1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Tuyển tập báo cáo hội thảo khoa học thường niên năm 2003

232 384 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 232
Dung lượng 9,46 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nguyễn Văn Thẳng - Viện Khí tượng Thủy văn - Nghiên cứu ảnh hưởng của một số yếu tố khí tượng đến đến khả năng đậu hạt cây ngô lai trong vụ Đông Xuân vùng Đông Nam Bộ TS.. Vũ Văn Tuấn -

Trang 3

BO TAI NGUYEN VA MOI TRUONG

VIEN KHI TUONG THUY VAN PHAN VIEN Kill TUONG THUY VĂN PHÍA NAM

HOI THAO KHOA HOC THUONG NIEN

Trang 5

HỘI THẢO KHOA HỌC THƯỜNG NIÊN NĂM 2003

PHÂN VIÊN KHÍ TƯỢNG THỦY VĂN PHÍA NAM

HỘI THẢO KHOA HỌC THƯỜNG NIÊN NĂM 2003

MỤC LỤC

ae

Lời nói đầu

Cân bằng nước tỉnh Ninh Thuận

TS Bùi Đức Tuấn - Phân viện KTTV phía Nam

Giới thiệu phương pháp Downscaling và ứng dụng trong dự báo

khí hậu

TS Nguyễn Văn Thẳng - Viện Khí tượng Thủy văn

- Nghiên cứu ảnh hưởng của một số yếu tố khí tượng đến đến khả năng

đậu hạt cây ngô lai trong vụ Đông Xuân vùng Đông Nam Bộ

TS Bui Việt Nữ, KS Chiêu Kim Quỳnh - Phân viện KTTV phía Nam

- Khí tượng Thủy văn Biển với dự án trọng điểm quốc gia Khí - Điện -

Đạm Cà Mau

KS Bui Dinh Khuéc - Trung Tam KTTV Biển

Ô nhiễm nước ven biển do nuôi tôm công nghiệp và quảng canh cải

tiến tại tỉnh Cà Mau

KS Nguyễn Thị Kừn Lan - Phân viện KTTV phía Nam

- Báo cáo mạng quan trắc mưa acid khu vực phía Nam - Các hoạt động

và kết quả giám sát

Trần Minh Khôi, Nguyễn Lê Anh Tuấn - Trung tâm Chất lượng Nước

và Môi trường - Phân viện QHKS Thủy lợi Nam bộ

Nghiên cứu tính toán sạt lở bờ vùng ven biển Nam Bộ dưới tác động

của sóng

KS Hồ Ngọc Sang, Phân viện KTTV phia Nam, KS Nguyễn Thế

Phong - Đài KTTV khu vực Nam bộ

Xử lý và tái sử dụng nước thải

TS Nguyễn Thị Lan - Khoa Môi trường, Trường ĐHBK TP HCM

Trang 6

Biến động lượng mưa khu vực đồng bằng sông Cửu Long

Ths Lương Văn Việt - Phân viện KTTV phía Nam

Sử dụng chất xúc tác để đẩy nhanh quá trình xử lý kị khí của nước

thải đệt nhuộm

Thể Tôn Thất Lãng - Trường Cán bộ KTTV TP HCM

Cơ sở phân vùng ngập lụt và tiêu thoát nước mưa ở nội thành TP HCM

Th$ Trương Văn Hiếu - Phân viện KTTV phía Nam

Nghiên cứu đặc điểm 3 chiều thủy động lực Biển Đông bằng mô hình

TS Dương Hồng Sơn - Trung tâm NC MT & Nước, Viện KTTV V⁄

Đánh giá ảnh hưởng của điều kiện thời tiết đến quá trình sinh trưởng,

phát triển và hình thành năng suất của giống lúa chất lượng cao

KS Luong Đình Tuyển - Phân viện KTTV phía Nam

Giám sắt môi trường và bệnh trong nuôi trồng thuỷ sản ở ĐBSCL,

ThS Lé Hong Phước - Viện nghiên cứu nuôi trồng Thủy Sản lI

Sơ bộ đánh giá tác động của lượng nước thượng nguồn và thủy triểu

đến diễn biến độ mặn trên sông Hàm Luông

KS Nguyễn Văn Trọng - Phân viện KTTV phía Nam

Tiềm năng giảm nhẹ khí nhà kính và cơ hội thị trường của Việt Nam

KS Lê Nguyên Tường - Viện Khí tượng Thủy văn

CD-ROM cơ sở đữ liệu về Phân viện KTTV phía Nam

KS Bảo Thạnh, KS Trần Quang Minh - Phân viện KTTV phía Nam

Vấn đề tiêu thoát lũ phục vụ dự án nâng cấp Quốc Lộ 80 - 63

TS Vũ Văn Tuấn - Viện Khí tượng Thủy văn

Sử dụng 12 thành phần chính của trường nhiệt độ mặt nước biển khu

vực Thái bình đương và Ấn độ dương làm nhân tố dự báo khí hậu ở

Việt Nam

PGS TS Trần Việt Liễn - Viện Khí tượng Thuỷ văn

Tính toán cân bằng tổng lượng lũ năm 2001 ở ĐBSCL,

TS Vũ Văn Tuấn - Viện Khí tượng Thủy văn

Ảnh hưởng của sự phân tầng đến phân bố thắng đứng của tốc độ gió,

nhiệt độ và độ ẩm theo số liệu tháp KT Láng

GS.TS Lé Dinh Quang, NCS Nguyễn Lê Tâm - Viện KTTV

Về mạng lưới giám sát chất lượng nước sông Mê Kông (phân Việt

Trang 7

HỘI THẢO KHOA HỌC THƯỜNG NIÊN NĂM 2003

Năm 2003 là năm kỷ niệm lần thứ 20 ngày thành lập Phan

viện Khí tượng Thủy văn phía Nam Toàn thể CCVC của Phân viện tích cực thực hiện kế hoạch công tác năm 2003 và hưởng ứng nhiều hoạt động chào mừng ngày lễ trọng đại của mình

Hội thảo khoa học là một trong những kế hoạch công tác

quan trọng và thiết thực để báo cáo và trao đổi với các nhà khoa

học đồng nghiệp về các kết quả nghiên cứu, ứng dụng va phục vụ trong các lĩnh vực tài nguyên và môi trường của các cán bộ thuộc Phân viên với các nhà khoa học trong và ngoài ngành

Tuyển tập này tập hợp 22 báo cáo khoa học về nhiều lĩnh

vực với hơn 200 trang, được các nhà khoa học trình bày trong Hội

thảo Khoa học thường niên ngày 24 tháng 7 năm 2003 tại hội trường Phân viện KTTV phía Nam

Ban biên tập xin cám on các nhà khoa học đã gởi báo cáo sớm giúp cho việc biên tập được thuận lợi và dù đã cố gắng, chắc chắn không thể không có những sai sót, chúng tôi rất mong duoc thông cam

TP Hồ Chí Minh, ngày I8 tháng 7 năm 2003

TM Ban biên tập

Phân viện trưởng

Phân viện KTTV phía Nam

Trang 8

PHÂN VIỆN KHÍ TƯỢNG THỦY VĂN PHÍA NAM

Trang 9

HỘI THẢO KHOA HỌC THƯỜNG NIÊN NĂM 2003

CÂN BẰNG NƯỚC TỈNH NINH THUẬN

TS Bùi Đức Tuấn Phân viện Khí tượng Thủy văn phía Nam

I.MỞ ĐẦU

Nằm ở vị trí địa lý từ 11°18'14“ đến 12° 09°15” độ vĩ Bắc và từ 108° 09“08” đến 109 °14°25” độ kinh Đông, Ninh Thuận - một tỉnh ven biển cực Nam Trung Bộ, chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố khí hậu, địa hình, có chế độ thủy văn khắc nghiệt, đặc biệt về nguồn nước, ảnh hưởng đến phát triển kinh tế Vì vậy,

nghiên cứu cân bằng nguồn nước mặt nhằm tìm giải pháp tối ưu cho dân sinh

kinh tế tỉnh là rất cần thiết và cấp bách

II CÂN BẰNG NƯỚC TỈNH NINH THUẬN

1 Số liệu dòng chảy của tỉnh Ninh Thuận rất hạn chế cả về không gian, cả

về thời gian Trong tính có trạm thủy văn Tân Mỹ là trạm có số liệu thực đo về mực nước từ 1978 đến nay, số liệu thực đo về lưu lượng chỉ có năm 1996 Vì vậy, nhằm tính toán quy luật biến đổi đồng chảy trong tỉnh, ở đây đã thực hiện:

- Đối với trạm Tân Mỹ: thành lập chuỗi số liệu 22 năm từ 1979 -2000 trên

cơ sở số liệu lưu lượng tính toán theo tháng của ngành thủy lợi từ năm 1978 -

1993 và số liệu nội suy từ năm 1994 - 2000 (theo đường quan hệ Q =f(H) của năm 1296 và khấu trừ lượng dòng chảy từ hồ Đa Nhim theo sông Ông đổ về)

- Đối với cả tỉnh, tham khảo số liệu lưu lượng của 4 trạm phụ cận ở ngoài tỉnh, là Đá Bàn, Suối Dầu, Đồng Trăng và Sông Lãy Do số liệu lưu lượng thực

đo của 3 trạm tham khảo đầu tiên chỉ có từ 6-13 năm nên đã dùng mô hình TANK dạng cấu trúc đơn kéo dai bổ sung số liệu dòng chảy tháng của các trạm này, thiết lập chuỗi số liệu lưu lượng cho mỗi trạm từ năm 1979 đến năm 2000

