sản phâm TPCN sản xuât trong nước và nhập khâu trong
3.5 Tỷ lệ các hình thức kinh doanh đăng ký kinh doanh thực phâm
chức năng trong 5 năm 303.6 Cơ câu các hình thức kinh doanh đăng ký kinh doanh thực
phẩm chức năng qua các năm 313.7 Tỷ lệ các hình thức kinh doanh đăng ký kinh doanh thực phâm
chức năng của một số cơ sở có nhiều số đăng ký 333.8 Sô lượng và cơ câu các hình thức kinh doanh đăng ký quảng
Trang 9cáo thực phâm chức năng trong năm 2004 và 2005 343.9 Sô lượng sản phâm thực phâm chức năng đăng ký quảng cáo
trong năm 2004 và 2005 353.10 Tỷ lệ % sô lượng sản phâm thực phâm chức năng đăng ký
quảng cáo của các hình thức kinh doanh trong năm 2005 363.11 Biếu diễn tình hình vi phạm các qui định về chất lượng
VSATTP của các cơ sở kinh doanh TPCN tại Hà Nội trong năm
Trang 10ĐẶT VẤN ĐÈ
Từ khi sự sống được hình thành, dinh dưỡng đã là một trong những yếu tổ sống còn quyết định sự tồn tại của sinh giới Theo thống kê, trung bình một đời người sử dụng khoảng hơn 10 tấn ngũ cốc, hàng chục tấn rau củ quả các loại và uống 60 tấn nước Sở dĩ thực phẩm đóng vai trò quan trọng như vậy là do thực phẩm cung cấp các chất dinh dưỡng thiết yếu và tạo ra năng lượng cần thiết cho mọi hoạt động của con người
Từ hàng nghìn năm trước mối liên hệ giữa thực phẩm với vấn đề sức khỏe
và kiểm soát bệnh tật đã được biết đến Hypocrates đã tuyên bổ từ 2500 năm trước “hãy sử dụng thức ăn như là thuốc” Ở nước ta Tuệ Tĩnh cũng quan niệm ràng “thức ăn là thuốc, thuốc là thức ăn” [17]
Ngày nay, đi đôi với sự phát triển của nền kinh tế, nhu cầu chăm sóc sức khỏe của con người ngày càng cao Công nghệ chế biến thực phẩm cũng phát triển không kém để đáp ứng nhu cầu đó của xã hội và các nhà khoa học đã vào cuộc để tạo ra những sản phẩm phục vụ cho mục đích cải thiện sức khỏe, phòng ngừa các bệnh mạn tính Trên cơ sở đó thực phẩm chức năng ra đời
Thực phẩm chức năng xuất hiện trên thị trường nước ta vài năm trở lại đây, xu hướng tự do hoá thương mại đã đẩy các sản phẩm này tràn ngập thị trường [17]
Tuy nhiên vấn đề quản lý loại sản phẩm này ở nước ta vẫn còn nhiều bất cập, hiện nay chỉ có 2 thông tư đề cập đến, ngoài ra một số nội dung trong thông
tư số 08/2004/TT-BYT ngày 27/8/2004 qui định không rõ ràng do đó gây khó khăn cho công tác quản lý, thanh tra, xử lý vi phạm [2]
Mặt khác, hoạt động kinh doanh thực phẩm chức năng ở nước ta rất phức tạp với nhiều hình thức kinh doanh khác nhau đặc biệt là hình thức kinh doanh
đa cấp do đó việc quản lý gặp rất nhiều khó khăn
Trang 11Thêm vào đó, do việc quảng cáo quá mức công dụng và hướng dẫn sử dụng sai cộng với người dân chưa hiểu biết một cách rõ ràng về loại sản phẩm này, gây ngộ nhận cho người tiêu dùng về tác dụng chữa bệnh cũng như tính an toàn của sản phẩm Vì vậy việc sử dụng thực phẩm chức năng không những không an toàn, hiệu quả mà còn gây thiệt hại về kinh tế cho người tiêu dùng.
Đe góp phần làm sáng tỏ tình hình lưu hành thực phẩm chức năng hiện
nay ở nước ta, chúng tôi thực hiện đề tài: “Khảo sát thực trạng lưu hành thực
phẩm chức năng hiện nay trên địa bàn Hà Nội” Nhằm ba mục tiêu:
1 Khảo sát các sản phẩm và nhỏm sản phẩm thực phẩm chức năng đăng kỷ lưu hành trên thị trường Việt Nam.
2 Khảo sát các hình thức kinh doanh đăng kỷ kinh doanh thực phẩm chức năng và tình hình đăng kỷ quảng cáo thực phẩm chức năng tại Việt Nam.
3 Tìm hiểu việc thực hiện các qui định về bảo đảm chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm tại các cơ sở kinh doanh thực phẩm chức năng ở Hà Nội.
Từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm hướng tới việc quản lý tốt hơn loại sản phẩm đặc biệt này
Trang 12Phần 1 : TỎNG QUAN
1 ĐỊNH NGHĨA THựC PHẨM CHỨC NĂNG.
Từ xa xưa người ta đã biết ăn cà chua, gấc, đu đủ để sáng mắt, ăn hành tỏi
để trị cảm lạnh Trước khi TPCN ra đời người ta đã nghĩ đến việc bổ sung các chất dinh dưỡng vào thực phẩm thông thường nhằm loại trừ các bệnh do thiếu chất dinh dưỡng được gọi là thực phẩm tăng cường hay thực phẩm dinh dưỡng hóa (nutriíication) Năm 1831, Bousingault đã gợi ý tăng cường iod vào muối để phòng bệnh bướu cổ, sau đó việc tăng cường vitamin D vào bơ có nguồn gốc thực vật đã góp phần loại trừ bệnh còi xương ở Anh và Bắc Ầu vào đầu thế kỷ
XX [8] TPCN là một dạng sản phẩm đặc biệt nằm ở ranh giới giữa thực phẩm
và thuốc [9]
Hình 1.1 : Thực phẩm, thuốc và thực phẩm chức năng.
Khái niệm về TPCN lần đầu được giới thiệu ở Mỹ vào năm 1989 bởi Stephen Defelice - người sáng lập Quỳ sáng tạo Dược phẩm, trong đó: “TPCN được coi là thực phẩm hoặc một phần của thực phẩm, cung cấp những lợi ích về
y tế và/hoặc sức khỏe, bao gồm việc phòng và điều trị bệnh” [17] Cho đến nay, không có định nghĩa thống nhất nào về TPCN [6] Ở mỗi quốc gia đều có định nghĩa và cách gọi riêng cho TPCN
TPCN tại Châu Ầu có tên là thực phẩm bo sung (foods supplements) và được định nghĩa “là những thực phẩm đóng góp nhiều vào việc cải thiện sức
Trang 13khoẻ, ảnh hưởng lên một hoặc nhiều chức năng trong cơ thể, cải thiện tình hình sức khỏe hoặc làm giảm nguy cơ bệnh.” [6].
