Đinh Thị Dinh, tôi đã từng bước nghiên cứu khóa luận với đề tài: “Xác định nồng độ GA3 thích hợp cho sự sinh trưởng, phát triển của cây lan Đai Châu tại Gia Lâm, Hà Nội”.. Xuất phát từ y
Trang 1KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Sư phạm Kỹ thuật Nông nghiệp
Người hướng dẫn khoa học
ThS ĐINH THỊ DINH
HÀ NỘI - 2015
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Trong suốt quá trình tìm hiểu và nghiên cứu tại viện rau hoa, quả, nhận
được sự giúp đỡ nhiệt tình của ThS Đinh Thị Dinh, tôi đã từng bước nghiên cứu khóa luận với đề tài: “Xác định nồng độ GA3 thích hợp cho sự sinh trưởng, phát triển của cây lan Đai Châu tại Gia Lâm, Hà Nội”
Qua đây, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến cô Đinh Thị Dinh, các anh chị trong Viện nghiên cứu rau hoa, quả tại Trâu Qùy, Gia Lâm, Hà Nội; các thầy cô trong khoa Sinh- KTNN cùng các thầy cô trong trường Đại học sư phạm Hà Nội
2 đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi hoàn thành khóa luận này
Cuối cùng tôi xin chân thành gửi lời cảm ơn tới gia đình, tập thể bạn bè, những người đã động viên giúp đỡ tận tình và tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài
Một lần nữa tôi xin chân thành cảm ơn tất cả!
Hà Nội, tháng … năm 2015
Sinh viên
Nguyễn Thị Thu
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đề tài là do tôi trực tiếp nghiên cứu và có tham khảo tài liệu của một số nhà nghiên cứu, một số tác giả Tuy nhiên, đó là cơ sở để tôi thực hiện đề tài này Đề tài này là kết quả nghiên cứu của cá nhân tôi, các nội dung nghiên cứu và kết quả trong đề tài là trung thực và chưa được báo cáo trong các hội nghị khoa học nào Nếu phát hiện bất cứ gia lận nào tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm trước hội đồng
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, tháng… năm 2015
Sinh viên
Nguyễn Thị Thu
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục đích, yêu cầu của đề tài 2
2.1 Mục đích 2
2.2 Yêu cầu 2
3 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn 2
3.1 Ý nghĩa khoa học 2
3.2 Ý nghĩa thực tiễn 2
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1 Nguồn gốc xuất xứ, phân bố và phân loại của cây hoa lan 3
1.1.1 Nguồn gốc xuất xứ 3
1.1.2 Tình hình phân bố hoa lan trên thế giới 4
1.1.3 Phân loại hoa lan 5
1.2 Giá trị của cây hoa lan 5
1.3 Giới thiệu chung về cây hoa lan và lan Đai Châu 7
1.3.1 Đặc điểm thực vật học của cây hoa lan 7
1.3.2 Đặc điểm thực vật học của lan Đai Châu 10
1.3.3 Yêu cầu về điều kiện ngoại cảnh của lan Đai Châu 11
1.4 Tình hình sản xuất và phát triển phong lan trên thế giới và ở Việt Nam 13
1.4.1 Tình hình sản xuất và xu hướng phát triển lan trên thế giới 13
1.4.2 Tình hình sản xuất và phát triển hoa lan ở Việt Nam 15
1.5 Tình hình nghiên cứu về hoa lan trên thế giới và ở Việt Nam 16
1.5.1 Một số kết quả nghiên cứu về hoa lan trên thế giới 16
1.5.2 Một số kết quả nghiên cứu hoa lan ở Việt Nam 17
1.6 Nghiên cứu về chất điều hòa sinh trưởng 21
1.6.1 Giới thiệu chung về chất điều hòa sinh trưởng 21
1.6.2 Giới thiệu về Gibberellin 21
Trang 51.6.3 Nguyên tắc và phương pháp sử dụng chất điều hòa sinh trưởng 23
1.6.4 Một số nghiên cứu về chất điều hòa sinh trưởng 24
CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 26
2.1 Đối tượng nghiên cứu 26
2.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu 26
2.2.1 Địa điểm nghiên cứu 26
2.2.2 Thời gian nghiên cứu 26
2.3 Nội dung nghiên cứu 26
2.4 Phương pháp nghiên cứu 26
2.4.1 Bố trí thí nghiệm 26
2.4.2 Sơ đồ ruộng thí nghiệm 27
2.4.3 Cách pha hóa chất và phun 27
2.4.4 Phương pháp xác định các chỉ tiêu theo dõi 28
2.4.5 Phương pháp xử lý số liệu 28
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 29
3.1 Đặc điểm hình thái của giống lan Đai Châu trắng đốm tím 29
3.2 Ảnh hưởng của nồng độ GA3 khác nhau đến khả năng tăng trưởng số lá, chiều dài, chiều rộng lá của của giống lan Đai Châu trắng đốm tím 29
3.3 Ảnh hưởng của nồng độ GA3 khác nhau đến khả năng tăng trưởng chiều cao và đường kính thân cây của giống lan Đai Châu trắng đốm tím 33
3.4 Ảnh hưởng của nồng độ GA3 khác nhau đến khả năng tăng trưởng bộ rễ, kích thước rễ của giống lan Đai Châu trắng đốm tím 35
3.5 Ảnh hưởng của nồng độ GA3 khác nhau đến năng suất và chất lượng hoa của giống lan Đai Châu trắng đốm tím 38
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 40
TÀI LIỆU THAM KHẢO 42
PHỤ LỤC 45
Trang 6DANH MỤC BẢNG
Bảng 3.1 Ảnh hưởng của nồng độ GA3 khác nhau đến khả năng tăng trưởng số
lá, chiều dài, chiều rộng lá của giống lan Đai Châu trắng đốm tím 30 Bảng 3.2 Ảnh hưởng của nồng độ GA3 khác nhau đến khả năng tăng trưởng chiều cao và đường kính thân cây của giống lan Đai Châu trắng đốm tím 34 Bảng 3.3 Ảnh hưởng của nồng độ GA3 khác nhau đến khả năng tăng trưởng số
rễ, kích thước rễ của giống lan Đai Châu trắng đốm tím 36 Bảng 3.4 Ảnh hưởng của nồng độ GA3 khác nhau năng suất và chất lượng hoa của giống lan Đai Châu trắng đốm tím 38
Trang 7Với người Phương Đông hoa lan được chú ý đến vì vẻ đẹp duyên dáng của lá, hương thơm tuyệt vời của hoa Hoa lan đối với người Trung Quốc hay người Nhật Bản được tượng trưng cho tình yêu và vẻ đẹp quý phái Khổng Tử
