1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Thu thập, điều tra, khảo sát và bổ sung thông tin dữ liệu tài nguyên, môi trường đối với bờ vùng bắc trung bộ và duyên hải nam trung bộ (từ thanh hóa đến bình thuận)

13 388 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 13
Dung lượng 11,29 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ngoài ra, các thành tạo thuộc phức hệ này còn phân bố rải rác ở các đảo và đáy biển vùng núi Dinh Chùa ven biển Vũng Áng, Hà Tĩnh.. Hệ ting Tn Mai O; - Szm phân bố thành một dải nhỏ hẹp

Trang 1

BỘ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG - '

CUC BAO VE MOI TRUONG '

-

>.#? ws

%

BAO CAO CHUYEN DE GIAI DOAN 1

ww

BAO CAO THU THAP THONG TIN DU LIEU VE DIEU

KIEN TU NHIEN DIA HINH, DIA MAO

MỤC 2.1.1.1

ĐÈ TÀI: Thu thập, điều tra, khảo sát và bd sung thông tin dữ liệu tài

nguyên, môi trường đới bờ vùng Bắc Trung Bộ và duyên hải Nam Trung Bộ

(từ Thanh Hóa đến Bình Thuận)

Tác giả: Hoàng Thị Phương Thảo

Hà Nội, 2007

Trang 2

Báo cáo thu thập thông tin dữ liệu về điều kiện tự nhiên địa hình, địa mạo

“ng ‘

Cos af

+ Các thành tạo địa chất rắn chắc lộ trên bề mặt có khả năng chịu tải tốt

1 Thuộc vào nhó#Ÿ này là các thành tạo magma, các thành tạo phun trào

và các thành tạo trầm tích lục nguyên Các thành tạo địa chất thuộc nhóm này tạo nên

các dạng địa hình nổi cao, các bờ mài mòn trên đá cứng,chắc và các bờ vách dọc đường bờ biển và vùng ven đảo Việt Nam Các thành tạo này bao gồm 6hức hệ Đại Lộc (yaD;đ)) lộ thành một đảo nhỏ (Hòn Khô) trong quần đảo Cù Lao Cham (Quang Nam) Phitc hé Muong Lat (yaCym/) phan bô tập trung ở khu vực ven biển và đáy biển Sầm Sơn (Thanh Hoá) Phức hệ Vân Canh (yT;vø) phân bố tập trung ở dải ven - biển, đáy biển vùng Sông Cầu, Tuy An và đảo Ma Nha (Phú Yên) Phức hệ Hải Vân, (yaTs#v) phân bố rải rác từ Cửa Tư Hiền (Thừa Thiên Huế) vào đến Sơn Trà (Đà Nẵng) và xung quanh Cù Lao Chàm Phức hệ Hòn Khoai (yT› Ak) phan bố ở đáy biển quanh đảo Hòn Khoai, Hòn Đá Bạc Phức hệ Chà Van (vaT3cv) phan bố tập trung ở đáy vịnh Cầu Hai (Thừa Thiên Huế) Phức hệ Phia Bioc (yaT3n pb) phan bé tap trung

ở vùng ven biển Hà Tinh, dao Hon Mat Phirc hé Dinh Quan (yJ3dq) phan bé tap

trung ở hai vùng biển ven bờ Ninh Hoà (hòn đảo Chà Là) và phía Nam vịnh Cam

Ranh (Khanh Hoa)

2 Ngoài ra, các thành tạo thuộc phức hệ này còn phân bố rải rác ở các đảo

và đáy biển vùng núi Dinh Chùa (ven biển Vũng Áng, Hà Tĩnh) Phức hệ Đèo Cả (y‡Kấc) phân bố thành từng khối rải rác đọc ven biển và đáy biển từ Phù Cát (Bình