Tại Mỹ, TPCN được chia thành hai dạng:
- Thực phẩm bổ sung (Dietary supplements): là sản phẩm được dùng theo đường uống, có chứa một “thành phần dinh dưỡng” với mục đích cung cấp chất dinh dưỡng Chất dinh dưỡng trong những sản phẩm này có thể gồm: các vitamin, khoáng chất, thảo dược, acid amin và các chất như enzym, các chất nội tiết và các sản phẩm chuyển hóa, có thể được chiết xuất hoặc cô đặc [47]
- Thực phẩm- thuốc (Medical foods): là dạng thực phẩm được bác sĩ kê đơn cho bệnh nhân có nhu cầu dinh dưỡng đặc biệt để cải thiện tình trạng bệnh hoặc điều kiện sức khỏe [46]
Nhật Bản qui định tên của TPCN là “thực phẩm có tác dụng sức khỏe đặc hiệu” viết tắt là FOSHU, “FOSHU là những sản phẩm có ảnh hưởng đặc biệt lên sức khỏe do các chất có trong thành phần hoặc những thực phẩm đã loại bỏ các chất gây dị ứng” [8]
Tại Việt Nam, TPCN được định nghĩa trong thông tư số 08/2004/TT-
B YT: “TPCN là thực phẩm dùng để hỗ trợ chức năng của các bộ phận trong cơ thể người, có tác dụng dinh dưỡng, tạo cho cơ thể tình trạng thoải mái, tăng sức
đề kháng và giảm bớt nguy cơ gây bệnh” TPCN, tùy theo công dụng, hàm lượng
vi chất và hướng dẫn sử dụng còn có các tên gọi khác như: thực phẩm bổ sung vi chất dinh dưỡng; thực phẩm bổ sung; thực phẩm bảo vệ sức khỏe; sản phẩm dinh dưỡng y học [3]
Như vậy, chúng ta có thể nhận định khái quát là các định nghĩa về TPCN được xây dựng theo các cách tiếp cận khác nhau tại các nước khác nhau trên thế giới [17]
Hiện nay Tổ chức nông lương thực thế giới (FAO) phối họp với Tổ chức y
tế thế giới (WHO) đang nỗ lực thực hiện chương trình tiêu chuẩn thực phẩm trong đó có vấn đề quản lý TPCN nhằm đưa ra một bộ tiêu chuẩn, hướng dẫn
Trang 14quốc tế và các tài liệu liên quan về thực phẩm với hai mục đích: bảo vệ sức khỏe người tiêu dùng và thúc đẩy công bằng thương mại thực phẩm quốc tế [6].
2 CÔNG TÁC QUẢN LÝ THựC PHẮM CHỨC NĂNG CỦA MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THỂ GIỚI.
2.Ỉ.Quản lý hoạt động sản xuất, kinh doanh thực phẩm chức năng.
Tại Mỹ, TPCN chia làm 2 nhóm khác nhau nên được quản lý khác nhau.Thực phẩm bổ sung: trước năm 1994 được quản lý như thực phẩm thông thường Tháng 10/1994, Đạo luật về thực phẩm bổ sung (DSHEA) ra đời tạo ra một khung pháp lý cho loại sản phẩm này Trong đạo luật DSHEA qui định:
- Công ty phải chịu trách nhiệm về độ an toàn và công bố liên quan đến sức khoẻ đã có bằng chứng khoa học cho sản phẩm do họ sản xuất, kinh doanh
- FDA dự kiến sẽ đưa ra tiêu chuẩn thực hành sản xuất tốt- GMP cho các
cơ sở sản xuất TPBS nhằm đảm bảo an toàn, vệ sinh, chất lượng của TPBS [47]
Thực phẩm- thuốc: một trong những thực phẩm- thuốc đầu tiên được bán tại Mỹ là sản phẩm Lofenalac dùng cho những trẻ em bị bệnh di truyền suy giảm khả năng chuyển hoá acid amin phenylalanine Trước năm 1972 được quản lý như thuốc, đến năm 1972 Lofenalac được quản lý như thực phẩm trên cơ sở đó thực phẩm- thuốc ra đời FDA yêu cầu các cơ sơ sản xuất thực phẩm- thuốc phải:
- Đạt tiêu chuẩn thực hành sản xuất tốt hiện hành (CGMP)
- Đảm bảo độ an toàn và tác dụng của sản phẩm trước khi bán ra thị trường
- Chỉ được dùng cho bệnh nhân dưới sự giám sát của nhân viên y tế [45]
Nhật Bản cũng là một trong những nước đưa ra vấn đề quản lý TPCN tương đối sớm trên thế giới Năm 1984, dự án đầu tiên về TPCN ra đời dưới sự bảo trợ của Bộ Giáo Dục, Khoa học và Văn hóa có tên “phát triển và phân tích
có hệ thống các chức năng của thực phẩm” nhằm tạo ra loại thực phẩm có hiệu
f quả để giảm nguy cơ các bệnh liên quan đến lối sống Năm 1991, Nhật Bản cho
phép thương mại hóa TPCN theo qui định của Bộ Y Te (MHW) [8] Theo qui
Trang 15định của MHW các cơ sở sản xuất, kinh doanh phải có những tài liệu khoa học chứng minh tác dụng, liều dùng và độ an toàn của sản phẩm [42].