đề cao hoa lan ví lan là vua của các loài cây cỏ có hương thơm
Trong số các loài lan đang được ưu chuộng hiện nay thì lan Đai Châu nổi bật hơn hẳn, với vẻ đẹp quý phái toát lên bởi dáng vẻ của cây, bởi hương thơm
và màu sắc tươi tắn
Lan Đai Châu được trồng nhiều trên thế giới, hầu hết là ở Đài Loan, Thái Lan, Hoa Kỳ vv Lợi nhuận đem về từ việc xuất khẩu cây con,cây có hoa đều lớn
Việt Nam trong những năm gần đây, cùng với sự phát triển nhanh chóng của kinh tế xã hội nhu cầu sử dụng hoa lan nói chung, lan Đai Châu nói riêng cũng phát triển nhanh Lan Đai Châu không chỉ dùng trong dịp lễ tết như trước đây mà nhu cầu về hoa trong cuộc sống thường ngày của người dân cũng rất lớn, bên cạnh nhu cầu về số lượng cũng đòi hỏi ngày càng cao về chất lượng Tuy nhiên, hiện nay việc sản xuất hoa lan nói chung và lan Đai Châu nói riêng mới chỉ phát triển mãnh mẽ ở các tỉnh phía Nam và chủ yếu ở quy mô hộ gia đình, diện tích nhỏ lẻ Bên cạnh đó những nghiên cứu về lan Đai Châu chỉ tập trung nghiên cứu nhân nhanh các giống mà chưa chú trọng nhiều đến các biện pháp kĩ thuật Nhất là các biện pháp kĩ thuật mới như phun bổ sung các chất điều hòa
Trang 8sinh trưởng Mặt khác, mỗi loài lan phù hợp với nồng độ phun khác nhau.Vì vậy cần tiến hành các nghiên cứu một cách cụ thể
Xuất phát từ yêu cầu thực tế khách quan trên, cũng như góp phần phát triển ngành trồng lan Đai Châu ở Việt Nam, tôi đã tiến hành nghiên cứu đề tài:
“Xác định nồng độ GA3 thích hợp cho sự sinh trưởng, phát triển của cây lan Đai Châu tại Gia Lâm, Hà Nội”
2 Mục đích, yêu cầu của đề tài
2.1 Mục đích
Đánh giá ảnh hưởng của các nồng độ GA3 khác nhau đến sự sinh trưởng, phát triển và sự hình thành hoa của lan Đai Châu qua đó xác định được nồng độ GA3 thích hợp cho sinh trưởng, phát triển của lan Đai Châu
3.2 Ý nghĩa thực tiễn
Thông qua đánh giá khả năng sinh trưởng, phát triển của giống lan Đai Châu sau khi phun GA3 ở các nồng độ khác nhau để lựa chọn được nồng độ phun thích hợp nhất, từ đó bổ sung và hoàn thiện quy trình trồng phục vụ sản xuất
Trang 9CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Nguồn gốc xuất xứ, phân bố và phân loại của cây hoa lan
1.1.1 Nguồn gốc xuất xứ
Mới đầu người ta tưởng rằng cây hoa lan được biết đến đầu tiên ở châu
Âu qua bản viết tay bằng chữ Hy Lạp (Enenquiry into plans) của Theophrastus
(khoảng 379 đến 285 trước công nguyên) nhưng thực ra cây hoa lan được biết đến đầu tiên ở phương Đông khoảng từ 551 – 497 trước côngnguyên
Cây hoa lan được nhắc đến nhiều nhất là ở Trung Quốc Theo tác giả Bretchacidon thì từ đời vua Thần Nông (2800 trước công nguyên) một số loài lan rừng đã được sử dụng làm thuốc chữa bệnh
Đa số hoa lan thường mọc ở các vùng nhiệt đới và đã được các thủy thủ, các lái buôn mang tới Châu Âu Có thể nói, Pharatus (376 -285 trước công nguyên) được coi là cha đẻ của ngành lan học, vì ông là người đầu tiên dùng từ
Orchids để chỉ một loài lan củ tròn Tiếp sau đó, Linneaus (1707 - 1778) và
Bron (1779 - 1858) là những người đầu tiên phân biệt rõ ràng họ lan với các họ thực vật khác Nhưng người đặt nền tảng cho môn học về hoa lan là Joanlind (1779 - 1855) Vào năm 1836 ông đã công bố tài liệu (A Tabuler View of the tribes of Orchidea) để sắp xếp các loài và chi thuộc họ lan Tên của họ lan do ông đưa ra vẫn được sử dụng cho đến ngày nay [7]
Ở Việt Nam, dấu vết nghiên cứu về lan buổi đầu không rõ ràng lắm Nhưng có lẽ người đầu tiên khảo sát về lan là Joanisde Loureiro - nhà truyền giáo người Bồ Đào Nha, ông đã mô tả cây lan Việt Nam trong cuốn “ Flora de cochinchinensis” (1789) Chỉ sau khi người Pháp đến Việt Nam mới có những công trình được công bố là của A.Gnillaumin, tác giả đã mô tả 101 chi gồm 750 loài lan cho cả 3 nước Đông Dương trong bộ “Thực vật chí Đông Dương” do
H Lecomte chủ biên, xuất bản từ 1932 – 1934 Bên cạnh đó cũng có một số tác giả Việt Nam nghiên cứu về lan như Phạm Hoàng Hộ chỉ ra ở Việt Nam có tới
755 loài lan (Cây cỏ Việt Nam- quyển III, 1999) [6]
Trang 101.1.2 Tình hình phân bố hoa lan trên thế giới
Họ lan là họ thực vật giàu loài nhất với 750 chi và 20000 - 25000 loài (theo A.L.Takhtajan 1987) họ lan đã chiếm vị trí thứ hai - sau họ Cúc
Asteraceae trong ngành Thực vật hạt kín (Magnoliophyta = Angiospermae) và
là họ lớn nhất trong lớp Một lá mầm (Liliopsida = Monocotyledones) Chính vì
thế, hình thái, cấu tạo cũng như hệ thống phân loại họ này hết sức đa dạng và phức tạp [8]
Và cũng vì số lượng loài lớn nên hoa lan phân bố ở khắp nơi trên trái đất Chúng phân bố từ 68 độ vĩ Bắc đến 56 độ vĩ Nam, nghĩa là gần cực Bắc từ Thuỵ Điển , Alaska xuống đến các đảo cuối cùng của cực Nam ở Ostralia
Tuy nhiên tập trung phân bố của họ này là ở trên các vĩ độ nhiệt đới, đặc biệt Châu Mỹ và Đông Nam Á Ngay ở các vùng nhiệt đới họ phong lan cũng phân bố rộng khắp từ vùng đầm lầy sát Biển Hồ qua các đồi núi thấp lên các vùng núi cao Mặc dù đa số các loài lan chỉ mọc ở độ cao dưới 2000m so với mặt nước biển, song có một số ít loài sống cả ở độ cao 5000m so với mặt nước biển