Định) đến Cà Ná (Ninh Thuận) Phức hệ này phổ biến nhất ở vùng biển Trung và Nam Trung Bộ Phức hệ Cà Ná (yK›ecn) phân bố ở đáy đầm Ninh Hoà, ven biển nam Nha Trang, vịnh Cam Ranh và ven biển mũi Đá Vách Phức hệ Bà Nà (yK - P ðn) chỉ

phân bố một diện tích nhỏ hẹp ở khu vực biển ven bờ và mũi Nam Trâm (vịnh Dung

Quất) Magma Mesozoi lộ nhiều dọc ven biển Nam Trung Quốc, đảo Hải Nam là, nguồn cung cấp tạo nên nhiều mỏ sa khoáng lớn ở ven bờ biển và các vành trọng sa

- đáy biển Bờ biển đông bán đảo Malaysia lộ khá nhiều các thành tạo magma Trias Các thành tạo địa chất này có khả năng chống chịu cao với các tai biến động lực như

Trang 3

động đất, sóng thần, lũ lụt, xói lở, nhiễm mặn, Tuy nhién, cac qua trinh phong hóa

phát triển trên các thành tạo này tạo điều kiện giải phóng một số kim loại nặng có khả năng tích lũy theo thời gian, gây ảnh hưởng đến chất lượng môi trường `

+ Các thành tạo địa chất rắn chắc lộ trên bê mặt có khả năng Chịu tải trưng bình

Các thành tạo thuộc nhóm này chống chịu với các điều kiện mới trường tương đối yếu

Thuộc nhóm này bao gồm các hệ tầng: Hệ tầng Kim Son(AR ks) phan bồ docwven bién

từ Sa Huỳnh đến biển Hoài Nhơn (Bình Định) Hệ ting Nae Cô PR; - €jpc)

(Dovjikov A E., Bui Phi My va nnk, 1965) Phan bố ở 2 khu vực là: Lạch T' rường ¬

Hon Ne va Mai ChaŠ (Sầm Sơn) Hệ tầng A Vương (6; - O¡ av) phân bố khu vực ven

bờ từ nam Cửa Đại (Hội An) đến bắc Chu Lai Hệ ting Tn Mai (O; - Szm) phân bố thành một dải nhỏ hẹp trên đảo Cái Chiên, đảo Vĩnh Thực và đáy biển phía xung

quanh hai đảo này Hệ tầng Cô Tô (O;-Sc?) phân bố ở quần đảo Cô Tô - Thanh Lâm -

Lò Chúc San Hệ tầng Sông Cả (O2 - S¡ sc) phân bố ở ven biển Nghệ An - Thanh Hoá

Hệ tầng Long Đại (Os-S;/3) phân bố ở ven biển và đáy biển ven bờ từ nam Bố Trạch đến Lệ Thuỷ (Quảng Bình) Loạt Sông Cầu (D; se) phân bố ở các đảo Thượng Mai,

Ba Mùn, Phượng Hoàng, Sậu Nam, Thoi Xanh, một phần đảo Trà Bản và dưới đáy

biển ở khu vực này Hệ tầng Dưỡng Động (D¡; đZ ) phân bố thành một dải kéo dài theo hướng Tây Bắc - Đông Nam ở các đảo Trà Bản, Thừa Bóng, Châu Dắp, Lũ Con

Hệ tầng Đồ Sơn phân bố ở bán đảo Đồ Sơn Hệ tầng Bản Páp phân bó rất hạn chế ở đảo Bàn Sen, Đông Nam Cái Bầu Hệ tầng Đông Thọ phân bố ở diện hẹp khu vực đèo

Lý Hoà và dưới đáy biển vùng này Hệ tầng Phố Hàn (D; - C¡øJ) phân bố ở Đông Nam đảo Cát Bà Hệ tầng Hòn Chong (D - C, Ac) phan bé chu yếu ở vùng biển, ven

bờ và các đảo vùng biển phía Đông quần đảo Nam Du Hệ tầng Cát Bà (C¡c) phân bố chủ yếu ở trên đảo Cát Bà Hệ tầng Bắc Sơn (C-Pös) phân bố tập trung chủ yếu ở dưới