Tại Anh, Bộ nông nghiệp, ngư nghiệp và thực phẩm (MAFF) chịu trách nhiệm quản lý TPCN và chịu sự chi phổi của qui định chung Châu Âu [50], Trong Chỉ thị 2002/46/EC của Hội đồng ngày 10/6/2002 của Nghị viện Châu Âu đưa ra các qui định:
- TPBS bán ra thị trường phải an toàn, thích hợp và dán nhãn đúng
- TPBS chứa các chất dinh dưỡng, vitamin, khoáng chất và những thành phần khác có tác dụng sinh lý đều phải có các bằng chứng khoa học thích họp
- Nhà sản xuất phải ghi liều tối đa, mức cao nhất và thấp nhất có tác dụng cho các chất dinh dưỡng chứa trong sản phẩm và có hướng dẫn sử dụng [36]
2.2 Quản lý những thông tin liên quan đến sức khoẻ trên nhãn thực phẩm chức năng.
Khách hàng thu thập thông tin về thực phẩm họ mua từ nhiều nguồn khác nhau: kiến thức gia đình, giáo dục, thông tin quảng cáo và trên nhãn sản phẩm [6] Thông tin trên nhãn đóng vai trò rất quan trọng trong việc lựa chọn của khách hàng đặc biệt là lần đầu tiên mua sản phâm, thông tin liên quan đến sức khỏe trên nhãn TPCN có ảnh hưởng khá lớn đến sức mua của người tiêu dùng, theo một khảo sát qua điện thoại của FDA vào tháng 3/1994 có 20% người tiêu dùng mua TPCN dựa trên công bổ về sức khỏe trên nhãn sản phẩm, năm 1995 tăng lên 25% [25],
Tuy nhiên hiện nay nhiều nước đã gặp khó khăn trong việc quản lý các thông tin liên quan đến sức khỏe trên nhãn TPCN do người tiêu dùng không hiểu
rõ về đặc tính của sản phẩm, nhầm lẫn tác dụng phòng và chữa bệnh của TPCN Việc cấm tất cả các công bố về tác dụng đối với sức khỏe của sản phẩm không tỏ
ra hoàn toàn có hiệu quả trong việc ngăn chặn sự hiểu nhầm cho người sử dụng
Trang 16Trên phạm vi quốc tế và quốc gia, qui định về thông tin liên quan đến sức khoẻ của thực phẩm hiện đang trong giai đoạn xây dựng và có sự khác nhau giữa các nước và khu vực Trong một khảo sát của Uỷ ban Codex ở 74 quốc gia, một
tỷ lệ lớn (35 quốc gia) không có quy định riêng cho công bổ về tác dụng đối với sức khoẻ của thực phẩm, có 30 quốc gia không cho phép bất kỳ một công bố nào
đề cập đến bệnh, 7 quốc gia cho phép các công bố làm giảm nguy cơ bệnh [6]
Tại Mỹ, trên nhãn sản phẩm TPCN được phép ghi ba loại thông tin liên quan đến sức khoẻ (được gọi là các công bố - claim):
- Công bố về thành phần dinh dưỡng (Nutrient Content claims): thể hiện thành phần và hàm lượng chất dinh dưỡng chứa trong sản phẩm
- Công bố về cấu trúc/chức năng (Structure/Funtctional claims): mô tả vai trò của các chất dinh dưỡng tác động đến cấu trúc hoặc chức năng bình thường của cơ thể Ví dụ: vitamin A giúp sáng mắt [29]
- Công bố về sức khoẻ (health claims): mô tả mối quan hệ giữa thành phần trong thực phẩm với sự giảm nguy cơ của một bệnh nào đó hoặc cải thiện một tình trạng sức khoẻ [29] Hiện nay có 15 công bố về sức khoẻ được Mỳ công nhận Ví dụ: Calci làm giảm nguy cơ loãng xương [6]
Theo Ưỷ ban Codex có 3 loại công bố liên quan đến sức khoẻ:
- Công bố về tác dụng dinh dưỡng: thể hiện tác dụng dinh dưỡng của sản phẩm hỗ trợ cho sự phát triển sinh lý bình thường của cơ thể Ví dụ: folate là yếu
tố quan trọng cho sự tạo hồng cầu
- Công bố về chức năng khác: thể hiện vai trò của các chất dinh dưỡng để cải thiện hoặc làm tăng cường các chức năng sinh lý bình thường của cơ thể Ví dụ: calci làm tăng cường độ cứng của xương
- Công bố làm giảm nguy cơ bệnh: thể hiện thực phẩm có thể làm giảm nguy cơ mắc bệnh Ví dụ: rau và trái cây có thể làm giảm nguy cơ bị ung thư
Tại Châu Phi, công bố về tác dụng đối với sức khoẻ của thực phẩm bị cấm hoặc được điều chỉnh ở hầu hết các nước trừ Nigieria
Trang 17Tại Canada 5 công bố về tác dụng đối với sức khoẻ được công nhận trong Pháp lệnh về thuốc và thực phẩm năm 2003.
Khu vực Trung Đông không cho phép bất kỳ công bố nào đối với sức khoẻ của thực phẩm
Nhật Bản là một trong số các quốc gia đầu tiên xây dựng các quy định về công bố đối với sức khoẻ của thực phẩm với 13 công bổ tiêu chuẩn được cho phép đối với sản phẩm FOSHƯ
Ở Trung Quốc các công bố liên quan đến bệnh ung thư, kéo dài tuổi thọ, phòng hoặc chữa bệnh, hồi phục tuổi trẻ đều bị cấm
Ở Ấn Độ các công bố về tác dụng đối với sức khoẻ của thực phẩm được cho phép nhưng Pháp lệnh chống giả mạo thực phẩm (1954) khẳng định các thực phẩm có công bố sai đều bị cấm
Luật của Cộng đồng Châu Âu chỉ đưa ra rất ít các chỉ dẫn chung cho các quốc gia trong khu vực Hướng dẫn 2000/13/EC khẳng định nhãn mác của thực phẩm đóng gói không được dẫn đến hiểu sai, không được ghi các công bố phòng
và điều trị bệnh Các quốc gia Châu Âu xây dựng các qui định về công bổ tác dụng đối với sức khoẻ của thực phẩm rất khác nhau, còn nhiều mâu thuẫn về các thuật ngữ được dùng Gần đây cộng đồng Châu Âu đã đưa ra các qui định về công bố tác dụng đối với sức khoẻ đối với thực phẩm vào ngày 16/7/2003 [6],
Từ đây có thể thấy rằng vấn đề quản lý thông tin liên quan đến sức khoẻ trên nhãn TPCN hiện nay rất phức tạp và còn mới đối với nhiều nước do đó còn nhiều lúng túng, thiếu đồng bộ trong việc quản lý loại sản phẩm đặc biệt này
2.3 Quản lý thông tin quảng cáo thực phấm chức năng.
Quảng cáo TPCN ảnh hưởng lớn đến hành vi mua sản phẩm của người tiêu dùng, đặc biệt các thông tin khoa học về tác dụng của thực phẩm đến sức khỏe có tác động mạnh mẽ đến nhu cầu thị trường Tại Nhật Bản năm 1996 sau
Trang 18một chương trình tivi tuyên bố cacao có tác dụng làm giảm cholesterol máu, nhu cầu thị trường tăng thêm 24% đối với các sản phẩm có chứa cacao [44].