Chúng hoặc sống ở đất, nơi hốc vách đá, hoặc sống phụ, sống hoại trên cây gỗ Ở xứ lạnh, hoa lan sống ở đất thường có các cụm hoa màu ít sặc sỡ, sống chen lẫn với các đám cỏ ven rừng, trên các bãi hoang, hay trên các triền núi bên các bụi cây thấp Còn các loài lan sống ở đất vùng nhiệt đới thì thật đa dạng, chúng mọc ra các cụm hoa sặc sỡ, ngào ngạt hương thơm nổi bật giữa các đám
lá xanh nơi đồng cỏ, trong các cánh rừng thưa, hoặc mọc ẩn, len lỏi dưới các bụi cây của các cánh rừng ẩm ướt, thậm chí ven các đầm lầy, đâu đâu cũng có lan sinh sống
Trang 111.1.3 Phân loại hoa lan
Qua quá trình nghiên cứu và phân loại, họ lan đã được xác định là nằm trong hệ thống phân loại thực vật
Cây hoa lan thuộc họ lan (Orchidaceae), bộ lan (Orchidales), phân lớp hành (Lilidea), lớp một lá mầm (Monocotyledoneae), ngành ngọc lan- thực vật hạt kín (Magnoliophyta) [1], [2]
Theo những nghiên cứu trước đây họ lan được chia làm 3 họ phụ Nhưng những phân tích gần đây lại cho rằng họ lan có 6 họ phụ và đó là các họ:
Apostasiscideae; Orchidadeae; Cypripedicideae; Epidendroideae; Neottioideae
và Vandoideae
Theo thống kê sơ bộ mới đây của giáo sư Leonid V.Averyanov thì ở Việt Nam có khoảng 152 chi, 897 loài lan [14] Với số lượng đó cũng đủ cho ta thấy
sự phong phú và đa dạng của họ lan Việt Nam
1.2 Giá trị của cây hoa lan
Từ xưa hoa lan đã được coi là loại hoa vương giả Trước đây, khi Khổng
Tử từ nước Vệ về nước Lỗ đi ngang qua vùng núi sâu hẻo lánh thấy nhiều loài
Hoa lan sở dĩ được nhiều người yêu thích và ngợi khen vì vẻ đẹp duyên dáng, với hàng trăm ngàn kiểu dáng khác nhau, màu sắc hoa tươi thắm và đa dạng, mùi hương thoang thoảng, ngọt ngào làm ngây ngất lòng người
Khổng Tử đề cao lan là vua của những loài cây cỏ có hương thơm.Hoa lan đối với người Trung Quốc hay đối với người Nhật được tượng trưng cho tình
Trang 12yêu và vẻ đẹp, hương thơm tao nhã tượng trưng cho một vẻ đẹp quý phái, thanh lịch Hoa lan còn tượng trưng cho sự đông đủ của con cái hay chính là phúc của gia đình
Sự khác biệt giữa hoa lan với các loài cây có hoa khác đó chính là thời gian hoa tàn Nếu hoa lan được giữ trong điều kiện thích hợp thì hoa có thể giữ nguyên hương, nguyên sắc từ 2 tuần cho đến 2 tháng, có những loại đến 4 tháng
Lan thường sống trên các thân cây, cành cây khác nhưng không phải là loài ký sinh vì nó không hút chất dinh dưỡng, không gây hại cho cây mà chỉ mượn cây làm chỗ dựa, nhiều trường hợp đem lại lợi ích cho cây mà chúng bám lên
Xét về mặt kinh tế, lợi nhuận từ vườn lan mang lại cao hơn nhiều lần các loại cây trồng nông nghiệp khác Theo thống kê của vụ kế hoạch thuộc Bộ NN & PTNT nếu trồng lan cắt cành Dendrobium và Mokara thì 1 ha có thể cho doanh thu 500 triệu - 1 tỷ đồng/ ha/năm Hiện nay trên thế giới, một số nước xuất khẩu hoa lớn như Thái Lan, Đài Loan, Hà Lan, đang có xu hướng mở rộng diện tích các trang trại trồng hoa lan, các dự án đầu tư cho ngành thương mại hoa lan cũng không ngừng gia tăng [4]
Ngoài ra lan còn được khai thác nhằm mục đích làm dược liệu và hương
liệu Mộtsố chi đặc biệt có giá trị kinh tế như: chi lan Kiếm (Cymbidium) có 67 loài , chi Hoàng Thảo (Dendrobiu) có hơn 130 loài , chi Cát lan (Cattleya) có hơn 40 loài , chi Quế lan hương (Aerides) có hơn 26 loài , chi Đai châu
(Rhynchostylis) có 30 loài , chi Hồ điệp (Phaleanopsis) có 40 loài
Trang 131.3 Giới thiệu chung về cây hoa lan và lan Đai Châu
1.3.1 Đặc điểm thực vật học của cây hoa lan
Theo tác giả Trần Hợp, (1990) cây lan được mô tả như sau:
Rễ lan
Họ lan bao gồm các cây thân thảo, sống lâu năm, sống ở đất, vách đá hoặc sống phụ, sống hoại
Khi sống ở đất, chúng thường có củ giả, rễ mập và xum xuê hoặc có chân
rễ bò dài hay ngắn Tuy nhiên, nét độc đáo của họ lan là lối sống phụ (bì sinh) bám, treo lơ lửng trên các thân cây gỗ khác Hệ rễ phát triển nhiều hay ít phụ thuộc vào hình dạng chung của cơ thể
Rễ lan được bao bọc bởi một lớp mô hút dày, ẩm, bao gồm những lớp tế bào chết chứa đầy không khí Với lớp mô xốp đó, rễ không những có khả năng hấp thu nước mưa chảy dọc trên vỏ cây mà còn lấy được nước lơ lửng trong không khí (sương sớm hay hơi nước)
Thân cây họ lan
Thân rất ngắn hay kéo dài, đôi khi phân nhánh, mang lá hay không mang
lá Theo M.E Pfizer (1882) ( dẫn theo Trần Hợp, 1990), lan có 2 loại thân, mà
đa số thuộc loại sinh trưởng hợp trục (nhóm không thân) Thân này gồm hệ thống của nhiều nhánh lâu năm, với bộ phận nằm ngang, bò dải trên giá thể hay
ẩn sâu trong lòng đất, gọi là thân rễ Ngược lại, rất ít khi gặp các loài lan sinh trưởng đơn trục (nhóm có thân) nghĩa là sự sinh trưởng của trục chính không giới hạn, làm cho thân rất dài, cơ thể khó có khả năng duy trì được tư thế thẳng đứng, nó phải nhờ đến các rễ chống đỡ để vươn cao, nếu không, nó đành phải bò dài hay leo cuốn Đôi khi thân của một số loài lan rất ngắn, bị che khuất bởi hệ thống lá hay rễ mọc thành bụi dày
Ở các loài lan sống phụ, có nhiều đoạn phình lớn, tạo thành củ giả (gỉa hành) Đó là bộ phận dự trữ nước và chất dinh dưỡng để nuôi cây trong hoàn cảnh khô hạn khi sống bám trên cao Củ giả rất đa dạng, hoặc hình cầu, thuôn
