Trong phòng trừ sâu hại thì việc sử dụng bọ xít bắt mồi Andrallus spinidens Fabricius như một biện pháp sinh học đang được đánh giá cao về hiệu quả cũng như mức độ an toàn của loài thiê
Trang 1Andrallus Spinidens Fabricius
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Kỹ thuật Nông nghiệp
Người hướng dẫn khoa học ThS VŨ THỊ THƯƠNG
HÀ NỘI, 2015
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình thực hiện khóa luận tốt nghiệp tôi đã nhận được sự giúp đỡ nhiệt tình của các thầy cô, gia đình và bạn bè Vì vậy khi hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này tôi rất mong muốn được gửi lời cảm ơn chân thành tới tất cả mọi người
Trước tiên tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc tới Thạc sĩ
Vũ Thị Thương – Giảng viên khoa Sinh – KTNN – Trường Đại học Sư phạm
Hà Nội 2 đã hướng dẫn tận tình trong quá trình tôi thực hiện khóa luận tốt nghiệp này
Tôi xin được chân thành cảm ơn các thầy, cô giáo công tác tại phòng thí nghiệm Khoa Sinh-KTNN – Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 đã tạo điều kiện thuận lợi và giúp đỡ về thời gian cũng như cơ sở vật chất, thiết bị thí nghiệm cho tôi nghiên cứu, thực hiện khóa luận tốt nghiệp này
Tôi xin chân thành cảm ơn cán bộ, nông dân địa phương nơi thực hiện
đề tài đã cộng tác, giúp đỡ, tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong việc bố trí thí nghiệm và thu thập mẫu vật
Cuối cùng, tôi xin được gửi lời cảm ơn sâu sắc tới gia đình, bạn bè đã giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện khóa luận tốt nghiệp
Hà Nội, ngày 08 tháng 05 năm 2015
Người thực hiện
Phạm Thị Dung
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng mọi số liệu sử dụng để hoàn thành khóa luận tốt nghiệp sau đây đều được ghi nhận từ các thí nghiệm một cách trung thực và chưa được sử dụng trong bất cứ tài liệu nào
Hà Nội, ngày 08 tháng 05 năm 2015
Người thực hiện
Phạm Thị Dung
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Đặt vấn đề 1
2 Mục đích và yêu cầu của đề tài 2
2.1 Mục đích 2
2.2.Yêu cầu 2
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 4
1.1 Tổng quan nghiên cứu trong nước 4
1.1.1 Tổng quan nghiên cứu về bọ xít bắt mồi 4
1.1.2 Tổng quan nghiên cứu về bọ xít bắt mồi Andrallus spinidens Fabricius 9 1.2 Tổng quan nghiên cứu nước ngoài 10
1.2.1 Tổng quan nghiên cứu bọ xít bắt mồi 10
1.2.2 Tổng quan nghiên cứu về bọ xít bắt mồi Andrallus spinidens 15
CHƯƠNG 2: NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 16
2.1 Thời gian nghiên cứu 16
2.2 Địa điểm nghiên cứu 16
2.3 Đối tượng nghiên cứu 16
2.4 Nội dung nghiên cứu 16
2.5 Phương pháp nghiên cứu 16
2.5.1 Phương pháp điều tra biến động số lượng 16
2.5.2 Phương pháp thu nguồn bọ xít Andrallus spinidens Fabricius và thức ăn của chúng (sâu tơ Plutella xytostella) 17
2.5.3 Phương pháp nuôi sinh học A.spinidens F 18
2.5.4 Thí nghiệm xác định khả năng lựa chọn pha phát dục vật mồi sâu tơ P xylostella của trưởng thành bọ xít Andrallus spinidens Fabricius 18
Trang 52.5.5 Thí nghiệm xác định khả năng tiêu thụ vật mồi sâu tơ P.xylostella với
mỗi pha phát dục của bọ xít A.spinidens F 18
2.5.6 Xử lý, bảo quản mẫu vật 19
2.5.7 Phương pháp xử lý số liệu 19
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 21
3.1 Diễn biến mật độ sâu tơ Plutella xytotella (L) trên bắp cải vụ thu đông 2014 tại Nam Viêm – Phúc Yên – Vĩnh Phúc 21
