Mặt khác, các cơ sở sản xuất công nghiệp lại nằm xen kẽ với các khu vực hành chánh, khu dân cư nên đã gây ô nhiễm môi trường một số khu vực, cụ thể kết quả quan trắc vào mùa khô năm 199
Trang 1UBNI) TỈNH AN GIANG CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
SỞ KH.CN&MÔI TRƯỜNG ĐỘC LẬP - TỰ DO - HẠNH PHÚC
Số: | ũ 6 ICV.KCM Long Auyén, agiy 02 thing 6 nam 1998
KINH GOI: CUC MOI TRUONG
Theo céng van sO 111/ MTg ngay 12/2/1998 v/v hướng dần xây dựng báo cáo hiện trạng môi trường địa phương, Sở KH.CN&Môi trường
An Giang đã tiến hành xây dựng báo cáo hiện trạng môi trường tỉnh An Giang năm 1997 và kết quả quan trắc hiện trạng môi trường An Giang
- Cue thôi trường
Phun ae by Cah
Trang 2
UY BAN NHAN DAN TINH AN GIANG
SỞ KHOA HỌC - CÔNG NGHỆ & MOI TRUONG AN GIANG
BAO CAO HIEN TRANG MOI TRUONG AN GIANG
- NĂM 1997 VÀ KET QUA QUAN TRAC HIEN TRANG
MOL TRUONG MUA KHO NAM 1998
THANG 5/1998
[ots noi Thường
| - M vo J Rod nanos
Trang 3
BAN ĐỒ HANH CHANH
PHAN TIEU VUNG KINH TE
| THOAI\ SON” Ì VUNG I
\ = ,Ẻ : hộ
Trang 4I ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN, KINH TẾ, XÃ HỘI:
1, Điều kiện tự nhiên:
- Phạm vi lãnh thổ:
Án Giang nằm ở phía Tây Nam của nước Việt Nam, giữa 2 sông Tiển và sông Hậu dọc theo hữu ngạn sông Hậu thuộc hệ thống sông Mêkông: từ 10° - HỶ vĩ Bắc và
104,72 - 105,5” kinh Đông, có 4 phía tiếp cận như sau:
+ Phía Đông giáp tỉnh Đồng Tháp
+ Phía Tây giáp tỉnh Kiên Giang, Cần Thơ
+ Phía Bắc giáp Campuchia
An Giang có đường biên giới Việt Nam - Campuchia dài 100 Km
Diện tích toàn tỉnh 3.424 Km” bằng 1,03% diện tích cả nước và đứng thứ 4 ẻ
Đồng bằng sông Cửn Long, gồm 11 huyện thị và 18 xa” phường, thị trấn
Hệ thống đường giao thông thủy bộ khá thuận lợi với trục chính là Quốc lộ 91
nối với Quốc lộ của Campuchia và các sông Tiển, sông Hậu Đây là tuyến giao hm
quốc tế quan trọng nối ĐBSCL với Campuchia, Lào, Thái Lan thông qua 2 cửa khẩu quốc giaTinh Biên và cửa khẩu quốc tế Vĩnh Xương (huyện Tân Châu) Đây là 1 trong
những điểu kiện khách quan thuận lợi để hội nhập nền kinh tế An Giang với các nh
trong nữớc, nhất là các nước trong ủy ban sông Mêkông và:các nước ASEAN dat liền
- Khí hậu:
* Nhiệt độ : An Giang có nhiệt độ trung bình vào khoảng 26 - 27°C Nhiệt độ
tối cao vào khoảng 40 - 41°C, nhiệt độ tối thấp có thể xuống dén 15 - 16°C 6 ving đồng bằng và 13 - 14C ở vùng đổi núi
* Chế độ gió : Chế độ gió ở An Giang khá thuần nhất, chịu ảnh hưởng bởi hai chế độ gió mùa rõ rệt Từ tháng 5 đến tháng 10 gió mùa Tây Nam mang nhiều hơi nước từ Vịnh Thái [an về tạo mưa cho khu vực, tốc độ gió trung bình đạt 3m/s Td tháng 11 đến tháng 4 năm sau chịu ảnh hưởng của gió mùa Đông Bắc có tính chất lạnh
# Chế độ mưa : Chế độ mưa bị phân hóa làm hai mùa rõ rệt
Mùa mưa bắt đầu từ tháng 5 đến tháng 11, do ảnh hưởng của gió mùa Tây Nam
và sự nhiễu động của thời tiết Lượng mưa tập trung mạnh vào tháng 8, 9
Mùa khô bắt đầu từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau, ở những tháng giao mùa
lượng mưa không vượt quá 100mrn và khoảng 50mm ở các tháng giữa mùa nắng
Tổng lượng mưa năm vào khoảng 1400 - 1500mm, giá trị cao nhất chỉ đạt 2100
minim và thấp nhất là 200 mm/năm
* Tổng bức xạ và độ ẩm : An Giang có lượng tổng bức xạ khá lớn, lên đến 13
tỷ Kcal/năm với khoảng 2500 giờ nắng/ năm
Độ ẩm thay đổi theo mùa rõ rệt Mùa nắng độ ẩm bình quân tháng đạt đến
80%, độ ẩm cao nhất là vào khoảng tháng 9, tháng 10, giá trị này đạt đến 85 - 90%; độ
ẩm thấp nhất đạt 76% vào các tháng 2 và tháng 3
* Iuượng bốc hơi : Lượng bốc hơi toàn năm vào khoảng 1200 - 1300mm Tháng
3 và tháng 4 là hai tháng có độ bốc hơi nhỏ nhất, vào khoảng 130 - 160mm Tháng có
lượng bốc hơi cao nhất là tháng 9
Trang 5Tóm lại, An Giang có khí hậu nhiệt đới gió mùa, nhiệt độ cao và lượng mưa phong phú Sự thay đổi theo mùa của khí hậu thể hiện ở sự tương phần đặc tính của hai
mùa gió và chế độ mưa ẩm, còn các yếu tố khác tương đối điều hóa và ít thay đổi qu các năm
- Địa hình :
An Giang là một trong hai tỉnh của khu vực miễn Tây Nam Bộ, có sự xuất hiện
của đổi núi Toàn tỉnh có hai dạng địa hình chính là địa hình đồng bằng vẻ địa hình miễn núi
+ Địa hình đồng bằng : Có độ cao thấp dần từ Bắc - Đông Bắc xuống Tây -
Tây Nam với độ đốc nhỏ từ O,5 - lcm/ km Địa hình này do phù sa sông Tiền và sông Iiậu tạo nên So với hệ quy chiếu mũi Nai thì nơi cao nhất của đồng bằng An Giang là 5m, thấp nhất là 0,8m Có thể chia địa hình đồng bằng An Giang thành 2 vùng : vùng đất cao giữa sông Tiên và sông Hậu có độ cao trên 1,5m và vùng trũng tứ giác Long Xuyên nằm về phía hữu ngạn sông Hậu có độ cao nhỏ hơn 1,5m
+ Địa hình đồi núi : Chủ yếu tập trung ở 2 huyện Tri Tôn và Tịnh Biên Đa số
có độ cao trung bình khoảng 500m, cao nhất là đỉnh núi Cấm 710m Độ dốc của các núi trong khu vực đều dưới 30° Bao bọc xung quanh chân núi là các vành đai đồng
bằng với diện tích tương đối hẹp, có độ cao từ 5-30m, với độ đốc bình quân từ 3° - 6°
Dây cũng có thể xem là địa hình chuyển tiếp giữa đồng bằng và đồi núi
hóa học chủ yếu là SiO; chiếm 71%, AlzO› chiếm 11%, KạO và Na;O chiếm 5 - 6%
Hàng năm khu vực này được bồi đắp một lượng phù sa đáng kể Đây là khu vực dat tot thích hợp cho phát triển nông nghiệp
+ Vùng trũng tứ giác Long Xuyên: có diện tích 239.203ha, chiếm 60% diện
tích toàn tỉnh, nằm ở hữu ngạn sông Hậu và là đường thoát lũ về phía Tây Đất vùng này bị nhiễm phèn, mặn, có cấu tạo từ trầm tích biển trẻ, là nguồn sinh sản phèn và các yếu tố gây độc hại cho sinh vật, làm nhiễm bẩn nguồn nước trong khu vực một
cách nghiêm trọng
Đất ở đây thuộc loại trầm tích cực mịn do các dòng lũ bồi đắp hàng năm Tuy nhiên, tốc độ bồi lắng rất nhỏ, càng cách xa sông Hậu lượng phù sa càng giảm do đoạn dường vận chuyển xa và môi trường acid nên càng đi vào vùng trũng tứ giác mức độ
trầm tích càng hạn chế Đặc điểm này đã tạo nên thuộc tính thổ nhưỡng trong khu vực
là : lđp phù sa mỏng, độ nhiễm phèn cao Đất trong khu vực này chủ yếu có màu xám, thành phần loại hạt từ cát trung đến sét nặng Thành phần h4a học chủ yếu gồm : SiO› 59-60%, Al,O3 17%
-+ Đất đồi núi : chiếm hơn 30.000 ha, tập trung chủ yếu ở hai huyện Tri Tôn và Tịnh Biên Ở những núi đá có nguồn gốc kiểm và trầm tích biến chất, lớp phủ này
tưởng đối dày hơn Độ dày của lớp đất phủ biến động từ 10cm đến hơn 100cm, nhiều
3
Trang 6nơi chỉ trợ ra lớp đá gốc Đây là vùng có nguy cơ xói mòn mạnh mẽ do hiện tại lớp thẩm thực vật rất ít và thưa thớt
+ Tài nguyên thủy sản: Tổng sản lượng nuôi và khai thác hàng năm xấp xỉ
40.000 tấn Trong đó nuôi 30.000 tấn bao gồm 2.054 bè và 400 ha ao hầm Nuôi trồng thủy sản ở An Giang là 1 nghề truyền thống góp phần khá lớn trong việc nâng cao mức
sống của dân cư địa phương
+ Tài nguyên nước: hệ thống sông Mêkông qua An Giang vào Việt Nam, lưu lượng rất lớn là nguồn nước ngọt dổi dào cho tỉnh, nước mặt đủ cung cấp cho phát triển nông, công nghiệp và dân cư trên địa bàn Ngoài ra, An Giang còn có 2 hồ chứa nước lớn là hồ Otứcxa và hô Soài So cung cấp nước cho các huyện miễn núi trong tỉnh
+ Tài nguyên khoáng sản: Theo các tài liệu thăm dò địa chất, khoáng sản tỉnh
An Giang có các loại khoáng sản với trữ lượng khá lớn
Tổng sản lượng trong nước (GDP) năm 1995 là 1.009 tỷ đồng, bình quân đầu
người đạt 254 USD đến năm 1997 là 1.105 tỷ đồng tăng 8,7% so với năm 1996
BANG CO CAU GDP THEO NHOM NGANH
Công nghiệp - xây dựng 12,29 12,83
+ Công nghiệp : An Giang có hơn 48 xí nghiệp quốc doanh, tăng 6 lần so năm
1994 và trêu 20.000 cơ sở sản xuất ngoài quốc doanh, tập trung vào các ngành chế
Trang 7biến lương thực thực phẩm, khai khoáng, vật liệu xây dựng, dệt đa, may nhuộm và
nhiều công nghiệp cơ sở Hai hướng công nghiệp phát triển mạnh ở An Giang là :
- Chế biến lương thực thực phẩm: tập trung vào các ngành như xay xát, chế biến