- Cấu trúc mô hình TANK dạng đơn mô phỏng lưu vực gồm 4 bể chứa được sắp xếp theo chiều thẳng đứng, mỗi bể chứa gồm một hoặc hai cửa ra ở thành bên và một cửa tháo ở đáy Của ra thành bên mô phỏng thành phần đồng chảy mặt, ngầm tập trung ra lưới Sông Cửa ra ở đầy biểu thi quá trình dòng chay xuống sâu đo các quá trình thấm, thẩm thấu, Thông số chính của mô hình là các

hệ số cửa ra thành bên (AI, A2, BI, C1, DI) và ở đáy (Ao, Bo, Co, Do), các độ

cao ngưỡng cửa ra (HAI, HA2, HB, HC, HD), lượng bão hòa ẩm phần trên (PS),

phần dưới (SS) của bể A, các thông số điều tiết XCH, H, CHI, CH2) Ngoài ra

còn một số thông số tính toán khác Quá trình ứng dụng mô hình TANK cho

khôi phuc dong chảy lưu vực từ mưa qua các bước hiệu chỉnh, xác định thông số

Trang 10

mô hình và theo các thông số xác định được tiến hành khôi phục dòng chảy từ mưa thực đo trong quá khứ

Kết quả ứng dụng mô hình TANK đối với các trạm Đá Bàn, Đồng Trăng, Suối Dầu có độ hữu hiệu của các thông số mô hình theo tiêu chuẩn đánh giá sai

số (%) của Nash- Sutcliffe đạt hơn 80,0%, cho phép khôi phục đồng chảy từ mưa đối với các năm thiếu số liệu

2 Quan hệ mưa năm dong chảy năm khu vực tỉnh Ninh Thuận

Quan hệ mưa năm với dòng chảy năm khu vực tỉnh Ninh Thuận được thiết lập theo phương pháp đồ giải từ các giá trị mưa năm và đòng chảy năm của 5 lưu vực

là Đá Bàn, Đồng Trăng, Suối Dầu, Tân Mỹ và Sông Lũy Quan hệ có đạng:

Y, = 0,96 X, - 665

Trong đó: Yạ: độ sâu đồng chảy năm (mm)

X;: mưa năm (mm)

3 Xây dựng bản đồ đẳng trị dòng chảy năm

Độ sâu dòng chảy của các lưu vực không có số liệu đồng chảy được xác định thông qua quan hệ mưa năm - dòng chây năm của khu vực tỉnh Ninh Thuận được đặt vào trọng tâm các lưu vực và khu vực Kết hợp tham khảo các bản đồ mưa năm cũng như bản đồ địa hình tỉnh, đã xây dựng được bản đồ độ sâu dòng

chảy năm của tỉnh Ninh Thuận

Trang 11

HỘI THẢO KHOA HỌC THƯỜNG NIÊN NAM 2003

4 Cân bằng nước

Nước mưa rơi xuống mặt đất, một phần bốc hơi lên không trung, phần còn lại sinh ra dòng chảy mặt và dòng chảy ngầm cung cấp cho sông suối và đổ ra

biển Xét trong khoảng thời gian đài, lượng mưa chuẩn, độ sâu dòng chảy chuẩn

và lượng bốc hơi chuẩn của các vùng trong tỉnh có quan hệ với nhau theo phương

trình cân bằng nước như sau:

ÄXạ= Yạ+ 2g Trong đó Xụ: Lượng mưa chuẩn bình quân lưu vực (mm)

Yo: DO sau dòng chảy chuẩn bình quân lưu vực (mm)

“4: Lượng bốc hơi thực tế chuẩn bình quân lưu vực (mm)

Trung bình, hàng năm có lượng mưa 1272mm (tương đương 4,274 km? roi xuống tỉnh Ninh Thuận, bị bốc hơi với độ sâu 759 mm (tương đương 2,550 km”), còn lại tạo ra lượng dòng chảy có độ sâu 513 mm (tương đương 1,724 km’) Ngoài ra, còn một lượng dòng chảy bổ sung từ ngoài vào Ninh Thuận là: Từ

sông Tô Hạp khoảng 0,35 km”, Từ hồ Đa Nhim: 0,504 kmỶ, các sông suối khác khoảng 0,100 km’

Như vậy tổng lượng dòng chảy có được 2,674 km” Tính bình quân lượng

nước trên đầu người trong tỉnh trong 1 năm là 5142 mỆ,

Bảng Cân bằng nước các lưu vực trong tỉnh Ninh Thuận

Lưu vực tích Mưa Dchay Bhoi Hệ số dc

FŒ&m? | X(mm) | Y (mm) | Z(mm) địc W(km?)

Ham Leo 88,5 2950 2167 783 0,73 0,192

Da May 105 2920 2138 782 0,73 0,225 Gia Nhong 47,3 2900 2119 781 0,73 0,100

Địa Gốc 192 2850 2071 779 0,73 0,040 Song Sat 4II 1600 871 729 0,54 0,358

Song Ong 203 1700 967 733 0,57 0,196

Sõng Chó Mo 86,6 950 247 703 0,26 0,021 Séng Cha 495 1320 602 718 0,46 0,298 Suối Dâu 49 1110 401 709 0,36 0,020

§ Sa Ra 66,3 850 II 699 0,18 0,010

8 Lanh Ra 227 910 209 701 0,23 0,047 Song Lu 480 910 209 701 0,23 0,100 S.Ba Rau 250 890 189 701 0,21 0,047 Dam Nai 386 700 7 693 0,01 0,003

Các sợ nhỏ 237,5 800 103 697 0,13 0,024

PHAN VIEN KHi TƯỢNG THỦY VĂN PHÍA NAM 7

Trang 12

Ill MOT SỐ Ý KIẾN VỀ SỬ DỤNG TÀI NGUYÊN NƯỚC TỈNH NINH

THUẬN

Sau khi tính cân bằng nước tự nhiên của tỉnh, đối chiếu với những hoạt

động liên quan tới nguồn nước, chúng tôi có một số ý kiến sau:

1 Lãnh thể tỉnh có lượng mưa năm trung bình nhiều năm khoảng

1.272mm (tương đương khoảng 3,825 km”), độ sâu bốc hơi thực tế năm trung

bình nhiều năm 1.020mm, lượng dòng chảy năm trung bình nhiều năm 2,08 km`, được bổ sung khoảng 0,58 km” nước từ hồ Đa Nhim theo sông Ông, khoảng 0,35kmẺ từ tỉnh Khánh Hoà theo sông Tô Hạp và khoảng 0,10km” từ các sông suối nhỏ khác đổ vào Như vậy, trung bình hàng năm tỉnh có khoảng 2, 674km” nước mặt, tương đương 5142m°/người.năm, thấp hơn nhiều so với trung bình của

cả nước (13 000m)/người năm) và trung bình của thế giới (12.000m”/người.năm

2 Nông nghiệp là ngành sản xuất chính trong tỉnh có truyền thống lâu đời, nhưng sản xuất nông nghiệp đòi hỏi lượng nước rất lớn Đối với sẵn xuất nông nghiệp, giải quyết nước là vấn đề quan trọng nhất Các sông ở Ninh Thuận nói

chung nghèo về tổng lượng nước và bất lợi trong phân phối (tập trung chủ yếu

vào một số trận lũ để lại thời gian cạn kiệt kéo đài) Lũ các sông khá đữ đội có sức tàn phá mạnh Vì thế, cần gấp rút tiến hành khảo sát, thiết kế và xây dựng các hồ chứa trong tỉnh (mà trọng điểm trước mắt là xây đựng các hồ Sông Trâu,

hồ sông Sắt, hồ Tân Mỹ, hồ Trà Co) để một mặt trỡ nước cho mùa khô, cất lũ cho hạ du trong mùa lỗ, mặt khác nâng cao mực nước ngầm, cải thiện điều kiện

khí hậu nắng nóng một số nơi

3 Nghiên cứu, áp dụng các phương cách tiết kiệm nước trong khi vấn đảm bảo về năng suất hoặc nhu cầu dùng nước Với tình hình hiện nay, vào vụ hè thu nên tính toán, quy hoạch, chuyển đổi cây trồng; chuyển một số diện tích lúa sang trồng màu để tiết kiệm nước

4 Do đân số ngày càng tăng, kinh tế phát triển, đô thị hóa nhanh nên nhu cầu đùng nước ngày càng nhiều, đòi hỏi một chiến lược khai thác, bảo vệ và phát triển tài nguyên nước Vì vậy, mặc đầu tỉnh may mắn có nguồn nước từ hồ Đa Nhim có thể điều tiết tưới cho phần lớn điện tích canh tác, nhưng việc tiết kiệm nguồn nước cần được đặc biệt quan tâm Tại những vùng đồi gò nên trồng rừng