3.2 Diễn biến mật độ bọ xít Andrallus spindens Fabricius trên cây bắp cải vụ thu đông 2014 tại Nam Viêm – Phúc Yên – Vĩnh Phúc 23
3.3 Thời gian phát dục các pha của Andrallus spinidens Fabricius khi nuôi bằng sâu tơ Plutella xylostella (Linaeus) 24
3.4 Khả năng tiêu thụ vật mồi (sâu tơ) của bọ xít bắt mồi Andrallus spinidens Fabricius 26
3.4.1 Khả năng lựa chọn các pha phát dục vật mồi sâu tơ Plutella xylostella của trưởng thành Andrallus spinidens Fabricius 27
3.4.2 Khả năng tiêu thụ vật mồi sâu tơ Plutella xylostella của mỗi pha phát dục Andrallus spinidens Fabricius 29
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 32
4.1 Kết luận 32
4.2 Đề nghị 32
TÀI LIỆU THAM KHẢO 33
Trang 6DANH LỤC CÁC CHỮ CÁI VIẾT TẮT
Trang 7DANH LỤC BẢNG
Bảng 3.1: Diễn biến mật độ sâu tơ Plutella xylostella (L) trên lá bắp cải ở
Nam Viêm – Phúc Yên – Vĩnh Phúc 21
Bảng 3.2: Diễn biến mật độ bọ xít Andrallus spinidens (F) trên lá bắp cải ở
Nam Viêm – Phúc Yên – Vĩnh Phúc 23
Bảng 3.3: Thời gian phát dục của Andrallus spinidens F nuôi bằng sâu tơ Plutella xylostella (L) 25 Bảng 3.4: Khả năng lựa chọn các pha phát dục vật mồi sâu tơ Plutella xylostella (L) của trưởng thành Andrallus spinidens F 28 Bảng 3.5: Khả năng tiêu thụ vật mồi sâu tơ Plutella xylostella (L) (tuổi 3-4) của mỗi pha phát dục Andrallus spinidens F 29
Trang 8DANH MỤC HÌNH
Hình 3.1: Đồ thị biểu diễn diễn biến mật độ sâu tơ P xylostella trên bắp cải ở
Nam Viêm – Phúc Yên – Vĩnh Phúc 22
Hình 3.2: Đồ thị biểu diễn diễn biến mật độ bọ xít A spinidens trên cải bắp 24 Hình 3.3: Các giai đoạn phát triển của loài Andrallus spinidens F 26
Hình 3.4 Bọ xít nâu viền trắng tuổi 1, 2, 3, 4, 5 27
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Đặt vấn đề
Trong sản xuất nông nghiệp, năng suất được coi là chỉ tiêu chủ yếu để đánh giá kết quả sản xuất của các loại nông sản Vấn đề chất lượng rất ít được quan tâm như đặc tính sinh học của nông sản, dư lượng thuốc bảo vệ thực vật,… Trong xu thế hội nhập hiện nay, đặc biệt khi Việt Nam là thành viên của WTO thì năng suất chưa đủ để giải quyết vấn đề hiệu quả kinh tế, vì thế người tiêu dùng quan tâm nhiều hơn đến vấn đề chất lượng lương thực, thực phẩm Và nếu nói đến vấn đề sản xuất hàng hóa xuất khẩu thì chất lượng nông sản được quan tâm hàng đầu
Ở Việt Nam, theo ước tính hàng năm có tới 20% sản lượng nông sản cây trồng bị thiệt hại do sâu bệnh gây ra (Nguyễn Công Thuật, 1996) Những năm trước đây trong sản xuất nông nghiệp tập trung phòng trừ sâu hại bằng biện pháp hóa học Sau một thời gian thuốc hóa học đã biểu hiện những mặt trái trong phòng trừ dịch hại đồng thời kéo theo những hậu quả không mong muốn Ảnh hưởng xấu đến sức khỏe con người, gây ô nhiễm môi trường, tăng tính kháng thuốc của dịch hại, tiêu diệt thiên địch, phá vỡ cân bằng sinh học gây ra nhiều vụ “bùng nổ” sâu hại (Phạm Bình Quyền, 1994)
Khi áp dụng những biện pháp hóa học trong bảo vệ thực vật đã bộc lộ nhiều nhược điểm thì các nhà nghiên cứu đã đưa ra giải pháp là sử dụng biện pháp sinh học và những biện pháp sinh học này ngày càng khẳng định được
ưu thế vượt trội của mình Một trong những biện pháp sinh học đang được quan tâm hàng đầu hiện nay là việc sử dụng các loài thiên địch trong phòng trừ dịch hại tổng hợp Biện pháp sinh học càng được khẳng định khi ngày nay chiến lược bảo vệ cây trồng được xác định không những bởi lợi ích kinh tế trước mắt mà còn bởi sự an toàn sinh thái học, môi trường và sức khỏe con người, gia súc Đẩy mạnh việc phát triển các loài thiên địch, duy trì sự đa