Trang 14dài, xếp sát nhau hay rải rác, đều đặn (Bulbophylum) hay hình trụ xếp chồng chất lên nhau thành một thân giả (Dendrobium)
Lá lan
Hầu hết các loài lan đều là cây tự dưỡng, do đó nó phát triển rất đầy đủ hệ thống lá, lá mềm mại, duyên dáng và hấp dẫn Lá mọc đơn độc, hoặc xếp dày đặc ở gốc, hay xếp cách đều đặn trên thân, trên củ giả Phiến lá trải rộng hay gấp lại theo các gân vòng cung, những lá dưới sát gốc thường tiêu giảm đi chỉ còn những bẹ không có phiến hay giảm hẳn thành các vẩy
Về màu sắc, phiến lá thường có màu xanh bóng, nhưng đôi khi hai mặt lá
có màu khác nhau thường mặt dưới lá có màu xanh đậm hay tía, mặt trên lá khảm thêm nhiều màu sắc sặc sỡ Nhiều loài lan lại có lá màu hồng và nổi lên các đường vẽ trắng theo các gân rất đẹp
Hoa lan
Cấu tạo của hoa lan cực kỳ phong phú và hấp dẫn Ta có thể gặp nhiều loài mà mỗi mùa chỉ có một đoá hoa nở hoặc có nhiều cụm hoa mà mỗi cụm chỉ đơm một bông, nhưng đa số các loài lan đều nở rộ nhiều hoa, tập hợp thành chùm (đôi khi phân nhánh thành chuỳ) phân bố ở đỉnh thân hay nách lá
Mặc dù muôn hình, muôn vẻ nhưng nếu ta quan sát tổng quát hoa của bất
kỳ cây lan nào cũng đều thấy có một tổ chức đồng nhất của mẫu hoa 3 là một kiểu hoa đặc trưng của lớp một lá mầm, nhưng đã biến đổi rất nhiều để hoa có đối xứng qua một mặt phẳng Bên ngoài có 6 cánh hoa, trong đó 3 cánh hoa ngoài cùng gọi là 3 cánh đài, thường có cùng màu sắc và cùng kích thước với nhau, một cánh đài nằm ở phía trên hay phía sau của hoa gọi là cánh đài lưng, hai cánh đài còn lại nằm ở hai bên gọi là cánh đài cạnh hay cánh đài bên Ba cánh đài lẽ ra phải nhỏ và có màu xanh như những loài hoa khác, nhưng ở hoa lan chúng lại to và có màu sắc, cùng kích thước với nhau dược gọi là cánh đài dạng cánh Nằm kề bên trong và xen kẽ với 3 cánh đài là 2 cánh hoa, thường giống nhau về hình dạng, kích thước cũng như màu sắc nên được gọi là 2 cánh
Trang 15bên, cánh còn lại nằm ở phía trên hay phía dưới của hoa, thường có màu sắc và hình dạng đặc biệt khác hẳn 2 cánh kia được gọi là cánh môi hay cánh lưỡi Chính cánh môi quyết định phần lớn giá trị thẩm mỹ của cả hoa lan
Ở giữa hoa có một cái trụ nổi lên, đó là bộ phận sinh dục của hoa, giúp duy trì nòi giống của cây lan Trụ ấy gồm cả phần sinh dục đực và cái nên được gọi là trục - hợp nhuỵ Phần đực nằm ở bên trên của trục, thường có cái nắp che chở, bên trong chứa phấn khối màu vàng, số lượng phấn khối biến đổi từ 2,4,6 đến 8 có dạng thuôn hay cong lưỡi liềm, đôi khi thuôn dài, có đuôi Phấn khối
do nhiều hạt phấn dính lại với nhau Số lượng, hình dạng, kích thước của phấn khối thay đổi tuỳ theo giống và loài lan
Hoa phong lan có bầu hạ, thuôn dài kéo theo cuống (rất khó phân biệt giữa bầu và cuống hoa) Sự vặn xoắn toàn bộ hoa trong quá trình phát triển là đặc điểm của bầu Hoa thường bị vặn xoắn 1800
sao cho cánh môi khi hoa bắt đầu
nở hướng ra bên ngoài, ở vào phía dưới, làm chỗ đậu thuận lợi cho côn trùng Rất ít khi gặp hoa vặn 3600
như loài Malaxia, Paludosa hoặc không vặn gì do cuống hoa rủ xuống như loài Stanhopea, khi hoa nở, cánh môi hướng lên trên,
nó thích nghi với loài côn trùng ưa lộn đầu xuống khi chui vào hoa
Bầu hoa lan có 3 ô gọi là 3 tâm bì hoặc bì đính noãn trung trụ (ở các loài lan nguyên thuỷ) hoặc đính noãn bên ở các loài lan tiến hoá hơn Trong bầu chứa vô số các hạt nhỏ li ti gọi là tiểu noãn nằm trên 3 đường, dọc theo chiều dài của 3 mép tâm bì Sau khi thụ phấn, thụ tinh các tiểu noãn sẽ biến đổi và phát triển thành hạt, trong khi đó bầu noãn sẽ to phát triển thành quả
Quả lan
Quả lan thuộc loại quả nang, nở ra theo 3 - 6 đường nứt dọc, có dạng từ
quả cải dài (Vanilla) đến dạng hình trụ ngắn phình ở giữa (ở đa số các loài
khác) Khi chín, quả nở ra và mảnh vỏ còn dính lại với nhau ở phía đỉnh và phía gốc Ở một số loài, quả chín nở theo 1- 2 khía dọc, thậm chí không nứt ra mà hạt chỉ ra khỏi vỏ quả khi vỏ này bị mục nát
Trang 16 Hạt lan
Hạt lan rất nhiều, nhỏ li ti (do đó trước đây gọi họ phong lan là họ vi tử ) Hạt chỉ cấu tạo bởi một khối chưa phân hoá, trên một mạng lưới nhỏ, xốp, chứa đầy không khí Phải trải qua 2 - 18 tháng hạt mới chín Phần lớn hạt thường chết vì khó gặp nấm cộng sinh cần thiết để nảy mầm Do đó hạt nhiều có thể theo gió bay rất xa, nhưng hạt nảy mầm thành cây lại rất hiếm Chỉ ở trong những khu rừng già ẩm ướt, vùng nhiệt đới mới đủ điều kiện cho hạt lan nảy mầm Khối lượng toàn bộ hạt trong một quả chỉ bằng 1/10 đến 1/1000 miligam Trong đó không khí chiếm khoảng 76 - 96% thể tích của hạt Rõ ràng hạt cây lan hầu như không có khối lượng
1.3.2 Đặc điểm thực vật học của lan Đai Châu
Trong chuyến viếng thăm Java vào khoảng cuối thập niên 1800, Carl Blume một nhà thảo mộc học người Đức đã tìm thấy loài lan này Thoạt tiên cây
lan được xếp vào loài Sacolabium và sau đó chuyển sang Rhynchostylis Tên này dùng theo tiếng La tinh gồm 2 chữ: Rhynchos = beak = mỏ và chữ stylos =
pillar = cột trụ để tả theo hình dáng của trụ hoa
Rhynchostylis gigantea họ phụ Vandoideae, tôngVandae Thường được