đáy biển và các đảo thuộc vịnh Hạ Long, Bái Tử Long và Đông Nam đảo Cát Bà,

vùng ven biển Thạch Hà (Hà Tĩnh) Hệ tầng Hà Tiên (P ) phân bố từ Bãi Ớt đến

Chùa Hang (Hà Tiên) Hệ tầng Bãi Cháy (Paöc) phân bố tập trung thành một dải ở ven

biển và biển ven bờ từ Cẩm Phả đến Bãi Cháy Các thành tạo Paleozoi lộ gần biển phía bắc hongkong(Tan Qixin, ,1988) Hệ tầng Hòn Ngang (T ng) phân bố ở vùng

biển và các đảo Vịnh Thái Lan Hệ tầng Đồng Trầu (T;a đ) phân bố ở 4 khu vực

Trang 4

chính, đảo Hòn Mê (Thanh Hoá) và đáy biển vùng lân cận, ven biển và biển Quỳnh

Lưu, Cửa Lò (Nghệ An) và vùng biển Đèo Ngang (Hà Tĩnh -Qưảng Bình) Hệ tầng

Minh Hoà (Tạa z) phân bố một diện tích rất nhỏ bé ở phía bắc hòn Minh Hoà (Hòn

Nghệ) và đáy biển sát đảo này Hệ tầng Hòn Nghệ (T; #z) phân bố một diện tích nhỏ -

bé ở bờ Tây, Tay Bắc và đáy biên quanh đảo Hòn Nghệ (Minh Hoa) Hệ sang, Dong Dao (T; dd) phan bé tap trung một diện tích rất hạn chế ở biển, ven bờ tây nam huyện Kim Son (N inh Binh) va Nga Son (Thanh Hoá) Trầm tích Mesozoi phát: giển doc ven bién Nam Trung Quốc(Tan Qixin, ,1988) Hé tang Hòn Gai (Tn hg) phan bố tập | trung ở khu vực Hen, Gai - Cẩm Phả, ven bờ đảo Cái Bầu Hệ tầng Đồng Đỏ (q1 n-r dd) phân bố tập trung thành một dải dưới đáy biển ở độ sâu 20m nước vào bờ từ nam

cửa Lạch Ghép (Thanh Hoá) đến bắc Cửa Lò (Nghệ An) Hệ tầng Hà Cối (¡.ahc) phân

bố tập trung ở vịnh Hà Cối thuộc vùng biển Quảng Ninh Hệ tầng Mường Hinh (Jmh) phân bố chủ yếu ở vùng ven biển và biển phía nam tỉnh Hà Tĩnh Hệ tang La Nga (J, in) phân bố tập trung ở dải ven bờ và dưới đáy biển vịnh Văn Phong thuộc huyện Vạn Ninh và huyện Ninh Hoà (Khánh Hoà) Hệ tầng Đèo Bảo Lộc (J3 dbl) phan bó một diện tích nhỏ hẹp (1km?) ở phần trung tâm Côn Đảo, khu vực dốc Trâu Té Hệ tầng Phú Quốc (K; øa) phân bố rộng rãi ở đáy biển và quanh đảo cùng tên, ngoài ra còn

thấy ở đáy biển quần đảo An Thới, Thổ Chu và 6 khối nhỏ ở tây nam quần đảo Nam

Du Cac bang dia chan nông quanh đảo Phú Quốc, An Thới, Thô Chu cho thấy bề mặt

có nhiều khối nhd, mức độ cản sóng âm cao Ngoài ra, còn gặp trong một số băng ở

dang các khối nhô riêng lẻ ở vùng biển Kiên Giang Hệ tầng Nha Trang (K nt) phan bố

dai rác vùng ven biển Nam Trung Bộ Hệ tầng Yên Châu (Kyc) phân bố rất hạn chế ở

phía bắc Cửa Ghép

+ Các thành tạo địa chất bở rời có khả năng chịu tải kém

Các thành tạo này bao gồm các thành tạo Neogen và Đệ tứ chúng tạo nên dạng bờ cát nằm xen kẽ với các thành tạo cứng chắc kể trên Chúng phân bố tạo nên các đồng bằng, dọc các thung lũng sông và chạy dọc ven biển Các thành tạo này rất nhạy cảm

với các tai biến động lực như động đất, xói lở, nứt đất, lũ lụt, và nhạy cảm với tai

biến nhiễm mặn Theo không gian có thê phân các thành tạo này như sau:

Vùng Nga Sơn - Đèo Ngang: về cơ bản đoạn bờ vùng này được tạo từ cát Các quá

Trang 5

trình xói lở mạnh xảy ra ở Băc cửa Hội và cửa Lý Hoà Do đặc điểm đường bờ tạo từ cát nên cửa sông vùng này biến động rất nhanh Vào mùa khổ cửa sông bị thắt cỗ chai, vào mùa mua It: pha ving cửa sông rât mạnh

wos

Vùng Đèo Ngang - Sơn Trà: bờ biển từ Đèo Ngang đến bán đảo Sơn Trà trừ một số mũi ở

Đèo Ngang, đèo Hải Vân và ban dao Son Tra đại bộ phận bờ biển được tạo tir cat Qua

trình bồi tụ, xói lở dọc bỡ đầm phá Tam Giang xây ra rất phức tạp đã gây ra nhiều thiệt hại

Đặc tính bồi tụ- X01 lo phúc tạp và nhanh cũng do bờ cấu tạo từ cát gây nên.” TS

Vùng bán đảo Sơn Trà - mi Án Hoà: toàn bộ bờ từ bán đảo Sơn Trà đến mỗi An Hoà được cấu tạo từ cát;Quá trình bồi tụ, xói lở ở đây diễn biến rất phức tạp, đặc biệt là ở

ˆ

khu vực Bắc và Nam cửa sông Thu Bồn

Vùng mũi An Hoà - cửa Đà Rằng: trong giới hạn từ mũi An Hoà đến cửa Đà Rằng có

nhiều đoạn bờ được cấu tạo từ cát bở rời Đớ là đoạn từ Nam mũi An Hoà đến Tam

Quan và đoạn từ Bắc đến Nam cửa Đà Rang

Vùng cửa Đà Rằng - Cà Ná: ngoại trừ các mũi nhô và bán đảo, phần lớn bờ biển

vùng này được cấu tạo từ cát

Các thành tạo địa chất dưới biển

1 Các thành tạo địa chất vùng biển ven bờ

Dựa vào thành phần độ hạt, khoáng vật, thành phần vật chất hữu cơ, khả năng tàng

trữ độc tố của trầm tích có thể phân chia các thành tạo địa chất trên đáy biển khu vực

nghiên cứu làm hai loại: các thành tạo địa chất có khả năng tàng trữ độc tố tốt và các

thành tạo địa chất có khả năng tàng trữ độc tố kém

+ Các thành tạo địa chất bở rời có khả năng tàng trữ độc tô tốt

Các thành tạo này chính là các thành tạo bùn, bùn cát, cát bùn, cát bùn sạn Trong

tram tích tầng mặt biển Đông các trường này chiếm tỷ lệ lớn các trường này có thé

phân chia như sau:

1 Trường bùn: Trường cát chứa sạn bùn gồm một vài đải nhỏ phân bố rải rác ở

phía xa bờ Vùng biển Nga Sơn - Đèo Ngang, trường bùn chứa cát sạn, đặc trưng bởi 2 kiểu bùn chứa cát sạn ven bờ là kết quả của quá trình phân dị cơ học và tỷ

Trang 6

trọng đang xảy ra Kiểu thứ hai là kiểu bùn chứa cát sạn di tích tạo thành dải phía ngoài ôm lấy trường bùn Ngoài ra, cần lưu ý là trường bùn chứa cát sạn ở vịnh