nông thủy sản
- Khai khoáng, vật liệu xây đựng: chủ yếu nhà đá, gạch ngói, XI măng, cát + Thượng mại : Việc mua bán và lưu thông hàng hóa ở An Giang khá phát
triển nhờ hệ thống giao thông thủy, bộ thuận lợi Kinh doanh xuất nhập khẩu cũng có
chiêu hướng phát triển tốt Tổng Kim ngạch xuất nhập khẩu năm 1996 gần 200 triệu USD tăng gần 2 lần so năm 1994
-_ Mạng lưới thương nghiệp ở An Giang cũng phát triển nhanh chóng từ thành thị
đến nông thôn Toàn tỉnh có khoảng 261 chợ lớn, nhỏ; trong đó có 3 chợ ở trung tâm
thị xã, I6 chợ phường, còn lại là chợ thị trấn và xã
Nhìn chung, kinh tế An Giang khá đa dạng và phong phú Tuy nhiên, do cơ sẻ vật chất còn nhiều thiếu thốn nên công nghiệp chỉ tập trung vào sơ chế là chủ yếu; hầu
hết các xí nghiệp, nhà máy, cơ sở đều thuộc dạng nhỏ và vừa nên nền kinh tế hiện nay
vẫn chủ yếu dựa vào nông nghiệp
3 Xã hội - dân cư:
Dân số An Giang khoảng 2,05 triệu người, tăng 4,1% so với năm 1994 gồm nhiều dân tộc : Kinh, Chăm, Khơme Hoa mật độ trung bình là 565 người/ km” Mật
độ này khá chênh lệch giữa nông thôn và thành thị Nơi có mật độ dân số cao nhất tỉnh
là thị xã Long Xuyên 2.260 người/km” và thấp nhất là huyện Tri Tôn 155 người/kmẺ Dân cư thường sống tập trung trên các đê tự nhiên ven sông rạch (60% số hộ dân) và các trục lộ giao thông chính Lao động 1.017, số người đang làm việc trong các ngành kinh tế quốc dân là 987.150 người, số người trong mổi lao động chưa có khẩ năng lao
động nội trợ và chưa có việc làm là 124.492 người
II DIỄN BIẾ N VỀ HIỆN TRẠNG MÔI TRƯỜNG THỜI GIAN QUA VÀ XU THẾ PHÁT TRIỂN:
1, Hiện trạng môi trường đô thị và công nghiệp:
An Giang có 378.754/ 2.039.532 người dân sống ở khu vực thành thị với tỉ lệ
sinh là 2,47% giảm 0,7% so với năm 1995, so với năm 1995 trung bình mỗi năm tăng
8.000 người So với các đô thị lớn khác thì mức độ tăng này không cao, nhưng so với sự
phát triển kinh tế đô thị ở tỉnh thì con số này khá cao Cơ sở công nghiệp gia tăng cũng khá chậm năm 1995 toàn tỉnh có 12.343 cơ sở:sản xuất ngoài quốc doanh, năm 1997
cơ sở ngoài quốc doanh tăng khoảng 13 500 cơ sở
Dân số và công nghiệp gia tăng nhưng vấn để xử lý ô nhiễm môi trường vẫn
còn tiến triển rất chậm Mặt khác, các cơ sở sản xuất công nghiệp lại nằm xen kẽ với
các khu vực hành chánh, khu dân cư nên đã gây ô nhiễm môi trường một số khu vực,
cụ thể kết quả quan trắc vào mùa khô năm 1998 vừa qua tại các khu vực sản xuất công
nghiệp và đô thị có nồng độ chất ô nhiễm do khí thải và nước thải khá cao
Trang 8* Chất lượng không khí ở các Thị xã, thị trấn tập trung đông dân cư và sản
xuất công nghiệp
- Các điểm quan trắc lựa chọn: là các điểm đặc trưng cho các khu đô thị, khu
đâu cư, và các khu hoạt động giao thông chính Vì vậy, chúng tôi chọn các điểm lấy mẫn thuộc 2 thị xã lớn nhất của tỉnh; Thị xã Long Xuyên và Thị xã Châu Đốc Tổng số
uiểm quan trắc 20 điểm, trong đó có 12 điểm quan trắc tại khu công nghiệp, các nhà máy sản xuất, các khu bãi rác và trai chăn nuôi ( Biểu đỏ diễn biến nồng độ các chất
ô nhiễm khí trong phân phụ lục)
+ Khu thị xã thị trấn:
* Nông độ bụi:
Vào mùa khô năm 1998, nổng độ bụi trung bình các điểm đo là 0,36 mg/m’,
{00% các điểm đo có nồng độ bụi gấp 1-1,6 lần tiêu chuẩn môi trường Việt Nam Dựa
theo cách phân loại theo chất lượng không khí theo để tài khảo sát hiện trạng môi trường hai thị xã Long Xuyên và Châu Đốc thì chất lượng không khí ở Tỉnh vào mùa
khô năm 1998 thuộc loại chớm bị ô nhiễm Nếu so với năm 1995, thì nồng độ chat 6 nhiễm bụi năm 1998 ở mức tương đương nhau, nhưng có phần giảm nhẹ hon, Vé phan
bố theo vị trí thì hầu như các điểm đo ở Long Xuyên cao hơn các điểm khác
* Nồng độ khí SO; :
Nông độ SO; trung bình tại các điểm đo là 0,13 mg/m’ So với bảng phân loại
chất lượng không khí, thì chất lượng không khí trong tỉnh thuộc loại rất sạch Nếu so
với nắng độ SO; trung bình tại các điểm đo trên năm 1995 thì nễng độ này cũng tương đương , nhưng có phần tăng nhẹ hơn, nỗng độ SO; trung bình năm 1995 là 0,11 mg/mẺ
Phân bố theo vị trí: Nông độ SO; tại một số điểm như chợ Châu đốc , Ngã tư
indi Qu Long xuyên có cao hơn các điểm khác nhưng vẫn nằm trong giới hạn cho phép
* Nông độ CO; :
Nông độ CO; trung bình 631 mg/m”, so sánh với bảng phân loại thì nỗng độ khí này thuộc loại chớm bị ô nhiễm
* Nông độ khíPh:
Nông độ chì tại các điểm trung bình là 0,83 ug/m”, so với bảng phân loại thì
nông độ khí này nhiễm khá cao Nếu so với năm 1995 thì nồng độ chì tăng gấp 4 lần (nông độ chì trong không khí năm 1995 là 0,2 ng/m”)
Phin b6 theo vi tri : Khu vực bến xe Long Xuyên, cổng xí nghiệp Angimex và toàn bộ các điểm đo ở Châu đốc có nồng độ chì khá cao, gấp 1,6 đến 2,4 lần TCMT
Việt Nam
* Nông độ khí NO; :
Nông độ khí NO; trung bình tại các điểm 0,07 mg/m’, so sánh với bảng phân
loại thì nồng độ khí NO; mùa khô năm 1995 thì NO; năm 1998 có tăng cao, nhưng vẫn
nằm trong tiêu chuẩn cho phép về môi trường
+ Ô nhiễm không khí từ khu sản xuất công nghiệp
Hiện nay trong tỉnh chỉ có một số loại hình sản xuất công nghiệp đặc trưng như xay xát, khai thác vật liệu xây dựng, sản xuất vật liệu xây dựng và một số khu chứa
rác
* Khu vực nhà máy xay xát và nhà máy chế biến vật liệu xây dựng:
Các nhà máy xay xát có có nồng độ bụi trung bình là 0,39 mg/m?,so sánh với TCMT Việt Nam về chất lượng không khí chung quanh thì khí thải các nhà máy này bị
6
Trang 9ô nhiễm nhẹ Nến so sánh với tiêu chuẩn nồng độ bụi trong khu vực sản xuất của Bộ Y
tế thì nồng độ bụi nằm trong giới hạn cho phép nhiều lần.So với năm 1995, nỗng độ hụi phát sinh trong khu vực sản xuất của các nhà máy xay xát giảm rất nhiều (nồng độ
bụi trung bình của 2 nhà máy trên 1,66 mg/m” Hiện nay đã giảm gấp 4 lần so với năm
Nha may xi mang An Giang, néng độ bụi rất cao 3,4 mg/m’, gip 11.3 TCMT
nến so sánh với TCMTVN thì chất lượng không khí xung quanh Nhung so với tiêu
chuẩn tạm thời của Bô Y tế nồng độ này vẫn nằm trong giới hạn cho phép
* Khu vực sản xuất vật Hệu xây dựng :
Hiện trong Tỉnh có nhiều khu tập trung sản xuất vật liệu xây dưng, chủ yếu là gach ngói như: khu Nhơn Mỹ, khu Mỹ Hội Đông (huyện Chợ Mới), khu Hòa Phú, khu Mương Ranh (huyện Châu Thành) Ngoài ra, còn một số khu rải rác ở các huyện khác Hiện trạng môi trường Không khí của các khu vực này đã bị ô nhiễm bụi, khí: CO¿, SO;
Cụ thể:
- Nông độ bụi: nông độ bụi trung bình các khu sản xuất gạch ngói 0,46 mg/m’? gấp 1.53 lần TCMTVN Như vậy ở các vùng có mặt của các lò sản xuất gạch ngói,
không khí đã bị nhiễm bụi ở mức độ khá cao
- Nồng độ CO); : trung bình 704 mg/m’, so với tiêu chuẩn môi trường về chất lượng không khí sạch của Mỹ thì CO; gấp 1,29 lần
- Nông độ SO; : trung bình 0,076 mg/m”, so với tiêu chuẩn môi trường VN thì nằm trong TCMT cho phép
- Nông độ NO; : trung bình 0,057 mg/m’, so với tiêu chuẩn môi trường VN vẫn nằm trong giới hạn cho phép
* Khu khai thác đá:
Nồng độ bụi lơ lửng trung bình 0,4 mg/m’, cao hon TCMTVN 1,4 lần Như vậy, nồng độ bụi các khu vực khai thác này khá cao
* Nước thải khu công nghiệp và đô thị:
Nước thải của các nhà máy công nghiệp hầu hết chưa được xử lý, nước thải của
các nơi này hầu hết đều thải trực tiếp ra sông, kênh rạch Hiện nay đã có một số đơn vị
đã tiến hành xử lý nước thải nhưng số lượng vẫn còn rất ít, nên mức độ ô nhiễm gây ra
từ các nguồn công nghiệp và đô thị ở mức độ rất cao Kết quả phân tích chất lượng
nước thải mùa khô năm 1998
- Nông độ chất rắn lơ lửng:
Nông độ chất rắn lơ lửng của các nguồn thải gấp TCMT từ 3 -20 lần, nhà máy
có nồng độ cao nhất là Nhà máy đông lạnh 7 và 8 ; các cống thải khu đô thị thị xã Long Xuyên, nhà máy nước mắm chánh Hương, nhà máy nước giải khái Festi có nồng
độ cũng khá cao
- BOD: đo các nguồn thải trên thải trực tiếp ra sông rạch nên so với TCMT đối