gọi là Ngọc điểm (Đai Châu) hay được gọi bằng cái tên bình dân là Tai trâu, Đuôi Chồn hay Lan me (vì thường mọc trên cây me tại Sài Gòn) Mà lan Đai Châu lại nở vào mùa xuân nên còn có tên khác là Nghinh Xuân
Đai Châu là một loại lan rừng có nhiều ở Việt Nam phân bố ở các vùng cao nguyên Nam Trung Bộ, đặc biệt là các vùng giáp biên giới Lào và Campuchia ở độ cao thấp nhưng ở vùng nóng lan Đai Châu xuất hiện nhiều hơn
cả
Qua nhận định trên giúp ta có một ý niệm rằng “Lan Đai Châu là một loại
Lan rừng nhưng rất thích nghi với điều kiện khí hậu thành phố” Nếu Cattleya
Trang 17Labiatavar, Percivaliana được gọi là lan của Giáng sinh (Christmasorchid) thì
lan Đai Châu có thể nói là lan của tết cổ truyền dân tộc, và có thể nói là một loại lan quốc hồn, quốc túy của Việt Nam
Cây thuộc nhóm đơn thân không giả hành tăng trưởng theo chiều đứng, có rất nhiều rễ mọc thẳng từ thân Cây thường có 5-8 lá dài từ 20-30 cm, rộng 4-7
cm, màu xanh vàng có những sọc trắng và những chấm tím Một cây cỡ trung bình có thể cho tới 3-4 chùm hoa cong và dài Mỗi một chùm hoa có thể có tới
50 bông hoa nhỏ, đường kính mỗi hoa trung bình khoảng 2.5-3.8 cm Theo Kamemoto và Sagarik (1975) tại Bangkok, Thái Lan có cây Ngọc điểm với nhiều nhánh đã ra tới 30 chùm hoa
Đặc biệt lan Đai Châu có hương rất thơm và có thể để đến 2-3 tuần mới tàn Hoa thường có màu trắng pha màu đỏ hoặc tím, thỉnh thoảng có những giống trắng tuyền hay đỏ thẫm [21]
Lan Đai Châu không chịu được các chất trồng đã cũ, mục xung quanh rễ nhưng cũng không thích việc thay chậu, vì vậy mà cây thường được trồng trong chậu treo, cho rễ đâm xuống hoặc đặt chúng trong các giỏ gỗ không cần bổ xung bất kì chất trồng nào
1.3.2 Yêu cầu về điều kiện ngoại cảnh của lan Đai Châu
Lan Đai Châu là loại lan ưa thích khí hậu nóng ẩm vào ban ngày và lạnh vào ban đêm Thoáng gió (trong rừng thường sống ở gần ngọn những cây có vỏ
bị nứt chai)
Nhiệt độ vào mùa hè ban ngày: 85 - 90°F hay 29 -32°C và phải có sự cách biệt tối thiểu giữa ngày và đêm là 15°F hay 10°C hoa Nhiệt độ mùa đông ban ngày cần từ 68-73oF hay 20-23oC Nhiệt độ ban đêm không được dưới 60o
Trang 18ánh sáng trực tiếp lúc 11-2h chiều vì dễ làm cây bị táp lá và cháy nắng Tuy nhiên, nếu cây lan được trồng trong điều kiện quá rợp, cây tăng trưởng chậm và yếu ớt, bộ rễ phát triển kém, cây khó ra hoa Nhưng sự ra hoa của lan Đai Châu không phải do ánh sáng nhiều hay ít, nắng hay rợp, tất cả là do thời gian chiếu của ánh sáng trong ngày Vì thế cây lan Đai Châu chỉ nở hoa vào dịp tết âm lịch, tức vào thời điểm trong năm có ngày ngắn đêm dài
Đai Châu là loại lan chịu hạn khá tốt, nhưng nó thích ẩm, ẩm độ càng
cao, rễ càng mọc nhanh và phát triển rất tốt, ẩm độ lý tưởng 40 – 70% Tuy nhiên, cũng cần phải để cho độ ẩm xuống thấp và ít nhất một tuần một lần khô
rễ giữa hai lần tưới để cây có sự phát triển rễ khỏe và ra nhiều rễ.Vào mùa hè tưới nước 2-3 lần một ngày nếu trồng trên miếng gỗ Nếu trồng trong chậu với
vỏ cây hay than có thể tưới 2-3 lần một tuần nhưng phải để cho khô rễ giữa 2 lần tưới và không được để rễ cây bị úng nước trong chậu Vào mùa đông thì ngưng tưới nước hoặc tưới rất ít và cần phải để khô lá và rễ trước khi trời tối
Lan Đai Châu thường mọc trên cây cao rất thoáng gió cho nên không ưa không khí tù hãm vì thế rễ cây không được ẩm ướt suốt ngày Độ thông thoáng
là một yếu tố rất cần giúp cây sinh trưởng Nếu vườn lan không được thoáng nhất là khi độ ẩm tăng, nhiệt độ cũng tăng làm cho lan dễ bị bệnh Ngược lại nếu vườn lan quá thoáng gió, làm giảm độ ẩm, lượng nước bốc hơi quá lớn, cây dễ héo, kém phát triển
Lan Đai Châu ưa nhiều loại giá thể khác nhau như: than, thân cây, vỏ cây, vỏ thông, gỗ vụn, rêu, xơ dừa…và thậm chí là không cần giá thể.Than củi dùng để giữ ẩm là một giá thể tốt vì không chứa mầm bệnh, không mục nát, và
có khả năng hút nước, hấp thụ dinh dưỡng tốt Rêu có dạng sợi dai, thoáng xốp giữ ẩm tốt và hấp thụ dinh dưỡng tốt nhưng giá thành hơi cao Xơ dừa là giá thể
rẻ tiền, dễ kiếm nhưng có một nhược điểm là thoát nước nhanh, chóng mục nên cây dễ bị sâu bệnh
Trang 19Lan Đai Châu cũng không ưa bị quấy nhiễu hay thay chậu, cho nên cách trồng tốt nhất là cột vào miếng gỗ, miếng ngói hay vỏ cây hay trồng trong chậu
để phơi rễ ra ngoài Nhưng trồng cách này cần phải có ẩm độ thật cao và mùa hè phải tưới tối thiểu mỗi ngày một lần, nhất là vào những ngày nóng nực hay khô ráo Nếu trồng trong chậu có thể bỏ thêm các miếng vỏ cây hoặc than cỡ lớn từ 4-5 cm trở lên
Về phân bón: Lan Đai Châu cần rất ít phân Trong quá trình lan sinh trưởng và phát triển ta nên bón các loại phân hoai mục, phân vi sinh hoặc các loại phân NPK để cung cấp thêm chất dinh dưỡng cho cây phát triển tốt hơn Khi gần tới mùa hoa nên tăng hàm lượng nitơ và kali lên để có hoa đẹp, màu thắm, hương thơm Chỉ bón phân khi thấy bắt đầu mọc lá hay đầu rễ có màu xanh
Lan Đai Châu có một thời kỳ nghỉ ngơi thường vào mùa đông và rất quan trọng Nếu không tôn trọng lan sẽ không ra hoa hoặc sẽ chết [20], [24]
1.4 Tình hình sản xuất và phát triển phong lan trên thế giới và ở Việt Nam