đầu nguồn xen kẽ đồng cô phát triển chăn nuôi gia súc và những cây công

nghiệp đài ngày trên các vùng đất thích hợp Ở vùng ít mưa (phía đồng bằng ven

biển nên phát triển trồng các cây chịu hạn tốt như cây mía đường, cây bông , cây

nho có nhu cầu nước thấp, hệ số sử dụng nước không cao, cường độ quang hợp

lớn, năng suất tương đối ổn định, bảo vệ đất chống xói mòn tốt, ít kén đất, đồi

đốc vẫn có thể trồng được Tại những nơi bị đe đọa bởi ngập úng, hạn hán thì sự

thâm canh lúa có thể thay bằng trồng các cây lâu niên, cây chịu ngập Và khi có điểu kiện thì thay sản xuất nông nghiệp bằng các loại hình kinh tế thu nhập cao

hơn mà nhu cầu dùng nước thấp hơn như du lịch, chế biến Với tình hình hiện

Trang 13

HOI THAO KHOA HOC THUONG NIEN NAM 2003

nay, vào vụ hè thu nên tính toán, quy hoạch chuyển đổi cây trồng: chuyển một

số điện tích sản xuất lúa sang trồng màu để tiết kiệm nước vì trong mùa kiệt, lượng nước mặt trong tỉnh rất ít, không đủ sản xuất lúa đại trà Nếu không kiên quyết làm thì vào những năm hạn hán sẽ xảy ra những tổn thất không nhỏ

5 Nói chung, do thổ nhưỡng dưới các lớp phủ thực vật có độ thấm nước cao nên tỷ trọng lượng mưa thấm xuống đất để tạo thành dòng chảy ngầm ở các lưu vực sông có rừng che phủ cao hơn so với những lưu vực sông không có rừng Rừng còn có tác dụng chặn lũ, ngăn chặn xói mòn, điều hòa khí hậu Ninh Thuận có thế mạnh về rừng nhưng trong những năm gần đây, diện tích rừng của tỉnh giảm mạnh Tình hình mất rừng đầu nguồn không chỉ làm gia tầng lũ lụt và cạn kiệt mà còn làm làm gia tăng xói mòn, gia tăng hàm lượng chất lơ lửng trong nước ảnh hưởng xấu tới môi trường Vì vậy cần bảo vệ số rừng còn lại, gấp rút khôi phục rừng cũ, phát triển rừng mới bằng việc đưa ra quy định nghiêm cấm các hành vi phá rừng, khai thác gỗ bừa bãi, đốt rấy làm nương, đồng thời khuyến khích trồng rừng (thực hiện giao đất giao rừng với chính sách ưu đãi) ở thượng

nguồn các sông, đặc biệt là thượng nguồn các hồ chứa trong tỉnh

IV KẾT LUẬN

Tỉnh Ninh Thuận có lượng mưa năm trung bình nhiều năm: 1.272mm (tương đương khoảng 3,825 km”), độ sâu bốc hơi thực tế năm trung bình nhiều

năm: 1.020mm, lượng dòng chảy năm trung bình nhiều năm: 2,08 km*, được bổ

sung khoảng 0,58 km” nước từ hồ Đa Nhim theo sông Ông, khoảng 0,35 km’ tir tỉnh Khánh Hoà theo sông Tô Hạp và khoảng 0,10 km° từ các sông suối nhỏ khác đổ vào Như vậy, trung bình hàng năm tỉnh có khoảng 2,674 km” nước mặt, tương đương 5142 m”/người.năm, thấp hơn nhiều so với trung bình của cả nước

(13.000 mỶ/người năm) và trung bình của thế giới (12.000 m”/người.năm)

Với lượng nước ít ỏi như vậy, việc tiết kiệm nước, bảo vệ nguồn nước và phát triển nguồn nước là rất quan trọng Trước hết, cần nhanh chóng xây dựng

các hồ chứa để giữ nước mùa mưa lũ, phục vụ cho mùa khô cạn; cần thiết chuyển

đổi một số điện tích tham canh lúa sang các loại màu, cây công nghiệp có giá trị kinh tế cao hơn lúa nhưng tiêu thụ ít nước ngọt hơn; phát triển các loại ngành kinh tế tiêu thụ ít nước ngọt (ngành nuôi trồng thủy, hải sản nước mặn, nước lợ, ngành du lịch ); tìm nguồn nước bổ sung (mở rộng phạm vi hồ Đa Nhim, khai thác nước ngẩm ), bảo vệ nguồn nước hiện có (khôi phục rùng đầu nguồn,

không khai thác nước ngầm vùng ven biển), kiểm soát và giám sát chất lượng nước

Trang 14

TAI LIEU THAM KHAO

1 Viện khí tượng thủy văn - Đặc trưng hình thái lưu vực sông Việt Nam Tổng

cục khí tượng thủy văn, Hà Nội, 1985

2 Đài khí tượng thủy văn Ninh Thuận - Khí hậu Ninh Thuận Uỷ ban Khoa học

Kỹ thuật Ninh Thuận, 1985

3 Lê Trực- Đánh giá tài nguyên nước mặt miền Đông Nam Bộ và khu Sáu Phân Viện Khảo sát quy hoạch thủy lợi Nam Bộ, Bộ Thủy lợi Tp HCM, tháng X - 1993

4 Bùi Đức Tuấn và tập thể kỹ sư Đài khí tượng thủy văn Phú Khánh - Đặc điểm thủy văn sông ngòi tỉnh Phú Khánh Để tài nghiên cứu khoa học Đài KKTTV

Phú Khánh & UBKHKT Phú Khánh, Nha Trang, 1987

5 Bùi Đức Tuấn - Estimation of design flood for some rivers for coastal region

of VietNam by emperical method Special problem Roorkee University, India, 1987

6 Bùi Đức Tuấn - Tính toán số liệu thủy văn phục vụ chọn thời gian gieo sạ lúa

hè thu tỉnh Tiền Giang Đề tài nghiên cứu khoa học Phân viện khí tượng Thủy văn tại

Tp HCM - 1991

71 Bài Đức Tuấn - Tình hình một số yếu tố khí tượng thủy văn tỉnh Phú Yên

Báo cáo khoa học, Viện Kỹ thuật nhiệt đới, 1994

8 Bùi Đức Tuấn - Đánh giá tài nguyên nước và môi trường nước hai tỉnh Phú Yên, Khánh Hòa Luận án PTS khoa học địa lý địa chất, Hà Nội 1996

9 Bùi Đức Tuấn - Cân bằng nước bai tỉnh Phú Yên và Khánh Hòa miền Trung

Việt Nam Báo cáo khoa học Tuyển tập các báo cáo khoa học Hội thảo khoa học nhân

kỷ niệm 15 năm thành lập Trung Tâm KTTV phía Nam (1983-1998) Tp Hồ Chí Minh

1998

10 Bùi Đức Tuấn, Phạm Ngọc Toàn - Đặc điểm khí hậu và thủy văn tỉnh Khánh Hòa Đề tài nghiên cứu khoa học Trung Tâm KTTV phía Nam, 1995

11 Phùng Chí Sỹ, Trương Văn Hiếu, Nguyễn Văn Trọng - Đặc điểm khí hậu và

thủy văn tỉnh Tây Ninh Đề tài nghiên cứu khoa học Trung Tâm KTTV phía Nam,

2000

12 Bùi Đức Tuấn - Cân bằng nước hồ Dầu Tiếng Tây Ninh, Đề tài nghiên cứu

khoa học Trung Tâm KTTV phía Nam, 2002

PHÂN VIỆN KHÍ TƯỢNG THỦY VĂN PHÍA NAM 10

Trang 15

HOI THAO KHOA HOC THUONG NIEN NAM 2003

Tóm tắt

Sự thiếu nước luôn là nguyên nhân chính dẫn đến sự sa mạc hóa một vùng đất

nào đó Mặc dầu Ninh Thuận là một tỉnh giàu tiêm năng và đang trên bước đường khai

thác các tiêm năng đó Nhưng tỉnh lại thiểu nước ngọt trầm trọng Vì vậy, vấn đề đặt

ra là cần tính toán cân bằng nước của tỉnh nhằm tìm ra phương cách sử dụng tối ưu

nguồn nước

Abstract

Water lacking is always the main reason leading to dessertification of an area Although Ninh thuan is a province with potentials which are expected to be under exploitation, it lacks fresh water Therefore, it is proposed that water resources in the area should be evaluated in water balance and optimal method of using the water resources Should be found

Trang 16

PHÂN VIỆN KHÍ TƯỢNG THỦY VĂN PHÍA NAM 12

Trang 17

HOI THAO KHOA HOC THUONG NIEN NAM 2003

GIOI THIEU PHUONG PHAP DOWNSCALING

VÀ ỨNG DỤNG TRONG DỰ BÁO KHÍ HẬU

TS Nguyễn Văn Thắng

Viện Khí tượng Thuỷ văn

1 LỜI GIỚI THIỆU

Nhờ có sự trao đổi giữa bể mặt với các lớp của đại dương, nên nhiệt độ

mặt nước biển (SST) thường thay đổi một cách chậm chạp, nhưng có tác động

mạnh đến hoàn lưu khí quyển cỡ lớn (xem hình1) Chính sự thay đổi chậm chạp

đó lại là cơ sở để phát triển khả năng dự báo khí hậu mùa [1] Đựa vào khả năng này mà nhiều phương pháp dự báo mới được hình thành và trở thành nghiệp vụ

dự báo mùa cho toàn cầu

Khác với dự báo thời tiết, trong dự báo khí hậu (DBKH) mô hình hoàn lưu

chung khí quyển (AGCM) không thể chạy độc lập đưa ra dự báo tốt được, mà

cần kết nối với mô hình đại dương hoặc kết nối với nguồn đầu vào là trường SST

đã được dự báo trước và thường được gọi là các mô hình hoàn lưu chung (General Circulation Model - GCM), và khi nhấn mạnh về DBKH vẫn được gọi

là mô hình khí hậu toàn cầu (Global Climate Model - GCM)