với nguồn A, nổng độ BOD vượt từ 8- 215 lần TC, Nhà máy nước mắm Chánh Hương, : nhà máy đông lạnh 7,8 có nổng độ BOD cao nhất, nhà máy Festi, các bệnh viện đa
khoa của Long Xuyên và Châu Đốc nồng độ BOD cũng khá cao, gấp từ 22 -99 lần
-COD: gap ty 5 -100 lin TC, trừ xí nghiệp Antesco, còn hầu hết các xí nghiệp
và khu đô thị có nổng độ rất cao
Trang 10- Vị sinh: Mật số vi sinh ở nước thải ở toàn bộ các nhà máy bệnh viện, khu đô thị rất cao ( Biểu đồ chất ô nhiễm nước thải công nghiệp và đô thị trong phần sau)
2, Hiện trạng môi trường nước (ở vùng đô thị lẫn nông (hôn)
4“
A Nước mặt:
* Hiện trạng chất lượng nước đầu vào của các trạm cung cấp nước trong tỉnh:
Vào mùa khô, hầu hết các trạm cung cấp nước đều lấy nguồn nước từ các sông
chính kênh rạch, chất lượng nước các trạm lấy nước từ sông Hậu, sông Tiền có nồng
độ chất hữu cơ thấp, các trạm cung cấp nước lấy nguồn nước từ các kênh rạch, đặc biệt các kênh trong vùng xa, vùng sâu ô nhiễm hữu cơ khá cao như; ở trạm cung cấp nước
I.ong xuyên, Châu Thành, Thoại Sơn, Tri Tôn, Tịnh Biên gấp TCMT từ 2-8 lần, về vi
sinh cả nước sông chính và kênh rạch đều có mật số rất cao ( biến đổ nồng độ chất ô
nhiễm trong phần sau)
* Hiện trạng môi trường nước mặt trên địa bàn tỉnh
- Nước mặt: Năm 1997 nước mặt được quan trắc ở các hồ chứa, khu vực làng
bè, quan trắc sau lũ, kết quả phân tích ở các khu vực cho thấy nước bị ó nhiễm hữu cơ tiêu chuẩn đến vượt nhẹ, nồng độ vi sinh thấp hơn vào mùa khô năm 1998 cụ thể:
Hồ chứa nước khu vực miền núi:
Ở khu vực miễn núi An Giang, có 2 hồ chứa nước lớn (hồ cải tạo) là nguồn cung cấp nước chính, kết quả quan trắc chất lượng nước của hồ như sau:
+ Hồ Soài So: Bị ô nhiễm chất hữu cơ, đặc biệt là mùa khô và thời điểm giao
múa giữa mùa khô và mùa mưa Ngoài ra nước còn bị ô nhiễm về độ màu, arnoniäc và
Mùa khô: Nồng độ BOD nước hồ biến thiên vượt từ 2 - 6 lan TCMT'VN, COD |
vượt từ 2 - 8,7 lin TCMTVN
Thời điểm giao mùa: Nồng độ BOD cao hơn TCMTVN từ 2 - 10 lần
Mùa mưa: Nồng độ BOD vượt TCMTVN từ 2 - 4 lần
+ Hồ Otứcxa:
Mùa khô: Nồng độ BOD vượt TCMTVN từ 2 - 4,5 lần
Thời điểm giao mùa: Nêng độ BOD vượt TMTVN từ 9 - 40 lần
Mùa mưa: Nồng độ chất ô nhiễm giảm, xấp xỉ TCMTVN
Nhìn chung, chất lượng nước 2 hồ chứa bị nhiễm hữu cơ, nồng độ rất cao đặc biệt là mùa khô và thời điểm giao mùa Hiện 2 hồ chứa nước đã có trạm xử lý nước
trước khi cung cấp cho trên 2.000 hộ dân Nhưng 2 trạm xử lý nước này vẫn chưa ốn
dinh, nên nước vẫn còn bị ô nhiễm hữu cơ khi đưa vào sử dụng
Nguyên nhân gây ô nhiễm nước 2 hồ chứa là do xác bã động thực vật từ trên các núi Cấm, núi Tô đổ xuống hồ, xác bã này phân hủy gây ô nhiễm môi trường nước
Mặt khác, thẩm thực vật ở dưới chân núi và sườn núi đã bị khai thác dùng để canh tác nương rẫy nên khi mưa xác lá kéo theo dòng nước chảy xuống hồ
Đây là làng chăn nuôi thủy sản lớn nhất của Tỉnh, tập trung trên 400 bè nuôi cá
lớn, theo dòng sông Hậu thuộc thị xã Châu Đốc
Trang 11Kết quả phân tích chất lượng nước khu vực làng bè nuôi cá 2 mùa như sau:
Mùa khô: Nồng độ COD vượt TCMTVN cho phép từ 0,2 - 5 lần, Coliforms vượt TCMT từ 2 - 18 lần, các chỉ tiêu khác nằm trong giới hạn cho phép
Mùa mưa: Số điểm có chỉ tiêu COD vượt TGMTVN ít hơn vào mùa khổ và vượt tiên chuẩn khoảng 0,1 lần, NO; vượt từ 1- 2 lần, Coliforms tại điểm đo vượt chuẩn
từ 18 - 1.500 lần
Chất lượng nước sông Hậu: Khu vực làng bè thị xã Châu Đốc đang biến đổi theo chiều hướng xấu, đặc biệt là chất hữu cơ và vi sinh, rõ nét nhất là vi sinh Chất lượng nước khu vực làng bè suy thoái có khả năng gây ảnh hưởng xấu đến sức khỏe
cộng.đồng dân cư sống quanh khu vực và dân cư sử dụng nguồn nước từ khu vực này,
ngoài ra còn có khả năng ảnh hưởng ngược lại đến nghề nuôi cá bè ở khu vực này
+ Chất lượng nước mặt ở các sông chính sau mùa lũ 1997:
Thời gian tiến hành lấy mẫu được thực hiện vào khoảng từ 11/11/1997 đến
28/11/1997, vào giai đoạn này mực nước thực đo trên trạm Tân Châu đã xuống dưới mức 3 m 00, nên sẽ có một lượng nước từ các khu vực nội đồng theo các tuyến kênh rạch chảy ra nhánh sông Tiền và sông Hậu và đây có thể là nguồn gây ô nhiễm
- Độ p]1 trên tất cả các điểm đo trên các khu vực đều nằm trong giới hạn cho
phép, tất cả các mẫu đo đều nằm trong khoảng 6,5< pH< 7, mức độ dao động giữa các
điểm đo cũng như trên từng khu vực khảo là không đáng kể
- Hầm lượng oxy hoà tan tương đối cao, nằm xấp xỉ tiêu chuẩn cho phép Tuy
nhiên tại một vài điểm đo cho thấy DO< 6 Ở đây hàm lượng oxy hoà tan tại một vài điểm đo trên địa phân Châu Đốc có sự tăng đột ngột mà theo đánh giá nguyên nhân có thể là do hiện tượng quạt nước của các bè cá nuôi trong khu vực
- Hàm lượng NO ở địa bàn Chân Đốc đa số mẫu phân tích đều có sự xuất hiện với hàm lượng thấp và nằm trong giới hạn cho phép Việc xuất hiện của chỉ tiêu nầy cho thấy nguồn nước có nhiễm chất hữu cơ có nguồn gốc đạm Nguyền nh:n dẫn đến tình hình trên có thể là do đoạn sông tại đây được sử dụng chủ yếu vào việc nuôi trồng
thủy sản, nên nguồn thức ăn cho cá thường chứa nhiều đạm động và thực vật nên làm
cho nguồn nước tại đây có sự xuất hiện của NOa
- Hàm lượng Clo dao động trong khoảng từ 7 - 10 mg/
- Fe te tại hầu hết các điểm đo đều vược tiêu chuẩn cho phép và có sự thay đổi
rõ rệt giữa hàm lượng sắt trên hai nhánh sông chính cũng như giữa nhánh sông chính
và trên các tuyến kênh cấp 1 trên cùng một khu vực, nồng độ biến thiên từ 1,1 -
3.49mpgA
- Chỉ tiêu SO¿ có sự khác biệt khá rõ rệt giữa hai khu vực nằm trên tuyến sông
Tiên và sông Hậu Hầu hết các điểm đo trên sông Hậu và kênh cấp | cia sông Hậu
đều có sự suất hiện của chỉ tiêu nầy, trong khi đó nó lại không xuất hiện trên hầu hết
điểm đo trên tuyến sông Tiền ,nồng độ biến thiên từ O0 - 15mg
- Hàm lượng chất hữu cơ tại hầu hết điểm đo đều vượt tiêu chuẩn cho phép của
Bộ Y tế, hàm lượng trung bình trên các khu vực như sau: Long Xuyên: 6,6 mgO¿/l;
Châu Đốc 6,7 mgO2/l; Tân Châu 6,3 mgO+z/l; Chợ Mới 6,1 mgOz/ ( TC Bộ Y tế < ömgO¿I Tuy hàm lượng nầy không vượt xa so với tiêu chuẩn, nhưng đây là một báo
hiệu cho biết nước trên các khu vực đã có chiều hướng ô nhiễm chất hữu cơ
_- Chỉ tiêu vị sinh: 100% mẫu thử đều cho thấy sự có xuất hiện của vi sinh, có mật số €'oliform vượt chuẩn cho phép từ 1,2 đến 5 lần định ô nhiễm vi sinh từ phân
Trang 12Dáng lưu ý nhất là đa số các mẫu có sự hiện diện của vi sinh Ecoli, đánh dấu sự ô
nhiễm có nguồn gốc từ phân
Qua kết qủa phân tích một số chỉ tiêu lý hoá và vi sinh nguồn nước mặt tại một
số điểm trên địa bàn Tỉnh An Giang nhận thấy :
- Về mặt lý hoá
- Chất lượng nước về mặt lý hoá trên 4 khu vực khảo sát chưa thấy có dấu hiệu
thay đổi so với các chỉ tiêu đo đạc trong cùng kỳ ở những năm trước
- Đa số các chỉ tiêu khảo sát đều nằm trong giới hạn cho phép và sự dao động giữa các điểm do trong cùng một khu vực là không đáng kể
- Hàm lượng Fe, hầu hết đều vượt mức qui định, tuy nhiên hàm lượng nay không gây ảnh hưởng lớn đến chất lượng nguồn nước trong khu vực, chỉ tiêu nầy có xu hướng giảm trên tuyến kênh cấp 1,2 và sẽ giảm dần theo thời gian lũ rút
- Hàm lượng các chất SOa, Chất hữu Cơ, có sự thay đổi giữa các khu vực, đặc biệt là chênh lệch khá cao giữa hai nhánh sông Tién và sông Hậu, điều nầy cho thấy khả năng ảnh hưởng đến chất lượng nguồn nước do lượng nước thoát ra từ khu nội đồng đặc biệt là trên nhánh sông Hậu vào giai đoạn lũ rút chất lượng nước sẽ có chiều hướng gia tăng ô nhiễm
- Nguồn nước từ nội đồng có khả năng gây suy thoái nguồn nước trên các tuyến sông chính đặc biệt là trên nhánh sông Hậu, khả năng và mức độ chịu ảnh hưởng của khu vực Long Xuyên là khá cao so với những nơi khác trong giai đoạn lũ rút Bên cạnh
đó tuy mới vào đâu giai đoạn lũ rút, hiện tượng ô nhiễm nguồn nước do sinh hoạt đã có chiều hướng gia tăng trên các tuyến kênh cấp 1, nơi có nhiều cư dân sống ven hai bên