Trên toàn cầu, luật quảng cáo thường được qui định đúng sự thật và không
bị hiểu sai.Các qui định về quảng cáo TPCN nói chung đều nhấn mạnh các điểm:
- Không tuyên bố sai, phóng đại hay mập mờ Qui định này có trong luật của 4 quốc gia Pháp, Án Độ, Nhật và Hàn Quốc
- Không được thể hiện sự liên quan giữa thực phẩm với thuốc hoặc ngụ ý thực phẩm này có thể phòng hay điều trị bệnh Câu này có trong qui định của 9 nước và khu vực Ví dụ trong Luật quảng cáo của Trung Quốc năm 1995
- Công bố tác dụng đổi với sức khỏe phải dựa trên các bằng chứng khoa học, được qui định trong luật của 5 quốc gia và khu vực
- Không được ngụ ý rằng sản phẩm thực phẩm đó là cần thiết để có sức khỏe tốt, được qui định trong luật của Pháp và Nigieria
- Quảng cáo phải được cấp phép [6]
TPCN hiện nay phát triển rất mạnh mẽ cùng với sự tăng trưởng của ngành công nghiệp thực phẩm do đó vấn đề quản lý càng trở nên quan trọng Khối liên minh Châu Âu (EU) đang cố gắng xây dựng một khung pháp lý chung cho toàn Châu Âu về vấn đề quản lý TPCN [50] Tháng 10/2002, 340 đại biểu của Chính phủ các nước Châu Á cùng các thành viên của ngành công nghiệp chế biến TPBS toàn cầu gặp nhau ở hội nghị của Hiệp hội dinh dưỡng Hoa Kỳ (ASA) tại Châu Á tổ chức ở Bangkok Các chuyên gia của 9 nước Châu Á nhận định rằng cần có một qui định chung cho các nước trong khu vực cùng với ủ y ban Codex Châu Á đi đến thống nhất về vấn đề quản lý TPCN trong toàn khu vực nhằm tạo một môi trường pháp lý để có các bằng chứng khoa học khách quan; các công bố trung thực; sản phẩm có chất lượng cao, an toàn và chọn lựa dễ dàng, phong phú cho người tiêu dùng [34]
Trang 193 TÌNH HÌNH L ư u HÀNH THựC PHẨM CHỨC NĂNG CỦA MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI
3.1.Tình hình sản xuất, kinh doanh và sử dụng thực phẩm chức năng.
Tình hình sản xuất, kinh doanh và số lượng các sản phẩm TPCN không ngừng tăng nhanh trên thế giới
Tại Mỹ trước năm 1972 khi các sản phẩm thuốc- thực phẩm được quản lý như thuốc số lượng các sản phẩm này rất ít, trước năm 1974 có khoảng 36 sản phẩm đăng ký kinh doanh dạng thuốc- thực phẩm, đến năm 1989 tăng lên trên
200 sản phẩm [45] Hiện nay có thêm khoảng 1000 sản phẩm mới đăng ký dạng TPCN mỗi năm [35] Cho đến nay doanh số bán TPCN không ngừng tăng mạnh thể hiện qua hình 1.2 [27] :
3 3 3.3
-377-1990 1991 1992 1993 1994 1995 1996
Năm
Hình 1.2 Doanh số bán TPCN tại Mỹ qua các năm.
Riêng TPCN hỗ trợ giảm cân đạt doanh số 1,3 tỷ USD vào năm 2001 [30] Theo thống kê của FDA năm 1996, sản phẩm TPCN chứa vitamin đạt doanh số 4,9 tỷ USD chiếm 48% thị phần, sản phẩm chứa khoáng chất đạt 600 triệu USD chiếm 6% thị phần và sản phẩm từ thảo dược đạt 3 tỷ USD chiếm 28% [38]
Thị trường Châu Á cũng không kém phần sôi động với sự gia tăng nhanh chóng về số lượng sản phẩm cũng như doanh số bán TPCN qua mỗi năm Dcanh
số bán riêng các TPCN có nguồn gốc thảo dược tại Châu Á năm 2002 đạt đến
Trang 205,1 tỷ USD [28] Tại Nhật Bản doanh số bán TPCN tăng không ngừng qua các năm, thể hiện trên hình 1.3 [43] :
23.27 26.2
f ' L i *
Năm
Hình 1.3 Doanh số bán TPCN tại Nhật qua các năm.
Hiện nay Nhật Bản công nhận 424 sản phẩm đăng ký dạng FOSHU chia làm nhiều nhóm [11]:
Giúp hấp thu muối khoáng
Cải thiện hệ xương Giúp giảm mỡ
trung tính sau ăn
Giúp giảm sâu răng
Dùng cho người huyết áp tăng
có đường huyết
Dùng cho người
có cholesterol máu hoi cao
Điều hoà tiêu hoá
Hình 1.4 Số lượng sản phẩm FOSHU đăng ký tại Nhật năm 2004.
Trung Quốc từ xưa đã nổi tiếng với nền y học cổ truyền lâu đời, người Trung Quốc đã có kinh nghiệm sử dụng cây cỏ làm thuốc từ hơn 5000 năm trước [28], các học thuyết Đông y đã định hướng cho họ vận dụng vào việc sản xuất, chế tạo ra các sản phẩm TPCN
Trang 21Hình 1.5 Phân bố địa lý các cơ sở sản xuất TPCN tại Trung Quốc năm 2000.
Hiện nay ở Trung Quốc có trên 10000 sản phẩm TPCN đang lưu hành doanh số đạt được mỗi năm khoảng 2,5 tỷ USD [9] với nhiều nhóm sản phẩm:
Trị bệnh khác
Táng thị lực
Điều hoà huyết áp
Tăng cường phát triển
Điều hoà lipid máu
Điều hoà rriễn dịch
Trang 22Tại thị trường Châu Âu doanh sổ bán TPCN năm 1997 đạt 830 triệu bảng Anh, trong đó Anh đạt 239 triệu bảng chiếm 29% doanh số toàn Châu Âu [39] Thị trường TPBS ở Pháp cũng đang tăng trưởng mạnh, trong 2 năm 2000 đến 2002 có 3 nhóm sản phẩm chiếm thị phần lớn (56%) gồm: nhóm làm thon người (chiếm 24% thị phần), nhóm bổ sung chất dinh dưỡng (chiếm 18%), nhóm dùng cho giai đoạn tiền mãn kinh (chiếm 14%) Hiện nay ở Pháp có khoảng 225 công ty họat động trong lĩnh vực này [14].