Mặc di GCM ngày càng được hoàn thiện bao gồm cả trên phạm vi không gian và thời gian, và tuy công suất máy tính tiếp tục được nâng cao, nhưng vẫn chưa đảm bảo chạy GCM cho độ phân giải rất cao theo yêu cầu của các nghiên cứu đánh giá tác động Do đó, cần phải có một phương pháp để hạ thấp phạm vi (downscale) kết quả dự báo trên các ô lưới tương đối thô (khoảng cách 250 km) của GCM xuống lưới không gian phân giải cao hơn (10 - 20 km), Nghĩa là downscale từ các DBKH phạm vi rộng lớn xuống phạm vi không gian cụ thể do người sử dụng thông tin dự báo yêu cầu; ví dụ, downscale từ hoạt động hoàn lưu trung bình mùa cỡ lớn như thay đổi cường độ của hoàn lưu gió mùa xuống diễn biến của cường độ và tần suất bão, tiếp theo là dòng chảy lớn nhất của sông

Việc tạo lập các thông tin dự báo theo những nét đặc trưng nói trên được BỌI một tên chung là Downscaling, mà chủ yếu là Downscaling DBKH mia -

nam

2 CAC PHUONG PHAP DOWNSCALING

Trên thực tế, downscaling được thực hiện trong 2 lĩnh vực kết hợp với

nhau, đó là:

PHẦN VIỆN KHÍ TƯỢNG THỦY VĂN PHÍA NAM

13

Trang 18

- Lĩnh vực khí tượng để biểu diễn khả năng dự báo những nét đặc trưng

khí hậu mà có quan hệ gần gũi với các khía cạnh của vấn đẻ ứng dụng; ví dụ,

tổng lượng mưa mùa cho một vùng nhỏ cụ thể hoặc thậm chí 1 điểm, số lượng

bao, s6 dot han (dry spells)

- Lĩnh vực ứng dụng (hậu quả) để biểu điễn khả năng dự báo những những

nét đặc trưng liên quan trực tiếp đến các ứng dụng khí hậu; ví dụ, phân bố dòng chảy, mùa vụ ‘

Lĩnh vực đầu tiên được đánh giá là rất quan trọng đang tập trung nghiên cứu và thử nghiệm khả năng dự báo Còn ngược lại, khả năng dự báo những đặc trưng tác động đến mùa vụ trên phạm vi nông trường (cho người nông đân) chưa

chắc chắn và sẽ là mạo hiểm để thực hiện nghiệp vụ dự báo mùa vụ cho nhà

nông và sử dụng thông tin đó để đưa ra các quyết định, nếu đầu tiên không đánh

giá khả năng dự báo khí quyển đã được downscale

Phương pháp downscaling được tiến hành theo 2 phương thức tiếp cận phân chia thành downscaling thống kê và động lực

2.1 Downscaling thống kê

a Tiếp cận thuần tuý thống kê voi downscaling

Cách tiếp cận downscaling đơn giản nhất là tạo ra dạng yếu tố dự báo và liên hệ yếu tố đó với các nhân tố biết trước là có mối quan hệ vật lý với khí hậu khu vực; ví dụ, yếu tố dự báo có thể là dòng chảy hoặc mùa vụ, nhân tố dự báo

có thể là SST như chỉ số SST vùng NINO3 Để thực hiện có hiệu quả cách tiếp

cận này thì cần có các điều kiện sau:

- Các nhân tố xác thực đại điện cho khí hậu phạm vi lớn có được từ mô

hình và các nghiên cứu chuẩn đoán

- Chắc chắn rằng khả năng dự báo khí quyển cỡ lớn qui tụ vào (cascade

into) khả năng dự báo đặc trưng quan tâm (có mối quan hệ chặt chẽ với nhau)

b Giới hạn của tiếp cận thống kê thuần tuý

Tuy nhiên, nhiều khi chưa có kiến thức chắc chắn về sự qui tụ đự báo hoàn lưu cỡ lớn vào đặc trưng dự báo quan tâm; ví dụ, muốn làm dự báo cho một trạm riêng lẻ như trạm mưa chẳng hạn thì cần xác định được nhân tố mà có cơ sở vat

lý tốt về ảnh hưởng tới lượng mưa phạm vi lớn trong vùng Khi tính toán kỹ năng của các nhân tố thống kê dự báo cho từng trạm sẽ có sự đao động các mức kỹ

năng do kích thước của mẫu số liệu nhỏ (thường chỉ khoảng 30 năm số liệu để

tính tương quan) Lúc đó phương án tốt nhất là giả thiết tất cả các trạm trong vùng có cùng một mức quan hệ với nhân tố dự báo Điều đó được xem như là cách tiếp cận trước tiên để hình thành đự báo phân dải cao Nghĩa là, giá thiết có cùng dự báo chuẩn sai cho cả vùng quan tâm, sau đó cần bổ sung chuẩn sai đó

thông qua kiến thức về diễn biến khí hậu theo không gian; ví dụ, trước sườn đón

gió của dãy núi trong khu vực thường có lượng mưa nhiều hơn trong vùng, còn

PHẦN VIÊN KHÍ TƯỢNG THỦY VĂN PHÍA NAM

14

Trang 19

HỘI THẢO KHOA HỌC THƯỜNG NIÊN NĂM 2003

Biết rằng, GCM có thể mô phỏng dao động lượng mưa theo không gian và các đặc trưng thời gian như các đợt khô hạn, bão Tuy nhiên, không thể mong đợi nhiều với kết quả đầu ra hiện tại (raw outpuÐ từ GCM do độ phân dải phương ngang rất thô của mô hình như nói ở trên khoảng 250 km Do đó, cần phải downscaling xuống độ phân dải cao khoảng 10 - 50 km Thật lý tưởng nếu chạy mô hình toàn cầu ở độ phân dải cao, nhưng trở ngại lớn về tính toán (công suất máy tính) và điều nữa là cần có các tham số khác nhau cho mỗi khu vực

khác nhau để đưa ra kết quả xác thực Có 2 cách để downscaling động lực là

chạy GCM với độ phân dải thay đổi (variable resolution) và xây dựng mô hình khí hậu khu vực (RCM) để chuyển output của GCM vào RCM

a GCM với độ phân dải thay đổi

Hướng tiếp cận này là xây dựng GCM với độ phân dải sao cho người sử dụng chạy mô hình có thể chỉ định khu vực quan tâm có độ phân dải cao nhất Cách tiếp cận này là khoảng cách điểm lưới phương ngang của mô hình toàn cầu được lọc một cách từ từ về phía khu vực được chọn có độ phân dải cao nhất; ví

dụ, vàng có độ phân dải thích hợp được chọn là nước Mỹ hoặc vùng từ 25° đến 50° N va 125° dén 75° W [2]

b Mô hình khí hậu khu vực

Phương pháp chung nhất hiện nay sử dụng để khai thác khả năng dự báo theo downscaling với mô hình khí hậu thường gọi là “mô hình khí hậu khu vực” (RCM) Các mô hình RCM giống như GCM, nhưng được điều chỉnh để giải quyết các quá trình khí hậu phạm vi nhỏ hơn và được thực hiện cho một khu vực địa lý chọn trước RCM chịu ảnh hưởng của nguồn dữ liệu phạm vi lớn hàng ngày từ GCM trong thời kỳ dự báo, các phương trình vật lý và động lực của RCM sau đó được giải cho hoàn lưu phạm vi nhỏ hơn dựa vào nguồn cấp thông

tin dự báo phạm vi lớn của GCM Việc thực hiện các mô hình RCM là sự lựa

chọn thực hành tốt nhất để nghiên cứu downscaling động lực liên quan tới mô hình toàn cầu Tập hợp các thông tin dự báo ở độ phân giải tới 20 km hoặc cao

hơn có thể được chạy trên máy tính cá nhân, trong khi đó chạy mô hình toàn cầu

ở độ phân giải như vậy cần phải có nguồn máy tính mạnh nhất thế giới Tuy nhiên, việc xây dựng mô hình RCM cho một khu vực cụ thể đòi hỏi kinh nghiệm

và chuyên môn nghiệp vụ cao (xem báo cáo chuyên đề “Tìm hiểu các mô hình động lực và đánh giá khả năng ứng dụng trong dự báo khí hậu ở Việt Nam” thuộc để án “Thử nghiệm dự báo khí hậu ở Việt Nam”, Trung tâm Nghiên cứu

PHÂN VIỆN KHÍ TƯỢNG THỦY VĂN PHÍA NAM

Trang 20

Khí hau, Vién KTTV) Hình 3 giới thiệu hệ thống dự báo khí hậu của Viện Nghiên cứu Quốc tế về dự báo khí hậu (R1) của Mỹ

3 ÁP DỤNG DOWNSCALING TRONG DỰ BÁO KHÍ HẬU Ở VIỆT

NAM

Ở khu vực Đông Nam Á nói chung và Việt Nam nói riêng, chưa xây dựng được mô hình khí hậu khu vực đặc trưng Nghĩa là phương pháp tiếp cận downscaling động lực còn đang trong giai đoạn tìm hiểu, nghiên cứu Do dé du báo khí hậu đang thực hiện theo phương thức tiếp cận downscaling thống kê

Sau đây trình bày thử nghiệm DBKH cho tỉnh Quảng Trị theo phương phap downscaling théng kê:

- Số liệu: sử dụng số liệu quan trắc và dự báo từ mô hình GCM về chuẩn

sai nhiệt độ mặt nước biển (SSTA) và áp suất bể mặt nước biển (SLPA) từ năm

1950 đến 2000 đã được phân tích lại theo ô lưới 2,5° x 2,5° kinh - vĩ để downscaling; sử dụng số liệu nhiệt độ và lượng mưa tháng của 5 trạm (Đồng Hới, Cồn Cỏ, Đông Hà, Khe Sanh và Huế) thời kỳ 1950 - 2000 để tính chỉ số nhiệt và mưa mùa (3 tháng) cho cả vùng

- Phương pháp và các phần mềm ứng dụng: downscaling thống kê, thẩm tra dự báo (Forecast Verification) và các bộ phần mềm GrADS, X-Win32,

SySTATIO, NcBrowse (hinh 4 - 10)

- Kết quả dự báo nhiệt và mưa cho 2 mùa (tháng IX, X, XI va XII, I, 1)

theo các phương trình hồi qui;

R_sonsd = -0.021 + 0.549 x tal44_08Jul - 0.001 x pal25_37Jun

T_sonsd = -0.197 + 0.656 x ta230_05Jul

R_djfsd = 0.052 + 0.438 x ta185_28Jan - 0.003 x pal70_24May

T_djfsd = -0.394 + 0.973 x tal110_20Feb + 0.002 x pa090_ 15Eeb

Trong đó:

R sonsd,T_sonsd là các chỉ số mưa và nhiệt đối với mùa tháng IX, X, XI

R_djfsd, T_djfsd - tương ứng đối với mùa thắng XII 1, 1T

tal44_O08Jul la SSTA thang VII tai ving 144-157°E, 02-08°N

pal25_37Jun la SLPA thang VI tai ving 125-135°E, 42-37°S

1a230_O5Jul la SSTA tháng VII tai vung 130-1 10°W, 05°S-05°N

tal85_28Jan la SSTA thang I tai ving 175-170°W, 23-28°N

pal70_24May là SUPA tháng V tại vùng 170-175°E, 19-24°N

tall0_20Feb la SSTA thang II tai ving 110-115°E, 15-20°N

pa090_15Feb là SLPA thang IT tai viing 90-95°E, 20-15°S

PHAN VIEN KHI TUONG THUY VAN PHIA NAM 16

Trang 21

HỘI THẢO KHOA HỌC THƯỜNG NIÊN NĂM 2003

Ví dụ: Dự báo được lượng mưa mùa tháng IX, X, XI năm 2001 là khoảng

1442 mm, nằm trong mức cận chuẩn với xác suất 36.8%; còn nhiệt độ là 24.6 °C cũng trong mức cận chuẩn với xác suất 44.5%,

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Nguyễn Văn Thắng, Trương Đức Trí, Đỗ Văn Mẫn Về cơ sở khoa học của dự

báo khí hậu mùa - năm dựa vào trường nhiệt độ mặt nước biển Tuyển tập báo ˆ

cáo Hội nghị Khoa học Viện KTTV lần VII Hà Nội, 3/2002

2 Liquang Sun Issues in Regional Climate Modeling IRI, Jan 2001

TOM TAT

Khả năng dự báo khí hậu mùa được sâng tả khi mình chứng được tác động của chuẩn sai nhiệt độ mặt nước biển (SSTA ) đến hoàn lưu khí quyển mùa cỡ lớn Dựa vào khả năng này mà nhiều phương pháp dự báo mới được hình thành và trở thành nghiệp

vụ dự báo mùa cho toàn cầu

Mặc dù GCM ngày càng được hoàn thiện bao gâm cả trên phạm vi không gian

và thời gian, và tuy công suất máy tính tiếp tục được nâng cao, nhưng vẫn chưa đẩm bảo chạy GCM cho độ phân giải rất cao theo yêu câu của các nghiên cứu đánh giá tác

động Do đó, cần phải có một phương pháp để hạ thấp phạm vì (downscale) kết quả dự

báo trên các ô lưới tương đối thô (khoảng cách 250 km) của GCM xuống lưới không gian phân giải cao hơn (10 - 20-km)

Có 2 phương pháp downscaling: Kỹ thuật downscaling động lực (hoặc lập mô hình khí hậu khu vục) kết nối các thông tin khu vực với dit liệu phạm vì lớn của mô

Trang 22

hinh GCM dựa vào việc lập mô hình các quá trình động luc khí hậu khu vực, và downscaline thống kê dựa vào mối quan hệ thực nghiệm giữa các biến khí quyển phạm

vỉ lớn được quan trắc (hoặc phân tích) với các yếu tố quan trắc (hoặc phân tích) môi trường bề mặt (hoặc khí tượng)

Báo cáo trình bày kết quả thử nghiệm DBKH cho tỉnh Quảng Trị theo phương pháp downscaling thống kê: dự báo nhiệt và mưa cho 2 mùa (tháng IX, X, XI và XI, 1, 1H)

Abstract

The predictability in the seasonal climate is clearest evidence when the impact

of sea-surface temperature anomalies (SSTA) on seasonal large-scale atmospheric circulations is proven Based on this discovery, many new seasonal forecast methods are generated and become operational in the global climate prediction

Although Global Climate Models (GCM) will become more comprehensive in their coverage of spatial and temporal scales and computing power will continue to be improved, the need to incorporate more complex physical interactions in the global models will continue to preclude running these models at very high resolution needed for impact studies So, there will be a continuing requirement for methods to

“downscale” the model predictions from relatively coarse grids of the global models (typically about 250km grid-point spacing), to the high spatial resolution (10-20km) required for impact studies

Two broad categories of downscaling methods exist: dynamical downscaling (DD) techniques (or regional climate modeling), involving the extraction of local scale information from large-scale GCM data based on the modeling of regional climate dynamical processes, and statistical (or empirical) downscaling (SD) procedures that relied on the empirical relationships between observed (or analyzed) large-scale atmospheric variables and observed (or analyzed) surface environment (or meteorological) parameters

The results of an experimental climate prediction for Quang Tri Province based

on SD method are shown in the report: seasonal rainfall and temperature prediction

(September-October-November and December-January-February)

PHAN VIEN KHI TUONG THUY VAN PHIA NAM 18

Trang 23

HỘI THẢO KHOA HOC THUONG NIEN NAM 2003

Hình 2: Sơ đồ mô tả ảnh hưởng của vật chắn (dãy núi) đến phân bố lượng mưa ở _

phía đón gió và khuất gió

—>

heating requires vertical velocity (Gill, 1980)

Trang 24

i USERS AND POLICY MAKERS

DISASTER MANAGEMENT WATER RESOURCES AGRICULTURE

FISHERIES HEALTH

Hình 4: Phân bố đẳng trị hệ số tương quan giữa R_sonsd với SSTA

tháng VH QtriR_sonSSTcorr12

ss Š | i | ] I T Tee 0.8 -0.7 ~0.6 -0.5 -O4°-0.3°-02 6.2 63 04 05 0.6 07 0.8

PHÂN VIỆN KHÍ TƯỢNG THỦY VĂN PHÍA NAM 20

Trang 25

HỘI THẢO KHOA HỌC THƯỜNG NIÊN NĂM 2003

Hình 6: Phân bố đẳng trị hệ số tương quan giữa T_sonsd với

SSTA thang VII

Trang 26

Hình 7: Phân bố đẳng trị hệ số tương quan giữa R_ djfsd với

Trang 27

HOI THAO KHOA HOC THUONG NIEN NAM 2003

Trang 28

PHÂN VIỆN KHÍ TƯỢNG THỦY VĂN PHÍA NAM 24

Trang 29

HỘI THẢO KHOA HỌC THƯỜNG NIÊN NĂM 2003

NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA MỘT SỐ YẾU TỐ KHÍ TƯỢNG ĐẾN

KHẢ NĂNG ĐẬU HẠT CÂY NGÔ LAI TRONG VỤ ĐÔNG XUÂN

VUNG DONG NAM BO

TS Bui Việt Nữ

KS Chiéu Kim Quynh Phan vién Khi tuong Thay van phia Nam

I- DAT VAN DE

Hiện tượng ngô không hạt xuất hiện lần đầu tiên ở vụ đông xuân năm

1997-1998 tại Đắc Lắc, Khánh Hoà, Bình Thuận; Tây Ninh (xuân hè 1998),

Ninh Thuận (đông xuân 2000-2001) Như vậy hiện tượng ngô không hạt chủ yếu xây ra ở những diện tích gieo trồng trong mùa khô ở Tây Nguyên, Duyên hải

Miền Trung và ving Dong Nam Bo

Hiện tượng ngô không hạt không những gây thiệt hại về mặt kinh tế cho người dân trồng bắp mà còn ảnh hưởng tới uy tín của các công ty sản xuất giống

Nhằm góp phần làm rõ nguyên nhân và cung cấp thêm cơ sở khoa học cho các nhà nghiên cứu nông nghiệp trong việc xây dựng quy trình kỹ thuật trồng ngô tại các vùng sinh thái, trong hai năm từ năm 2001 đến 2003 chúng tôi đã tiến hành để tài: ” Nghiên cứu ảnh hưởng của một số yếu tố khí tượng đến khả năng đậu hại cây ngô lai trong vụ đông xuân vùng Đông Nam Bộ”

H- NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1- Nội dung nghiên cứu

- Nghiên cứu khả năng thích nghỉ của giống ngô lai đơn LVN-10 trong vụ

đông xuân tại Long Thành Đồng Nai và xác định thời vụ gieo trồng thích hợp

- Khảo sát một số yếu tố khí tượng (tốc độ gió, nhiệt độ, ẩm độ, lượng

mưa) trong giai đoạn hình thành bông cờ và giai đoạn trổ cờ phun râu đến khả năng đậu hạt của giống ngô LVN - 10 trong vụ đông xuân,