Diễn Châu là sự kết hợp giữa di tích và hiện đại Trường cát bùn trong vùng này rất

phát triển và chiếm điột phần lớn diện tích mặt đáy Trong trường này, một số

trường cát, cát chứa sạn bùYŸ phát triển Trầm tích cát bùn có biểu điện ô nhiễm đồng, chì Trường cát chứa sạn bùn phân bố rải rác trong vùng, chúng là những trường nhỏ phân bố ở độ sâu 15 m nước trở ra, trường này-với Ì tường: cát thường di kèm nhau “Vũng Đèo Ngang - bán đảo Sơn Trà, trường bùn đhứa cát sạn tạo tinh, dai liên tục từ Nam Đèo Ngang đến bán đảo Sơn Trà và kéo xuống Bắc Cù Lao Chàm Tuy nhiên: từ Nam Đèo Ngang đến vùng ngoài Triệu Lăng dải bùn chứa cát

sạn có chiều rộng khá én định và liên tục Còn tiếp đến bán đảo Sơn Trà, trường này

tạo thành một đải hẹp ven bờ Trường cát bùn kéo dài từ Nam Đèo Ngang đến Cửa

Tùng tạo thành một dải hẹp ven bờ Từ Cửa Tùng đến vụng An Cự tạo thành hai đải

độc lập: một dải hẹp chạy sát bờ và một dải không đều ngoài khơi (độ sâu 30 m nước trở ra) Trường cát chứa sạn bùn: không phát triển liên tục mà tạo thành một

vài khoảnh nhỏ ở vùng trước đầm phá Tam Giang Vùng Sơn Trà - mũi An Hòa,

trường bùn chứa cát sạn tạo thành dải chạy men theo bờ Riêng ở Đông Nam Cửa Đại chúng toả nhánh ôm lấy các trường cát, cát bùn và cát chứa sạn bùn Trường cát

bùn, tạo thành dải hẹp chạy song song với trường bùn chứa cát sạn Riêng ở Đông

Nam cửa Đại và quanh Cù Lao Chàm trường này tạo thành các khoảnh không liên

tục Trường cát chứa sạn bùn tạo thành một khoảnh nhỏ ở Đông Nam cửa Đại

Vùng mũi An Hòa - cửa Đà Rằng, độ sâu của biến từ bờ ra ngoài khơi tăng rất

nhanh, do đó trầm tích trong giới hạn từ 0 - 30m nước tạo thành một dải hẹp Trường trầm tích phát triển hơn cả là trường bùn chứa cát sạn, trường bùn và cát chứa sạn chiếm một khối lượng đáng kể Trường bùn chứa cát sạn phát triển trong

khoảng từ mũi An Hoà đến Hòn Trâu, còn trường cát bùn phát triển trong khoảng từ

Hòn Trâu đến Bắc cửa sông Cầu Riêng trường cát tạo thành dải hẹp chạy đọc theo

bờ và trường bùn phát triển ở cửa sông Đà Rằng Vùng cửa Đà Rằng - Cà Ná, có

nhiều vũng vịnh, đường bờ lồi lõm, đáy biển nhiều chỗ có địa hình dốc, trầm tích

đáy chủ yếu là bùn cát Các trường cát bùn và cát chứa sạn bùn rất ít phát triển So với vùng mũi An Hoà - cửa Đà Răng, vùng này có đặc điểm tướng bùn chiêm ưu

Trang 7

thế Vùng Cà Ná - Vũng Tàu, trầm tích ting mat vung nay tao thanh cac truong dan xen nhau dạng da báo, trong đó 2 trường phát triển nhất là trường cát chứa sạn bùn

và trường cát Trường cát chứa bùn sạn chiếm một diện tích rộng lớn ở vùng Tuy Phong, Mũi Kê Gà vấ vùng bãi cạn Hàm Tân Trong trường này được khảm những khoảng nhỏ của trường cát ẩn và cái Ngoài ra, trường cát bùn cũng tương đối phát

triển, chúng phân bố ở phía Tây Nam mũi Cà Ná, vùng ngoài khơi của Hàm Tân và

ở Đông Nam Vũng Tàu Vùng Vũng Tàu - Cà Mau, các-trường bùn-chiữa cát sạn, cát bùn và cát chứa sạn bùn, phát triển tập trung ở vùng ngoài khơi trước cửa Trần

