1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Báo cáo tổng kết 10 năm đổi mới chính sách và quản lý khoa học và công nghệ

24 425 0
Tài liệu được quét OCR, nội dung có thể không chính xác
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 24
Dung lượng 19,65 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Phần I CHỦ TRƯƠNG ĐƯỜNG LOI CUA DANG VA NHA NƯỚC, KET QUA THUC HIEN Triển khai thực hiện các nghị quyết của Đảng, Chính sách khoa học và công nghệ của nước ta đã từng bước được hình t

Trang 1

BO KHOA HOC, CONG NGHE VA MOI TRUONG

BAO CAO TONG KET

10 NAM DOI MOI CHINH SACH

VA QUAN LY KHOA HOC VA CONG NGHE

Ha noi 7/1996

Trang 2

Tổng kết 10 năm đổi mới Chính sách và Quản lý khoa học và công nghệ

MO ĐẦU

Sư nghiệp đổi mới ở nước ta bắt đầu trên danh nghĩa từ năm 1986, tại Đại hội Đảng

lần thứ VI Nhưng trên thực tế, mảnh đất cho đổi mới từ cơ sở, từ dưới lên, đã có từ đầu

những năm 1980 và sớm hơn nữa

Đặc thù của nước ta là đổi mới trong tình thế mất đột ngột các nguồn viện trợ từ bên - ngoài, phải dựa vào năng lực nội tại do phát huy sáng tạo chủ động của cơ sở Đặc điểm này khắc đấu ấn đậm nét lên đối mới trong khoa học và công nghệ

Khoa học và công nghệ trong những năm đất nước tái thống nhất đã dò đẫm, thử nghiệm nhiều để tự tìm ra cho mình một phương thức tồn tại trong một nền kinh tế lệ thuộc nhiều vào viện trợ bên ngoài, đã đến với các khái niệm như "quyền tự chủ", "hạch toán kinh

tế", "hợp đồng” từ cuối những năm 70, và đầu 80 Song môi trường xã hội lúc đó chưa cho

phép đưa thành các quy phạm pháp luật , mà chỉ hoặc là những thử nghiệm trong một phạm

vị cục bộ, hoặc là ban hành lẻ loi, trong lúc cơ chế kinh tế chưa thay đổi, nên chỉ có tác dụng như một loại thử nghiệm

Đến năm 1986 với sự kiện Đại hội Đảng lần thứ VI - ý nghĩa của sự kiện này sẽ còn

tác dụng lâu dài về sau - nhưng đối với khoa học, nó khẳng định về mặt tâm lý-tư tưởng-

phương pháp luận

Năm 1989, Liên xô cũ sụp đổ, viện trợ đột nhiên mất hăn, không những chỉ khoa

học mà toàn nền kinh tế nước ta gặp khó khăn, buộc phải đứng trên đôi chân của mình, "tự cứu lấy mình trước khi Trời cứu”, làm tất cả những gì có thể để không bị sụp đổ theo Cuộc khủng hoảng này là yếu tố trực tiếp thúc đẩy các tổ chức và cá nhân các nhà khoa học thâm nhập vào các lĩnh vực sản xuất kinh doanh thuộc mọi thành phần kinh tế Bối cảnh đó cũng

tạo môi trường thực tế để khoa học tự nuôi lấy mình trong phạm vi có thể : làm sự nghiệp có thu, tổ chức sản xuất trong viện và cùng với nó, là sự di trú cục bộ các nhà khoa học đến các khu vực khác (làm chuyên gia nước ngoài, kiêm nhiệm trong các đơn vị sản xuất )

cả lâu đài và tạm thời, dẫn đến tình trạng thuyên giảm số lượng hàng năm chừng 4% (xem

phần sau)

Đây là mảnh đất thực tế để khoa học Việt Nam tự nhận thức lại chức năng xã hội của mình, mà trước đây chỉ có trên quan niệm lý thuyết Đỉnh cao là Nghị quyết 26 của Bộ Chính trị (1992) Bên cạnh chức năng phát triển lực lượng sản xuất xã hội và xây dựng tiềm lực cho chính mình, thì lần đầu tiên, chức năng phục vụ hoạch định đường lối, chiến lược

Bộ khoa học, công nghệ và moi trường

Trang 3

Tổng kết 10 năm đổi mới Chính sách và Quản lý khoa học và công nghệ

phát triển được đặt lên hàng đầu Khoa học xã hội và nhân văn được nâng tầm cao hơn và