Nhìn chung tình hình hoạt động sản xuất, kinh doanh và số lượng các sản phẩm TPCN đang tăng nhanh trên thế giới điều này thể hiện được xu hướng tiêu dùng của con người và sự phát triển của nghành công nghiệp thực phẩm trên toàn thế giới Tuy nhiên trong hoạt động kinh doanh TPCN có một đặc điểm khác với kinh doanh thuốc hoặc thực phẩm thông thường đó là sự tồn tại của hình thức kinh doanh đa cấp (kinh doanh theo mạng - Multilevel Marketing)
Theo định nghĩa của Bộ thương mại Việt Nam trong Luật cạnh tranh: KDĐC là phương thức tiếp thị để bán lẻ hàng hoá đáp ứng các điều kiện sau:
- Việc tiếp thị để bán lẻ hàng hoá được thực hiện thông qua mạng lưới người tham gia KDĐC gồm nhiều cấp, nhiều nhánh khác nhau
- Hàng hoá được người tham gia KDĐC tiếp thị trực tiếp cho người tiêu dùng tại nơi ở, nơi làm việc của người tiêu dùng hoặc địa chỉ khác không phải là địa điểm bán lẻ thường xuyên của doanh nghiệp hoặc người tham gia
- Người tham gia KDĐC được hưởng tiền hoa hồng, tiền thưởng hoặc lợi ích kinh tế khác từ kết quả tiếp thị bán hàng của mình và của người tham gia KDĐC cấp dưới trong mạng lưới do mình tổ chức và mạng lưới đó được doanh nghiệp KDĐC chấp nhận [13]
Hình thức KDĐC ra đời tại Mỹ vào những năm 30 của thế kỷ XX, lịch sử ra đời của mô hình KDĐC gắn liền với TPCN Tiến sỹ Calr Rehnborg được xem là ông tổ của mô hình KDĐC, năm 1934 ông thành lập công ty Vitamins California để kinh doanh sản phẩm do chính ông phát minh, năm 1939
Trang 23ông đổi tên công ty thành Nutrilite products khai sinh cho hình thức KDĐC Năm 1979, Phòng thương mại liên bang Mỹ chính thức thừa nhận mô hình KDĐC hợp pháp [49],
Sau khi ra đời, các công ty KDĐC không ngừng phát triển nhanh chóng Theo sổ liệu của Hiệp hội bán hàng trực tiếp quổc tế (WFDSA), năm
2002, doanh thu từ phương thức KDĐC ở Mỹ là 28,69 tỷ USD; Hàn Quốc 3,9 tỷ USD Năm 2003, số người tham gia vào hoạt động KDĐC ở Mỹ là 13 triệu người và Hàn Quốc là 3 triệu người [19]
Rất nhiều công ty KDĐC chọn mặt hàng TPCN, năm 2000 tại Mỹ có
240 công ty KDĐC có kinh doanh TPCN [31] Doanh số bán TPCN của các công ty KDĐC tại Mỹ năm 1995 đạt 2,7 tỷ USD chiếm 30% thị phần, năm 1996 đạt 2,9 tỷ USD chiếm 29% thị phần và năm 1997 đạt 2,9 tỷ USD chiếm 23% thị phần Các công ty KDĐC TPCN tại Mỹ chiếm thị phần lớn đặc biệt là những sản phẩm có nguồn gốc thảo dược, thể hiện trên hình 1.7 [38]:
Hình 1.7 Phần trăm thị phần các loại hình phân phối sản phẩm TPCN có nguồn gốc thảo dược tại Mỹ năm 1996.
Từ mô hình KDĐC, nhiều công ty đã lợi dụng tạo ra loại hình “biến tướng” để lừa đảo người tiêu dùng gọi là mô hình kim tự tháp thông qua việc yêu
Trang 24cầu khách hàng phải mua sản phẩm của công ty với giá rất cao [20], thêm vào đó việc phân biệt công ty KDĐC hợp pháp và bất chính hiện nay là rất khó [19] vì vậy người tiêu dùng không chỉ bị ảnh hưởng không tốt đến sức khoẻ mà còn thiệt hại về kinh tế.
Xu hướng chuyển từ dùng thuốc sang dùng TPCN của người dân ngày càng rõ nét [17] Theo Quổc Hội Mỹ, nhu cầu sử dụng TPCN của người dân tăng lên là do 2 nguyên nhân: thứ nhất là do người ta tin rằng TPCN có thể mang lại lợi ích cho sức khoẻ của họ, thứ hai do họ hy vọng vào một cơ hội khác có thể giúp họ thoát khỏi tình trạng sức khoẻ hiện tại [27] Ngoài ra người tiêu dùng thích sử dụng TPCN còn vì TPCN là mặt hàng không cần kê đơn người ta có thể mua được dễ dàng và họ nghĩ rằng họ có thể sử dụng chúng thành thạo, thận trọng cũng như biết trước được kết quả [48]
Quan niệm về sức khoẻ bản thân của người tiêu dùng cũng ảnh hưởng đến nhu cầu sử dụng của họ, trong báo cáo về nhu cầu sử dụng TPCN của người dân Mỹ từ năm 1988 đến 1994 tổng kết rằng những người có quan niệm sức khoẻ của họ sẽ rất tốt khi được bổ sung chất dinh dưỡng có tỷ lệ sử dụng cao hơn (45%), 39% những người quan niệm sức khoẻ họ tốt có sử dụng TPCN và 39% những người quan niệm sức khoẻ họ tạm ổn hoặc yếu có sử dụng TPCN Báo cáo này cũng cho biết có khoảng 40% dân số Mỹ có sử dụng TPCN, trong đó 44% là phụ nữ và 35% là nam giới Có từ 42% đến 51% trẻ em từ 1 đến 5 tuổi có
sử dụng TPCN [51] Hiện nay có hơn một nửa người Mỹ trưởng thành có sử dụng TPCN [27] và 7% người Mỹ trưởng thành dùng các TPCN cho mục đích giảm cân [30]
Theo điều tra của Viện lạm dụng thuốc quốc gia Hoa kỳ năm 2002 cứ
50 học sinh lớp 10 thì có 1 học sinh sử dụng sản phẩm TPCN có chứa androstenedione (dẫn xuất của hormon sinh dục nam androgen) và cứ 40 học sinh trung học thì có 1 học sinh có sử dụng sản phẩm này cho mục đích giúp tăng trưởng [41]
Trang 253.2 Một số vấn đề tồn tại liên quan đến thực phẩm chức năng.