Đề đến trước cửa Gành Hào Trường cát bùn và bùn chứa cát sạn thể hiện rõ thời -

gian hình thành Khác nhau Các trường phân bố sát bờ là các trường hiện đại và

đang trong quá trình hình thành, còn các trường ngoài khơi là trường di tích Vùng |

Ca Mau - Ha Tién, trường cát chứa sạn bùn rất phát triển, tạo thành một trường rộng h

lớn ở phía Nam đảo Phú Quốc và một trường phía Tây mũi Cà Mau Trường bùn chứa cát sạn cũng khá phát triển, chúng bao quanh trường cát chứa sạn bùn

+ Các thành tạo địa chất bở rời có khả năng tàng trữ độc tổ kém — `-

Các thành tạo này chính là các thành tạo cát, cát sạn, sạn cát Trong trầm tích tầng

mặt biển Đông các trường này chiếm tỷ lệ lớn các trường này có thể phân chia như sau:

Vùng Nga Sơn: trường cát tạo thành một đải tương đối liên tục dọc theo bờ từ cửa Văn Úc đến cửa Trà Lý, chiếm phần bờ phía Bắc và Nam cửa Ba Lạt Các trường cát này là cát hiện đại, đang được hình thành và phát triển Ngoài khơi có vài trường cát

với diện tích không đáng kể Vùng Nga Sơn - Đèo Ngang, trường cát tạo thành dải

hẹp chạy dọc theo bờ vịnh Diễn Châu, Cửa Lò, Cửa Hội và Sầm Sơn Đây là dải

những dải cát hiện đại đang trong quá trình phát triển Ngoài ra từ độ sâu 25 m nước

trở ra phát triển một số trường cát nhỏ phân bố dạng khảm Vùng Đèo Ngang - bán

đảo Sơn Trà, trường cát trong vùng này cần phân biệt hai trường cát: trường cát thứ nhất tạo thành dải hẹp chạy men theo bờ, trường này đang trong quá trình phát triển

Trường thứ 2 tạo thành dải không liên tục, đó là trường tạo từ cát di tích sinh vật

Vùng Sơn Trà - mũi An Hoà, trường cát không phát triển trong vùng, tạo thành

những bãi nhỏ Đông Nam cửa Đại, Cù Lao Chàm và trong vịnh Dung Quat Cac

Trang 8

vùng mũi An Hoà - cửa Đà Rằng, vùng cửa Đà Rằng - Cà Ná có đặc điểm nhiều vũng vịnh, đường bờ lồi lõm, đáy biện nhiều chỗ có địa' hình doc có trường cát tạo thành dải nằm dọc thẻo bờ Đông Bắc của bán đảo và đất liền Vùng Cà Ná - Vũng Tàu,

trường cát phân bố ở ngoài vịnh Phan Rí, Tây Nam vịnh Phan Thiết và một đải chạy

từ cửa Ba Kiềm ra ngoài khơï? Trường cát chứa bùn sạn chiếm một diện-tích rộng lớn

ở vùng Tuy Phong, Mũi Kê Gà và vùng bãi cạn Hàm Tân Trong trường này được khám những khoảng nhỏ của trường cát bùn và cát Vùng vung Tau-~- Ca Mau, trường cát là trường rất phát triển và chiếm một diện tích rộng ỡ ngoài khơi từ cửa ‘Ba