được Nhà nước đầu tư nhiều hơn Cũng trong thời kỳ này, địa vị pháp lý của khoa học lần

.iu tiên được khẳng định trong Hiến pháp năm 1992 : "Khoa học và công nghệ giữ vai trò

›en chốt trong sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của đất nước"

Có thể nói, đây là giai đoạn hình thành trên thực tế triét lý phát triển khoa học và cộng nghề Việt Nam và được nêu thành văn một cách có hệ thống, có lý luận và có căn cứ thit: tiên

Trên cơ sở nhận thức khả năng tiếp nhận thực tế của nền kinh tế trong bối cảnh lịch

sử ¡úc đó không cho phép khoa học đi xa hơn giới hạn cho phép, việc đánh giá quá trình đổi mới Chính sách và Quản lý khoa học và công nghệ được căn cứ vào nhiệm vụ và chức năng xã hội của Khoa học và Công nghệ trong giai đoạn nêu trên, thể hiện qua các văn kiện quốc gia

Nội dung của Báo cáo, chủ yếu được căn cứ vào các nhiệm vụ của lĩnh vực khoa học

và công nghệ trong hai kế hoạch 5 năm (1986-1990), (1991-1995) và các văn kiện tương

ứng của Đảng và Nhà nước trong thời kỳ đổi mới (1986-1995) để kiểm điểm, đánh giá

những mặt được và chưa được

Phần I CHỦ TRƯƠNG ĐƯỜNG LOI CUA DANG VA NHA NƯỚC,

KET QUA THUC HIEN

Triển khai thực hiện các nghị quyết của Đảng, Chính sách khoa học và công nghệ của

nước ta đã từng bước được hình thành, phát triển và hoàn thiện, đáp ứng nhu cầu của các giai ‘can Cách mạng, nhất là trong giai đoạn tiến hành công cuộc đổi mới một cách sâu sắc

và to ”'¬ nhằm thực hiện thắng lợi những mục tiêu mà Đảng đã vạch ra là: làm cho dân

giau, n nạnh, xã hội công bằng, văn minh, trên cơ sở tăng cường công nghiệp hóa và

hiện đại hoa đất nước, xây dựng thành công Chủ nghĩa xã hội trên đất nước ta

Trong thực tế, cũng như các chính sách khác của Nhà nước, Chính sách khoa học và

công nghệ tuy được biểu hiện và phản ánh bằng nhiều hình thức, nhiều con đường và nhiều biện pháp khác nhau, nhưng tất cả đều nhằm thực hiện các nhiệm vụ cơ bản là: 1) đánh giá

và chỉ ra được những khả năng thực tế của xã hội để trên cơ sở đó, xác định những mục tiêu

có thể đạt được bằng những công cụ khoa học cần thiết cho sự phát triển kinh tế, xã hội và

văn hóa; và 2) tạo ra những điều kiện thực hiện các mục tiêu đó, để hình thành các cơ chế hoạt động cụ thể, để xác định những tỷ lệ hợp lý giữa các khu vực nghiên cứu và có một kế

hoạch phân bổ hợp lý trên toàn bộ lãnh thổ

Bộ khoa học, công nghệ và môi trường

Trang 4

Tổng kết 10 năm đổi mới Chính sách và Quản lý khoa học và công nghệ

1.1.Về mục tiêu và nhiệm vụ của Khoa học và Công nghệ

Ở nước ta, trong tiến trình của Cách mạng, Đảng luôn có chủ trương coi trọng khoa học, coi khoa học như một vũ khí sắc bén để mang lại hiệu quả cao nhất

Từ năm 1981, sự ra đời của Nghị quyết 37 của Bộ Chính trị - văn kiện dau tiên về một

chính sách về khoa học và công nghệ - với chủ trương gắn chặt hơn nữa hoạt động khoa học

với đời sông xã hội, khắc phục tình trạng phân tán, tự phát, thúc đẩy việc hình thành cơ chế quản lý mới và việc xây dựng tiềm lực khoa học và công nghệ, đã đánh dấu bước phát triển mới đối với sự nghiệp phát triển khoa học và công nghệ nước ta, tạo ra những đổi mới cơ bản trong phát triển khoa học và công nghệ và trong mối quan hệ giữa khoa học, công nghệ

với phát triển kinh tế và xã hội

Nhằm ổn định tình hình và phát triển trong giai đoạn mới, Đại hội lần thứ VỊ của

Đảng đã đề ra đường lối đổi mới, trong đó lấy khoa học và công nghệ làm động lực mạnh

mẽ thúc đẩy công cuộc đổi mới toàn diện đất nước Tuy nhiên, do nhận thức chưa đầy đủ

của các ngành, các cấp, cùng với những khó khăn về kinh tế và những thiếu sót về tổ chức

và quản lý, khoa học và công nghệ nước ta nói chung vẫn chưa được xây dựng, phát triển xứng đáng với vai trò động lực của công cuộc phát triển đất nước, chưa đáp ứng được những

yêu cầu của công cuộc đổi mới

Nghị quyết số 26 của Bộ Chính trị về khoa học và công nghệ trong sự nghiệp đổi mới