- Nghiên cứu tác động của một số yếu tố khí tượng (nhiệt, ẩm) trong giai đoạn hình thành bông cờ và trổ cờ phun râu đến khả năng đậu hạt và năng suất

ngô trong vụ đông xuân

PHAN VIÊN KHÍ TƯỢNG THỦY VĂN PHÍA NAM 25

Trang 30

2.2-Phương pháp nghiên cứu

*/ Bố trí thí nghiệm đồng ruộng: Thí nghiệm được bố trí theo khối đây

đủ ngẫu nhiên với 3 lần lặp lại Tổng cộng có 5 đợt gieo thí nghiệm mỗi đợt cách

nhau 10 ngày Mỗi thí nghiệm gồm hai nghiệm thức:

Nghiệm thức I - đảm bảo đủ ẩm trong suốt quá trình sinh trưởng

Nghiệm thức 2 - vào giai đoạn hình thành bông cờ và giải đoan trổ cờ,

tưới theo định kỳ (5 ngày Hần)

*/ Khảo sát tiểu khí hậu đồng ruộng: Các ốp quan trắc: 8h, 9h, 10h, 11h, 12h

*/ Xử lý số liệu: Số liệu thí nghiệm đồng ruộng được xử lý trên máy vi

tính theo phần mềm thống kê SPSS 10.0

II - KẾT QUÁ NGHIÊN CỨU

3.1- Xác định tỷ lệ đậu hạt

Trong điều kiện tối ưu, một bắp ngô có 14 hàng, trên mỗi hàng có thể có

từ 30 - 33 hạt Như vậy số hạt trên mỗi bắp dao động từ 420 - 460 hạt Ở đây chúng tôi lấy 440 hạt làm giá trị chuẩn để so sánh và xác định tỷ lệ đậu hạt Số lượng hạt trên bắp được trình bày trên bảng l1

~- Trong cùng một thời vụ gieo trồng, tỷ lệ đậu hạt trong nghiệm thức giữ

đủ ẩm luôn có giá trị cao hơn nghiệm thức tưới theo định kỳ

- Đợt gieo 19/12/2001 có tý lệ đậu hạt cao nhất, như vậy chứng tỏ rằng

trong 5 đợt thí nghiệm, các yếu tố khí tượng trong giai đoạn trổ cờ phun râu của đợt gieo này là phù hợp cho qúa trình thụ phấn của cây hơn các đợt gieo khác

Như vậy tại Long Thành - Đồng Nai, trong vụ đông xuân thời vụ gieo trồng phù

hợp nên kết thúc vào giữa tháng 12

- Để đánh giá ảnh hưởng của thời vụ gieo trồng và phương thức tưới trong giai đoạn trổ cờ phun râu đến tỷ lệ đậu hạt, chúng tôi tiến hành phân tích phương sai hai nhân tố với ba lần lặp lại

F (dot gieo) = 270.2678 > Foo; = 4.35125

F (nghiệm thức) = 110.7301 > Fo, = 2.866081

F (đợi gieo x nghiệm thức) = 3.0701 17 > 2.866081 Kết qủa phân tích cho ta thấy có sự khác biệt rất rõ về số hạt giữa các đợt gieo và giữa hai phương thức tưới

PHÂN VIỆN KHÍ TƯỢNG THỦY VĂN PHÍA NAM 26

Trang 31

HOI THAO KHOA HOC THUONG NIEN NAM 2003

Neniem Số bắp ngô | Số hạt Prooohat | Ty 16 dauhat

Ngày gieo TB/cây | TB/bấp () (%)

3.2- Tìm hiểu ảnh hưởng của một số yếu tố khí tượng đến tỷ lệ đậu hạt

3.2.1 - Tác động của các yếu tố khí tượng trong giai đoạn trổ cờ phun

*- Gió: Tốc độ gió tại các ốp quan trắc trong suốt thời gian khảo sát

thường rất nhỏ (0-2m/s), tốc độ trên rất phù hợp cho quá trình tung phấn của

bông cờ và nhận phấn của râu ngô, vì vậy gió trong giai đoạn này không phải là yếu tố hạn chế đến quá trình thụ phấn của cây

*- Mina: Không có mưa trong suốt vụ đông xuân 2001-2002

Vụ đông xuân 2002-2003 có 3 trận vào các ngày

12/3/2003 với lượng mưa đo được : 13mm

Trang 32

Hai trân mưa vào ngày 12/3 và 13/3 có tác động tích cực đến quá trình thụ

phấn của cây ngô trong đợt gieo ngày 15/1/2003

*_ Am dé khong khí:

- Trong các ốp quan trắc, ốp 8h và 9h có độ ẩm thích hợp cho quá trình thụ phấn của ngô, các ốp 10h, 11h, 12h tại một số ngày có độ ẩm không khí khá thấp (<50%) không thuận lợi cho quá trình đậu hạt của ngô

- So sánh độ ẩm giữa hai phương thức tưới, độ ẩm ở ruộng tưới đủ ấm luôn

có giá trị cao hơn ruộng tưới theo định kỳ Sự chênh lệch này trung bình dao

động từ 4% đến 5%, tuy nhiên cũng có một số ngày chênh lệch độ ẩm lên đến 10%

- Tác động của ẩm độ không khí đến qúa trình thụ phấn của ngô trong cả 2

vụ đông xuân 2001- 2002 và 2002-2003 đều không mạnh Trong các ốp quan

trắc, hệ số tương quan giữa ẩm độ không khí trung bình (r„) và độ ẩm tối thấp

(r„) với số hạt trên bắp tại các thời điểm quan trắc đều cho giá trị rất thấp (<0.3)

* Nhiệt độ: Biến trình nhiệt ẩm trên hai nghiệm thức ở các ốp quan trắc khác nhau trong hai vụ thí nghiệm cho chúng tôi có một số nhận xét sau: Nền nhiệt độ vụ đông xuân 2002-2003 cao hơn đông xuân 2001- 2002

+/ Vụ đông xuân 2001-2002: mặc dù biến trình nhiệt giai đoạn trổ cờ phun râu của cả ba đợt gieo đều có xu hướng tăng dần, song số ngày có nhiệt độ không khí lớn hơn hoặc bằng 35°C chỉ quan sát thấy lúc 12h trong 4 ngày cuối thời kỳ trổ bông của đợt gieo 9/1/2002 Như vậy nhiệt độ trong vụ đông xuân 2001-2002 không phải là yếu tố ảnh hưởng lớn đến tỷ lệ đậu hạt của ngô đặc biệt

ở hai vụ gieo đầu

Kết quả đo đếm số hạt trên bắp cho thấy, số hạt trên bắp có sự khác biệt nhiều giữa các thời vụ gieo trồng và giữa hai phương thức tưới Ngay trong nghiệm thức giữ đủ ấm của đợt gieo đầu là đợt gieo có điều kiện nhiệt khá thuận lợi cho quá trình thụ phấn của ngô nhưng tỷ lệ đậu hạt cũng chỉ đạt 93% Điều này khiến cho chúng tôi suy nghĩ rằng có lẽ ngưỡng nhiệt độ tác động xấu đối với quá trình thụ phấn của ngô trong vụ đông xuân vùng Đông Nam Bộ có lẽ có giá trị thấp hơn 35°C

+ Đông xuân 2002-2003: Ngay từ 9h sáng đã có một vài ngày có nhiệt độ

vượt trên 30°C và từ các ốp quan trắc 10h, 11h, 12h thì hầu hết các ngày đều có

nhiệt độ trên 30°C và đã có những ngày nhiệt độ lên đến 38°C Rõ ràng chế độ nhiệt, ẩm như trên đã ảnh hưởng xấu đến khả năng thụ phấn làm hạt của ngô

Số liệu đo đếm số hạt/bắp và tính tỷ lệ đậu hạt đã chứng minh nhận định trên Điều đáng lưu ý rằng, ở những nghiệm thức đảm bảo đủ ẩm tuy tỷ lệ đậu hạt khá hơn nhiều so với các nghiệm thức tưới định kỳ nhưng cũng chỉ đạt 70-

80% Như vậy theo chúng tôi việc đảm bảo đủ ẩm dưới gốc chưa đủ khả năng tạo

PHAN VIEN KHÍ TƯỢNG THỦY VĂN PHÍA NAM 28

Trang 33

HOI THAO KHOA HOC THUONG NIEN NAM 2003

ra môi trường tiểu khí hậu tốt cho sự thụ phấn của ngô đặc biệt trong những ngày nắng gắt

+ÍĐánh giá ảnh hưởng của nhiệt độ đến khả năng đậu hạt của ngô

Ở ốp quan trắc lúc 8h, không thấy có sư chênh lệch lớn về nhiệt độ cũng

như ẩm độ giữa hai nghiệm thức giữ đủ ẩm và tưới định kỳ Thậm chí vào một số

ngày (chủ yếu trong những đêm trời trong quang mây) còn quan trắc thấy ở

nghiệm thức tưới định kỳ nhiệt độ không những không cao hơn mà còn thấp hơn

nghiệm thức giữ đủ ẩm và độ ẩm thì cao hơn Nhiệt độ tại thời điểm này không

có ngày nào vượt qúa 27.6°C, nên nhiệt trên chưa phải là tối ưu nhưng cũng

không gây hại cho quá trình thụ phấn của cây

Từ ốp quan trắc 9h đến ốp 12h, nhiệt độ không khí đo được của bên

nghiệm thức tưới định kỳ luôn có giá trị cao hơn nhiệt độ bên giữ đủ ẩm và sự

chênh lệch nhiệt giữa hai nghiệm thức ngày càng gia tăng khi càng về trưa Đối với độ ẩm không khí lại có giá trị ngược lại Trong điều kiện thời tiết khí hậu vụ đông xuân vùng Đông Nam Bộ, cây ngô tung phấn mạnh lúc 9h và 10h, chính vì vậy nhiệt độ và ẩm độ trong thời gian này ảnh hưởng rất lớn đến tỷ lệ đậu hạt của cây