Lai đến Côn Đảo Trường cát hiện đại phân bố ở ven bờ và từ độ sâu từ 0- 5m nước, ộ

còn trường cát ngoài khơi là trường cát di tích.Vùng Cà Mau - Hà Tiên, trường cát hầu như không phát triển, chúng tạo thành dải hẹp năm ở bờ đông đảo Phú Quốc + Vừng biển ngoài khơi độ sâu lớn hơn 30m nước

3 Nhóm trầm tích sinh hoá chữa một lượng sét và bột với hàm lượng thay

đổi 15-75% tuỳ theo vi tri (Xu Dongyu va nnk, 1997; Schimanski.A, Statteger et al,

4 Bun carbonat (M“) phân bố như một vành đai theo chân rìa, sườn lục địa với thành phần ngoài loại lục sinh là carbonat (tập hợp vỏ vôi của sinh vật, Nannofosils, carbonat vi tỉnh thể) và vài nơi xen các lớp mỏng tro núi lửa Đây là loại

trầm tích tạo ở độ sâu 200 - 2000 m (Schimanski.A, Statteger K., et al, 1997-

2003: )

5 Bùn Foraminfera (Oz”) phân bố ở độ sâu hơn và đôi nơi xen kẽ với

loại trên với diện khá rộng, giàu vỏ Foraminifera nhất là loại sống nổi cỡ hạt

<0,1mm Trong trầm tích này có một lượng tro núi lửa và chiều dày mỏng (2-40 cm)

liên quan chặt chẽ với các vùng quần đảo như Hoàng Sa và Trường Sa, tạo nên các vùng có diện tích lớn Thành phần chủ yếu là vụn san hô với các kích thước khác nhau (Địa chất Đệ tứ Quần đảo Trường Sa, 1993)

4000 m Thành phân carbonat là vỏ sinh vật vôi, chủ yêu là Foraminifera sông trôi

Trang 9

nổi và các loài khác (carbonat vi tinh thé) con silic do một Ít vỏ bọt biển tạo nên song

phần lớn do tro thuỷ tỉnh núi lửa (Xu Dongyu và nnk,1997) ˆ

8 Bàn silic (Q, *) phủ phần Tây Nam trũng Biển Đông, độ sâu trên 4500

m khác với loại trên trong thành phần có carbonat <15%„ lượng silic (gồm sinh vật có

9, Sét nâu (a6) dai dương (PY) là loại trầm tích đặc biệt, phân bố thành diện rộng ở gần phần tâm đới tách giản độ sâu trên 4500 m, radu nau gach non NOI thành phần là sét, ít vụn sinh vật, tro núi lửa (Nguyễn Văn Bách và Nguyễn Van Hải,

trong thành phần tro, bụi núi lửa chiếm 25% đến trên 50% và phân bố phía Đông Bắc

tâm Biển Đông

Dongyu và nnk, 1997) tạo nên một số diện tích ở độ sâu trên 4000 m Tây,Nâm đảo Đài Loan, đuôi Tây Nam đới biển thắm ngoài khơi Nha Trang (Địa chất Đệ tứ Quần

đảo Trường Sa, 1993; Đỗ Minh Tiệp và Tôn Nữ Mỹ Dư, 2001) Tuy nhiên, hàm

lượng các kết hạch sắt và mangan tại các vùng phát hiện chưa đáng kể

12 — Tóm lại, các trầm tích lục sinh tập trung ở thềm lục địa với điều kiện

được cung cấp vật liệu đồi dào từ đất liền nên có chiều dày lớn, còn trầm tích lục

nguyên hạt mịn đi cùng sản phẩm sinh hoá chiếm phần sâu hơn của đáy Biển Đông thành tạo trong điều kiện lượng vật liệu lục sinh ít nên trong thành phần tùy thuộc các khu vực khác nhau mà hàm lượng carbonat và vật liệu núi lửa chiêm ưu thê