(ban hành năm 1992) đã khẳng định rõ: I) Coi khoa học và công nghệ là một động lực

mạnh mẽ để đưa đất nước thoát nhanh khỏi khủng hoảng, ổn định tình hình kinh tế, xá hội,

và 2) Đội ngũ khoa học và công nghệ là lực lượng nòng cốt của công cuộc đổi mới

Để thực hiện, ngoài việc nhằm làm cho toàn Đảng, toàn dân nhận thức đúng vai trò, vị

trí của khoa học và công nghệ để có sự chuyển biến thực sự từ trong lãnh đạo ở các cấp, các ngành đối với khoa học và công nghệ, Nghị quyết 26 của Bộ Chính trị đã nhấn mạnh việc thực hiện ba chức năng cơ bản của khoa học và công nghệ Đó là:

4

- Xây dựng luận cứ khoa học cho con đường đi lên Chủ nghĩa xã hội ở nước ta, cho

các quyết định lớn, từ định hướng chiến lược phát triển kinh tế-xã hội, đến những vấn đề cụ

thể khác như các chính sách, quy hoạch, kế hoạch, dự án đầu tư .v.v ở tất cả các cấp lãnh đạo của Đang và Nhà nước

- Là công cụ đắc lực để đổi mới quản lý, đổi mới công nghệ, đưa lực lượng sản xuất lên trình độ phát triển mới, có năng suất, chất lượng, hiệu quả cao nhằm hiện đại hóa đất nước

Bo khoa hoc, cong nghệ và mới trường

Trang 5

Tổng kết 10 năm đổi mới Chính sách và Quản lý khoa học và công nghệ

- Nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, giáo dục thế giới quan khoa

học, phát triên trí tuệ và năng lực sáng tạo của con người Việt nam, xây dựng nền khoa học

tiên tiến của nước ta

Những quan điểm và chính sách về kinh tế-xã hội do Đại hội VI của Đảng đề ra đã

được cụ thể hóa và phát triển trong quá trình thực hiện đã đưa tới những thành tựu bước đầu

rất quan trọng: hình thành nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, xóa bỏ về cơ bản cơ chế

tập trung quan liêu bao cấp, bước đầu chuyển sang cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà

nước

Tuy nhiên, do việc chuyển sang kinh tế thị trường còn thiếu nhất quán, chưa đồng bộ;

quản lý vĩ mô chưa thoát hẳn cơ chế cũ, lại buông lỏng nhiều mặt; thể chế, bộ máy và cán

bộ chưa theo kịp yêu cầu mới Chính vì vậy, để thực hiện mục tiêu tổng quát là: ra khỏi

khủng hoảng, ổn định tình hình kinh tế-xã hội, phấn đấu vượt qua tình trạng nước nghèo và kém phát triển, cải thiện đời sống của nhân dân, củng cố quốc phòng và an ninh, tạo điều

kiện cho đất nước phát triển nhanh hơn vào đầu thế kỷ 21, Chiến lược ổn định và phát triển

kinh tế-xã hội đến năm 2000 đã nêu rõ: Khoa học và Công nghệ cùng với Giáo dục và Đào tạo là quốc vách hàng đâu để phát triển kinh tế-vã hội, nâng cao trình độ quản lý của Nhà nước và năng lực lãnh đạo của Đang

Nhằm thực hiện mục tiêu của Công nghiệp hóa và Hiện đại hóa là: tạo ra tiềm lực to lớn đủ khả năng xây dựng cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc của toàn dân, thực hiện dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh, bảo vệ vững chắc nền độc lập của Tổ quốc, Nghị quyết Hội nghị lần thứ bảy của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VI về phát triển công nghiệp, công nghệ đến năm 2000 theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và xây dựng giai cấp công nhân trong giai đọan mới cũng đã khẳng định: Khoa học và Công nghệ là nền tảng của công nghiệp hóa , hiện đại hóa