3.2.1 An toàn: gồm những vấn đề sau:
- Đa số TPCN được buôn bán một cách tự do [11]: chẳng hạn hiện nay Chính phủ Nhật chỉ công nhận 424 sản phẩm đăng ký dạng FOSHU nhưng thực
tế có trên 1000 sản phẩm không được cấp phép vẫn được bán ra thị trường Một
sổ sản phẩm bán với dạng “thực phẩm sức khoẻ” (health foods) trong khi Nhật chưa có luật quản lý cho loại sản phẩm này, trong một cuộc kiểm tra của Chính phủ đã phát hiện 56 sản phâm dạng health foods được bán rộng rãi, trong đó 29 sản phẩm sai luật về công bố đối với sức khoẻ và 600 lỗi sai luật [44] Độc tính trên thận của acid aristolochic được WHO cảnh báo từ năm 1982 và bị cấm lưu hành ở Đức từ năm 1981, tại Mỹ năm 2001 nhưng đến năm 2004 vẫn có trên 100 sản phẩm TPCN chứa acid aristolochic được rao bán trên mạng internet và người ta cũng dễ dàng mua được các sản phẩm nằm trong nhóm 12 loại TPCN bị Chính phủ Mỹ cấm lưu hành qua mạng internet [32],
- Một số sản phẩm TPCN chứa các thành phần có tác dụng rất mạnh như thuốc [11]: ví dụ năm 2004 FDA nhận được 14 684 báo cáo về phản ứng bất lợi của sản phẩm TPCN giảm cân có chứa ephedra (chiết xuất từ cây ma hoàng), trong vòng 5 năm có 18 trường họp có tai biến trên tim, 26 trường họp đột quỵ,
43 trường họp tai biến mạch máu não và 5 trường họp tử vong [32]
- Các TPCN có thể có tác dụng phụ [11]: sản phẩm TPCN chứa rễ cây kava-kava (tác dụng giảm stress, giảm mệt mỏi), sau khi có 25 báo cáo của các nước về tác dụng gây tổn thương và hoại tử gan hiện nay đã bị cấm lưu hành trên thị trường Đức, Thuỵ sĩ, Pháp, Canada, Mỹ và Anh [40]
- Có thể tương kỵ với một số thuốc tây [11]: ví dụ TPCN có chứa gingko biloba (cây bạch quả) dùng cùng với các sản phẩm chống đông máu làm tăng nguy cơ chảy máu [12]
- Có thể gây ngộ nhận và nguy hiểm cho người tiêu dùng: sản phẩm Heart Bar có chứa L-arginine, nhà sản xuất công bố có tác dụng phòng chống
Trang 26cơn đau thắt ngực do làm giãn mạch vành, tuy nhiên các thử nghiệm về L- arginine phần lớn chỉ tiến hành trên động vật, có khả năng giãn động mạch động vật, có vài thử nghiệm trên người kết quả làm giảm đau thắt ngực của vài người Đau thắt ngực là một bệnh rất nguy hiểm có thể tử vong nếu bệnh nhân không được cấp cứu và dùng thuốc kịp thời chứ không thể dùng TPCN [24].
3.2.2 Chất lượng và Hiệu quả:
- Một số sản phẩm không chứa đủ hàm lượng cần thiết do đó hầu như không
có hiệu quả [11]: sản phẩm TPCN quảng cáo dùng để cải thiện trí nhớ nhưng mỗi liều dùng chỉ chứa 2mg dịch chiết lá ginkgo biloba trong khi liều tác dụng lên thần kinh của ginkgo biloba là 120- 240 mg [24]
- Nhiều bằng chứng khoa học và nghiên cứu không được kiểm soát: tại Nhật Bản, theo qui định của MHW các sản phẩm FOSHU trước khi bán ra thị trường đều phải tiến hành thử nghiệm lâm sàng hoặc thực hiện những nghiên cứu khác, nhưng theo một điều tra của MHW trên 40 công ty vào năm 1997 chỉ có 18 công
ty có bằng chứng về các nghiên cứu đã được thực hiện, hầu hết các công ty đều không thực hiện thử nghiệm lâm sàng theo yêu cầu mà chỉ tiến hành so sánh điều kiện sức khỏe của người sử dụng trước và sau khi dùng, hơn nữa cỡ mẫu nghiên cứu rất nhỏ chỉ có khoảng 28 người và có 7 kết quả nghiên cứu được tiến hành với “không có một người nào” trong những phòng thí nghiệm “ổ chuột” [44],
- Một số sản phấm TPCN hiện nay “ăn theo” các bằng chứng khoa học đế giúp sản phẩm bán chạy hơn: ví dụ sau công bố beta- caroten có khả năng ngăn ngừa ung thư của Hội thực phẩm chức năng và dinh dưỡng Nhật Bản JHNFA, hàng loạt các sản phẩm TPCN và cả thực phẩm thông thường bổ sung beta- caroten quảng cáo rầm rộ một trong số đó là VegitaBeta của công ty Coca-Cola [44] Công ty Kellogg cũng cho cho ra đời hàng loạt sản phẩm mỳ ống, bánh mỳ, ngũ cốc, thức ăn nhanh, tráng miệng với công bố về giảm nguy cơ bệnh tim Hoặc một số sản phẩm bơ có nguồn gốc thực vật tăng cường chất xơ hoà tan được quảng cáo có tác dụng làm giảm lượng cholesterol máu phưng các; sản
Trang 27phẩm này lại có hàm lượng chất béo dạng trans (là một trong những nguyên nhân gây tăng cholesterol máu) tương đối cao, như vậy liệu hiệu lực của sản phẩm đến đâu ? [24]
- Một số sản phẩm đăng ký dạng TPCN nhưng lại chứa các hoạt chất của thuốc tân dược: năm 2000 tại Mỹ phát hiện sản phẩm TPCN của Trung Quốc của một công ty KDĐC nguồn gốc thảo dược dùng cho bệnh nhân đái tháo đường chứa Phenformin và Glyburid (là hai hoạt chất có tác dụng hạ đường huyết) Năm 2000, một nghiên cứu ở Anh phát hiện có 8 sản phẩm TPCN nguồn gốc từ thảo dược dùng cho bệnh chàm bội nhiễm có chứa dexamethason [33]
3.2.3 Giá cả: Giá các TPCN thường đắt hơn rất nhiều so với thực phẩm thông
thường do đó không phù hợp với những người có thu nhập thấp, nhiều sản phẩm bán với giá rất đắt đặc biệt là tại các công ty KDĐC.[11]