1.4.1 Tình hình sản xuất và xu hướng phát triển lan trên thế giới
Hiện nay, tình hình sản xuất lan trên thế giới đang phát triển một cách mạnh mẽ và đã trở thành một nguồn lợi về kinh tế cho các nước trồng và xuất khẩu hoa lan Diện tích trồng hoa lan trên thế giới ngày càng được mở rộng và không ngừng tăng lên Trước đây việc nuôi trồng và xuất khẩu chủ yếu là lan rừng, nên nguy cơ tuyệt chủng là rất cao Ngày nay, việc trồng lan đã dần chuyển sang quy mô công nghiệp Việc xuất khẩu lan đã đạt số lượng hàng trăm ngàn chậu, hàng vạn cành lan trong một năm đáp ứng nhu cầu của thị trường
Loddiges (1812) là người đầu tiên trên thế giới thiết lập vườn lan thương mại Trong những năm gần đây cùng với các thành tựu khoa học kỹ thuật, và những ứng dụng công nghệ sinh học được áp dụng rộng rãi trong sản xuất hoa lan Năm 1904, Noel Bernal đã sử dụng phương pháp cộng sinh nấm để gây nảy mầm cho hạt lan Nhưng đến năm 1922, phương pháp gieo hạt trong phòng thí
Trang 20nghiệm mà không cần nấm cộng sinh của Knudson thành công đã có sự chuyển đổi rõ rệt
Gần đây, Morel đã khám phá ra một phương pháp mới và đã ứng dụng thành công trong công tác nhân giống lan là phương pháp nuôi cấy mô
Ngày nay lan đã trở thành loại hàng hóa rất được ưa chuộng ở nhiều quốc gia trên thế giới Do đó một số nước phát triển như: Pháp, Mỹ, Hà Lan, Thái Lan, Trung Quốc, đã và đang ứng dụng những công nghệ tiên tiến vào việc nghiên cứu lai tạo ra các giống hoa lan mới, chất lượng hơn Nhiều nước đã trở thành cường quốc xuất khẩu hoa như: Thái Lan, Đài Loan Hiện nay Thái Lan
là nước đứng đầu thế giới về xuất khẩu hoa lan, đạt 110 triệu USD trong năm
2003 [14]
Thái Lan có 18 phòng nuôi cấy mô sản xuất hoa lan thương mại hoạt động
ở Băng Kốc và các vùng phụ cận Trong đó chủ yếu là các giống thuộc chi Dendrobium chiếm tới khoảng 80%, sau đó là Mokara chiếm khoảng 5% và một số loài khác
Trung Quốc: là nước có truyền thống chơi lan lâu đời, đặc biệt là lan Kiếm Loài hoa này được coi là quốc hoa của Trung Quốc Trung Quốc đã tập trung nghiên cứu và sử dụng phương pháp lai hữu tính thu quả, sau đó gieo và tuyển chọn các loài hoa đáp ứng được màu sắc, kiểu dáng sau đó sử dụng kỹ thuật nhân giống vô tính Invitro và Invivo để tạo ra một lượng cây giống lớn, sau đó xử lý cho ra hoa đồng loạt để tạo ra sản phẩm hàng hóa có giá trị kinh tế cao
Hà Lan: đã đầu tư 20 triệu USD vào Ấn Độ để lắp đặt các thiết bị máy móc đầu tư cho sản xuất hoa lan xuất khẩu Tính đến năm 2003 kim ngạch xuất khẩu hoa lan của Hà Lan đạt 1,8 tỷ USD Hoa lan của Hà Lan được trồng trong nhà kính với tổng diện tích là 3081,75 ha
Nhật Bản: đã đầu tư 6,6 triệu USD cho Thái Lan để mở rộng cơ sở sản xuất với công suất 10 triệu cây lan mỗi năm và hiện nay Nhật Bản cũng là khách
Trang 21hàng lớn nhất của Singapore với khả năng tiêu thụ 60% số cây lan của nước này [4]
1.4.2 Tình hình sản xuất và phát triển hoa lan ở Việt Nam
Việt Nam nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, nóng ẩm quanh năm nên đã tạo ra nhiều thảm thực vật khác nhau Chính vì thế mà các loại lan rừng của Việt Nam cũng vô cùng phong phú và đa dạng Theo thống kê, lan Việt Nam có khoảng 152 chi, 897 loài đã được tìm thấy Vậy ta có thể nói rằng Việt Nam có tiềm năng để trở thành một nước sản xuất hoa lan lớn trong khu vực
Tuy nhiên ngành sản xuất lan chưa được đầu tư thích đáng nên vẫn chưa thực sự phát triển, sản xuất lan ở Việt Nam mới chỉ phát triển mạnh mẽ ở các tỉnh phía Nam, đặc biệt là Đà Lạt và thành phố Hồ Chí Minh
Thành phố Hồ Chí Minh có khí hậu ấm áp quanh năm là trung tâm văn hóa kinh tế, chính trị, khoa học kỹ thuật của miền Nam có một tiềm năng lớn về nuôi trồng và kinh doanh hoa lan
Hiện nay, việc trồng hoa lan ở nước ta chủ yếu ở quy mô hộ gia đình với diện tích nhỏ lẻ Chỉ có một số công ty lớn, trong đó có những công ty nước ngoài trồng lan tại Đà Lạt, thành phố Hồ Chí Minh với diện tích khoảng 50-60
ha trên một doanh nghiệp
Thực tế, việc sản xuất hoa lan ở nước ta chưa đáp ứng được nhu cầu tiêu dùng nội địa Theo thống kê, hàng năm Việt Nam phải nhập lan từ các nước khác để đáp ứng nhu cầu thị trường trong nước Trung bình mỗi năm tại thành phố Hồ Chí Minh đã tiêu thụ khoảng trên một triệu cây lan
Nói chung, vấn đề sản xuất, kinh doanh, xuất khẩu hoa lan ở nước ta vẫn đang ở mức tiềm tàng, trong khi đó sức cạnh tranh trên thị trường thế giới là rất lớn Khó khăn lớn nhất của ngành trồng lan Việt Nam là nhà nước chưa có chính sách phát triển ngành lan, các chính sách thuế không rõ ràng Những hoạt động kinh doanh và xuất khẩu trong thời gian qua chỉ có ý nghĩa khởi động và hứa hẹn sự phát triển trong tương lai
Trang 221.5 Tình hình nghiên cứu về hoa lan trên thế giới và ở Việt Nam
1.5.1 Một số kết quả nghiên cứu về hoa lan trên thế giới
1.5.1.1 Về đánh giá nguồn gen
Các nhà khoa học thuộc trung tâm Nghiên cứu Bảo vệ thực vật thành phố Thâm Quyến, Viện Nghiên cứu Thâm Quyến, đại học Thanh Hoa, Viện Nghiên cứu gen Hoa Đại đã tuyên bố hoàn thành việc phác họa khung bản đồ gen hoa lan [23]