Như vậy, quá trình hình thành và phát triển của Khoa học và Công nghệ nước ta luôn gắn liền với sự nghiệp cách mạng của Đảng, của dân tộc Qua mỗi giai đoạn lịch sử, chức năng, nhiệm vụ của Khoa học và Công nghệ đều được xác định một cách cụ thể, hướng vào việc đáp ứng yêu cầu của kinh tế-xã hội với việc xây dựng và thực hiện các mục tiêu chiến

lược phát triển Khoa học và công nghệ đó là: ’

- Xây dựng nền Khoa học và Công nghệ tiên tiến,

- Giải quyết những vấn đề do cuộc sống đặt ra

1.2 Về những đóng góp của khoa học và công nghệ

Nhìn chung những thành tựu khoa học và công nghệ chủ yếu đạt được trong thời gian vừa qua đã và đang phát huy tác dung thực xư trong công cuộc xây dựng và phát triển của

Bo khoa học, công nghệ và mọi trường

Trang 6

Tổng kết 10 năm đổi mới Chính sách và Quản lý khoa học và công nghệ

của đường lối đổi mới, đã tạo nên thế ổn định và phát triển về chính trị và kinh tế của đất

nước, đưa đất nước vượt qua những thử thách khó khăn và hiểm nghèo dẫn đến cục diện phát triển thuận lợi ngày nay Đội ngũ trí thức chuyên gia tư vấn giỏi của Đảng và Nhà nước

về chính sách, đường lối phần lớn xuất thân từ khoa học

- Khoa học kỹ thuật, với tiềm năng được tích tụ từ những thời kỳ trước, đã đủ sức cung cấp các giải pháp công nghệ cho nền kinh tế quốc dân, đã tạo tiền để công nghệ cho

sự duy trì và phát triển của lực lượng sản xuất trong một loạt ngành gắn với 3 chương trình kinh tế lớn, tạo ra khả năng an toàn về lương thực quốc gia, , đảm bảo hàng hoá tiêu dùng và tăng kim ngạch xuất khẩu , tạo rá một lực lượng sản xuất, trước hết, là con người lao động

kỹ thuật đủ sức làm chủ công nghệ hiện đại, là nhân tố hấp dẫn tăng nhanh đầu tư nước ngoài trong những năm gần đây vào công cuộc công nghiệp hoá

- Khoa học nói chung đã kịp thời đánh thức dư luận xã hội về nguy cơ suy thoái môi

trường, tạo nên trào lưu lành mạnh về phát triển bền vững Những kết quả nghiên cứu về tài

nguyên và điều kiện tự nhiên của đất nước, con người là cơ sở khoa học giúp Nhà nước hoạch định chiến lược phát triển bền vững về kinh tế - xã hội trong giai đoạn tiếp theo

- Đã tạo ra cơ sở hạ tầng bước đầu cho khoa học, giáo dục và đào tạo, cho việc tiếp tục nâng cao mặt bằng dân trí và tiềm năng chất xám của đân tộc Việt Nam đủ năng lực làm chủ các vấn đề phát triển của đân tộc, từng bước đi vào công nghiệp hoá và hiện đại hoá

- Khoa học và công nghệ có đóng góp quan trọng vào giữ vững quốc phòng và an ninh, đám bảo môi trường hoà bình và ôn định cho công cuộc xây dựng đất nước

1.3 Nhận định tổng quát về quá trình đổi mới

*

Thời gian qua, trong quá trình thực hiện đường lối đổi mới của Đảng, khoa học và

công nghệ với bản chất đổi mới không ngừng, đã tự đổi mới cách nghĩ, cách làm của mình, hoà nhập với trào lưu đổi mới chung về kinh tế“xã hội; tuy từng thời kỳ còn những biểu hiện lêch pha nhất định đối với đối mới chung, nhất là trong việc cụ thể hoá các chủ trương,

đường lối lớn thành các chỉ dẫn cụ thể, nhưng về cơ bản, quá trình đối mới Chính sách và

Quản lý khoa học và công nghệ đã cùng hướng và hài hoà với đối mới kinh tế-xã hội và đã từng bước tạo hạ tầng cơ sở chính sách nhằm đưa khoa học và công nghệ thành lực lượng sản xuất trực tiếp trong vã hội Đó là:

Bộ khoa học, công nghệ và môi trường

Trang 7

Tổng kết 10 năm đổi mới Chính sách và Quản lý khoa hoc va cong nghé

1 Tao duoc mot sự chuyển biến lớn trong nhận thức của toàn xã hội đối với khoa học và công nghệ, ghi nhận khoa hoc và công nghệ như “nền tang cho công nghiệp hoá và

hiện đại hoá”

2 Các chính sách mới trong mười năm qua về cơ bản là phù hợp với chính sách đổi

mới kinh tế-xã hội, tuy bước đi có lúc có chỗ còn "Ởch pha" với những biến đổi trong quản

lý kinh tế, nhất là các chính sách quá độ sang nền kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà

nước

3 Có bước tiến dài trong việc huy động mọi thành phần kinh tế, mọi tầng lớp nhân dân tham gia hoạt động KH&CN dưới những hình thức thích hợp Các hình thức quản lý dân chủ rộng rãi hơn trong thi tuyển, đấu thầu, lập hội, cung cấp tài chính, hội thi sáng tạo được bước đầu thực hiện

4 Xác định lại chức năng của hoạt động khoa học và công nghệ, coi trọng vai trò của khoa học nói chung và khoa học xã hội nói riêng trong việc hoạch định đường lối, chính sách đổi mới của Đảng và Nhà nước, đưa đất nước ra khỏi khủng hoảng, tạo thế đi lên vững

chác cho đất nước

5 Có bước tiến dài trong việc quản lý Nhà nước về khoa học và công nghệ bằng công cụ pháp luật , hình thành những cơ sở pháp lý ban đầu cho một phương thức quản lý hiện đại của một Nhà nước pháp quyền trong lĩnh vực KH&CN trong nền kinh tế thị trường

Tuy nhiên, quá trình đổi mới Chính sách và Quản lý khoa học và công nghệ trong I0

năm vừa qua vẫn còn nhiều vấn đề chưa đạt được như mục tiêu đã đề ra Đó là:

1 Chưa xây dựng được một hệ quan điểm và một chiến lược phát triển khoa học và

công nghệ nhất quán chung, nhưng đủ cụ thể để chỉ đạo hành động trong quản lý Nhà nước định hướng cho cải cách và đổi mới (ví dụ chương trình, hệ thống cơ quan nghiên cứu, hạch

toán kinh tế, cấp phát kinh phí theo đơn đặt hàng và nhiệm vụ thường xuyên); do đó, con đường cải cách có những bước vòng vèo nhảy từ thái cực này sang thái cực khác, kém hiệu quả

4

2 Thiếu một cơ chế có tổ chức, nhưng vẫn còn duy ý chí, coi nhẹ vai trò của thị trường, trong việc lập ra các nhiệm vụ nghiên cứu khoa học và đổi mới công nghệ phản ánh

nhu cầu đích thực của công cuộc phát triển, do đó chưa khắc phục được tình trạng quan liêu,

xa rời thực tế trong khoa học, đó chính là nguyên nhân gây lãng phí tiền, của cải công trong

KH&CN

3 Trong những quyết định về quản lý, chưa nhận thức đầy đủ về đặc điểm của đối

tượng quản lý là tập thể khoa học, con người khoa học với những quy luật vốn có của nó, khác với sản xuất kinh doanh, do đó còn nặng sử dụng các biện pháp quản lý tổ chức- hành chính giản đơn , chia cắt hoặc sáp nhập các tổ chức cơ sở trong quan hệ giữa viện-trường- doanh nghiệp

Họ khoa học, công nghệ và mới trường

Trang 8

Tổng kết 10 năm đổi mới Chính sách và Quản lý khoa học và công nghệ

4 Về cơ bản chưa giải quyết được vấn đề quan hệ giữa nghiên cứu và sản xuất kinh

doanh cả ở tầm chiến lược và chiến thuật, lý luận và thực tiễn, trong cơ chế cũ và cơ chế mới, do đó các cá nhân và tổ chức nghiên cứu vẫn thiên về tự cấp tự túc, biệt lập với sản xuất kinh doanh, dẫn đến tình trạng tự mình sản xuất bằng kết quả của chính mình chứ không thích chuyển giao thương phẩm hoá công nghệ cho giới sản xuất kinh doanh Vi vay, càng tạo biện pháp gắn khoa học với sản xuất thì vô hình chung lại càng làm cho viện có khuynh huướng tách xa sản xuất