3.2.4 Thông tin.
i
- Nhãn mác ghi quá nhiều công dụng, đưa ra nhiều công bố quá mức hoặc mập mờ cho sản phẩm: năm 1996 tại Nhật một công ty đã bán ra thị trường sản phẩm TPCN chiết xuất từ nấm có khả năng phòng chổng ung thư, HIV và lão hoá [44] Tháng 12 năm 2002, FDA gửi thư cho 75 công ty về những công bố sai trên sản phấm của họ có thê điều trị các bệnh hiếm nghèo như ung thư, lupus ban
đỏ, bệnh tim mạch [41]
- Quảng cáo quá mức công dụng của sản phấm hoặc đưa ra thông tin sai: theo báo cáo tháng 7 năm 1998 của ASA (Cơ quan tiêu chuẩn quảng cáo của Anh) có 35% các quảng cáo về vitamin và các sản phẩm bổ sung chất dinh dưỡng “không thể chấp nhận được” [50] Một số quảng cáo gán cho TPCN “sức mạnh thần kỳ”
và có nguồn gốc hoàn toàn từ thiên nhiên do đó tuyệt đối an toàn [30] Để tăng sức mua cho sản phẩm, các nhà sản xuất đã thực hiện những quảng cáo trong đó ngụ ý rằng thuốc là những sản phẩm rất độc và có nhiều tác dụng phụ chẳng hạn trong một quảng cáo của báo “Natural Health” năm 1998 đã công bố rằng có hơn
1 triệu người chết mỗi năm do độc tính của thuốc [48]
Trang 28- Do hoạt động thông tin không đúng cộng với người tiêu dùng chưa hiêu rõ
về loại sản phẩm này nên sử dụng sai mục đích, lạm dụng có thể gây ra hậu quả xấu: tại Nhật Bản, mục tiêu ban đầu của FOSHƯ là giảm bớt các bệnh liên quan đến lối sống, nhung hiện nay các sản phẩm được bán trên thị trường Nhật chủ yếu là sản phẩm cải thiện tiêu hoá [44] Một điều tra cho thấy có rất nhiều người
Mỹ sử dụng TPCN để điều trị cảm lạnh và giảm mệt mỏi [35]
- Hoạt động thông tin của các công ty KDĐC không được kiểm soát và đánh giá: những công ty KDĐC thường xuyên tổ chức các buổi hội thảo, hội nghị khách hàng và nội dung các buổi hội nghị này ra sao không ai quản lý Chẳng hạn một công ty KDĐC tại Mỹ bán các sản phẩm TPCN có chứa nhiều loại vitamin và công bố có thể chữa rất nhiều loại bệnh Năm 1986, công ty tự hào sản phẩm của họ được 15 thành viên trong Ưỷ ban cố vấn khoa học Hoa Kỳ xác nhận và 2 thành viên trong số đó đạt giải Nobel, Chính phủ Mỹ đã cho đóng cửa công ty vào năm 1987 nhưng họ vẫn thu được hơn 50 triệu USD [37]
4 CÔNG TÁC QUẢN LÝ THựC PHẨM CHỨC NĂNG TẠI VIỆT NAM.
Tại Việt Nam trách nhiệm quản lý TPCN (trước đây gọi là thuốc-thực phẩm) thuộc về ngành Y Te do Cục An Toàn Vệ Sinh Thực Phẩm quản lý, nhưng các nhà chuyên môn và người tiêu dùng vẫn chưa dành sự quan tâm đúng mức cho các sản phẩm TPCN [17], cho đến nay nước ta chỉ mới có hai thông tư quản lý TPCN:
- Thông tư số 20/2001/TT-BYT ngày 19/11/2001 của Bộ Y Tế “Hướng dẫn quản lý các sản phẩm thuốc- thực phẩm”
- Thông tư số 08/2004/TT-BYT ngày 23/08/2004 của Bộ Y Tế “Hướng dẫn việc quản lý các sản phẩm thực phẩm chức năng” thay thế cho thông tư trên
Trong thông tư số 08/ 2004/TT- BYT qui định:
4.1 Điều kiện để xác định ià thực phẩm chức năng.
Trang 29Những sản phẩm thực phẩm có bổ sung các chất dinh dưỡng như vitamin,
muối khoáng và các chất có hoạt tính sinh học nếu được nhà sản xuất công bổ
sản phẩm là TPCN; được cơ quan nhà nước có thẩm quyền của nước sản xuất hoặc cho phép lưu hành chúng nhận phù hợp với pháp luật về thực phâm và có
đủ các điều kiện sau được gọi là TPCN:
- Đối với thực phẩm bổ sung vi chất dinh dưỡng: Nếu lượng vi chất đưa vào
cơ thể hằng ngày theo hướng dẫn sử dụng ghi trên nhãn của sản phẩm có ít nhất
1 vitamin hoặc muối khoáng cao hơn gấp 3 lần giá trị của Bảng khuyển nghị nhu cầu dinh dưỡng RNI 2002 phải có giấy chứng nhận của cơ quan nhà nước có thẩm quyền của nước sản xuất hoặc nước cho phép lưu hành xác nhận tính an toàn của sản phấm và phải ghi rõ trên nhãn/nhãn phụ mức đáp ứng RNI của các
vi chất dinh dưỡng bổ sung
- Đối với TPCN có chứa hoạt tính sinh học: Nếu công bố sản phẩm có tác dụng hỗ trợ chức năng trong cơ thể, tăng sức đề kháng, giảm bớt nguy cơ bệnh tật thì phải có báo cáo thử nghiệm lâm sàng về tác dụng của sản phẩm hoặc tài liệu chứng minh về tác dụng của thành phần có chức năng đó hoặc giấy chứng nhận của cơ quan có thẩm quyền của nước sản xuất hoặc nước cho phép lưu hành có nội dung xác nhận công dụng của sản phẩm ghi trên nhãn [3]
4.2 Quản lý nội dung ghi nhãn thực phẩm chức năng.
Thực hiện theo qui định của pháp luật về ghi nhãn gồm có:
- Quyết định số 178/1999/QĐ-TTg ngày 30/8/1999 của Thủ tướng Chính phủ ban hành “Quy chế ghi nhãn hàng hóa lưu thông trong nước và hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu”
- Thông tư số 15/2000/TT-BYT ngày 30/6/2000 của Bộ Y Tế “Hướng dẫn ghi nhãn hàng thực phẩm”
Ngoài ra còn các điều kiện sau:
- Nội dung hướng dẫn sử dụng cho những sản phẩm có mục đích sử dụng đặc biệt cần phải ghi: Tên của nhóm sản phẩm (TPBS, thực phẩm bảo vệ sức
Trang 30khỏe, TPCN, thực phẩm ăn kiêng, thực phẩm dinh dưỡng y học), đối tượng sử dụng, công dụng sản phẩm,liều lượng, chống chỉ định, các lưu ý đặc biệt hoặc tác dụng phụ của sản phẩm (nếu có).
- Đối với thực phẩm chứa hoạt chất sinh học, trên nhãn hoặc nhãn phụ bắt
buộc phải ghi dòng chữ “thực phẩm này không phải là thuốc, không có tác dụng
thay thế thuốc chữa bệnh
- Trên nhãn sản phẩm TPCN không được ghi chỉ định điều trị bất kỳ một bệnh cụ thể nào hoặc sản phẩm có tác dụng thay thế thuốc chữa bệnh [3]
4.3.vấn đề thông tin quảng cáo thực phẩm chức năng.
Thực hiện theo qui định của:
- Pháp lệnh quảng cáo năm 2001
- Nghị định số 24/2003/NĐ-CP ngày 13/3/2003 của Chính phủ “Quy định chi tiết thi hành pháp lệnh quảng cáo”
- Thông tư liên tịch số 01/2004/ TTLT- BVHTT- BYT ngày 12/1/2004 Bộ văn hóa- thông tin, Bộ y tế “Hướng dẫn về hoạt động quảng cáo trong lĩnh vực y tế”
Và hoạt động thông tin quảng cáo phải bảo đảm trung thực, chính xác, rõ ràng không gây thiệt hại cho người sản xuất, kinh doanh và người tiêu dùng [3]
Đối với loại hình KDĐC TPCN, ngày 24/8/2005 Bộ Thương Mại đã đưa
ra Nghị định số 110/2005/NĐ-CP “về quản lý hoạt động bán hàng đa cấp” tại Việt Nam nhằm bảo vệ người tiêu dùng và quản lý tốt hơn loại hình kinh doanh này
Trang 31Phần 2 : ĐỐI TƯỢNG, PHƯƠNG PHÁP YÀ NỘI
1 ĐỐI TƯỢNG VÀ THỜI GIAN NGHIÊN cứ u.
1.1 Đối tượng nghiên cứu.
- Các sản phẩm thực phẩm chức năng đăng ký lưu hành tại Việt Nam từ năm 2001 đến hết năm 2005
- Các cơ sở đăng ký kinh doanh thực phẩm chức năng tại Việt Nam từ năm 2001 đến năm 2005
- Một số cơ sở kinh doanh thực phẩm chức năng tại Hà Nội
1.2 Thời gian nghiên cứu.
Từ tháng 3 đến tháng 5 năm 2005
2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN cứ u
Sử dụng phương pháp hồi cứu số liệu
Thu thập số liệu về tình hình lưu hành thực phẩm chức năng từ các tàiliệu:
- Danh mục các sản phẩm đăng ký dạng thực phẩm chức năng và các công
ty đăng ký kinh doanh thực phẩm chức năng tại Việt Nam từ năm 2001 đến năm
- Các văn bản xử lý các cơ sở kinh doanh thực phẩm chức năng tại Hà Nội
vi phạm các qui định về việc đảm bảo chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm trong năm 2005 từ thanh tra Bộ Y Tế
Trang 32- Tổng kết tình hình vi phạm về chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm tại các cơ sở kinh doanh thực phẩm chức năng tại Hà Nội năm 2005 của Bộ Y Te.
Các số liệu sau khi thu thập được nhập và xử lý bang Microsoft Office
Word 2003 và Microsoft Office Excel 2003 và được minh họa, biểu diễn bằng
các bảng và biểu đồ
3 NỘI DUNG NGHIÊN c ứ u
3.1 Số lượng số đăng ký cấp cho thực phẩm chức năng lưu hành tại Việt
Nam từ năm 2001 đến 2005
3.2 Phân nhóm thực phẩm chức năng đăng ký lưu hành tại Việt Nam
trong 5 năm theo công dụng sản phẩm
3.3 Cơ cấu sản phẩm thực phẩm chức năng sản xuất trong nước và nhập
khẩu
3.4 Các hình thức kinh doanh đăng ký kinh doanh thực phẩm chức năng ở
nước ta hiện nay
3.5 Một số công ty có nhiều số đăng ký trong 5 năm
3.6 Số lượng cơ sở kinh doanh đăng ký quảng cáo thực phẩm chức năng
trong 2 năm 2004 và 2005
3.7 Số lượng sản phẩm thực phẩm chức năng đăng ký quảng cáo trong
năm 2004 và 2005
3.8 Cơ cấu sản phẩm thực phẩm chức năng đăng ký quảng cáo
3.9 Các hình thức vi phạm các qui định về vệ sinh an toàn thực phẩm của
các cơ sở kinh doanh thực phẩm chức năng tại Hà Nội hiện nay
3.10 Xử lý các cơ sở kinh doanh thực phẩm chức năng tại Hà Nội vi
phạm các qui định về vệ sinh an toàn thực phẩm
Trang 33Phần 3 : KÉT QUẢ NGHIÊN CỨU- BÀN LUẬN
Qua nghiên cứu và phân tích số liệu từ Cục An Toàn Vệ Sinh Thực Phẩm
và số liệu của Cơ quan Thanh Tra Bộ Y Tế, đề tài đã thu được các kết quả sau:
1 CÁC SẢN PHẨM VÀ NHÓM SẢN PHẨM THựC PHẨM CHỨC NĂNG ĐĂNG KÝ LƯU HÀNH TRÊN THỊ TRƯỜNG VIỆT NAM.
1.1 Số lưọng SDK cấp cho thực phẩm chức năng từ năm 2001 đến 2005.
Tại Việt Nam, Cục An Toàn Vệ sinh Thực Phẩm chịu trách nhiệm quản lý TPCN Từ năm 2001 đến hết năm 2005, Cục An Toàn Vệ Sinh Thực Phẩm đã cấp hơn 1000 SDK cho các sản phẩm TPCN thể hiện qua hình 3.1:
2001 2002 2003 2004 2005
Năm
Hình 3.1 Số lưọng SDK cấp thêm cho TPCN từ năm 2001 đến 2005.
Qua hình 3.1 ta thấy số lượng SDK của các sản phẩm TPCN từ năm 2001 đến năm 2005 tăng rất nhanh, điều này phản ánh nhu cầu tiêu dùng của người dân Việt Nam đối với TPCN ngày càng tăng và tăng mạnh theo xu thế chung của thế giới
Sự gia tăng số lượng SDK TPCN còn cho biết số lượng các doanh nghiệp tham gia vào lĩnh vực này ở nước ta ngày càng nhiều Chỉ trong 5 năm sau khi thông tư số 20/2001/TT- BYT của Bộ Y Tế ra đời thừa nhận việc kinh doanh