+ Tram tích Đệ tứ vùng biên nước sâu trên 200m

13 Các thành tạo Dé tứ vùng biển sườn, chân lục địa là phần ngoài và chân của các nêm lắn biển và gồm các tập biến tiến biển sâu xen kẻ biển lùi biến nông và sâu vừa gồm bùn - sét, có nơi là sét vôi, ít bùn silic, bùn, cát Foramimifera, bùn silic, bùn tro bụi núi lửa tạo nên lớp phủ đáy biển hoặc là các nón phóng vật ở các sườn

~lốc (kiểu turbidit) nằm cuối các canhion (rãnh phân cắt sâu) Theo các mặt bào mòn

kéo dài từ thềm lục địa ra biển khơi có thể chia cột địa tầng làm 3 phần tương ứng với

Trang 10

Plelstocen sớm, giữa và muộn có chiều dày tổng 200 - 300 m Tram tích Holocen

+ Trâm tích Đệ tứ vùng biển quân đảo Trường Sa

Theo tài liệu địa chấn, phủ trên các thành tao bazan phun trào, trầm tích gan két vira |

Pliocen, trầm tích Đệ tứ có 6 tập xen kẽ nhau giữa tập giàu vật chất lục nguyễn và tập ˆ

nhiều vụn, thành tạo san hô, vụn sinh vật tương ứng 6 hệ tầng thuộc Pleistocen

(Nguyễn Biểu, 2003) Nghiên cứu chỉ tiết các nguyên tố đồngw2ị của Oxy, Stronxy,

Carbon 14, dia tang Đệ tứ quan dao Truong Sa va lân cận nhất là Pleistocen muộn và

Holocen được các ghà địa chất nước ngoài phân chia khá chỉ tiết Theo các cột mẫu

và khoan trầm tích Đệ tứ chủ yếu là bừn, sét giàu vụn sinh vật và tro bụi núi lửa Ở

quanh các đảo có cát, sạn, san hô, Có thể chia 4 vùng biển có cột địa tầng Đệ tứ

khác nhau: cao nguyên ngầm, sườn bờ ngầm san hô, máng biển thuộc chân lục địa

(nước sâu 1000 - 1400 m) và máng biến sâu (đồng bằng biển thắm - nước sâu > 4000 m) Kết quả nghiên cứu đồng vị Oxy 18 và Stronxy của cột mẫu sâu 420 cm cho phép

chia ra 8 giai đoạn đo 4 lần thay đổi khí hậu lạnh do băng hà và 4 lần khí hậu ấm áp,

nóng xen kẽ nhau, trong đó ở độ sâu 410 cm thuộc giai đoạn 8 có tuổi C!“ là 275.000 năm (đáy hệ tầng IH) còn ở độ sâu 270 cm thuộc giai đoạn 6 là 180.000 năm

(Pleistocen giữa phần muộn) - Diệp Liên Tuấn, 1993

+ Trâm tích Đệ tứ vùng biên quân đảo Hoàng Sa

Theo cổ sinh và tuổi CÌ cột địa tang Đệ tứ quần đảo này chia làm 6 phân vị: Pleistocen sớm gồm bùn, sét chứa cycloclypeus, Amphistegina, Globigerinoides trilobus, Pleistocen giữa chứa Calcarina, Amphistegina, Pleistocen muộn gồm tram tích đầm lầy có Amphistegina, Quingueloculina và bùn sét biển với Amphistegina adagascariensis dorbigny, Globotalia truncatulinoides d’Orbigny, Holocen chia lam 2 phan cé vi cé sinh khac nhau (Chen Junren,1978)

+ Tram tích Đệ tứ vùng biển thắm

Theo tài liệu địa chấn tại đây nằm trên các thành tạo bazan và các loại đá gốc khác có 2

tập trầm tích thuộc Pliocen - Đệ tứ với chiều dày 300 - 600 m (Đệ tứ dày khoảng 50 m)

và cấu tạo ngang song song Tài liệu trầm tích mặt cho thấy đến độ sâu 0,4 m có thể chia

4.

Ngày đăng: 18/11/2020, 14:00

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w