5 Chưa có một quy trình ra quyết định kế hoạch hoá hợp lý để nhiệm vụ nghiên cứu

đã đầu tư thực hiện là phải thực sự đáp ứng nhu cầu trước mắt của thị trường cũng như nhu cầu lâu dài của xã hội Do đó, tỷ lệ các hoạt động ít phát huy tác dụng còn cao, khoa học tự

đẻ ra đề tài, đề án thoả mãn nhu cầu chủ quan của nhà nghiên cứu dẫn đến tình trạng kém

hiệu quả

Nhìn chung, công (ác quản lý khoa học và công nghệ chưa thể hiện được tính đông

bộ, chưa gắn kết với quản lý kinh tế - xã hội, chưa tạo lập được thị trường rộng rãi cho khoa học và công nghệ hoạt động Xuất phát điểm của các chương trình và đề tài còn mang nặng tính chủ quan của phía khoa học, thiếu hắn yêu cầu cụ thể của phía kinh tế Quyền quyết định nội dung khoa học của nhà nghiên cứu thay cho quyền quyết định của nơi ứng dụng kết quả nghiên cứu, do vậy dẫn đến tình trạng những gì quyết hộ, làm thay cơ sở sản xuất kinh doanh đều không phù hợp với mong muốn của cơ sở sản xuất, sản phẩm khoa hoc

tạo ra rất khó được cơ sở sản xuất tiếp nhận Phần lớn khi nghiệm thu và đánh giá kết quả

nghiên cứu thiếu tiếng nói từ phía kinh tế-xã hội, do đó đã tạo ra khoảng cách giữa khoa học với sản xuất

Bộ khoa học, công nghệ và mọi trường

Trang 9

Tổng kết 10 năm đổi mới Chính sách và Quản lý khoa học và công nghệ

Phần H

PHAN TICH QUA TRINH THUC HIEN DOI MOI

2.1 Đổi mới về hệ quan điểm

So với trước đây 10 năm, nếu có thể nhận xét về một hệ quan điểm mới trong phát

triển khoa học và công nghệ, thì có thể đó là xu hướng đáp ứng nhu cầu thị trường

Về tạo môi trường để KH&CN trở thành Lực lượng sản vuất trực tiếp

Trước đây, khi nói đến quan điểm này, ở Việt Nam hầu như chỉ có một cách nghĩ phải làm sao bằng mọi biện pháp chủ guan, tích cức để áp dụng các giải pháp khoa học vào

sản xuât Tĩnh thần đó toát lên trong cách hành động, cách xếp đặt hệ thống quản lý

Sau 10 năm, cách nhìn nhận trong một bộ phận lớn người ra quyết định đã thay đổi theo hướng coi trong vai trò của môi trương kinh tế-xã hội; do động lực cạnh tranh mà tìm đến các giải pháp công nghệ mới, các kiến thức khoa học Đối với nước ta, tại thời điểm này, thị trường là yếu tố chi phối quyết định biến khoa học thành lực lượng sản xuất trực tiếp Các chính sách hướng vào nhụ cầu đã trở thành điểm sáng trong những đề xuất của các văn kiện chính thức của Đảng và Nhà nước : đó là quá trình ¿b? rrường hoá các công cụ điều tiết chính sách trong khoa học và công nghệ

Quan hệ giữa Viện-Trường-Doanh nghiệp

Trong quá trình đổi mới, xu hướng ban hành những chính sách gắn khu vực viện nghiên cứu với các trường đại học thành một hệ tiềm lực khoa học và công nghệ của quốc

gia nổi lên rất rõ nét Những quy chế áp dụng cho trường dùng cho các viên và ngược lai,

đang có xu hướng gia tăng, ví dụ quy chế về vấn đề sản xuất trong trường và viện

Những năm qua nhiều nỗ lực được thực hiện nhằm chuyển trọng tâm hoạt động

khoa học và công nghệ về khu vực sản xuất và dịch vụ, tạo nên sự gắn bó trực tiếp khoa học với sản xuất Đang ban hành những văn bản về chuyển các viện khoa học kỹ thuật ngành về

các tổng công ty, các doanh nghiệp lớn

Trang 10

Tổng két 10 nam đổi mới Chính sách và Quản lý khoa học và công nghệ

Xây dựng năng lực nội sinh trong KH&CN

Cùng với tự lực công nghệ, Việt nam đã bước đầu làm quen với quan niệm năng lực

nội sinh trong khoa học và công nghệ, tức khả năng tự chủ trong ra quyết định phát triển và ứng dụng công nghệ Quan niệm này, từ một khái niệm học thuật, đang tìm đường đi vào thực tiễn thông qua các chính sách, chú trương cụ thể, các hướng dẫn tác nghiệp Năng lực

nội sinh gắn chặt với vấn đề tự mình bảo vệ môi trường sinh thái và phát triển bền vững

Phát triển bền vững

Lân đâu tiên, vấn để phát triển bền vững được nêu thành Luật và trở thành quốc sách Quan niệm về phát triển bền vững vừa là mục tiêu, đồng thời vưa là phương tiện cho phát triển khoa học và công nghệ trong chính sách mới của ta Khoa học là phương tiện cho phát triển bền vững và phát triển bền vững đặt ra các vấn để cho khoa học nghiên cứu, giải quyết

2.2 Đổi mới về Kế hoạch hoá

Từ năm 1986 trở về trước, nền kinh tế nước ta được quản lý chủ yếu bằng cơ chế kế

hoạch hoá tập trung, bao cấp Chế độ kế hoạch hoá KH&CN ban hành từ năm 1981 cho tới nam 1995 van con hiệu lực Đặc trưng cơ bản của Kế hoạch hoá thời kỳ này là, Nhà nước

phân bố các nguồn lực và sản phẩm bằng một hệ thống các chỉ tiêu pháp lệnh theo kế hoạch

và chi phối hầu hết các lĩnh vực hoạt động Trong đó, đối với lĩnh vực khoa học và công

nghệ, ta thấy: ‘

- Cơ chề thị trường không được thừa nhận Hoạt động khoa học và công nghệ mang

tính Nhà nước bao trùm Các thành phần kinh tế khác chưa được quan tâm, do vậy, kế

hoạch khoa học và công nghệ chỉ bó hẹp trong phạm vi kinh tế quốc doanh và trong khuôn khổ hạn hẹp của ngân sách Nhà nước

- Phương pháp kế hoạch hoá được tiến hành theo trình tự " hai xuống, một lên" nhằm kết hợp tính tập trung và tính dân chủ trong kế hoạch; song trên thực tế, quyền dân chủ và quyền chú động của các đơn vị cơ sở rất hạn chế Vai trò kế hoạch của các don vi co so rat thụ động Hình thành một tập quán trông chờ, ý lại Nhà nước

Bọ khoa học, cong nghệ và mối trường

Trang 11

Tong két 10 nam đổi mới Chính sách và Quản lý khoa học và công nghệ

Trong giai đoạn phát triển mới (từ 1986 đến nay), hệ thống kế hoạch hoá đã có một

số cải tiến, hoàn thiện về nội dung và phương pháp, chắng hạn:

- Chuyển từ kế hoạch pháp lệnh giao "số kiểm tra" sang kế hoạch hướng dẫn theo

các hướng trọng điểm của Nhà nước

- Nhà nước bắt đầu sử dụng một số công cụ chính sách kinh tế vĩ mô để điều tiết nền kinh tế thị trường theo định hướng của kế hoạch như tổ chức theo 3 chương trình kinh tế lớn,

các hướng ưu tiên trong nghiên cứu triển khai, tổ chức theo hệ các chương trình trọng điểm

cấp Nhà nước và cấp Bộ

Đặc biệt, trong lĩnh vực khoa học và công nghệ, các hướng trọng điểm, ứw tiên đã được vác định, nhiều nhiệm vụ khoa học và công nghệ đã được chuyển sang thực hiện ở khu vực doanh nghiệp Phương thức ký hợp đồng để thực hiện các chương trình, đề tài và dự án

sản xuất thứ nghiệm đã khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà khoa học và

các cơ sở sản vuất tham gia nghiên cứu và áp dụng các thành tựu khoa học và công nghệ

vào sản xuất và đời sống

Tuy nhiên, trong thực tế, việc xây dựng, xét duyệt và tổ chức thực hiện kế hoạch

khoa học và công nghệ vẫn còn nhiều tồn tại, đòi hỏi tiếp tục sự đổi mới và hoàn thiện:

- Việc lựa chọn danh mục, nội dung các chương trình, đề tài và dự án chưa thực sự tập trung, còn mang tính chất dàn đều nhiệm vụ - mà thực chất là phân kinh phí - cho các ngành và các cơ quan nghiên cứu triển khai

- Thiếu sự gắn kết giữa khoa học, công nghệ với sản xuất ngay trong quá trình ra quyết định về kế hoach, chương trình, đề tài Chưa tạo được cơ chế thích hợp để huy động các thành phần kinh tế khác đặt hàng và tham gia thực hiện các nhiệm vụ khoa học và công nghệ