Hệ số tương quan giữa số hạt trên bắp và nhiệt độ tối cao giai đoạn trổ cờ có giá

Các số liệu trên cho ta thấy rằng nhiệt độ có tương quan rất chặt với tỷ lệ

đậu hạt Trong các thời điểm quan trắc, ốp 9h, 10h là các thời điểm mà nhiệt độ

ảnh hưởng rất lớn đến tỷ lệ đậu hạt của ngô

Từ những nhận định trên chúng tôi xây dựng phương trình hồi quy giữa số hạt trên bấp với nhiệt độ tối cao lúc 9h, 10h Phương trình có dang như sau:

hạt trên bắp với nhiệt độ tối cao lúc 9h, 10h và 11h

Trang 34

Tác động tổng hợp giữa độ ẩm tối thấp và nhiệt độ tối cao giai đoạn trổ cờ

tới tỷ lệ đậu hạt có thể minh hoạ bằng phương trình hồi quy có đạng như sau:

Y=1622.136-57.504Tmax9h- 4.498Umin9h +16.685Tmax10h + 3.531Umin10h

R = 0.966

Tir day chúng ta thấy rõ rằng, nhiệt độ tối cao trong giai đoạn trỗ cờ là yếu

tố tác động mạnh nhất đến quá trình đậu hạt của ngô vùng Đông Nam Bộ

3 Để thời điểm trổ bông của ngô trong vụ đông xuân vùng Đông Nam Bộ

trùng vào thời điểm có nên nhiệt độ thích hợp thì thời điểm gieo nên

kết thúc vào giữa tháng 12

4 Trong ngày nhiệt độ lúc 9h, 10h và 11h có quan hệ rất chặt với tỷ lệ

đậu hạt

5 Phương trình đự báo số hạt trên bắp có dạng sau:

Y = [800.704 - 32.493*Tmax9 - 16.620*Tmax10 +1.256*Tmax11

4.2- Đề nghị:

1 Sử dụng những kết quả trên trong bài giảng cho sinh viên nông nghiệp

và trong dự báo năng suất cây ngô

2 Đề nghị cán bộ khuyến nông nên chú ý đến tác động của điều kiện thời tiết trong vụ đông xuân trong xây dựng quy trình kỹ thuật trồng ngô lai cho các tỉnh miền Đông Nam Bộ và Tây Nguyên

Trang 35

HỘI THẢO KHOA HỌC THƯỜNG NIÊN NAM 2003

BIỂN THIÊN NHIỆT ĐỘ TỐI CAO

QUAN HỆ GIỮA SỐ HẠT VỚI

NHIỆT ĐỘ TỐI CAO LÚC 9H

PHÂN VIỆN KHÍ TƯỢNG THỦY VĂN PHÍA NAM 31

Trang 36

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 A.X Krugiulin - Đặc điểm sinh học và năng suất cây trồng được tưới nước NXBM 1988

2 Độ môn cây lương thực - Cây màu - Giáo trình cây lương thực tập 2.NXBNN1997

3 Đào Thế Tuấn- Đời sống cây trong NXB KH&KT.1978

4 Ngô Hữu Tình - Một số cần lưu ý trồng ngô vụ xuân, tạp chí nông nghiệp số

17 năm 2000

5 Phạm Đình thái, Nguyễn Duy Minh, Nguyễn Lương Hùng - Sự trao đổi nước

ở thực vật Trang 48 - 67 Sinh lý thực vật (tập1) NXBGD năm 1987

6 Thanh Nam - Những điều cần lưu ý trồng bắp lai ở Tây Nguyên và Đông

Nam Bộ, tạp chí nông nghiệp số 44 năm 2000

7 Trén Hai Doan - Vì sao bắp không hạt Trang 45 Phụ san báo Khoa học phổ thông số 528

8 Doorenbos, J and Pruitt, A.H - Yield response to water FAO irrig and drain paper No 33, FAO, Rome, Italy 1979, 133pp

Tóm tat

Yếu tố ảnh hưởng lớn đến quá trình sinh trưởng phát triển và hình thành năng suất

ngô trong vụ đông xuân ở miễn Đông Nam Bộ chủ yếu là do tác động của điều kiện nhiệt độ, đặc biệt nhiệt độ tối cao trong giai đoạn trổ cờ

Để thời điểm trổ bông của ngô trong vụ đông xuân vàng Đông Nam Bộ trùng vào thời điểm có nên nhiệt độ thích hợp thì thời điểm gieo nên kết thúc vào giữa tháng 12 Trong ngày nhiệt độ lúc 9h và 10h có quan hệ rất chặt với ty lệ đậu hại Sự kết hợp

giữa nhiệt độ tối cao > 35°C và ẩm độ tối thấp <50% sẽ tác động rất xấu đến khả

năng đậu hạt của ngô Đã xây dựng phương trình dự báo số hạt trên bắp

Abstract

In the winter-spring season of South - East region of Viet Nam, the main factor affecting maize growth and grain formulation is air temperature, especially maximum

temperature in flowering period

To have the optimum temperature condition in flowering period, sowing time should be ended by the middle of Deccember Maximum temperatures at 9am and 10am are tightly correlated to seedy ratio The combination of the temperature higher 35°C and minimum humidity less than 50% can bring about adverse impacts on maize seedy The forecast equation for seed numbers per head is presented in the paper

PHÂN VIỆN KHÍ TƯỢNG THỦY VĂN PHÍA NAM 32

Trang 37

HỘI THẢO KHOA HỌC THƯỜNG NIÊN NĂM 2003

Dự án khí - điện - đạm Cà Mau là một trong những công trình trọng điểm

của nhà nước Khi hoàn thành nó sẽ đóng góp đáng kể vào sự phát triển kinh tế

xã hội của vùng đồng bằng sông Cửu Long Việc quan trọng đầu tiên là phải đưa

được khí từ mỏ PM3 (104°06'36'"E - 7903°15'ˆN) vào đất liền tại mũi Tràm Cà

Mau Toàn bộ tuyến ống dẫn khí dài khoảng 324 km, chia làm 2 đoạn Đoạn ] từ

MP3 đến KP250 (10415°00°'E - 9°02’15’’N) dai 260 km, đoạn 2 từ KP250 đến

Mũi Tràm dài 64 km Để đặt được đường ống dẫn khí cần phải tiến hành một loạt các nghiên cứu điểu tra khảo sát về các điều kiện tự nhiên: địa chất, địa chấn, địa mạo, địa từ chế độ khí tượng thủy văn biển, thành phần lý hoá của nước

biển, của lớp trầm tích mặt, hàm lượng phù sa, tốc độ bồi lắng bùn cái

Toàn bộ các công việc trên Chính phủ Việt Nam phải thuê Công ty tư vấn FUGRO của Singapore thực hiện trong năm 1999 cho đoạn 1 của tuyến ống dẫn

khí Để phát huy nội lực, Ban quản lý dự án Khí - Điện - Dam Ca Mau (CPMB)

đã để xuất với Chính phủ giao cho các cơ quan trong nước thực hiện những nhiệm vụ nặng nề trên đối với đoạn 2 của tuyến đường ống

Có ba đơn vị được chọn để thực hiện các nhiệm vụ trên Đó là Công ty địa chất công trình biển Viễn Đông của Nga (DMIGE): Thực hiện các nội dung liên

quan đến địa chất, địa chấn, địa mạo, trung tâm trắc địa và đo vẽ bản đồ biển

(SEAMAP) Bộ Tài nguyên và Môi trường: Thực hiện các nội dung đo sâu, định

vị vệ tinh va Trung tam Khí tượng Thủy văn Biển (MHC) Bộ Tài nguyên và Môi trường: Thực hiện các nội dung khảo sát hải dương và nghiên cứu chế độ khí

tượng thủy văn biển Trung tâm Khí tượng Thủy văn Biển đã phối hợp với Trung

tâm Khí tượng Thủy văn phía Nam tiến hành nghiên cứu và đo đạc khảo sát thực địa để đưa ra những thông số thiết kế và đặc trưng chế độ như cực trị tần suất

hiếm với chu kỳ lặp 0,5; 1; 5; 10; 20; 25; 50 và 100 năm của các yếu tố sóng,

gió, mực nước, dòng chảy Ngoài ra còn phân tích các thành phần hoá lý nước

biển như pH, DO, độ đục, độ dẫn điện, vi khuẩn yếm khí, tốc độ bồi lắng bùn

cát Trong báo cáo này chỉ trình bày kết quả khảo sát hải dương Đợt khảo sát được thực hiện trong 30 ngày, từ 14/12/2002-13/01/2003