- 100% mẫu đo đều cho thấy có sự ô nhiễm vi sinh với mức độ khác nhau trong
đó có gẦn 50% mẫu có trị số Coliform vược tiêu chuẩn cho phép, bên cạnh đó hầu hết các điểm đo đều có sự suất hiệt của E Coli, một chỉ thị ô nhiễm từ phân người
- Mật độ vi sinh tăng khá cao trong các tuyến kênh rạch nhỏ và sự ô nhiễm do phân trên rạch Ông Chưởng và kênh Vĩnh An
* Chất lượng nước mặt mùa khô năm 1998
Vào mùa khô năm 1998 nồng độ chất ô nhiễm tăng nhẹ so với mùa sau lũ (mùa
mưa) ở sông Tiên, sông Hậu Nhưng ở khu vực tứ giác Long Xuyên có biến đổi chất ô
nhiễm khá lớn
Trong thời gian quan trắc hiện trạng môi trường vừa qua là thời điểm mùa khô của tỉnh, nét đặc biệt của mùa khô năm nay là nắng hạn kéo dài, suốt từ 12/1997 đến thời gian lấy mẫu không có mưa Nhiệt độ không khí trung bình của tỉnh cao hơn nhiệt
độ không khí trang bình các năm từ 1 - 2°C Mực nước sông kênh rạch xuống rất thấp,
so với năm 1997 thì mực nước sông kênh rạch xuống thấp hơn từ 30 -40 cm
Do đó đã xảy ra sự cố môi trường nước, nước trong các kênh rạch nội đồng ô nhiễm khá cao, nổng độ vi sinh rất cao, đặc biệt đã xảy ra sự xâm nhập mặn từ biển vào làm ảnh hưởng đến chất lượng nước sinh họat và sản xuất của một số dân xã Vĩnh Gia, huyện Trí Tôn
10
Trang 13+ Kết quả quan trắc nước sông Tiền:
Doan từ huyện Tân Châu đến huyện Phú Tân: Phần lớn các chỉ tiêu nằm trong
tiêu chuẩn môi trường(TCMT) Riêng nông độ BOD biến động từ 2 - 6mg/1, COD biến
động từ 3 -10mg/1, so với TCMTnéng độ các chất này nằm trong TCMT đến vượt nhẹ,
Riêng nồng độ chất rắn lơ lửng SS biến thiên từ 12 - 33mg/1 điểm cao nhất vượt 1,65 lần TCMT, Coliforms gấp từ 4,8 - 10,8 lần TCM
+ Kết quả quan trắc nước sông Hậu:
Từ thượng nguồn đến cuối nguồn nước giáp tỉnh Cần Thơ Nềng độ BOD biến
động từ 2 - 8mg/1, COD biến động từ 4 -17mg/1 Mật số Coliforms ở mức độ rất caotù
5.420 - 230.000¡ng/1
— Nhìn chung chất lượng nước sông Tiển, sông Hậu mùa khô đã bị ô nhiễm vi
sinh khá cao, nổng độ chất hữu cơ, chất rắn lơ lửng 'ô nhiễm ở mức độ nhẹ so với
TCMTVNN
+ Kết quả quan trắc nước kênh nội đồng khu vực tứ giác Long Xuyên:
Chất lượng nước nước đầu vào các kênh rạch tiếp nhận từ sông Hậu đã có dấu
hiệu ô nhiễm ở mức độ cao hơn sông Hậu về nồng độ chất hữu cơ, chất rắn lơ lửng Nồng độ các chất ô nhiễm tăng lên rất cao ở khu trung tâm Tứ giác long Xuyên ,
những điểm kbu trung tâm TGL.X có nồng độ chất rắn lơ lửng vượt TCMT từ 8 - 20
lần, nông độ BOD vượt từ 3 - 9 lần, COD vượi từ 2,7 - 4,5 lần, nồng độ Fetc tăng rất cao vượt chuẩn từ 2 - 3,4 lần, nổng d6 vi sinh Coliforms nhiéu điểm vượt TCMT đến
+ Diễn biến nông độ chất ô nhiễm theo dòng chảy:
Theo sông Tién néng độ các chất ô nhiém BOD, COD, SS, vi sinh biến đổ không lớn, theo sông Hậu biến đổi theo chiều hướng tăng dần, vi sinh biến đổi tùy theo
điểm ( Biểu đề biến thiên nồng độ chất ô nhiễm trên sông Hậu minh họa)
Theo dòng chảy chính từ sông Hậu ra biển Tây: Nông độ chất ô nhiễm BOD, COI), SS, Fetc tăng cao, nông độ chất hữu cơ đạt cao nhất ở điểm kênh rạch khu trung
tâm TGLX, giảm dần ở cuối đường ra kênh Rạch Giá - Hà Tiên, nhưng nồng độ Fetc,
sunfat tăng cao Mật số vi sinh biến đổi tùy theo điểm ở mức độ rất cao, có nhiều điểm
vi sinh vượt TCMT từ 440 - 920 lần ( biểu đồ biến thiên chất ô nhiễm từ sông Hậu ra biển Tây minh hoa)
Theo hướng dòng chảy phụ kênh Vĩnh Tế nồng độ các chất ô nhiễm tăng cao
dan đến cuối kênh (Biểu đồ phần sau)
Nguyên nhân gây ô nhiễm :
Do anh hưởng bởi nhiều yếu tố khác nhau nên nguồn nước mặt An Giang chưa
có thể đánh giá nguyên nhân cũng như mức độ ô nhiễm một cách chính xác được Có
3 nguyên nhân chủ yếu sau đây :
+ Ô nhiễm do tự nhiên : liên quan mật thiết với thổ nhưỡng mà nước mặt hiện điện, trong đó mưa đóng vai trò xúc tác, chủ yếu làm thay đối tính chất lý hóa
1
Trang 14+ Ô nhiễm do sinh hoạt : đây là nguyên nhân gây ô nhiễm nghiêm trọng nhất
do tập quán sinh sống ven sông và xem sông là nơi vận chuyển chất thải, các nguồn
gây ô nhiễm chính [a :
- Đa số các hộ nhà dân đều không có nhà vệ sinh đúng tiêu chuẩn, đi vệ sinh trực tiếp trên sông, nhiều ao cá nuôi bằng phân người và gia súc
- Nạn vứt rác trên sông rất phổ biến
- Nước thải ở những khu dân cư tập trung như thị xã, thị trấn đều không được xử lý trước khi thải ra sông
+ Ô nhiễm do sản xuất: chủ yếu do sản xuất nông nghiệp và các nhà máy Các
nguễn gây ô nhiễm là :
- Sử dụng phân bón và thuốc trừ sâu diệt cỏ không đúng quy cách hoặc
không đúng lượng
- Do khai thác đất, đào kênh không hợp lý đã mang phèn từ đất vào trong nước
- Các nhà máy, xí nghiệp, cơ sở sản xuất, trại chăn nuôi hầu như không
có hệ thống xử lý nước thải trước khi thải ra sông
Ngoài ra, chất thải từ các phương tiện giao thông đường thủy cũng góp phần
gây ô nhiễm nguồn nước
H Nước ngẫm:
Nước ngầm trên địa bàn An Giang có thể phác họa như sau :
- Tầng nước ngầm phù sa mới: chỉ có khả năng đáng kể đối với những vùng ven sông, nằm ở độ sâu từ 0O - 30m, đôi khi sâu đến 40m Nước có phẩm chất tương đối không ổn định nằm trong giới hạn trên dưới mức cho phép Nước tầng này thường bị nhiễm chất hữu cơ
- Tầng nước ngầm phù sa cổ: xuất hiện ở độ sâu 70 - 160m, chứa nhiều nước
Tuy nhiên, nguồn nước này thường bị nhiễm mặn và phèn, hàm lượng sắt cao, thường
từ 1,8 - 3mg/1 Dây là tầng nước được sử dụng mạnh nhất hiện nay
- Tầng nước ngầm Plioxcn- Pleixtoxen: nằm ở độ sâu từ 230m trở xuống,
thường xuất hiện ở độ sâu 250 - 300m trong các thành tạo cát mịn lẫn sạn sỏi, nước có phẩm chất tương đối tốt, hàm lượng sắt dưới 1 mẹg/1, có độ cứng trên dưới mức cho
phép, khả năng cung cấp trung bình, có thể dùng cung cấp cho khu dân cư tập trung
Tóm lại, nước ngầm An Giang càng đi về phía Tây - Tây Bắc thì khả năng tìm
thấy nước ngọt càng khó Nhìn chung, các tầng nước ngầm ở An Giang có chất lượng
xấu chỉ có tầng 250 - 300m là tương đối tốt, nhưng việc khai thác rất khó khăn và tốn
_ kém Nguồn này đa số có hàm lượng sắt cao hơn mức cho phép khá nhiều, độ cứng cũng vượt mức độ cho phép Tuy nhiên nó vẫn có một số ưu điểm sau :
- Nước trong, hàm lượng cặn thấp
- Không bị nhiễm vì sinh
- Một số giếng sâu có nhiệt và có hàm lượng khoáng hóa cao
+ Hiện (trạng khai thác:
Hiện nay, nước ngầm đang được khai thác khá rộng trên địa bàn tỉnh, chủ yếu
là các giếng khoan đường kính ống ® = 49mm, có lắp bơm tay
Trang 15Bước đần các công trinh diéu tra va khai thác nước ngầm với quy mô công
nghiệp đang được triển khai Các giếng khoan công suất lớn được khai thác để bổ cấp vào nguồn nước cho khu vực Long Xuyên, Tri Tôn
+ Hiện trạng nguồn nước:
Theo số liệu khảo sát bước đầu, mức độ ô nhiễm và các yếu tố gây ảnh hưởng
đến nguồn nước ngầm có thể do các sự cố sau :
- Nhiễm mặn: do thông tầng, cách ly tầng không tốt
- Nhiễm bẩn: ống không đảm bảo, cách ly không tốt
- Thay đối bản chất nguồn nước
Ha yếu tố này đều do việc quản lý và khai thác không đúng kỹ thuật, chế độ khai thác quá mức cho phép
+ Nhận xét:
Nguồn nước tại An Giang rất phong phú về loại cũng như lượng, nhưng nguồn
chủ lực hiện nay vẫn là nước mặt của sông Cửu Long Hiện tại chất lượng nước ngày
càng giảm sút, hiện tượng đưa các chất thải sinh hoạt của người và gia súc xuống sông, kênh rạch còn phổ biến; các nhà máy, xí nghiệp thải trực tiếp nước thải xuống nguồn
nước, công trình thoát nước công cộng và trạm xá, bệnh viện đều không có hệ thống
xử lý nên sự ô nhiễm nước mặt là vấn đề cần giải quyết cấp thiết
3 Môi trường nông thôn:
Không khí: Nhìn chung chất lượng không khí khá sạch nhưng đã bị ô nhiễm cục
bộ ở một số nơi sản xuất gạch ngói, sản xuất vật liệu xây dựng, xay xát, khai thác đá
(mức độ ô nhiễm đã đánh giá ở phần trên
+ Ô nhiễm nước: (đã trình bày trong phần hiện trạng môi trường nước)