2.3 Đổi mới về đầu tư tài chính

Đầu những năm 80, hoạt động khoa học và công nghệ chủ yếu được đầu tư từ một

nguồn duy nhất là Ngân sách Nhà nước

Hàng năm, kinh phí từ Ngân sách Nhà nước dành cho hoạt động khoa học và công

nghệ (tính theo tổng chỉ Ngân sách) đều có sự gia tăng đáng kể, về cả ty lệ và về cả giá trị

tuyệt đối Tuy nhiên, trong thực tẾ, sự gia tăng này chưa được ổn định Hơn nữa, đầu tư tài chính cho hoạt động khoa học và công nghệ từ nguồn chủ yếu này vẫn không quá 1% chỉ Ngân sách Do vậy, đối với lĩnh vực khoa học và công nghệ, chi phí bình quân hàng năm theo đầu người còn rất thấp (khoảng 1000 USD) so với mức bình quân của thế giới (55.324

Bọ khoa học, cong nghệ và moi trường

10

Trang 12

‘Tong két 10 nam đổi mới Chính sách và Quản lý khoa học và công nghệ

có những chuyển biến quan trọng với các chủ trương và biện pháp như sau:

- Tăng mức đâu tu cho khoa học và công nghệ từ nhiều nguồn vốn Cụ thể, đối với các cơ quan nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ, ngoài nguồn vốn từ Ngân sách, còn được phép sử dụng các nguồn vốn khác do thực hiện hợp đồng, đo liên doanh, liên kết

và vốn từ hợp tác quốc tế; đối với các doanh nghiệp, để đầu tư cho hoạt động nghiên cứu

triển khai và đổi mới công nghệ, có thể dùng nguồn vốn tự có và coi như tư có ( khấu hao

để lại, liên doanh, liên kết .), vốn vay ngân hàng; đối với các ngành và các địa phương, được phép lập quỹ phát triển khoa học và công nghệ để thực hiện các nhiệm vụ điều tra, nghiên cứu ứng dụng, sản xuất thử, hỗ trợ áp dụng kỹ thuật, hoạt động thông tin

- áp dụng chính sách thuế wu đaĩ đối với hoạt động khoa học và công nghệ: các hợp

đồng nghiên cứu khoa học và sản xuất thử không phải chịu thuế, các hợp đồng dịch vụ khoa học và công nghệ không phải nộp thuế lợi tức, miễn các khoản giao nộp 2 năm từ khi sản

xuất ổn định đối với khoản lợi nhuận thu thêm do áp dụng thành công kỹ thuật tiến bộ, giảm thuế đối với vật tư, thiết bị KH& KT nhập theo đường phi mậu dịch

- Nang cao vai tro tit chu, tu chịu trách nhiệm của các bộ ngành, các địa phương

trong việc phân bổ và điều hòa thống nhất về tài chính từ các nguồn đầu tư từ Trung ương

đối với hoạt động khoa học và công nghệ

Những chuyển biến quan trọng nói trên về đầu tư tài chính cho KH&CN được hình thành trong quá trình đổi mới qua các nội dung sau:

Ve chink sdch tao nguén:

Từ những năm 80, Đảng và Nhà nước ta đã ban hành nhiều van ban qui định hàng

năm dành 2% ngân sách nhà nước cho hoạt động KH-CN Trên thực tế, chưa bao giờ đạt tỷ

lé nay, nam 1995 dat 0,9 % ,

Trong quá trình đổi mới, nguồn kinh phí đầu tư từ phía sản xuất-kinh doanh ngày càng chiếm một tỷ trọng lớn Thống kê sơ bộ một số quan NC-TK về thu nhập từ hợp đồng

NC-TK, dịch vụ thì thấy rằng 5 năm trở lại đây bên cạnh nguồn từ ngân sách Nhà nước có

xu hướng tăng lên, nguồn từ sản xuất chiếm tới gần 80% kinh phí hoạt động của các cơ quan này Tuy nhiên, hiện tượng này không phổ biến

Nguồn từ nước ngoài đã được duy trì Từ những năm 90 chúng ta đã nhanh chóng chuyến sang khai thác viện trợ từ các nước tư bản và các tố chức quốc tế Qua 4 tài khóa UNDP đã hỏ trợ ngành Khoa học và Công nghệ Việt nam 800 triệu USD Mỹ

Bo khoa học, công nghệ và mới trường

11

Ngày đăng: 18/11/2020, 14:00

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w