Trang 10dạng của chúng trong hệ sinh thái nông nghiệp, tăng cường và nâng cao sự hiểu biết về đa dạng sinh học cũng như các mối quan hệ giữa các loài thiên địch với dịch hại đã và đang là biện pháp cần thiết Do đó, sự phát triển và thực hiện biện pháp quản lý dịch hại tổng hợp (IPM) đang là mối quan tâm của nhiều nước trên thế giới trong đó có Việt Nam
Trong phòng trừ sâu hại thì việc sử dụng bọ xít bắt mồi Andrallus spinidens Fabricius như một biện pháp sinh học đang được đánh giá cao về
hiệu quả cũng như mức độ an toàn của loài thiên địch này Loài bọ xít bắt mồi
Andrallus spinidens Fabricius là loài bọ xít bắt mồi có triển vọng và vật mồi
chủ yếu của nó là sâu non của các loài sâu hại thuộc bộ cánh vẩy hại khoai lang, rau và đậu rau (Theo Hà Quang Hùng, 1996) [5] Tuy nhiên, cho đến nay những đặc điểm sinh thái, sinh học của chúng ít được nghiên cứu mới chỉ dừng lại ở tên loài, vùng phân bố và xác định một số vật mồi của chúng trên cây bông, đậu tương là chủ yếu (Theo Vũ Quang Côn và ctv, 1995; Phạm Văn Lầm, 1997; Mai Phú Quý và Trần Thị Lài, 1980; Viện BVTV, 1976)
Từ những cơ sở trên, dưới sự hướng dẫn của ThS Vũ Thị Thương, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Thời gian phát dục và khả năng tiêu
thụ vật mồi của bọ xít bắt mồi Andrallus spinidens Fabricius” nhằm tìm hiểu
rõ hơn về những đặc điểm sinh học và khả năng tiêu thụ vật mồi của loài bọ xít này
2 Mục đích và yêu cầu của đề tài
2.1 Mục đích
Nghiên cứu thời gian phát dục và khả năng tiêu thụ vật mồi của bọ xít
bắt mồi Andrallus spinidens Fabricius
2.2.Yêu cầu
- Tìm hiểu thời gian phát dục của bọ xít bắt mồi Andrallus spinidens
Fabricius
Trang 11- Tìm hiểu khả năng tiêu thụ sâu tơ của bọ xít bắt mồi Andrallus spinidens Fabricius
Trang 12CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1.1 Tổng quan nghiên cứu trong nước
1.1.1 Tổng quan nghiên cứu về bọ xít bắt mồi
Ở Việt Nam các công trình nghiên cứu về thành phần các loài bọ xít bắt mồi mới được bắt đầu từ những năm 67 trở lại đây (Viện Bảo vệ Thực vật, 1976; Ủy ban Khoa học nhà nước, 1981) Tuy nhiên, thành phần các loài bọ xít bắt mồi cũng được nhiều tác giả nhắc đến rải rác trong các công trình nghiên cứu về các loài thiên địch (Đặng Đức Khương, 1990; Hồ Khắc Tín, 1992; Phạm Văn Lầm, 1993, 1996, 1997; Vũ Quang Côn và ctv, 1995; Hà Quang Hùng và ctv, 1999; Trần Đình Chiến, 1999; Tạ Huy Thịnh, Lê Xuân Huệ, 2002)
Theo kết quả điều tra côn trùng trên các cây trồng năm 1967 – 1968 ở các tỉnh miền Bắc Việt Nam, có 97 loài bọ xít bắt mồi đã được thu thập và lên danh sách, nhưng chỉ mới xác định được tên 65 loài, còn 32 loài chưa xác định được tên (Viện Bảo vệ Thực vật, 1976) [24]
Kết quả điều tra cơ bản động vật miền Bắc Việt Nam (1981) đã thu thập được 81 loài bọ xít bắt mồi thuộc 6 họ trên các cây trồng, trong đó xác định được tên 53 loài, còn 28 loài chưa xác định được tên Họ bọ xít bắt sâu Reduviidae có số loài nhiều nhất (71 loài), tiếp theo là họ bọ xít năm cạnh Pentatomidae có 6 loài (Ủy ban Khoa học Nhà nước, 1981) [22]