Các nhà khoa học đã tiến hành phân tích so sánh gen của 11 loài hoa lan khác nhau và tạo ra được hệ thống hóa tương đối hoàn chỉnh Sau đó hoàn thành việc phác họa khung bản đồ gen hoa lan, và các nhà khoa học sẽ tiếp tục hoàn thiện bản đồ gen chi tiết
Bản đồ gen giúp giải đáp được lịch sử về những bí ẩn của loài hoa này; tạo cơ sở quan trọng giúp công việc nghiên cứu chức năng và sự tiến hóa của hoa lan; cung cấp những căn cứ khoa học giúp con người bảo vệ chúng
1.5.1.2 Về công tác chọn tạo giống
Thực tế, trên thế giới việc nghiên cứu về cây hoa lan đã được biết đến từ lâu, song mãi đến năm 1844, Newman một nhà vườn Pháp mới làm nảy mầm hạt lan bằng việc rắc hạt lên các cục đất quanh gốc lan, và sự thành công này đã được lan rộng nhưng chưa có lời giải cụ thể Năm 1904, Noel Bernal đã sử dụng phương pháp cộng sinh nấm để gây nảy mầm cho hạt lan Nhưng đến năm 1922, phương pháp gieo hạt trong phòng thí nghiệm mà không cần nấm cộng sinh của Knudson thành công đã có sự chuyển đổi rõ rệt
Trên thế giới việc nhân giống vô tính hoa lan bằng phương pháp tách chiết thông thường rất ít được áp dụng Morel đã khám phá ra phương pháp nuôi cấy mô tế bào và thực hiện thành công trên loài lan đa thân Năm 1974, các nhà khoa học đã cấy mô thành công trên hầu hết các loại lan thuộc nhóm đơn thân
Trang 23Khi nghiên cứu về lai tạo giống Hà Tùng (1994) [25] đã lai tạo thành công
giữa 2 dòng: lan Xuân (C goeringii) với lan Kiếm Tàu (C sinense) Còn Lý
Phương (1998) [26] đã lai tạo và chọn được tổ hợp lai giữa lan Đài
(C florbundum) và lan Huệ (C.faberi)
Ngoài việc lai tạo và nhân giống, các nhà nghiên cứu cũng quan tâm đến việc tạo ra các giống hoa lan mới bằng phương pháp xử lý đột biến Từ Vệ Huy (1995) [29] cho rằng sử dụng tia tử ngoại với cường độ thích hợp có tác dụng ngăn chặn sự phân chia nhiễm sắc thể trong quá trình giảm phân dẫn đến hình thành tế bào không đầy đủ gây nên sự biến dị
1.5.2 Một số kết quả nghiên cứu hoa lan ở Việt Nam
1.5.2.1 Kết quả nghiên cứu về thu thập tập đoàn, đánh giá nguồn gen
Khuất Hữu Trung và cộng sự (2007) [18] đã nghiên cứu đa dạng di
truyền của tập đoàn lan Kiếm (C swartz) của Việt Nam bằng kĩ thuật RAPD,
phân tích két quả phản ứng PCR- RAPD của 17 giống lan Kiếm Việt Nam với
12 mồi Operon khác nhau Kết quả đã nhận được tổng số 992 băng đa hình, từ
đó đã thiết lập được bảng hệ số tương đồng di truyền và sơ đồ cây phát sinh chủng loại về mối quan hệ di truyền của 17 giống lan Kiếm ở Việt Nam Dựa trên kết quả phân tích này, 17 giống lan Kiếm ở Việt Nam được chia làm 5 nhóm khác nhau dựa vào mức tương đồng di truyền của chúng
Đặng Văn Đông, Chu Thị Mỹ, Trần Duy Qúy (2009) [3] đã điều tra sự phân bố của hoa lan Việt Nam và lưu giữ, đánh giá một số giống lan quý tại Gia Lâm - Hà Nội Các tác giả đã kết luận: “Việt Nam được chia thành 6 vùng lan chính, khác nhau về tính đa dạng, độc đáo của lan rừng và sinh thái tự nhiên của các loài lan này: phía Tây Bắc Bộ; phía Đông Bắc Bộ và trung tâm Bắc Trung Bộ; Bắc Trung Bộ; các tỉnh Trung Bộ; Tây Nguyên; Nam Trung Bộ và Nam Bộ” Các tác giả đã thu thập được 1035 chậu gồm 50 loài thuộc 17 chi Phong lan, Địa lan Việt Nam
Trang 24Hà Thị Thúy và cộng sự (2007) [16] đã nghiên cứu đa dạng di truyền ở
mức hình thái của tập đoàn lan Hồ Điệp (Phalaenopsis) phục vụ công tác tạo
giống lan Hồ Điệp lai ở Việt Nam Tác giả đã thu thập, nghiên cứu và đánh giá được các đặc điểm hình thái và động thái ra hoa của 31 giống lan Hồ Điệp thuộc
chi Phalaenopsis ở Việt Nam và các giống nhập nội làm cơ sở cho việc phân
loại những giống này
Phạm Thị Liên và cộng sự (2009) [10] đã nghiên cứu thu thập, đánh giá
và tuyển chọn một số giống phong lan Hoàng Thảo (Dendrobium) nhập nội tại
miền Bắc Việt Nam Kết quả thu được là 6 giống lan Hoàng Thảo, trong đó có 3 giống có nguồn gốc tại Băng Kốc - Thái Lan, 2 giống tại Chiềng Mai và một giống tại Chiềng Rai Các giống đều có năng suất cao, hoa đẹp
Theo Dương Hoa Xô [22], Trung tâm Công nghệ Sinh học thành phố Hồ Chí Minh đã thực hiện dự án “Sưu tập, nhập nội, khảo nghiệm và nhân giống các giống hoa lan”, từ năm 2005 đến nay đã sưu tập được hơn 285 giống hoa lan
thuộc 12 nhóm giống khác nhau như: Mokara, Dendrobium, Phalaenopsis,…để
phục vụ cho công tác bảo quản nguồn gen và lai tạo giống
1.5.2.2 Kết quả chọn tạo giống
Hà Thị Thúy và cộng sự (2007) [16] đã đánh giá được các đặc điểm hình
thái và động thái ra hoa của 31 giống Lan Hồ Điệp thuộc chi Phalaenopsis ở
Việt Nam và các giống nhập nội Dựa vào phân tích các đặc điểm ưu việt của mỗi giống, thiết kế sơ đồ lai và đã lai thành công một số cặp lai, và đã tạo được vật liệu khởi đầu bằng phương pháp nuôi cấy in vitro
1.5.2.3 Kết quả nghiên cứu nhân giống, chăm sóc, điều khiển sinh trưởng
Các nghiên cứu về nhân giống hoa lan đã đạt được những thành công nhất định
Nhân giống bằng phương pháp gieo hạt: Năm 1990 các cán bộ kỹ thuật của Đà Lạt đã bắt đầu thực hiện các phép lai đầu tiên trên cơ sở chọn lọc những
Trang 25cây bố mẹ mang các đặc tính ưu việt, nhóm lan được chọn là các cây trong chi
Khi nghiên cứu quy trình kỹ thuật nuôi trồng Địa lan (Cymbidium spp.)