Ngoài ra các nguyên tố ô nhiễm nước đã nêu, nước còn bị ô nhiễm do việc sử dụng hóa chất nông nghiệp thuốc trừ sâu, phân bón do sử dụng không đúng liều lượng hoặc lạm dụng quá mức Các chất này bị rữa trôi vào nguồn nước mặt thấm qua đất
vào nguồn nước ngầm làm-các nguồn này bị ô nhiễm Một số chất độc hại có thời gian
tên lưu lâu trong đất có thể đi theo con đường thực phẩm vào cơ thể con người gây ngộ déc man va cấp, ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe của cá nhân và cộng đồng nhân dân
Nạn nhá rừng, khai thác và sử dụng không hợp lý đã làm cho nhiều vùng đất bị
x6i mon rửa trôi mạnh Diện tích đất trống, đổi trọc tăng lên làm giảm năng suất cây
trồng, phá vỡ sự ổn định của các hệ sinh thái
Trong những năm gần đây, thực hiện chương trình 327, tỉnh đã tiến hành trồng
được 4.438 ha rừng, rừng mới đạt 97% , tăng thêm độ che phủ 1,27% diện tích tự nhiên
toàn tỉnh nhưng lại bị thiệt hại do cháy 153 ha, tuy nhiên việc trồng rừng này cũng góp phần cải tạo môi sinh, khôi phục dẫn nguồn nước cho các giếng, suối trong vùng,
hạn chế rửa trôi sạt lở đất, đá, quy tụ dần các loài động vật hoang dã Mức độ ô nhiễm
chưa thể đánh giá do chưa có điểu kiện quan trắc nhưng có thể cho rằng mức độ 6
nhiễm khá lớn do hầu hết diện tích đất trong tỉnh sử đụng để sẵn xuất nông nghiệp mà
trồng lúa là chủ yếu
4 Hiện (rạng vệ sỉnh môi (trường nông thôn
13
Trang 16Vấn đề vệ sinh môi trường là vấn để quan trọng khá phức tạp đối với An Giang
là ! tỉnh có điều kiện thủy văn là 6 tháng ngập lũ, 6 tháng khô nên từ lâu đời vấn để
vệ sinh không được quan tâm
Toàn tỉnh có 1.660.774 người là dân nông thôn, trong đó trên 210.000 người có
nhà ở trên sông rạch, phần còn lại đa số là nhà sàn bị ngập lũ hàng năm, nên vấn dé
vệ sinh nông thôn gặp rất nhiều khó khăn đặc biệt là cầu tiêu hợp vệ sinh và xử lý rác
gia đình cũng như vấn đề sử dụng nước sạch Theo thống kê năm 1995 chỉ có:
- 4% số hộ trên toàn tỉnh có cầu tiêu hợp vệ sinh
- 81% số hộ không có cầu tiêu và 14% số hộ có cầu tiên nhưng không hợp vệ
sinh
- 42.000 hộ cất nhà trên sông, kênh rạch
- 80% số hộ sử dụng nước từ sông rạch, ao, hồ
Những nầm qua tỉnh đã cố gắng thực hiện nhiều biện pháp bảo vệ môi trường cũng như thực hiện Chương trình NS&VSMT và đã đạt được một số kết quả bước đầu Kết quả cụ thể như sau:
Về sử dung nước sạch :
- Việc cung cấp nước qua hệ thống ống dẫn đã có 80.729 hộ sử dụng, chiếm 22.3; trong đó có 20.322 hộ sử dụng nước có qua xử lý, khử trùng Số hộ có giếng
khoan là 70.328 hộ chiếm 19,5%,
- Đến nay toàn tỉnh đã xây dựng 28 trạm cung cấp nước có lắng lọc do Nhà
nước đầu tư và 156 trạm cấp nước nhỏ chưa xử lý do tư nhân đầu tr Ngoài ra đã triển
+ 3.174 giếng khoan + 115 giếng đào
+ 4.703 bể chứa nước mưa + 5.000 bình lọc nước
Về sử dụng cầu tiêu hợp vê sinh thay thế cầu tiêu trên sông rach :
- Đã tháo dẻ 15.731 cầu tiêu trên sông rạch, cầu tiêu ao cá ven đường, chiếm
48% tổng số cầu tiêu ao cá, cầu tiêu trên sông rạch Bên cạnh đó, tiến hành xây dựng
60.493 cầu tiên tự hoại, hố tự thấm và cầu tiêu dội nước 3 ngăn lọc, chiếm 16,7% tổng
số hộ trên toàn nh
Đi đời, giải tỏa nhà trên sông rạch:
- Tập trung di đời nhà trên các trục kinh rạch chính như kinh Nguyễn Trung Trực, kinh Mặc Cần Dưng, kinh xáng Vịnh Tre, kinh xáng Cây Dương, rạch Long
Xuyên, Đến nay đã di đời được 11.705 hộ chiếm 20% trên tổng số nhà trên sông
Việc thu gom và xử lý rác là vấn để đang gặp khó khăn của Tỉnh, đặc biệt là
các bãi chứa rác bị ngập vào mùa lũ Tính đến nay, toàn Tỉnh đã có 89 bãi rác công
cộng, biện pháp xử lý rác là thu.gom và tập trung ở bãi Tuy nhiên, việc thu gom chỉ đạt 25% Nhìn chung việc thu gom rác khá tốt ở thị xã Long Xuyên và thị xã Châu
Đốc, hiện tại đã trang bị 185 xe thô sơ, 20 xe cơ giới để phục vụ cho việc thu gom rác
14
Trang 17Hiện nay Tỉnh đã chỉ đạo xây dựng hệ thống thu gom rác và khu chôn lấp rác ở 2 thị xã
và 09 huyện, thị; Sở KH,CN&MT kết hợp với Sở xây dựng tiến hành quy hoạch bãi chứa rác của 09 huyện và 2 thị xã
Di dời chuồng gia súc trong nhà :
Một số hộ có tập quán nuôi gia súc trong nhà ở, đặc biệt là các hộ dân tộc
khơme điều này vừa gây mất vệ sinh môi trường vừa lây lan dịch bệnh cho người Qua
thực hiện chương trình nước sạch và VSMT đã di đời được 1.838 chuồng gia súc nuôi trong nhà trên tổng số 9.667 chuồng trại
_ Quần thể rừng khu vực Bảy Núi là một đạng đặc biệt trong kiểu thẩm thực vật
“rừng kín rụng lá ẩm nhiệt đới” Cấu tạo của rừng gồni 3 tầng cây : tầng cây gỗ, tầng cây bụi \à tầng cuối cùng gồm cây thân thảo và quyết thực vật (theo Tiến sĩ Thái Văn
Trừng) Rừng Bảy Núi được phân chia thành các kiểu trạng thái sau :
- Kiểu tu hợp các loại cây bụi có cây gỗ mọc rải rác:
Chiếm điện tích 702ha, tập trung ở khu vực Tây Nam núi Cấm
- Kiểu tu hợp các loại cây trên đất đã trồng cây nông nghiệp:
Kiểu trang thái này tập trung ở lòng chảo núi Cấm, phía Đông Bắc núi Giài,
điện tích 2.700ha
- Kiểu tu hợp các loài có tranh + cô đuôi chôn + cô lau + cô lá tre + cô lông tây
„ Hình thành trên đât sau nương rẫy :
Hình thành do khai thác kiệt nguồn gỗ tự nhiên rồi bổ hoang Chiếm diện tích
khoảng 1.900ha, tập trung ở đỉnh núi Giài, núi Cấm, núi Cô Tô
- Kiểu núi đá có cây bụi và núi đá:
Kiểu này được tách ra khi có diện tích đá lô đầu trên 50%, hiện diện nhiều núi Cô Tô, phía Nam núi Giài và các núi nhỏ quanh khu Nhà Bàn Khu vực này chiếm
một diện tích khoảng 2.994ha
* Chiều hướng biến đổi chung của các ưu hợp thực vật :
Sự biến đổi của các ưu hợp thực vật, sự giảm đi phần lớn diện tích rừng tự nhiên gắn liền với những tác động của con người do phá rừng bừa bãi, đốt rừng làm rẫy, chặt cây làm gỗ, chất đốt, con người làm cho quần thể rừng ở đây vốn đã cần cỗi lại càng suy thoái nghiêm trọng, hoàn cảnh rừng hầu như bị phá vỡ hoàn toàn Hiện tại khả
năng tự phục hồi rừng tự nhiên hầu như không còn nữa
Cán cân sinh thái ở đây đã thay đổi, rừng không đủ khả năng điều hàa cho khu
vực Mưa gió và hạn hán gây ảnh hưởng đến đời sống sinh hoạt của con người, hệ động vật và thực vật bị suy thoái nghiêm trọng, nguy cơ tạo đất trống, đổi trọc trong
thời gian tới là hiện thực
15
Trang 18# Rừng đồng bằng ở An Giang phần lớn là rừng ngập mặn, chủ yếu là các loại cầy trầm, mắm nhưng hiện tại đã bị tàn phá hầu hết, thay vào đó là một số rừng tràm
tự nhiên, rừng keo tai tượng, một số đất khác còn bỏ hoang và một số đã sử dụng vào
nông nghiệp Cây tổn tại trong khu rừng này là các loại cây chịu phèn, mặn Chúng
guip cho đất không dậy phèn, giữ ẩm và điều hòa gió, dòng chảy Diện phân bố của
loại rừng này chủ yếu ở vùng trũng tứ giác Long Xuyên
* Rừng phủ trên các đồi núi: tập trung vào 2 huyện Tri Tôn và Tịnh Biên Hiện
tại, loại rừng này đã suy thoái nghiêm trọng, đa số các cây lớn đã bị cưa lấy gỗ, nhất là các loại cây gỗ quý Đất đai ở vùng này thoái hóa mạnh mẽ, diện tích đất phủ ngày
càng thu hẹp, diện tích đá lộ tăng nhanh Về lâu dài, khả năng tái sinh vùng này không thể tiến hành được nếu như không dầu tư thích hợp ngay từ bây giờ
Nạn mất rừng gây ra chủ yếu bởi con người Trong vòng mấy chục năm gần
đây, con người đã can thiệp một cách mãnh liệt đối với các quần thể rừng, biến các
quần thể rừng này từ chỗ giàu có, phong phú nay đã trở thành tàn kiệt Ban đầu là khai
thác chọn cây gỗ lớn, sau đó đốt phá rừng làm than, làm nương rấy, lấy củi và các
nguồn tài nguyên khác Giờ đây hoàn cảnh rừng không còn nữa, kết cấu rừng bị phá
vỡ, đất đai đang bị suy thoái nghiêm trọng
- Hiện tại nạn lán rừng, phá rừng vẫn còn tiếp diễn, lán rừng để canh tác nông nghiệp, đặc biệt ở những nơi sườn đất dốc Khi bị phá trơ trọi, mưa xuống làm rửa trôi
làm tăng thêm sự xói mòn của đất, cạnh đó còn có việc đốt cỏ tiêu hủy nhiều sinh vật, thực vật trong đất Rừng bị suy thoái dẫn đến động vật bị suy thoái theo, một số động
vật quý hiếm còn rất ít như tắc kè bay, mang, mễn, dơi, quạ, heo rừng, khỉ, chồn đèn,
6 Đa đạng sinh học
* Thực trạng về tính đa dạng sinh học của tỉnh
Từ trước đến nay, tính đa dạng sinh học - một tập hợp của thông tin di truyền loài và hệ sinh thái mang lại nhiễu lợi ích cho con người như cung cấp thực phẩm,
dược liệu, nhiên liệu , thương mại, nguyên liệu cho các ngành công nghiệp và góp
phần cân hang sinh quyển
16
Trang 19Thế nhưng trước sức ép của sự gia tăng dân số và sự phát triển nhanh chóng của nông nghiệp, công nghiệp, việc khai thác bừa bãi không đúng kỹ thuật, việc quản lý lông lẻo và các hoạt động gây ô nhiễm môi trường (hiệu ứng nhà kính, mưa acid ,) đã
gây ra nhiều tác động xấu đến tính đa dạng sinh học
Sự mất đi của một số loài sinh vật chủ chốt làm thay đổi về cơ bản và không thể đoán trước được sự cân bằng của những hệ sinh thái đặc biệt, mà hậu quả ít nhất có thể
thấy dược là những thay đổi về môi trường
- Sinh vật trên cạn:
Vùng Bảy Núi An Giang có 178 loài thực vật thuộc 154 chi trong 56 họ khác nhau, chia thành các loài cây như sau : (đính kèm phụ lục)
- Các loài cây trồng : 24 loài
- Các loài mọc tự nhiên : 145 loài, trong đó :
+ Các loại cây gỗ trung bình : 22 loài + Cây nhỏ, cây bụi, tre nứa : 21 loài + Các loài cây gỗ lớn : 23 loài + Các loài cây thân thảo, có, đây leo, phù sinh và các loài cây khác
Với số lượng và thành phần loài phong phú và đa dạng như trên, rừng và thảm thực vật rừng là nguồn tài nguyên vô cùng quý giá của tỉnh, đặc biệt là rừng An Giang còn piữ được nhiều loài bản địa quý hiếm như giáng hương, căm xe, kiền kiển, bằng lăng, sao, dầu, chẳng ba, thừng mực, cui, thiên tuế, quế, tóc
_ Về nguồn tài nguyên động vật rừng: các tài liệu trước đây cho biết những năm
trước có rất nhiều giống loài động vật sinh sống nhưng do nạn phá rừng và khai thác,
săn bắn bừa bãi nên hiện nay chỉ còn rất ít cả về chủng loại lẫn số lượng; có loài hiện nay không còn nữa như nai mang, nai rừng Cho tới nay, vẫn chưa có các thông tin đây
đủ về số lượng và chủng loại của các loài động vật trong hệ sinh thái rừng nên không
thể thống kê chính xác con số tổn thất
- Khu hệ động vật vùng đồng bằng: đây là một khu hệ sinh vật có thành phần
và số lượng giống loài phong phú, trong đó các sinh vật thuộc các loại cây trồng và vật
nuôi chiếm tu thế (đặc biệt là lúa)
Xen lẫn với các giống loài thuộc cây trồng vật nuôi, trong kh hệ còn có các loài sinh vật hoang dại Số lượng và thành phần các giống loại động thực vật hoang dại
theo điều tra bước đầu cho thấy bị sụt giảm nghiêm trọng do việc sử dụng quá mức các
loại phân bón và thuốc trừ sâu trong nông nghiệp ảnh hưởng nặng nề đến tình trạng
mất cân bằng sinh thái, gây hậu quả nghiêm trọng không lường được về mặt môi
trường
Khu hệ sinh vậi vùng đồng bằng là khu hệ tiêu biểu cho tỉnh với thành phần
giống loài phong phú và đa dạng nhất, thế nhưng tỉnh chưa có một công trình nghiên cứu nào tập hợp toàn bộ những giống loài thuộc khu hệ này mà chỉ có các để tài nghiên cứu ở đạng từng giống loài riêng lẻ và cũng chỉ tập trung ở các giống loài phổ
biến trong sẩn xuất nông nghiệp mà thôi Một vài công trình nghiên cứu đi đến chỗ
định danh các giống loài thực vật được sử dụng làm cây thuốc ở An Giang như cêng trình của Phó tiến sĩ Võ Văn Chi năm 1991 Nhưng nhìn chung, việc định loại và đánh
gid t6ng cuét toàn bộ khu hệ sinh vật của tỉnh là khiếm khuyết và chưa cân đối
- Thủy sinh vật :
Do diện tích mặt nước của Tỉnh chiếm một tỷ lệ khá lớn nên khu hệ thủy sinh vật của tỉnh khá đổi dào Cũng như các tỉnh khác thuộc vùng ĐBSCL, An Giang có
+*
Trang 20thành phần giống loài các thủy sinh vật nước ngọt khá phong phú và mang đặc tính chung của vùng
Do các yếu tố thủy lý, thủy hóa của các thủy vực thay đổi theo mùa nên thành
phần và số lượng của sinh vật trong thủy vực cũng thay đổi theo Thành phần giống
loài Phytoplankton ít biến động nhưng có sự biến động lớn về số lượng: tăng cao vào mùa khô và giảm thấp vào mùa mưa Thành phần giống loài Zooplankton tăng lên
trong mùa mưa do sự phục hồi các thủy vực nước nóng
- Các nhóm động vật đáy ít biến động về thành phần giống loài và sản lượng,
chỉ trừ lép Bivalvia Riêng ở các ruộng ngập nước không thấy có sự hiện diện của Bivalvia
Hiện nay sản lượng của các loài thủy sinh vật này đang bị giảm sút nghiêm
trọng do nạn khai thác bừa bãi trong mùa vụ sinh sản (đặc biệt là các loài cá) và việc đánh bắt cá con Việc sử dụng các phương tiện đánh bắt bằng điện, chất nổ chẳng
những đã làm sụt giảm năng suất thủy sản trong một mùa mà còn tiêu diệt hàng loạt cá
con và các sinh vật khác trong quần thể, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến sản lượng
của những vụ mùa sau
Nhiều loài thủy sản đã bị khai thác đến mức đi đến chỗ tuyệt chủng Sản lượng các loài thủy sản có giá trị kinh tế của tỉnh như cá tra dầu, cá trê trắng, cá lóc, cá bông bị sụt piẩm nghiêm trọng Việc sử dụng quá mức phân bón, thuốc trừ sâu trong sản xuất nông nghiệp gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến năng suất tự nhiên của thủy vực
mà.cu thể là trên các giống loài thủy sinh vật làm thức ăn tự nhiên cho các thủy sinh vật bậc cao Điều này cũng có nghĩa là năng suất của những giống loài này sẽ bị sụt
1997 so với năm 1996 có giảm nhẹ hơn do công tác dự báo, phòng chống được thực
hiện tích cực Tổng thiệt bại năm 1997 là 65 tỉ đồng
+ Sự cố sạt lở:
Năm 1997 hiện tượng sạt lở sông Tiên, sông Hậu và sông Vàm Nao xảy ra rất rầm rộ toàn tỉnh An Giang có 26 điểm đang xảy ra sạt lở, tổng diện tích đất bị xâm thực khoảng 183.360m” Những điểm này chưa ổn định về cung trượi và đang tiếp tục sạt lở vào năm 1998
+ Sự cố cháy rừng:
Trong năm 1997 đã xảy ra 4 vụ cháy rừng, tổng diện tích thiệt hại là 3,74 ha Nguyên nhân cháy chủ yếu là do đốt dọn rẫy gây cháy lan vào rừng trồng So với năm
1996 thì số vụ cháy và diện tích thiệt hại giảm, bằng 51,16% so với năm 1996 (năm
1996 cháy 9 vụ, diện tích thiệt hại 7,31 ha)
8 Nhận định về các diễn biến môi trường:
A Môi trường nước:
Trang 21- Nuée mat:
Trong thời gian qua, việc bảo vệ môi trường nguồn nước mặt đã có chuyển biến
tích cực Tuy nhiên, theo đánh giá của chứng tôi (do quá trình quan trắc chưa tiến hành được thường xuyên) thì chất lượng nước mặt đang có chuyển biến ô nhiễm nặng thêm, đặc biệt là vi sinh và chất hữu cơ Nước từ sông Hậu và sông Tiền đến cuối nguồn
(ranh An Giang - Cần Thơ) nồng độ một số chất ô nhiễm gia tăng Theo dòng chảy tù sông Hân đến biển Tây, nồng độ chất ô nhiễm cũng gia tăng ở mức độ rất cao
Một số khu vực làng nuôi cá bè trên sông Hậu cũng đang xảy ra tình trạng ô nhiễm chất hữu cơ, vi sinh Hiện tượng nuôi cá bè đang ngày càng phát triển, nếu không có biện pháp quy hoạch vùng chăn nuôi thủy sản và xử lý ô nhiễu thì việc ô
nhiễm môi trường sẽ xẩy ra ngày càng trầm trọng hơn
Đối với các hồ chứa nước thuộc các huyện miền núi cũng đang bị ô nhiễm hữu
cơ từ xác bã động thực vật, hiện nay huyện chưa có kế hoạch cải tạo, xử lý và che phủ
bằng cách trồng cây xanh lưu vực cung cấp nước, nên năm 1998 hiện tượng ô nhiễm nước ở 2 hồ chứa nước trên có khả năng chưa khắc phục được
_ Chất lượng nước sau lũ có biến đổi về nông độ vi sinh, mật độ vi sinh thấp hơn mùa khô năm 1998, Nhìn chung nông độ chất ô nhiễm khá cao vào mùa khô, đạt cao
nhất trong vùng Tứ giác Long xuyên
- Nước ngầm:
Theo L số kết quả quan trắc nước ngầm tầng nông đã có dấu hiệu ô nhiễm vi
sinh do quá trình bảo quản trong sử dụng không đảm bảo và kỹ thuật khai thác chưa an toàn Trong 1 vài năm tới nước cũng có thể chưa cải tạo và xử lý hoàn toàn việc ô nhiễm này do chưa có kế hoạch đào tạo, kiểm tra việc khai thác và việc nâng cao ý thức bảo vệ nguồn nước sử dụng là một việc làm cần phải được thực hiện lâu dài và