Đặng Đức Khương (1990) [6] đã nghiên cứu và định được 18 loài bọ xít bắt mồi ở trên cây lúa tại Tây Nguyên thuộc 4 họ Trong các loài bọ xít bắt mồi thu được, các loài thuộc nhóm bọ xít ăn sâu Reduviidae nhiều nhất (12 loài); 3 họ còn lại bao gồm: họ bọ xít năm cạnh Pentatomidae có 3 loài, họ bọ xít dài Lygaeidae có 2 loài và họ Nabidae có 1 loài
Theo Phạm Văn Lầm (1993) [11] đã phát hiện được 12 loài bọ xít bắt mồi thuộc 5 họ, trong đó họ bọ xít ăn sâu Reduviidae có 7 loài Các họ còn lại
Trang 13gồm họ Nabidae có 1 loài thuộc giống Nabis, họ bọ xít đỏ Pyrrhocoridae có 1
loài thuộc giống Antilochus, họ bọ xít dài Lygaeidae có 1 loài thuộc thuộc giống Geocoris và họ bọ xít Pentatomidae có 2 loài
Theo Vũ Quang Côn và ctv (1995) [3] đã thu thập và xác định được tên của 10 loài bọ xít bắt mồi thuộc 3 họ Họ bọ xít ăn sâu Reduviidae có 5 loài,
họ bọ xít Pentatomidae có 4 loài và họ bọ xít đỏ Pyrrhocorodae có 1 loài trên cây bông tại Tô Hiệu (Sơn La)
Theo Phạm Văn Lầm (1996) [16] đã xác định trong 40 loài côn trùng bắt mồi (thuộc 6 họ) của sâu hại ngô ở Hà Nội và vùng phụ cận, thì nhóm bọ xít có 9 loài (chiếm 22,5%) Trong số đó họ bọ xít ăn sâu Reduviidae có 3 loài, họ bọ xít Pentatomidae có 2 loài, họ bọ xít mù Miridae, họ Nabidae, họ
bọ xít đỏ Pyrrhocoridae và họ bọ xít dài Lyaeidae mỗi họ có 1 loài
Năm 1997, trong công trình nghiên cứu về thiên địch của sâu hại lúa ở Việt Nam, Phạm Văn Lầm đã đưa ra 70 loài bọ xít bắt mồi (trong đó đã xác định được tên của 47 loài và 23 loài chưa xác định được tên) thuộc 9 họ, 38 giống Trong tổng số các loài thu được, các loài thuộc họ Reduviidae chiếm nhiều nhất 56 loài (xác định được tên 43 loài)[13]
Trần Đình Chiến (1999) đã xác định được 11 loài bọ xít ăn mồi thuộc 4
họ 7 loài thuộc họ bọ xít ăn sâu Reduviidae, 2 loài thuộc họ bọ xít năm cạnh Pentatomidae, 1 loài thuộc họ bọ xít dài Lygaeidae và 1 loài thuộc họ bọ xít
mù Miridae là thành phần côn trùng bắt mồi trên cây đậu tương ở Hà Nội và vùng phụ cận
Đỗ Ngọc Diệp và ctv (2000) [4] đã ghi nhận 5 loài bọ xít bắt mồi thuộc
họ bọ xít ăn sâu Reduviidae trên cây mía tại Bến Cát, Bình Dương
Tạ Huy Thịnh, Lê Xuân Huệ và ctv (2002) [18] đã ghi nhận 20 loài bọ xít bắt mồi thuộc họ Reduviidae và 3 loài bọ xít bắt mồi thuộc họ
Trang 14Pentatomidae tại khu vực Mê Linh, Tam Đảo, Vĩnh Yên và Lập Thạch thuộc tỉnh Vĩnh Phúc
Những nghiên cứu về đặc điểm sinh học và sinh thái học của các loài bọ xít bắt mồi cũng ít được đề cập tới
Cho tới nay, mới chỉ có loài bọ xít hoa bắt mồi Cantheconnidae furcellata thuộc họ Pentatomidae, đã được một số tác giả nghiên cứu sâu hơn
về sinh học và sinh thái học trong điều kiện phòng thí nghiệm và đạt được những kết quả tương đối đầy đủ
Theo Phạm Văn Lầm và ctv (1994) [12] [14] khi nuôi loài bọ xít hoa bắt mồi với thức ăn là sâu khoang thì kết quả thu được là: thời gian phát dục ở các pha của bọ xít này thay đổi theo thời gian trong năm, kéo dài hơn vào mùa đông và ngắn hơn vào mùa hè Trứng của loài bọ xít này phát dục từ 4,8 – 20,3 ngày thì nở Thiếu trùng phát dục qua 5 tuổi, thiếu trùng ở tuổi 1, 2 chỉ uống nước và bắt đầu từ tuổi 3 thì mới sống theo kiểu bắt mồi thời gian phát dục của giai đoạn thiếu trùng từ 14,1 – 38,8 ngày Thiếu trùng tuổi 5 vũ hóa thành con trưởng thành và thường giao phối sau 3,7 – 8,1 ngày Một bọ xít cái
có thể đẻ từ 132,3 – 191,9 quả trứng và tuổi thọ của chúng có thể đạt 56,2 ngày trong mùa đông và 15,4 – 21,3 ngày ở mùa thu và mùa hè Giai đoạn phát dục của trứng đến khi vũ hóa thành con trưởng thành của loài bọ xít này trung bình từ 20,3 – 59,1 ngày