cấy mô, Nguyến Quang Thạch và cộng sự (2008) [15] đã xác định được thời gian đưa cây ra ngoài vườn ươm tốt nhất ở đồng bằng là các tháng 1, 2, 3, 4, 5,
9, 10, 11, 12 và vùng cao là vào các tháng 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10 Gía thể cho tỷ lệ sống cao, cây sinh trưởng phát triển tốt khi đưa ra vườn ươm là: dớn- xơ dừa với
tỷ lệ 1:1 Chế độ bón phân tốt nhất cho cây vườn ươm là 5 lần N:P:K (30:10:10) + 1 lần N:P:K (20:20:20) + 1 lần dinh dưỡng hữu cơ (sữa cá) + 1 lần vitamin tổng hợp
Hoàng Thị Loan (2006) khi nghiên cứu ảnh hưởng của giá thể đến sinh trưởng của lan Đai Châu đã đi đến kết luận “Gía thể than hoa kết hợp với rong biển thích hợp nhất cho bộ sinh trưởng của lan Đai Châu nhập nội từ Thái Lan”
Lê Minh Nguyệt và cộng sự (2009) [12] đã nghiên cứu ảnh hưởng của môi trường và chất điều hòa sinh trưởng đến khả năng tái sinh và nhân nhanh
giống Hoàng lan thuộc chi lan Kiếm (Cymbidium) Các tác giả khẳng định: môi
trường nhân nhanh bổ xung các chất điều hòa sinh trưởng thuộc nhóm auxin và cytokinin có tác dụng tốt tăng hệ số nhân và chất lượng chồi đối với hai giống lan CD5 và CD9 Môi trường cho hệ số nhân và chất lượng chồi cao nhất với
Trang 26giống CD5 là môi trường cơ bản MS bổ sung 1mg/lít BAP và 0,3mg/lít NAA Môi trường tốt nhất đối với giống CD9 là môi trường cơ bản MS bổ sung 1mg/lít BAP và 0,5mg/lít NAA
Môi trường tạo cây hoàn chỉnh tốt nhất cho CD5 và CD9 là môi trường MS bổ sung 1,0 gam than hoạt tính và 0,5mg/lít NAA, tạo ra số rễ nhiều nhất và chất lượng rễ tốt nhất
Gía thể tốt nhất để ra cây con sau giai đoạn in vitro là dớn đối với cả hai giống CD5 và CD9 Tuy nhiên, có thể dùng hỗn hợp rong biển và xơ dừa với tỷ lệ 1:1
vì tỷ lệ sống của giá thể hỗn hợp này cũng khá cao, nhằm giảm chi phí giá thể trong nhân giống
1.5.2.4 Kết quả nghiên cứu về sâu bệnh hại
Hiện nay, sự lo lắng nhất của các nhà vườn trồng lan là sâu và bệnh hại, trong thực tế các loại công trùng chỉ làm cho cây chậm phát triển chứ ít khi lan thành dịch, nhưng ngược lại các loại bệnh có thể gây ra cái chết hàng loạt và dễ thành dịch Vì vậy, việc phòng ngừa là việc làm rất quan trọng và cần thiết đối với các nhà vườn trồng lan
Theo Nguyễn Công Nghiệp (2000) [11] bệnh hại chủ yếu là thối đọt, khô căn hành, bệnh đốm lá, thối nhũn…Để phòng và trị các loại này ta nên dùng các loại thuốc sát trùng có gốc đồng: Oxiclorua nồng độ 0,5-1%, BoocĐô Công trùng hại như: Kiến, gián, rệp, sâu, bọ trĩ…dùng Bassa, Malathion để phòng trừ
Tóm lại, đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về lĩnh vực trồng và chăm sóc lan, nhiều công trình đã được đưa vào thực tế và đang áp dụng rộng rãi cho hiệu quả cao Tuy nhiên, để cây hoa lan phát triển mạnh mẽ và cạnh tranh được với lan của các nước khác Cần phải có những nghiên cứu sâu hơn nữa về kĩ thuật nhân giống, các biện pháp chăm sóc…Từ đó đưa ra các quy trình cụ thể cho từng loài lan ở từng điều kiện tương ứng
Trang 271.6 Nghiên cứu về chất điều hòa sinh trưởng
1.6.1 Giới thiệu chung về chất điều hòa sinh trưởng
Để sinh trưởng, phát triển cây trồng không những cần các chất dinh dưỡng như protein, lipit, gluxit…để cấu trúc cơ thể và cung cấp năng lượng, mà cây rất cần các chất có hoạt tính sinh học như vitamin, enzym, hormon… mà trong đó các hormon có một vai trò đặc biệt quan trọng trong việc điều chỉnh quá trình
sinh trưởng, phát triển và các hoạt động sinh lý của cây
Các chất điều hòa sinh trưởng, phát triển thực vật là các chất hữu cơ có bản chất hóa học khác nhau nhưng đều có tác dụng điều tiết quá trình sinh trưởng phát triển của cây từ khi tế bào trứng thụ tinh phát triển thành phôi cho đến khi cây hình thành cơ quan sinh sản, cơ quan dự trữ và kết thúc chu kỳ sống của mình
Các chất điều hòa sinh trưởng, phát triển của thực vật bao gồm các phytohormon và các chất điều hòa sinh trưởng tổng hợp nhân tạo
Các hoocmon thực vật được tổng hợp một lượng nhỏ trong các bộ phận nhất định của cây và vận chuyển đến các bộ phận khác để điều hòa hoạt động sinh lý, các quá trình sinh trưởng phát triển và duy trì mối quan hệ hài hòa giữa các cơ quan, bộ phận thành một thể thống nhất [13]
Do chức năng điều chỉnh sự hình thành cơ quan sinh sản và cơ quan dự trữ hoocmon nên có tác dụng quyết định sự hình thành năng suất thu hoạch Bằng việc xử lý các chất điều tiết sinh trưởng ngoại sinh cho các đối tượng cây trồng khác nhau, con người có thể nâng cao năng suất và phẩm chất các sản phẩm nông nghiệp
1.6.2 Giới thiệu về Gibberellin
Trang 28Năm 1962, nhà bệnh lí thực vật Kurosawa (Nhật) đã thành công trong thí nghiệm “ Bệnh von” nhân tạo cho lúa và ngô Nhưng cho đến năm 1955 các nhà nghiên cứu Anh, Mỹ mới chiết xuất được acid Gibberellin (GA)
Hiện nay người ta đã xác định được trên 126 loại gibberellin Trong đó loại quan trọng, có tác dụng sinh lý mạnh nhất là GA3
1.6.2.2 Vai trò sinh lý của Gibberellin
Gibberellin xúc tiến hoạt động của auxin, hạn chế sự phân giải auxin Do chúng có tác dụng kìm hãm hoạt tính xúc tác của enzim phân giải auxin khử tác nhân kìm hãm hoạt động của auxin
Hiệu quả rõ rệt nhất của GA là kích thích mạnh mẽ sự sinh trưởng về chiều cao của thân, chiều dài của cành, rễ, sự kéo dài của lóng cây hòa thảo Hiệu quả này có được là do ảnh hưởng kích thích đặc trưng của GA lên sự dãn theo chiều dọc của tế bào
GA kích thích sự nảy mầm của hạt, củ, nên nó có tác dụng đặc trưng trong việc phá bỏ trạng thái ngủ nghỉ của chúng GA có tác dụng hoạt hóa sự hình thành các enzym thủy phân trong hạt như -amylase Enzym này sẽ xúc tác phản ứng biến đổi tinh bột thành đường tạo điều kiện cho sự nảy mầm,
Trong nhiều trường hợp, GA có hiệu quả kích thích sự ra hoa Theo học thuyết ra hoa của Trailakhyan thì GA là một trong hai thành viên của hoocmon
ra hoa (florigen) là GA và antesin GA cần cho sự hình thành và phát triển của
trụ dưới hoa, còn antesin cần cho sự phát triển của hoa Xử lý GA có thể làm cho cây ngày dài ra hoa trong điều kiện ngày ngắn hoặc làm cho bắp cải, su hào
ra hoa trong điều kiện của Việt Nam
GA có hiệu quả trong việc phân hóa giới tính đực Nó ức chế sự hình thành hoa cái và kích thích hình thành hoa đực Có thể sử dụng GA để tăng tỷ lệ hoa đực cho cây có hoa đực, hoa cái riêng biệt nhau