thường xuyên
- Nước thải công nghiệp và đô thị:
Nông độ các chất ô nhiễm từ các nguồn thải này có thể giảm nhẹ do hiện nay
một số nhà máy đã bắt đầu đi vào thiết kế, xây dựng hệ thống xử lý nước, đã có một số đơn vị khởi công xong trong năm 1997 là: Bệnh viện Đa khoa trung tâm An Giang, nhà
máy chế biến thuốc BVTV An Giang Một số công trình đang đi vào khảo sát thiết kế
như: Bệnh viện Da khoa Châu Đốc, xí nghiệp festi, xí nghiệp chế biến nông sản (đông
lạnh 7 và 8)
HD Môi trường không khí:
Đối với các nguồn thải công nghiệp, ô nhiễm khí có khả năng được hạn chế do chủ cơ sở phải thực hiện các biện pháp bảo vệ môi trường, tự xây dựng các biện pháp
xử lý ô nhiễm Trong năm 1997 một số cơ sở sản xuất công nghiệp cũng đã xây dựng các để án, báo cáo đánh giá tác động môi trường để hạn chế việc gây ô nhiễm
Ở các khu đô thị, nồng độ bụi có khả năng tiếp tục giảm trong năm 1998 nhưng
nồng độ khí Chì, SO¿, NO¿, CxHy có khả năng tiếp tục tăng
Trang 22
C Moi trường rừng:
_ Những năm gần đây việc khôi phục lại rừng đang có chuyển biến tốt, hiện nay công tác bảo vệ rừng đang được dẩy mạnh do đó trong thời gian tới rừng sẽ tiếp tục được che phú, sinh vật rừng cũng từng bước trở lại môi trường rừng
Ill, HOAT DONG BAO VE MOI TRUONG TAI DIA PHUONG
1 Hệ thống tổ chức quản lý Nhà nước về bảo vệ môi trường:
Ngay sau khi có luật bảo vệ môi trường, Sở KHCN&Môi trường An Giang đã thành lập phòng quản lý môi trường (3 nhân sự, năm 1996 bổ sung 3 nhân sự) và
phòng thanh tra (bổ sung 3 nhân sự) Trước đó Sở Nông nghiệp và PTNT cũng đã thành lập Chí cục bảo vệ nguồn lợi thủy sản và Chi cục kiểm lâm, Chỉ cục bảo vệ thực
val
Ban chi đạo Chương trình NS&VSMT nông thôn thực hiện Chỉ thị 200/TTg của Thủ tướng Chính phủ cũng đã được thành lập ở các huyện thị Năm 1997 các Ban chỉ
đạo này cũng được tổ chức củng cố lại
UBND tỉnh các Ban ngành liên quan đã ban hành một số văn bản về bảo vệ
môi trường như sau:
BANG HE THONG CAC VAN BAN VE BVMT
wl | Chỉ thị 07/CT-UB về việc tiếp tục thực | 27-01-1997 - nt - Con hiéu
Chính phủ về đảm bảo nước sạch và vệ
Q2 | Chỉ thị 06/CT-UB về việc lập 29-01-1997 - nt - Đang sửa
các quy hoạch, các đự án và các cơ sẻ
sản xuất kinh doanh đang hoạt động
03 | Quyết định 294/QÐ-UB về việc thành | 28-02-1997 ~ T - Còn hiệu
và cấp giấy phép môi trường tỉnh An
04 | Chỉ thị 14/CT-UB về việc hưởng ứng | 25-4-1997 ~TIE- - nt - tuần lễ nước sạch và VSMT do Thủ
Trang 2307 | Quyét dinh 7378/QD-UB vé viéc thanh | 26-11-1997 - nt - Con
09] Quyết định 640/ QĐUB ban hành bản | 01/4/1998 - nt- ~Tt-
quy định về quản lý bảo vệ và phát
triển động vật rừng hoang dã, quý
| hiếm
10 | Chỉ thị số 16/1998/ CT - UB về việc | 29/4/1998 - nt- -nt-
cấm chăn thả vịt đàn trên đồng ruộng,
2, Công tác thẩm định, lập bản kê khai và lập báo cáo đánh giá tác động môi trường và thanh tra môi trường:
* Sở KHCN&Môi trường đã tổ chức thẩm định, thẩm định và xử lý kê khai các hoạt động gây ô nhiễm môi trường của các cơ Sở Công nghiệp, đến nay trên 1.300 cơ
sở Trong đó:
- 450 cơ sở sẵn xuất đang hoạt động
- 4 dự án
- Gần 850 bản kê khai các loại
* Công tác thanh tra về môi trường:
Iược thành lập từ năm 1995, hoạt động thanh tza môi trường đã tổ chức nhiều
đợt thanh ra diện rộng, giải quyết các đơn khiếu nại, khiếu tố về hành vi gây ô nhiễm
môi trường của các cơ sở sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp
Thực hiện đợt thanh tra diện rộng về BVMT ở các cơ sở sản xuất đã tiến hành
thanh tra 115 cơ sở trên địa bàn tỉnh, trong đó :
+ 28 doanh nghiệp Nhà nước
+ 29 doanh nghiệp tư nhân
+ 57 cơ sở sản xuất nhẻ
+0l công ty liên doanh
- Đã xử lý phạt cảnh cáo 105 cơ sở vị phạm trong số 115 cơ sở được thanh tra và
xử phat LÔ cơ sở
- Thành lập Đoàn kiểm tra liên ngành gồm Sở KH,CN&MIT, Sở thương mại &
du lịch, Công an PCCC tiến hành tổng kiểm tra 254 điểm kinh doanh xăng dầu trên 11 huyện, thị với mục đích nhằm quy định về địa điểm kinh doanh xăng dầu, đảm bảo an
toàn PCCC và vệ sinh môi trường Đặc biệt tỉnh đã chú tâm đến các sự cố về chảy tràn
xăng dầu xuống nguồn nước
- Giải quyết 60 đơn khiếu nại của dân về các hành vi gây ô nhiễm môi trường
- Thành lập Đoàn kiểm tra giải quyết tình trạng gây ô nhiễm môi trường ở Trại chăn nuôi Vĩnh Khánh (huyện Thoại Sơn) và khu thi công lòng hồ Núi Sập (Thoại
Sdn)
- Tiến hành thanh tra định kỳ đối với các cơ sở sản xuất, kinh doanh trên địa
bàn tỉnh gồm 139 cơ sở sản xuất, kinh doanh
23]
Trang 24Nhìn chung trong 4 năm qua, công tác thanh tra chủ yếu tập trung vào mục đích
nhắc nhở, cảnh cáo, chưa chú trọng đến xử phạt Tuy nhiên một số cơ sở gây ô nhiễm môi trường trầm trọng, Tỉnh đã đình chỉ hoạt động như khu khai thác đá ở Núi Sp
(huyện Thoại Sơn) và Núi Sam (thị xã Châu Đốc) e
3 Công tác phòng chống thiên tai, sự cố môi trường:
Hiện tượng thiên tai lũ lụt, sạt lở là hiện tượng xảy ra thường xuyên trên địa
bàn tỉnh An Giang Tỉnh đã thành lập Chương trình nghiên cứu và dự báo sạt lở bè
sông và Ban chỉ đạo phòng chống thiền tai
Việc phòng chống sạt lở đã được thực hiện thông qua công tác nghiên cứu, cảnh
háo để nhân dân trong vùng sạt lở kịp thời di đời Tổng số điểm, dự báo sạt lở trong năm 1997 vừa qua là 26 điểm Năm 1998, công tác kiểm tra, dự báo tiếp tục trên các điểm cũ đồng thời tìm kiếm, dự báo các nơi xuất hiện sạt lở mới
Bên cạnh đó tỉnh đã tiến hành lập dự án kè gia cố bảo vệ một số vùng quan
trọng như thị xã Long Xuyên và đặc biệt là kè bảo vệ tuyến đường biên quốc gia
4 Công tác giáo dục, đào tạo, thông tin tuyên truyền:
Phòng quản lý môi trường thuộc Sở KHCN & MT đã có một nhân sự tham gia lớp cao học về sinh thái môi trường, các nhân sự khác cũng thường được gửi đi đào tạo ngắn hạn về quản lý môi trường do các đơn vị trong nước tổ chức
Công tác thông tin tuyên truyền về môi trường được đặc biệt quan tâm ở tỉnh
An Giang, phòng thông tin thuộc Sở KHCN & Môi trường đã phát hành nhiều tạp chí thông tin chuyên để môi trường Kết hợp với Báo, Đài phát thanh, Đài truyền hình mẻ chương mục đặc biệt về môi trường và các cơ quan phong trào như: Đoàn thanh niên
CS Hội phụ nữ, Sở Giáo đục đẩy mạnh công tác tập huấn, thông tin tuyên truyền Cụ thể: -
Mở chiến dịch tuyên truyền trong toàn dân về môi trường và sử dụng nước sạch
VSäMT:
- Sở KH, CN&MT phối hợp với Sở giáo dục và đào tạo tổ chức tốt hoạt động
tuyên truyền về chương trình nước sạch và VSMT trong học sinh thông qua việc tổ
chức vệ sinh thu gom rác trong trường học, trang bị bộ lọc nước trong trường học
- Tập huấn về công tác giáo dục bảo vệ môi trường cho 110 hiệu trưởng trong toàn tỉnh và 190 giáo viên, học sinh trường tiểu học Mỹ Xuyên, 120 giáo viên, cán bộ
Phong giáo dục huyện Chợ Mới
- 'Tổ chức tập huấn cho hơn 600 cơ sở sản xuất công nghiệp về luật bảo vệ môi trường và các biện pháp giảm thiểu ô nhiễm môi trường
- Tổ chức đợt thi về bảo vệ môi trường ở các trường học trong toàn tỉnh và chọn các trường điểm để khen thưởng
- Phối hợp với Hội liên hiệp phụ nữ Tỉnh tập huấn về sử dụng nước sạch và
VSMT cho 80 cán bộ Hội phụ nữ các Huyện, thị; vận động các phụ nữ sử dụng bình lọc nước, đun sôi nước uống
.~ Tổ chức ra quân 2 đợt “Ngày chủ nhật xanh” trong toàn tỉnh, trồng cây nơi công cộng, đường liên tỉnh, trường học, khu lưu niệm, nghĩa trang; tham gia làm vệ
sinh cống rãnh, cơ quan, đường phố
Trang 25- Phát động thực hiện “Tuần lễ nước sạch và VSMT” trong toàn tỉnh
5, Hoạt động phối hợp giữa cơ quan quản lý môi trường với các cấp chính quyền và các Ban ngành liên quan
Sự phối hợp trong tỉnh giữa Sở KHCN & Môi trường và các cơ quan liên quan trong địa phương khá chặt chẽ như: UBND Tỉnh, Sở Tư pháp, Sở Công nghiệp, sở NN
& Phát triển nông thôn, Sở Kế hoạch và Đầu tư, Sở Y tế, Sở Giáo dục và đào tạo, Hội
Phụ Nữ, Đoàn thanh niên, báo, Đài phát thanh, truyền hình và các địa phương
Đối với các địa phương tuy có phối hợp nhưng côag tác triển khai các công việc cụ thể còn rất yếu, do không có nhân sự trực tiếp unis hiện Đây là trong những
vấn đế khó khăn của Sở KHCN & Môi trường
Sự phối hợp với các cơ quan Trung ương trong năm qua cũng còn khá rời rạc,
chưa chặt chê Sở đã gặp nhiều khó khăn trong công tác triển khai các thông tư, Chỉ thị
và thông báo vì chưa được hướng dẫn chi tiết và cụ thế Tuy nhiên, nhìn chung các loại văn bản pháp lý của Trung ương cũng được triển khai đầy đủ và đạt hiệu quả
IV HOẠT ĐỘNG NGHIÊN CỨU TRIỂN KHAI VE BAO VE MOI TRUONG
Trong năm 1997 Sở KHCN & Môi trường đã nghiên cứu triển khai các để tài sau:
- Lập để án tiền khả thi, xây dựng phương án gia cố bờ phải sông Hậu, đoạn xã
Khánh An, Khánh Bình - An Phú - An Giang, bảo vệ lãnh thổ quốc gia
- Điều tra nguyên nhân và dự báo sạt lở sông Tiền, sông Hậu và sông Vàm Nao
( Giai đoạn 2)
- Tìm kiếm đánh giá các loại sét làm nguyên liệu cho công nghệ gạch lò tunel,
gach ceramic tại Tri Tôn - Tịnh Biên An Giang
- Quy hoạch các vùng khoáng sản làm vật liệu xây dựng
- Ảnh hưởng của vận chuyển và bồi lắng phù sa trên năng suất lúa và đồng vật
thủy sinh
V PHƯƠNG HƯỚNG , KẾ HOẠCH THỰC HIỆN BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG
Ô Nhiễm môi trường đô thị và ô nhiễm môi trường nông thôn đều là vấn để quan tâm hàng đầu của Tỉnh An Giang, đặc biệt là môi trường nước và các vấn để sụ
cố môi trường lũ lụt, sạt lở Vì vậy, với mục tiêu nâng cao ý thức nhận thức về BVMT
sâu rộng trong quần chúng nhân dân, t ăng cường tiểm lực quản lý bảo vệ môi trường ẻ
3 cấp: Tỉnh, huyện và phường xâ hạn chế suy thoái môi trường, gia tăng tỷ lệ phủ xanh đất trống và n găn chặn tối đa việc gây ô nhiễm môi trường, đặc biệt chú ý đến môi trường do quá trình công nghiệp hóa và đô thị hóa gây ra, tỉnh có phương hướng
thực hiện như sau:
Trang 261, Tăng cường công tác tuyên (ruyền nâng nhận thức môi trường
- Đẩy mạnh hoạt động của các cơ quan ban ngành, đoàn thể , các cơ quan thông
tin tuyên truyền đến quần chúng nhân dân các biện phap bảo vệ môi trường đất, nước, không khí, rừng
- Făng cường công tác đào tạo cho các cán bộ phong :rào, cán bộ chuyên môn, đồng thời mớ rộng việc tập huấn hướng dẫn các biện pháp bảo vệ môi trường cho các
cơ sở sản xuất và nhân dân trong tính
- Đầu tư thích đáng hỗ trợ công tác phong trào nâng cao nhận thức môi trường trong nhân dân
2 Tang cường công tác quản lý Nhà nước về BVMT :
- Các cơ sở sản xuất công nghiệp có gây ô nhiễm miôi trường phải đưa ra các
biện pháp khắc phục, giảm thiểu ô nhiễm, đặc biệt tập trung vào các doanh nghiệp Nhà nước và công ty liên doanh
- Các dự án đầu tư, các công trình xây dựng cơ bản mới cần có các công trình v‡
sinh, nước cấp và xử lý ô nhiễm
- Tiếp tục nghiên cứu quan trắc môi trường trên địa bàn tỉnh nhằm cảnh bác và
dự báo diễn biến môi trường phục vụ cho các chương trình trọng điểm của tỉnh
- Các đơn vị chức năng : Sở KH,CN&MT, Chi cục kiểm lâm, Chi cục BVTV,
Chi cục bảo vệ nguồn lợi thủy sản, Thanh tra giao thông, Trung tâm y tế dự phòng phải thực hiện tốt chức năng được phân công
3, Tăng cường các công trình xử lý rác thải, thoát nước, vệ sinh công cộng ở thị xã, thị trấn :
- Thu gom và xử lý rác ở thị xã Long Xuyên và Châu Đốc
- Tăng cường đầu tư các phương tiện thu gom rác vận chuyển rác ở hai thị xã
- Quy hoạch, chỉnh trang bãi chôn lấp rác theo hướng ứng dụng công nghệ ủ
sinh học sử dụng phương pháp vi sinh để hạn chế mùi hôi và khử trùng tại bãi chôn lấp rác
- Trang bị hệ thống đựng rác có nắp đậy
4 Bãi trung chuyển :
+ Đối với khu vực thị trấn :
- Tiến hành quy hoạch bãi chôn lấp rác (tối thiểu 0.5ha) ở vi trí phù hợp
- Đầu tư trang bị thêm xe thu gom rác,giải tổa di đời các gái rác ở ven sông
- Thoát nước và xử lý nước thải đồ thị
+ Đối với khu vực thị xã :
- Hoàn tất 2 dự án thoát nước và xử lý nước ở Long Xuyên và Châu Đốc (Sẻ KH,CN&MT chủ trì)
- Tập trung nạo vét các rạch Cái Sơn, Tầm Bót và rạch Long Xuyên (đoạn tù
cầu Duy Tân đến cầu Nguyễn Trung Trực)
Trang 27- Xử lý nước thải và rác thải bệnh viện Tất cả các bệnh viện còn lại (trừ BVĐK trung tâm) phải xây dựng hệ thống xử lý nước thải và lò thiêu đốt rác, bệnh phẩm (Sẻ
y tế thực hiện)
- Giải quyết về bụi, khói do giao thông: đưa chương trình kiểm tra định kỳ mức
độ ô nhiễm của các phương tiện giao thông thủy, bộ (Sở GTVT thực hiện)
5, Bảo vệ và phát triển rừng :
- Tích cực triển khai dự án 327 về trồng rừng, bên cạnh đó triển khai dự án
trồng cây phân tán, đai rừng chắn gió cản lũ, chống sạt lở, các công trình hạ tầng (Chi
cục kiểm lâm thực hiện)
- Tái tạo rừng ở các khu vực Núi Sam Núi Sập, Núi Nam Quy, đổi Tức Dụp
- Tổ chức thực hiện dự án kênh đê bao rừng tràm Trà Sư kết hợp nuôi thả động vật rừng tràm ngập nước, tái tạo môi trường sinh thái
-_ 6, Các biện pháp hạn chế ô nhiễm hóa chất nông nghiệp vùng nông thôn :
- Tăng cường thực hiện tốt chương trình IPM và FPR thông qua các công tác
- Tổ chức lớp tập huấn trên đồng ruộng
- Phát động tuyên truyền nông dân thực hiện và quản lý tốt việc kinh doanh
phân bón, thuốc trừ sâu
- Nghiêm cấm triệt để giải pháp sạ ngầm
- Khuyến cáo nông dân sử dụng phân sinh học, phân hữu cơ
7, Thực hiện tốt Chương trình nước sạch va VSMT :
- Giải quyết vệ sinh môi trường nông thôn bằng giải pháp quy hoạch cải tạo
- Tàng cường thực hiện quy hoạch khu dân cư, kết hợp san nên vượt lũ để từ đó lồng ghép vào chương trình nước sạch và VSMT
- Nâng cao nhận thức BVMT, đây là vấn để có ý nghĩa quyết định cho việc thực
hiện có hiệu quả Luật BVMT
- Xây dựng một ý thức tự giác BVMT trong nhân dân, đặc biệt chú ý đến thế hệ
trẻ em, học sinh sẽ là nền tảng cho công việc BVMT lâu dài
- Triển khai dự án “Đưa giáo dục môi trường vào trường học” đồng thời đưa
môn học BVMT thành một trong những hoạt động ngoại khóa của Đội thiếu niên, Đoàn thanh niên
- Thành lập hệ thống mạng lưới cán bộ ở Huyện, thị và xã, phường để gia tăng
công tác làm sạch môi trường ở địa phương, kết hợp xử lý nghiêm các hành vi gây ô
nhiễm môi trường
8 Thực hiện các biện pháp phòng chống sạt lỡ, xâm nhập mặn:
- Đầu tr nghiên cứu khảo sát để đữ báo nơi sạt lỡ , xâm nhập mặn đồng thời
xây dựng hệ thếng kè đê bả‹: vệ bảo vệ khi cần thiết
23
Trang 28- Theo doi quan trắc xâm nhập mặn, nghiên cứu các biện pháp phòng chống ngăn chặn kịp thời khi có sự cố
Tóm lại, nhiệm vụ bảo vệ môi trường là nhiệm vụ chung của các ngành, các cấp và toàn dân Để Luật BVMT được thực hiện có hiệu quả đòi hỏi phải có sự quan tâm chỉ đạo sâu sát và liên tục của các ngành đồng thời ý thức và trách nhiệm của mọi _
người theo đúng tỉnh thần “Bảo vệ môi trường là sự nghiệp của toàn dân và của từng
người ”
VI KIẾN NGHỊ
- Xây dựng trạm quan trắc chất lượng nước vùng đầu nguồn nước đồng bằng
sông Cửu long, đặt tại các huyện Tân Châu An Phú (Giáp biên giới Campuchia) theo hai sỏng chính: Sông liền và sông Hậu Mở rộng phân tích các chỉ tiêu để xác địnn
mức độ ô nhiễm: As, Pb, Mn, Zn, Cu, Cd Tổng hóa chất thuốc bảo vệ thực vật và một
số thuốc tồn lưu khác
- Đào tạo, nghiệp vu, kỹ thuật quần lý môi trường, xử lý môi trường, đầu tư đẩy mạnh công tác tuyển truyền môi trường cũng như về nước sạch và vệ sinh môi trường, nhằm hạn chế các chất thải sinh họat sản xuất của dân địa phương xuống nguồn nước
mặt và nước ngầm và môi trường không khí
- Tăng cường đầu tư cho các công trình cung cấp nước sạch và vệ sinh môi
trường phục vụ nông thôn
- Trang bị thiết bị quan trắc chất lượng môi trường không khí, kịp thời quan trắc
các khu vực sản xuất công nghiệp
- Đầu tr nghiên cứu cảnh báo sạt lở bờ sông , quan trắc hiện trạng môi trường
thường xuyên theo dõi cảnh báo định kỳ đúng tiến độ
26