Theo Vũ Quang Côn và ctv (1994) [2] khi nuôi loài bọ xít hoa
Cantheconnidae furcellata trong điều kiện nhiệt độ từ 26,1 – 29,4oC và ẩm độ
từ 72 – 85% cho thấy: vòng đời của loài bọ xít này thường từ 22 – 31 ngày Trong đó giai đoạn trứng từ 5 – 7 ngày, giai đoạn thiếu trùng từ 11 – 20 ngày,
từ lột xác thành trưởng thành đến khi đẻ trứng từ 5 – 7 ngày Bọ xít cái trưởng thành đẻ từ 1 – 9 ổ trứng, trung bình là 175,4 quả/con Mỗi cá thể bọ xít ở các
Trang 15tuổi có thể ăn tới 37,09 con sâu khoang, trung bình mỗi con ăn hết 2 – 3 con/ngày
Nguyễn Viết Tùng (1991) [21] đã ghi nhận loài bọ xít mù xanh
Cyrtorhinus lividipennis là kẻ thù tự nhiên của rệp muội tại vùng đồng bằng
Pentatomidae) là các loài bọ xít bắt mồi phổ biến trên cây bông Loài bọ xít
đỏ Antilochus conquebertii (họ bọ xít Pyrrhocoridae) là loài bọ xít bắt mồi phổ biến trên cây bông, vật mồi của chúng là loài bọ xít đỏ gây hại Dysdercus cingulatus Loài bọ xít nâu viền trắng Andrallus spinidens Fabricius không
phải là loài bọ xít gây hại như Viện BVTV đã công bố năm 1976 mà là loài
bọ xít bắt mồi trên nhiều loại cây trồng như: cây bông, cây đậu tương, cây ngô,… Vật mồi của bọ xít này là các loài sâu hại như: sâu xanh, sâu khoang, sâu tơ, sâu đo xanh, sâu keo ăn lá bông và trứng của rầy xanh hại bông
Năm 1993, Phạm Văn Lầm và Bùi Hải Sơn đã nghiên cứu loài bọ xít mù
xanh Cyrtorrhinus lividipennis (họ Miridae) và loài Hydrometra albolineata
(họ Hydrometridae) trên cây lúa Nghiên cứu cho thấy: loài bọ xít mù xanh là thiên địch rất quan trọng trong việc kìm hãm số lượng loài rầy nâu và nó có phản ứng rất rõ ràng đối với sự thay đổi số lượng quần thể rầy nâu so với loài
bọ xít bắt mồi Hydrometra albolineata trên đồng lúa Loài bọ xít mù xanh có
Trang 16thể tiêu diệt một số lượng lớn rầy nâu, mỗi ngày 1 cá thể bọ xít mù xanh trưởng thành có thể tiêu diệt 15,8 – 20,5 trứng rầy nâu, thiếu trùng có thể tiêu diệt 13,0 – 15,7 trứng rầy nâu [15]
Theo Vũ Quang Côn và ctv (1995) [3] các loài bọ xít bắt mồi chủ yếu ăn thịt sâu non tuổi nhỏ và tuổi trung bình của sâu hại bông Số lượng của tập hợp các loài bọ xít bắt mồi có mật độ từ 1 – 11 con/100cây và đạt mật độ cao nhất vào cuối tháng 9 hàng năm
Theo Đỗ Ngọc Diệp và ctv (2000) [4] 2 loài bọ xít bắt mồi thuộc họ Reduviidae có tần suất bắt gặp thường xuyên (55 – 65) trên đồng mía tại Bến Cát, Bình Dương Vật mồi chủ yếu của 2 loài bọ xít này là sâu non của sâu đục thân mía
Theo Hà Quang Hùng và Bùi Thanh Hương (2002) đã nghiên cứu một
số đặc điểm hình thái học và sinh học của loài bọ xít bắt mồi Orius sauteri Poppius với vật mồi chủ yếu là bọ trĩ Thrips palmi và trứng ngài gạo Corcyra cephalonica và cho thấy loài bọ xít bắt mồi này có ý nghĩa trong việc điều hòa
số lượng của loài bọ trĩ hại khoai tây ở Hà Nội và vùng phụ cận Vòng đời của chúng là 21,58 ± 0,26 ngày (vật mồi là bọ trĩ) và 23,08±0,26 ngày (vật mồi là trứng ngài gạo) Khả năng ăn bọ trĩ đạt 35,02 ± 2,24 con/ngày và ăn trứng ngài gạo đạt 32,44 ± 1,96 quả/ngày (Dẫn theo Trương Xuân Lam, Vũ Quang Côn, 2004) [8]
Nhìn chung, trên một số cây trồng trong hệ sinh thái đồng ruộng ở nước
ta, việc nghiên cứu các loài bọ xít thuộc nhóm bọ xít bắt mồi còn rải rác, chưa mang tính hệ thống Các nghiên cứu mới chỉ dừng lại ở việc xác định tên loài, vùng phân bố và xác định vật mồi của chúng Những nghiên cứu về đặc điểm sinh học, sinh thái học của các loài bọ xít bắt mồi gần đây mới được quan tâm nghiên cứu
Trang 171.1.2 Tổng quan nghiên cứu về bọ xít bắt mồi Andrallus spinidens Fabricius
Nghiên cứu sinh học, sinh thái về các loài bọ xít bắt mồi còn ít được đề
cập, cho tới nay một số loài như: loài Cantheconidea furcellata, loài Cyrtorrhinus livilippennis và loài Orius sauteri đã được đề cập và nghiên cứu
(Phạm Văn Lầm, 1992, 1994; Vũ Quang Côn và ctv, 1994; Nguyễn Xuân Thành, 1996; Nguyễn Viết Tùng, 1992; Hà Quang Hùng, 1996; Hà Quang
Hùng và Bùi Thanh Hương, 2002) Loài bọ xít bắt mồi Andrallus spinidens
đến nay vẫn còn ít được quan tâm nghiên cứu
Theo Phạm Văn Lầm (1993) [10] [11] loài A spinidens là loài bọ xít
bắt mồi trên nhiều loài cây trồng như cây bông, cây đậu tương, cây ngô… Vật mồi của loài bọ xít này là các loài sâu hại như sâu xanh, sâu khoang, sâu đo xanh, sâu loang, sâu keo ăn lá bông, trứng rầy xanh hại bông
Theo Hà Quang Hùng (1996)[5] thì loài bọ xít A spinidens
(Pentatomidae) là loài bọ xít bắt mồi có triển vọng và vật mồi chủ yếu của nó
là sâu non của các loài sâu hại thuộc bộ cánh vẩy hại khoai lang, rau và đậu rau
Các loài bọ xít nâu viền trắng A spinidens, loài bọ xít cổ ngỗng đỏ bắt mồi Sycanus falleni và bọ xít cổ ngỗng đen bắt mồi S crocevittatus đã được
ghi nhận là các loài bọ xít bắt mồi tích cực trên cây bông, cây đậu tương và cây ngô trên hệ sinh thái đồng ruộng ở một số tỉnh miền Bắc Vật mồi là ấu trùng sâu xanh, sâu loang, sâu đo xanh Cho tới nay những đặc điểm sinh thái, sinh học của chúng ít được nghiên cứu mới chỉ dừng lại ở xác định tên loài, vùng phân bố và xác định một số vật mồi của chúng trên cây bông, cây đậu tương là chủ yếu (Theo Vũ Quang Côn và ctv, 1995; Phạm Văn Lầm, 1997; Mai Phú Quý và Trần Thị Lài, 1980; Viện BVTV, 1976) [2]
Trang 18Theo Trương Xuân Lam (2002) [7] bước đầu nghiên cứu về đặc điểm sinh học, sinh thái của bọ xít nâu viền trắng cho biết, ở điều kiện phòng thí
A.spinidens là 32 – 36 ngày, sức sinh sản là 365 – 459 quả/con cái, tỷ lệ trứng
nở đạt trung bình 94,31± 3,34% (85,51 – 97,65%), thời gian phát dục trung bình của pha trứng là 6,37 ± 0,24 ngày, thiếu trùng là 18,53 ± 0,75 ngày, từ lần lột xác cuối cùng đến khi đẻ trứng 9,26 ± 1,20 ngày Nghiên cứu khả năng
ăn mồi của bọ xít nâu viền trắng cho thấy chúng có sức ăn lớn, vật mồi là sâu non sâu khoang tuổi 1, 2 thì thiếu trùng bọ xít nâu viền trắng chích từ 3 – 6 con sâu khoang/ngày (trung bình 3,92 ± 0,32 con/ngày), trưởng thành chích 8,13 ± 1,08 con/ngày; vật mồi là sâu non sâu khoang tuổi 3 thì thiếu trùng chích 2 – 3 con/ngày (trung bình 2,83 ± 0,26 con/ngày), trưởng thành chích
6,27 ± 1,04 con/ngày; vật mồi là sâu non sâu đo Plusia sp tuổi 2, 3 thì thiếu
trùng chích hút 3,76 ± 0,27 con/ngày, trưởng thành 10,89 ± 1,12 con/ ngày
Theo Vũ Quang Côn và cộng sự (2002) [1] thì trên vùng trồng bông ở
Tô Hiệu –Sơn La loài bọ xít nâu viền trắng A spinidens có tần suất bắt mồi
sâu đo xanh cao nhất (40,90%), sau đó đến sâu khoang (27,27%) và sâu xanh, sâu đo nâu và sâu cuốn lá bông tương ứng là 18,18%; 9,09%; 4,57% Một
ngày loài A spinidens (từ thiếu trùng tới con trưởng thành) tiêu thụ sâu
khoang trung bình là 23,32 ± 2,54 con (tuổi 1, 2); 17,55 ± 2,60 con (tuổi 3),
trưởng thành tiêu thụ thức ăn nhiều nhất trung bình 10,98 ± 1,12 con
1.2 Tổng quan nghiên cứu nước ngoài
1.2.1 Tổng quan nghiên cứu bọ xít bắt mồi
Trên thế giới các kết quả nghiên cứu về bọ xít bắt mồi phải kể đến các công trình nghiên cứu về thành phần loài có liên quan đến khu hệ bọ xít bắt mồi ở vùng Đông Dương - Ấn Độ và các nước lân cận với Việt Nam, mà điển
Trang 19hình là những nghiên cứu của các tác giả ở Ấn Độ như Distant (1904 – 1910)
đã phân loài và mô tả hình thái 422 loài Vennison, Ambrose (1990) đã ghi
nhận được 15 loài bọ xít bắt mồi thuộc giống Ectomocoris (Dẫn theo Trương
Xuân Lam, Vũ Quang Côn, 2004) [8]
Ở Đông Dương Vitalis (1919) [34] đã công bố 14 loài bọ xít bắt mồi bao gồm họ Reduviidae có 11 loài thuộc 9 giống, họ Nabidae có 1 loài, họ
Pentatomidae có 2 loài thuộc giống Cazira và Palpada
Trung Quốc, cho đến năm 1971 đã phát hiện được 820 loài côn trùng bắt mồi trong đó có gần 200 loài thuộc nhóm bọ xít bắt mồi (Price, 1915) Cai wanzhi etall (1995, 1997, 2001, 2002) đã mô tả 15 loài bọ xít bắt mồi thuộc giống Reduvius và 44 loài thuộc phân họ Harpactorinae, trong đó tác giả đã ghi nhận 3 loài mới cho khoa học (Dẫn theo Trương Xuân Lam, Vũ Quang Côn, 2004) [8]
Ở Nhật Bản, Masaaki (1993) [28] đã ghi nhận và mô tả hình thái 58 loài bọ xít bắt mồi thuộc 7 họ, các loài thuộc họ bọ xít ăn sâu Reduviidae có
số lượng nhiều nhất 28 loài
Ishikawa et al (2002) đã ghi nhận và mô tả 11 loài thuộc giống Polytous (họ Reduviidae) trong đó có 3 loài được ghi nhận mới cho khoa học (Dẫn theo Trương Xuân Lam, Vũ Quang Côn, 2004) [8]
Các công trình nghiên cứu về thành phần loài của bọ xít bắt mồi ở một
số các nước khác trên thế giới cũng đã được nhiều tác giả nghiên cứu như Randall, James (1995) [30] đã thống kê các loài bọ xít ăn sâu Reduviidae trên thế giới có khoảng 65000 loài thuộc 930 giống trong 22 phân họ Carmen
Coscaron (1990) [24] đã xác định được 27 loài thuộc Rasahus (họ
Reduviidae) ở Achentina Kerzhner (1992) [26] đã phát hiện và mô tả loài
Hoplistoscelis sordidus và Pagasa luctuosa (họ Nabidae) là loài bọ xít bắt
mồi mới cho khoa học ở miền Nam nước Mỹ
Trang 20Nghiên cứu về hình thái, sinh học và sinh thái học của một số loài bọ xít bắt mồi cũng đã được nhiều tác giả đề cập tới
Miller (1956) [29] đã mô tả đặc điểm hình thái của 24 loài thuộc họ bọ xít ăn sâu Reduviidae và mô tả thiếu trùng tuổi 1, tuổi 4 của 7 loài bọ xít bắt mồi thuộc họ này
Vennison và Ambrose (1990) [32] đã nghiên cứu ảnh hưởng của việc ghép đôi lên sự sinh sản và thời gian phát dục của trứng loài bọ xít bắt mồi
Euagoras plagiatus ở nhiệt độ 30 – 35oC, ẩm độ 75 – 85% với vật mồi là sâu
xanh Heliothis armigera kết quả thu được là: khi một con cái được ghép đôi
từ 3 – 4 con đực khác tuổi thì thời gian đẻ trứng ngắn hơn so với thời gian đẻ trứng của 1 con cái được ghép đôi với 1 con đực cùng tuổi
Chen, Cheng và He (1994) [25] đã nghiên cứu khả năng sinh sản và tỷ
lệ trứng nở của loài bọ xít bắt mồi Cyrtorrhilus lividipennis tại Trung Quốc ở
C với thức ăn là trứng của rầy nâu Nilaparvata lugens, trứng của loài rầy lưng trắng Sogatella furcifera thì số lượng trứng đẻ
được của 1 con cái tương ứng: 247,63 ± 74,73 quả, 237,25 ± 18,62 quả và tỷ
lệ trứng nở đạt: 59,83%, 58,26% Khi thức ăn là thiếu trùng rầy nâu
Nilaparvata lugens và thiếu trùng rầy lưng trắng Sogatella furcifera thì số
lượng trứng đẻ của 1 con cái giảm đi, trung bình chỉ đạt 196,83 ± 69,08 quả/con và 128,14 ± 81,29 quả/con; tỷ lệ trứng nở thấp tương ứng là 44,35%
và 46,96% Thí nghiệm cũng cho thấy trứng rầy nâu Nilaparvata lugens là
thức ăn ưa thích nhất đối với loài bọ xít mù xanh này
Kitamura, Kondo (1995) [27] đã nghiên cứu ảnh hưởng của nhiệt độ
đến thời gian phát dục của trứng và thiếu trùng loài bọ xít bắt mồi Nabis stenoferus (họ Nabidae) ở Nhật Bản nhận thấy: với nhiệt độ trung bình là
Trang 21ở nhiệt độ từ 24 – 28o
loài bọ xít này không phát dục
Năm 1996, Tommasini và Benuzzi đã nghiên cứu đặc điểm sinh học
của loài bọ xít bắt mồi Orius laevigalus (họ Anthocoridae) trong 3 điều kiện
Ephestia kuchniela thấy rằng thời gian thiếu trùng phát dục thành con trưởng
cái sinh sản và số lượng trứng được đẻ ra từ một con cái cũng giảm ở nhiệt độ
Nghiên cứu về tập tính bắt mồi, ảnh hưởng của các loại thức ăn, khả năng tiêu thụ vật mồi và vai trò của một số loài bọ xít bắt mồi cũng đã được
đề cập tới
Theo Khoo (1990) thì ở Malaysia người ta đã sử dụng loài bọ xít bắt
mồi Sycanus collasis (họ Reduviidae) để phòng chống bọ xít xanh hại đậu tương Nezara viridula (Corpuz, 1969) Ambrose atal (1994) nghiên cứu khả năng ăn mồi của loài bọ xít bắt mồi Acanthaspis siva (họ Reduviidae) (Dẫn
theo Trương Xuân Lam, Vũ Quang Côn, 2004) [8]
Theo Jame (1994) đã nghiên cứu khả năng tiêu thụ con mồi của loài bọ
trùng mọt bột Tribolium castaneum, sâu mọt Tenebrio molitor, thiếu trùng loài Biprorulus bibax và loài bọ xít xanh Nezara viridula Trung bình mỗi cá
thể của loài bọ xít này từ khi nở cho đến khi phát dục thành con trưởng thành
xít này tiêu thụ trung bình 2,5 con mồi, 2,0 con mồi và 1,3 con mồi ở điều
Trang 22kiện nhiệt độ tương ứng là 30oC, 25oC và 22,5oC (Dẫn theo Trương Xuân Lam, Vũ Quang Côn, 2004) [8]
Ambrose et al (1994) đã nghiên cứu khả năng ăn mồi của loài bọ xít bắt mồi Acanthaspis siva (họ Reduviidae) đối với 2 vật mồi là loài Camponotus compressus và loài Dittopternis venusta cho thấy: lượng thức ăn tiêu thụ được có mối quan hệ với mật độ con mồi Ở trong 3 điều kiện không gian khác nhau (40ml, 80ml và 160ml) thì tập tính bắt mồi của loài bọ xít này
là khác nhau Với không gian 160ml thì khả năng bắt mồi hơn hẳn ở không gian 40ml và 80ml (Dẫn theo Trương Xuân Lam, Vũ Quang Công, 2004)
Theo Sahayaraj (1994, 1995) [31] hai loài bọ xít bắt mồi Rhinoceis marginatus và Acanthaspis pedestris ở các tuổi khác nhau đều có vai trò quan
trọng trong việc khống chế mật độ của 2 loài côn trùng hại lạc và khả năng ăn mồi của 2 loài bọ xít này phụ thuộc vào mật độ và tuổi của loài sâu khoang
hại lạc S litura và loài mối hại lạc O assmuthi Vật mồi ưa thích của 2 loài
bọ xít này là sâu khoang 3 ngày tuổi, sau đó đến sâu khoang 4 ngày tuổi và 5 ngày tuổi
Venkatesan (1997) [33] đã so sánh khả năng tiêu thụ vật mồi của loài
bọ xít bắt mồi Cydnocoris gilvus trong phòng thí nghiệm với các loại thức ăn
khác nhau và kết quả thu được là: khả năng tiêu thụ số lượng vật mồi lớn nhất
là sâu khoang Spodoptera litura, tiếp sau là loài châu chấu Oxya nitidula và cuối cùng là loài mối Odontotermes obesus
Nghiên cứu về biến động số lượng, ảnh hưởng của các yếu tố đến mật
độ của một số loài bọ xít bắt mồi như Thagavelu, Sing (1992) ở Ấn Độ Czepak, Contietal (1994) Ở Italia, Cutouli (1995)
Vennison etal (1991) [32] đã nghiên cứu biến động số lượng của con trưởng thành và thiếu trùng của 7 loài bọ xít bắt mồi họ Reduviidae