PHAN VIEN KHÍ TƯỢNG THỦY VĂN KHU VỰC NAM BỘ 33

Trang 38

Tại khu vực gần các điểm KP250 và KP295 đã đặt bốn trạm khảo sát hải dương kí hiệu CM1, CM2, CM3, và CM4 Vị trí và nội dung khảo sát trình bày

trong bảng và sơ đồ dưới đây:

- Đo mực nước thủy |- Từ14/12/2002

- Lấy mẫu phân tích | - 15/12/2002,

hóa nước tại 3 tầng 24/12/2002, nước: mặt, giữa và 04/01/2003

CM | o01 49760 01213123 day

giảm sulphate tại 3 04/01/2003

- Lấy mẫu phân tích |- 15/12/2002,

hóa nước tại 3 tầng 24/12/2002,

Trang 39

HỘI THẢO KHOA HỌC THƯỜNG NIÊN NĂM 2003

Ore ase oa" He oss

Ore roe non tran

2 THIẾT BỊ ĐƯỢC SỬ DỤNG KHẢO SAT

Để khảo sát các yếu tố hải dương đã sử dụng các thiết bị hiện đại tự động

đo dòng chảy, mực nước triều, máy phân tích hóa nước, bẫy bùn cát đo bồi lắng,

máy phân tích hóa nước Ngoài ra các mẫu phân tích hàm lượng bùn cát bồi lắng

và phân tích vi khuẩn làm suy giảm sulphate được mang về thành phố Hồ Chí

Minh để phân tích tại phòng thí nghiệm hóa của Trung tâm Khí tượng Thủy văn phía Nam và phòng thí nghiệm vi sinh, Viện hóa vi sinh nhiệt đới,

2.1 May do dong chay

Đã sử dụng cdc loai may 2D - ACM, 3D - WAVE va DNC - 2M để do tốc

độ và hướng đòng chảy Khoảng thời gian đo là 60 phút một số liệu

PHAN VIEN KHÍ TƯỢNG THỦY VĂN PHÍA NAM 35

Trang 40

Tại trạm CMI đòng chảy đo ở tầng gần đáy, cách đáy 0,5m Máy được đặt trong một khung bằng kim loại có những quả chì nặng và được thả xuống đáy,

có hệ thống dây phao neo (xem sơ đồ đặt máy)

Tại trạm CM2 dòng chảy đo ở 2 tầng: tầng giữa và tầng cách đáy 0,5m Ở tầng đáy máy cũng được đặt vào một khung kim loại như ở tram CM1 Có một

hệ thống dây cáp neo phao căng, phao nổi để treo máy vào tầng giữa (xem sơ đổ

đặt máy)

2.2 Máy do mục nước thủy triều

Sử dụng máy WL 3796 để do mực nước ở trạm CMI1 Máy được cố định vào một khung kim loại thả xuống đáy Khoảng thời gian đo là 10 phút một số

liệu

Tại trạm CM2 sử dụng máy OT 600p Máy được gắn trong một khung kim loại nặng đặt cạnh máy đo đồng chảy và có chung một hệ thống phao neo (xem sơ đồ đặt máy) Khoảng thời gian đo là 10 phút một số liệu

2.3 Máy phân tích hóa nước

Để phân tích các thành phần hóa, lý pH, oxy hòa tan, độ dẫn điện, độ đục, nhiệt độ và độ mặn nước biển đã sử dụng máy WQC - 20A Tại mỗi trạm CM1

và CM2 sử dụng một máy đặt trong cabin của tàu khảo sát

2.4 Bảy bùn cát

Sử dụng 2 bẫy bùn cát ST - 1 để do bồi lắng ở 2 trạm CM3, CM4 Bẫy bùn cát được gấn vào một khung sắt nặng và đặt xuống đáy biển, máy cách đáy

0,5m

"Trong thời gian khảo sát 30 ngày, bùn cát được đo ba lần, mỗi lần liên tục

24 giờ vào các ngày nước triều kém, triểu trung bình và triều cường Lượng bùn cát thu được trong bẫy cát được đưa về phòng thí nghiệm ở Trung tâm khí tượng

thủy văn phía nam (Tp Hồ Chí Minh) để phân tích

2.5 Lấy mẫu nước

Mẫu nước được lấy bằng dụng cụ lấy mẫu MTE - 153 Mẫu nước được lấy

ở 2 trạm CMI, CM2, mỗi trạm lấy ở 3 tầng mặt, giữa và đáy Trong thời gian

khảo sát lấy mẫu nước 3 đợt vào các ngày triểu kém, triểu trung bình và triểu

cường Dùng máy WQC - 20A để phân tích tại chỗ các thành phần hóa Riêng

việc phân tích vi khuẩn làm suy giảm sulphate phải đưa mẫu về phòng thí nghiệm của Viện hóa vi sinh nhiệt đới ở Thành phố Hồ Chí Minh để phân tích

Ngay sau mỗi lần lấy mẫu, mẫu được đựng vào các chai màu sẫm, đặt trong đá lạnh và chuyển về Thành phố Hồ Chí Minh để phân tích

PHAN VIEN KHI TUONG THỦY VĂN PHÍA NAM 36

Ngày đăng: 18/11/2020, 14:00

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình  1:  Sơ  đồ  mô  tả  tác  động  cia  trudng  SST  đến  hoàn  lưu  khí  quyển - Tuyển tập báo cáo hội thảo khoa học thường niên năm 2003
nh 1: Sơ đồ mô tả tác động cia trudng SST đến hoàn lưu khí quyển (Trang 23)
Hình  1:  Bản  đổ  điểm  thu  mẫu  nước  tỉnh  Cà  Mau - Tuyển tập báo cáo hội thảo khoa học thường niên năm 2003
nh 1: Bản đổ điểm thu mẫu nước tỉnh Cà Mau (Trang 50)
Hình  2:  Đồ  thị  biến  động  độ  mặn  theo  thời  gian  trong - Tuyển tập báo cáo hội thảo khoa học thường niên năm 2003
nh 2: Đồ thị biến động độ mặn theo thời gian trong (Trang 53)
Hình  3:  Đồ  thị  phân  bố  pH  theo  tháng - Tuyển tập báo cáo hội thảo khoa học thường niên năm 2003
nh 3: Đồ thị phân bố pH theo tháng (Trang 54)
Hình  3:  Thời  gian  bán  phân  hủy  và  giá  trị  K  ở  những  nồng  độ  sulfide - Tuyển tập báo cáo hội thảo khoa học thường niên năm 2003
nh 3: Thời gian bán phân hủy và giá trị K ở những nồng độ sulfide (Trang 104)
Hình  4  Sự  phân  hủy  DR81  khi  không  có  bùn,  khi  có  bùn  chết  và  khi  có  S* - Tuyển tập báo cáo hội thảo khoa học thường niên năm 2003
nh 4 Sự phân hủy DR81 khi không có bùn, khi có bùn chết và khi có S* (Trang 105)
Hình  2:  Bản  đồ  phân  vùng  hứng  nước  mưa  trên  cơ  sở  mạng  lưới  cống - Tuyển tập báo cáo hội thảo khoa học thường niên năm 2003
nh 2: Bản đồ phân vùng hứng nước mưa trên cơ sở mạng lưới cống (Trang 112)
Hình  3:  Bản  đồ  phân  vùng  theo  địa  hình  và  mạng  thoát  nước - Tuyển tập báo cáo hội thảo khoa học thường niên năm 2003
nh 3: Bản đồ phân vùng theo địa hình và mạng thoát nước (Trang 113)
Hình  4:  Bản  đồ  phân  vùng  theo  địa  hình+hệ  cống  thoát  nước - Tuyển tập báo cáo hội thảo khoa học thường niên năm 2003
nh 4: Bản đồ phân vùng theo địa hình+hệ cống thoát nước (Trang 114)
Hình  5:  Bản  đồ  phân  vùng  theo  địa  hình+thệ  cống  thoát  nước  +hiện  trạng - Tuyển tập báo cáo hội thảo khoa học thường niên năm 2003
nh 5: Bản đồ phân vùng theo địa hình+thệ cống thoát nước +hiện trạng (Trang 115)
Hình  3.1  Sơ  đồ  lưới  tính  dòng  chảy  và  nhiệt  độ  Biển  Đông - Tuyển tập báo cáo hội thảo khoa học thường niên năm 2003
nh 3.1 Sơ đồ lưới tính dòng chảy và nhiệt độ Biển Đông (Trang 126)
Hình  3.4  Phân  bố  nhiệt  độ  bề  mật  va  theo  phương  thẳng  đứng - Tuyển tập báo cáo hội thảo khoa học thường niên năm 2003
nh 3.4 Phân bố nhiệt độ bề mật va theo phương thẳng đứng (Trang 130)
Bảng  9:  Lợi  ích  buôn  bán  của  Việt  Nam  (VIE:  tổng  KNKs) - Tuyển tập báo cáo hội thảo khoa học thường niên năm 2003
ng 9: Lợi ích buôn bán của Việt Nam (VIE: tổng KNKs) (Trang 175)
Hình  2.  Sơ  đồ  CV  kép  dành  cho  hồi  quy  nhiêu  biến - Tuyển tập báo cáo hội thảo khoa học thường niên năm 2003
nh 2. Sơ đồ CV kép dành cho hồi quy nhiêu biến (Trang 199)
Hình  1.  Sơ  đồ  khối  chương  trình  tính  rối  trạm  Khí  tượng  Lớp  biên - Tuyển tập báo cáo hội thảo khoa học thường niên năm 2003
nh 1. Sơ đồ khối chương trình tính rối trạm Khí tượng Lớp biên (Trang 223)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm