Trong đó nhiệm vụ của thư viện là làm thế nào để người dùng tin đến thư viện ngày càng nhiều, điều đó đặt ra mối quan tâm vào các công tác hoạt động và phục vụ của thư viện, công tác hàn
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2 KHOA CÔNG NGHỆ THÔNG TIN
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành bản khóa luận này, em đã nhận được sự hướng dẫn và giúp đỡ tận tình của TS Chu Ngọc Lâm Em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới TS về sự giúp đỡ quý báu này
Xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ của các thầy cô giáo trong khoa đã tận tình dạy bảo, truyền đạt cho em những tri thức khoa học quý báu trong suốt quá trình học tập và hoàn thành khóa luận
Em xin gửi lời cảm ơn tới ban lãnh đạo, các cô chú, anh chị đang công tác tại Thư viện Tỉnh Phú Thọ những người luôn tận tình giúp đỡ em trong quá trình thực hiện khóa luận này
Mặc dù đã cố gắng, song khóa luận không tránh khỏi những sai sót Em rất mong nhận được sự xem xét, đánh giá, đóng góp những ý kiến quý báu của các thầy cô
Em xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 05 tháng 05 năm 2015
Sinh viên
Tạ Thị Vui
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi tên là: Tạ Thị Vui
Sinh viên lớp: K37A Khoa học Thư viện, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2
Tôi xin cam đoan:
1 Đề tài “Công tác phục vụ người dùng tin tại Thư viện Tỉnh Phú Thọ” là kết
quả nghiên cứu của riêng tôi dưới sự hướng dẫn của TS Chu Ngọc Lâm và tham khảo một số tài liệu khác
2 Khóa luận hoàn toàn không sao chép từ các tài liệu có sẵn nào
3 Kết quả nghiên cứu không trùng với tác giả khác
Nếu sai tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm
Hà Nội, ngày 05 tháng 05 năm 2012
Người cam đoan
Tạ Thị Vui
Trang 4
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 3
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4
5 Phương pháp nghiên cứu 4
6 Những đóng góp mới của đề tài 4
7 Bố cục của khoá luận 5
CHƯƠNG 1 CÔNG TÁC PHỤC VỤ NGƯỜI DÙNG TIN VỚI THƯ VIỆN TỈNH PHÚ THỌ 6
1.1 Những vấn đề chung của công tác phục vụ người dùng tin 6
1.1.1 Khái niệm về người dùng tin và công tác phục vụ người dùng tin 6
1.1.2 Vai trò của công tác phục vụ người dùng tin 7
1.1.3 Các tiêu chí đánh giá công tác phục vụ người dùng tin 8
1.2 Khái quát về thư viện Tỉnh Phú Thọ 10
1.2.1 Lịch sử hình thành và phát triển 10
1.2.2 Chức năng và nhiệm vụ 13
1.2.3 Cơ cấu tổ chức và đội ngũ cán bộ của thư viện Tỉnh Phú Thọ 14
1.2.4 Cơ sở vật chất và trang thiết bị 16
1.2.5 Nguồn lực thông tin 17
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC PHỤC VỤ NGƯỜI DÙNG TIN TẠI THƯ VIỆN TỈNH PHÚ THỌ 20
2.1 Nghiên cứu người dùng tin và nhu cầu tin 20
2.1.1 Đặc điểm người dùng tin 20
2.1.2 Đặc điểm nhu cầu tin 23
2.2 Các dịch vụ thông tin - thư viện 26
2.2.1 Dịch vụ phục vụ người dùng tin bên trong thư viện 26
Trang 62.2.2 Dịch vụ phục vụ người dùng tin bên ngoài Thư viện 39
2.3 Công tác tuyên truyền giới thiệu sách báo 42
2.3.1 Hội nghị, hội thảo người dùng tin 42
2.3.2 Trưng bày, triển lãm 43
2.3.3 Nói chuyện chuyên đề 43
2.4 Hướng dẫn tra cứu 45
2.4.1 Tra cứu theo hình thức hiện đại 45
2.4.2 Tra cứu truyền thống 46
CHƯƠNG 3 CÁC NHẬN XÉT VÀ KIẾN NGHỊ 48
3.1 Đánh giá chung về công tác phục vụ NDT tại Thư viện Tỉnh phú Thọ 48
3.1.1 Mức độ thu hút người dùng tin tại Thư viện 48
3.1.2 Khả năng đáp ứng nhu cầu tin 48
3.1.3 Trình độ và năng lực của cán bộ Thư viện 50
3.1.4 Khả năng đáp ứng về cơ sở vật chất và trang thiết bị tại Thư viện 51
3.2 Nhận xét chung 52
3.2.1 Ưu điểm 52
3.2.2 Nhược điểm 52
3.3 Kiến Nghị 53
3.3.1 Nâng cao chất lượng vốn tài liệu 53
3.3.2 Tăng cường cơ sở vật chất và trang thiết bị của Thư viện 54
3.3.3 Tăng cường dịch vụ khai thác thông tin qua mạng 55
3.3.4 Đa dạng hóa các dịch vụ phục vụ người dùng tin tại Thư viện 56
3.3.5 Tăng cường ứng dụng công nghệ Thông tin vào trong hoạt động Thông tin - Thư viện 57
3.3.6 Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ Thư viện 58
KẾT LUẬN 60
TÀI LIỆU THAM KHẢO 62 PHỤ LỤC
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong thời đại ngày nay khoa học kĩ thuật vẫn từng ngày phát triển với những bước đi thần tốc, mọi người có thể tiếp thu được mọi luồng thông tin nhanh chóng dễ dàng từ nhiều kênh thông tin khác nhau như truyền hình, Internet, báo chí… Nhưng vẫn không thể phủ nhận đi tầm quan trọng của thư viện một nền văn hoá tri thức vô tận quý giá mà nhân loại ban tặng Trong đó nhiệm vụ của thư viện là làm thế nào để người dùng tin đến thư viện ngày càng nhiều, điều đó đặt ra mối quan tâm vào các công tác hoạt động và phục vụ của thư viện, công tác hàng đầu phải kể đến đó là công tác phục vụ người dùng tin (NDT) đây là một trong những nhiệm vụ quan trọng của thư viện là cầu nối giữa bạn đọc với kho tài liệu của thư viện, là khâu công tác cuối cùng và có mục đích cao nhất nhằm đáp ứng hiệu quả nhanh chóng, chính xác nhất đến người dùng tin trong thư viện, công tác này là cầu nối trực tiếp và hiệu quả giữa các cơ quan thông tin thư viện (TT-TV) và NDT giúp cho họ cần nghiên cứu một cách kịp thời và hiệu quả giúp truyền bá tri thức, văn hoá như đúng với vai trò và chức năng của một cơ quan và thiết chế văn hoá trong xã hội
Thư viện tỉnh Phú Thọ là một thư viện công cộng ra đời và hoạt động song hành cùng với sự phát triển của đất nước là cơ quan văn hoá, thiết chế giáo dục thông tin khoa học lớn có tác dụng lâu dài và mãi mãi cho sự nghiệp phát triển chung của toàn tỉnh Trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội, đẩy mạng công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước Thư viện Tỉnh Phú Thọ đang đứng trước những thời cơ và thách thức mới Đó là tăng cường hoạt động thông tin thư viện (TT-TV) tạo ra những sản phẩm và dịch vụ chất lượng nhằm thoả mãn cao nhu cầu tin NCT của NDT ở địa phương Mặc dù thư viện tỉnh Phú Thọ đang có những áp dụng công nghệ thông tin hiệu vào trong
Trang 8hoạt động thư viện của mình nhằm rút ngắn khoảng cách tụt hậu, việc ứng dụng các thành tựu công nghệ này cùng với việc triển khai và xây dựng các
cơ sở dữ liệu đã đặt ra cho công tác phục vụ người dùng tin những yêu cầu mới Bên cạnh đó bạn đọc đến với thư viện ngày càng nhiều khi đó phương thức phục vụ tại thư viện vẫn còn nhiều hạn chế và chưa cao việc nâng cao chất lượng phục vụ người dùng tin tại thư viện Tỉnh Phú Thọ đòi hỏi phải có những giải pháp mang tính tổng thể và hữu hiệu
Từ những lí do trên tôi chọn đề tài “Công tác phục vụ người dùng tin tại Thư viện Tỉnh Phú Thọ” làm đề tài khoá luận tốt nghiệp chuyên ngành khoa học thư viện
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Đề tài về công tác phục vụ người dùng tin là một trong những đề tài luôn nhận được sự quan tâm và nghiên cứu của các cơ quan thông tin - thư viện và các đồng nghiệp Hiện nay ở các trường đại học đào tạo về ngành thông tin - thư viện như Khoa học Xã hội và Nhân Văn (Đại học Quốc Gia Hà Nội), Đại học Văn Hoá đã có nhiều đề tài nghiên cứu về công tác phục vụ người dùng tin Với mỗi đề tài lại có cách nhìn nhận và khai thác vấn đề khác nhau như:
* Đề tài đã nghiên cứu về công tác phục vụ bạn đọc của trường Đại học Văn Hoá Hà Nội:
- Hiện đại hoá công tác phục vụ bạn đọc của Trung tâm Thông tin -
Thư viện Đại học Quốc Gia Hà Nội - Lê Minh Thu
- Nâng cao hiệu quả công tác phục vụ bạn đọc của Thư viện Quốc gia
Việt Nam - Nguyễn Xuân Dũng
- Công tác phục vụ bạn đọc của Thư viện trường Đại học Sư phạm Hà
Nội 2 - Hoàng Thị Liên
Trang 9* Đề tài nghiên cứu về công tác phục vụ bạn đọc của Đại học Khoa học Xã hội và Nhân Văn - Đại học Quốc Gia Hà Nội:
- Công tác phục vụ bạn đọc của Thư viện trường Đại học Quảng Bình:
Luận văn Thạc sĩ / Trần Thị Lụa / 2013
- Công tác phục vụ bạn đọc ở Thư viện tỉnh Hà Tây / Vương Thị Lý /
- Đổi mới hoạt động phục vụ bạn đọc để hội nhập với yêu cầu đào tạo
tín chỉ của các Trung tâm Thông tin - Thư viện Đại học / Trần Thị Thanh Vân
(2011), Kỉ yếu 15 năm thành lập khoa Thông tin - Thư viện trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân Văn, Hà Nội
- Một số giải pháp đổi mới tổ chức, quản lí hoạt động thư viện trường
Cao đẳng Sư phạm Hà Nội phục vụ công tác đào tạo tín chỉ / Quách Hải
Đường (2010), Kỉ yếu hội thảo đổi mới tổ chức, quản lí và tăng cường ứng dụng Công nghệ thông tin trong hoạt động Thông tin - Thư viện
Một số đề tài trên cũng mới chỉ giải quyết một số khía cạnh trong hoạt động Thông tin - Thư viện của Thư viện tỉnh Phú Thọ Nhìn chung chưa
có đề tài nào đề cập trực tiếp và đi sâu nghiên cứu về công tác phục vụ người dùng tin của Thư viện tỉnh Phú Thọ Với cách triển khai nội dung, cách nhìn nhận, đánh giá và những kiến nghị nhằm nâng cao chất lượng của công tác phục vụ người dùng tin tại Thư viện tỉnh Phú Thọ sẽ tạo ra những điều khác biệt so với những đề tài trước đây
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
- Mục đích nghiên cứu: Đánh giá thực trạng công tác phục vụ người
dùng tin tại Thư viện Tỉnh Phú Thọ trên cơ sở đó đưa ra những nhận xét và
Trang 10kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả và chất lượng hoạt động phục vụ người dùng tin tại Thư viện Tỉnh Phú Thọ
- Nhiệm vụ nghiên cứu:
+ Hệ thống hoá những vấn đề lí luận chung về công tác phục vụ người dùng tin với Thư viện Tỉnh Phú Thọ
+ Phân tích khảo sát thực trạng công tác phục vụ người dùng tin tại Thư Viện Tỉnh Phú Thọ
+ Đưa ra những nhận xét đánh giá và kiến nghị nhằm nâng cao chất lượng phục vụ người dùng tin tại thư viện
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Công tác phục vụ người dùng tin tại Thư viện Tỉnh Phú Thọ
- Phạm vi nghiên cứu: Nghiên cứu công tác phục vụ người dùng tin với Thư viện Tỉnh Phú Thọ từ năm 2010 đến nay
5 Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình thực hiện khoá luận đã thực hiện các phương pháp
- Phương pháp quan sát
- Phương pháp điều tra bằng phiếu
- Phương pháp phỏng vấn, trao đổi
- Phương pháp phân tích và tổng hợp tài liệu - Phương pháp thống kê
6 Những đóng góp mới của đề tài
- Khoá luận đưa ra những đánh giá về thực trạng công tác phục vụ người dùng tin tại Thư viện
- Kết quả nghiên cứu của khoá luận là tài liệu tham khảo tốt góp phần nâng cao hiệu quả chất lượng phục vụ người dùng tin trong các thư viện công cộng nói chung và thư viện Tỉnh Phú Thọ nói riêng
Trang 117 Bố cục của khoá luận
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, khoá luận gồm 3 chương:
Chương 1 Công tác phục vụ người dùng tin với Thư Viện Tỉnh Phú Thọ
Chương 2 Thực trạng công tác phục vụ người dùng tin tại Thư Viện Tỉnh Phú Thọ
Chương 3 Nhận xét, đánh giá và kiến nghị
Trang 12CHƯƠNG 1 CÔNG TÁC PHỤC VỤ NGƯỜI DÙNG TIN
VỚI THƯ VIỆN TỈNH PHÚ THỌ
1.1 Những vấn đề chung của công tác phục vụ người dùng tin
1.1.1 Khái niệm về người dùng tin và công tác phục vụ người dùng tin
1.1.1.1 Khái niệm về người dùng tin
Người dùng tin là một thành phần không thể thiếu trong hoạt động của cơ quan thông tin thư viện (TTTV), nó là cơ sở định hướng cho mọi hoạt động thông tin của các cơ quan TT-TV, là một trong bốn yếu tố cơ bản của
hệ thống thông tin (Nguồn lực thông tin, Cán bộ thông tin - thư viện, cơ sở vật chất kĩ thuật, người dùng tin) Người dùng tin có vai trò quan trọng trong các hệ thống thông tin của các cơ quan TT-TV
Người dùng tin (NDT) là người sử dụng thông tin trong tài liệu của thư viện để thoả mãn nhu cầu tin (NCT) của mình NDT là chủ thể của nhu cầu tin Mỗi người trong xã hội trở thành NDT của cơ quan TT-TV khi họ sử dụng các sản phẩm và dịch vụ TT-TV để thoả mãn nhu cầu tin của mình Trong hoạt động TT-TV, thuật ngữ “Bạnđọc”, “Người dùng tin” hay “Người
sử dụng Thư viện” được coi là đồng nhất
1.1.1.2 Khái niệm về công tác phục vụ người dùng tin
Công tác phục vụ người dùng tin (Với góc độ là một môn khoa học) nghiên cứu lí luận và phương pháp phục vụ người dùng tin, phương pháp tổ chức công tác phục vụ người dùng tin trong thư viện, phương pháp nghiên cứu nhu cầu tin của người dùng và các phương pháp tuyên truyền, hướng dẫn đọc sách, tổ chức phục vụ người dùng tin
Là một hoạt động của thư viện nhằm tuyên truyền và đưa ra phục vụ những dạng tài liệu hoặc bản sao của chúng giúp người tới thư viện trong việc lựa chọn sử dụng tài liệu đó Công tác này được xây dựng trên cơ sở kết hợp
Trang 13các quá trình liên quan chặt chẽ với nhau trong việc phục vụ thư viện và phục
vụ thông tin tra cứu tìm tài liệu tại thư viện
Với ý nghĩa đó, công tác phục vụ người dùng tin bao gồm các nội dung,
tổ chức các dịch vụ cung cấp tài liệu bên trong và bên ngoài thư viện, các công tác tuyên truyền giới thiệu sách báo và tổ chức nhiều loại hình khác nhau
1.1.2 Vai trò của công tác phục vụ người dùng tin
Phục vụ người dùng tin là khâu cuối cùng trong chu trình đường đi của sách, nhưng là khâu then chốt trong toàn bộ hoạt động của công tác thư viện, tất cả các khâu nghiệp vụ xử lí trước khi đưa ra phục vụ người dùng tin sẽ được đánh giá một cách khách quan thông qua mức độ đáp ứng của người dùng tin
Đối với người dùng tin của thư viện, công tác phục vụ người dùng tin
có ý nghĩa hết sức quan trọng
Thứ nhất, công tác phục vụ người dùng tin giúp người dùng tin có tư cách pháp nhân trong việc sử dụng thư viện và các dịch vụ thông tin qua việc đăng kí làm thẻ
Thứ hai công tác phục vụ người dùng tin giúp cho người dùng tin biết cách sử dụng thư viện Đối với những người lần đầu đến làm thẻ tại thư viện, thư viện thường tổ chức các lớp đào tạo nhằm giới thiệu cho người dùng tin
về thư viện, các dịch vụ tại đây, hướng dẫn tra tìm tài liệu, đăng kí mượn trả tài liệu và sử dụng các dịch vụ mà thư viện có
Công tác phục vụ người dùng tin góp phần tích cực vào việc định hướng nâng cao nhu cầu tin của người dùng tin Với kho tàng kiến thức thuộc mọi lĩnh vực khác nhau mà thư viện tỉnh Phú Thọ đang lưu giữ là vô cùng phong phú vì vậy muốn tìm tài liệu phù hợp là rất cần đến sự trợ giúp của các cán bộ thư viện
Trang 14Một nội dung rất quan trọng mà Thư viện tỉnh Phú Thọ rất quan tâm và thực hiện rất tốt là công tác tuyên truyền giới thiệu sách báo, bằng việc tổ chức các cuộc triển lãm, các ngày hội, các buổi toạ đàm, nói chuyện chuyên đề
Thư viện cung cấp cho người dùng tin tương đối đầy đủ về cả hình thức
và nội dung của tài liệu một cách trực quan sinh động Đây là biện pháp hữu hiệu nhất giúp thư viện làm tốt công tác tuyên truyền chủ trương chính sách của đảng và nhà nước đến với NDT, đảm bảo chức năng xã hội đối với tỉnh
đó là một nhiệm vụ rất quan trọng
Thư viện Tỉnh Phú Thọ xác định một trong những nhiệm vụ trọng tâm của mình là tổ chức phục vụ tạo điều kiện cho người dùng tin sử dụng vốn tài liệu Thư viện theo quy định và tham gia các hoạt động do thư viện tổ chức qua đó nhận thấy rõ tầm quan trọng của công tác phục vụ bạn đọc tại Thư viện Tỉnh Phú Thọ
1.1.3 Các tiêu chí đánh giá công tác phục vụ người dùng tin
1.1.3.1 Mức độ thu hút số lượng người dùng tin
Mức độ thu hút NDT đến thư viện được thể hiện qua số lượng NDT sử dụng sản phẩm, dịch vụ thư viện và số lượng NDT đến đăng kí làm thẻ thư viện Để cho việc phục vụ người dùng tin tại thư viện đạt hiệu quả cao nhất thì cán bộ thư viện phải nghiên cứu, nắm bắt được tình hình và nhu cầu, số lượt bạn đọc đến thư viện một cách kịp thời Điều đó là yếu tố có ảnh hưởng rất lớn đến công việc thu hút NDT đến thư viện ngày một đông hơn Nếu như thư viện thỏa mãn và đáp ứng được nhu cầu của NDT và các nhóm đối tượng thì số lượt NDT đến ngày càng nhiều hơn và nơi đây sẽ như một cơ quan giáo dục bên ngoài nhà trường
Thông qua số lượt NDT sử dụng thư viện, thư viện sẽ điều chỉnh hoạt động cho phù hợp và tìm ra các giải pháp thích hợp thu hút NDT đến với thư viện Thông qua lượt phục vụ NDT người ta có thể đánh giá được chất lượng,
Trang 15hiệu quả hoạt động của công tác TT-TV NDT đến thư viện càng nhiều, có nghĩa là thư viện đó hoạt động tốt, sản phẩm dịch vụ của thư viện có chất lượng cao và phù hợp Vì vậy, lượt phục vụ NDT là thước đo hiệu quả nhất của hoạt động thư viện
1.1.3.2 Mức độ đáp ứng nhu cầu tin
Mức độ đáp ứng NCT thể hiện ở mức độ đầy đủ, kịp thời, tỉ lệ các yêu cầu tin của NDT được đáp ứng Chất lượng thông tin được đánh giá trên tính đầy đủ của thông tin Thông tin cung cấp cho người dùng tin một cách đầy đủ, kịp thời chính xác thỏa mãn cao NCT của NDT Và như vậy, chất lượng phục
vụ NDT của thư viện được đánh giá là tốt Hay nói cách khác, mức độ đáp ứng nhu cầu tin là thước đo chất lượng phục vụ NDT của thư viện bằng khả năng đáp ứng nhu cầu tin của cũng được xem xét ở mức độ khai thác nguồn lực thông tin
Mức độ khai thác nguồn lực thông tin
Mức độ khai thác nguồn lực thông tin thể hiện ở vòng quay tài liệu của thư viện Lượt tài liệu phục vụ NDT cung cấp càng lớn nghĩa là mức độ khai thác tài liệu thư viện càng cao Và mức độ này cũng là thước đo giá trị, chất lượng hoạt động của thư viện, chất lượng công tác phục vụ NDT
1.1.3.3 Năng lực, trình độ và tinh thần phục vụ của cán bộ thư viện
Muốn công tác phục vụ NDT đạt hiệu quả cao, thu hút được nhiều NDT đến với thư viện ngày càng đông, người cán bộ thư viện được coi là linh hồn trong mọi hoạt động TT-TV, điều này đòi hỏi ngoài trình độ nghiệp vụ, chuyên môn cán bộ thư viện cần phải có kĩ năng giao tiếp, ứng sử cũng như
sự hiểu biết nhất định về các môn ngành khoa học Nếu như cán bộ thư viện hoạt động tốt thì đồng thời kéo theo sự phát triển của thư viện ngày càng đi lên Tóm lại năng lực, trình độ, tinh thần phục vụ của người cán bộ thư viện
là một trong các yếu tố quan trọng quyết định chất lượng công tác phục vụ NDT tại thư viện đó
Trang 161.1.3.4 Khả năng đáp ứng về cơ sở vật chất và trang thiết bị tại thư viện
Cơ sở vật chất và trang thiết bị thư viện là một trong bốn yếu tố cấu thành nên thư viện Cơ sở vật chất kĩ thuật là cơ sở nền tảng là điều kiện, phương tiện quan trọng giúp thư viện tổ chức hoạt động phục vụ NDT, là môi trường cần thiết để NDT khai thác, tìm kiếm thông tin phục vụ nhu cầu sáng tạo và nâng cao chất lượng công tác của họ Cơ sở vật chất kĩ thuật tốt, hiện đại, tiện nghi sẽ giúp cho thư viện ngày càng nâng cao chất lượng phục
vụ NDT và ngược lại, cơ sở vật chất nghèo nàn, lạc hậu, thư viện sẽ khó có khả năng thỏa mãn cao NCT của NDT
1.2 Khái quát về thƣ viện Tỉnh Phú Thọ
1.2.1 Lịch sử hình thành và phát triển
Cách đây tròn 59 năm, ngày 20 tháng 12 năm 1956 trên mảnh đất cội nguồn của dân tộc, có một thiết chế văn hoá ra đời đó là Thư Viện Tỉnh Phú Thọ Người đầu tiên được giao nhiệm vụ quản lí thiết chế này là nhà nghiên cứu lịch sử Nguyễn Khắc Xương (con trai thi sĩ Tản Đà - Nguyễn Khắc Hiếu)
Chặng đường nửa thế kỉ phấn đấu xây dựng ấy đã ghi dấu ấn đậm nét trong lịch sử ngành văn hoá thông tin của tỉnh nói chung và tâm trí những cán
bộ viên chức thư viện nói riêng
Ngày mới thành lập trụ sở Thư viện chỉ là một ngôi nhà tranh tre, chưa đến 2000 bản sách, vài ba bài báo tạp chí, trang thiết bị đơn sơ nghèo nàn Trong những năm chiến tranh, Phú Thọ là đầu mối giao thông, nhiều khu công nghiệp
đã trở thành trọng điểm đánh phá của địch Để đảm bảo cho sách không rời bạn đọc, thư viện đã chuyển hướng phục vụ về cơ sở hàng ngàn cuốn sách đã theo các thủ thư xuống với từng thôn làng, cơ quan xí nghiệp ở nơi sơ tán
Năm 1968, hai tỉnh Vĩnh Phúc và Phú Thọ sát nhập thành tỉnh Vĩnh Phú cùng chung sức chung lòng gánh vác công việc phục vụ công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội và đấu tranh thống nhất nước nhà
Trang 17Năm 1975, sau khi chiến dịch Hồ Chí Minh toàn thắng, thư viện tỉnh Phú Thọ đã cử đoàn cán bộ mang 20000 bản sách vào miền nam tặng hai tỉnh kết nghĩa là Bến Tre và Long Châu Sa giúp các bạn đồng nghiệp thêm vốn tư liệu để thành lập thư viện và phục vụ bạn đọc
Năm 1977, hệ thống thư viện cấp huyện đã được thành lập và đi vào hoạt động lần lượt 13 huyện thị thành đã có thư viện với vốn sách báo ban đầu tuy ít ỏi nhưng đã góp phần vào sự nghiệp xây dựng và phát triển kinh tế xã hội địa phương Năm 1980, số thư viện và tủ sách đã lên tới 120 đơn vị Tháng 1/1997 thực hiện nghị quyết kì họp thứ 10 quốc hội khoá IX tỉnh Vĩnh Phú tách ra thành 2 tỉnh Phú Thọ và Vĩnh Phúc cùng đó hai thư viện cũng được tái lập, toàn bộ tài liệu và trang thiết bị đều được chia sẻ để hai đơn vị tiếp tục ổn định và phục vụ NDT Thư viện tỉnh Phú Thọ đã nhanh chóng bắt nhịp với hoàn cảnh mới phát huy thành quả hiện tại và chuẩn bị những điều kiện mới và mục tiêu công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước, xây dựng quê hương giàu đẹp
Để phục vụ bạn đọc ngày càng tốt hơn, thư viện Tỉnh Phú Thọ từng bước đổi mới phương thức hoạt động, năng động, sáng tạo, tăng cường khai thác bổ sung nguồn tài liệu thích hợp, trong đó chú trọng các loại sách chính trị, chỉ thị, nghị quyết của đảng, các bộ luật, sách khoa học kĩ thuật thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau như sách nghiên cứu, sách chuyên khảo… giới thiệu rộng rãi tới NDT thông qua các kênh thông tin đại chúng và các phương tiện trực quan nhằm thu hút đông đảo bạn đọc đến với thư viện Trong vòng 5 năm trở lại đây trung bình mỗi năm thư viện tỉnh cấp từ 2500 - 3000 thẻ bạn đọc, phục vụ 150000 - 200000 lượt bạn đọc, 350000 - 500000 lượt sách báo, bổ sung 50000 - 65000 bán sách 300 loại sách báo tạp chí, vốn sách của thư viện
có gần 200.000 bản sách Thư viện đã trở thành trường học thứ hai, là cái nôi đào tạo nhân tài cho đất nước
Trang 18Thư viện tỉnh đã thực hiện chương trình ứng dụng tin học vào hoạt động chuyên môn, nghiệp vụ, được sự giúp đỡ của lãnh đạo ngành, thư viện tỉnh đã chú trọng đầu tư cho cán bộ, tích cực xây dựng cơ sở vật chất, sắm sửa trang thiết bị kĩ thuật, thực hiện có hiệu quả việc cập nhật cơ sở dữ liệu, tìm tin, biên soạn các loại thư mục, các loại văn bản… để lưu giữ tư liệu và giúp bạn đọc thoả mãn các nhu cầu ngày càng cao một cách kịp thời và chính xác nhất Là một trong những trung tâm thông tin của tỉnh ngoài việc lưu trữ
và phục vụ tại chỗ, thư viện đã phát huy có hiệu quả vai trò chỉ đạo, hướng dẫn, điều phối các hoạt động của mạng lưới thư viện cấp huyện và cơ sở trên địa bàn toàn tỉnh Hàng năm, thư viện đã tổ chức các lớp huấn luyện nghiệp
vụ, tham gia hoạt động trao đổi kinh nghiệm với các đơn vị bạn đặc biệt là trong hoạt động liên hiệp thư viện khu vực đồng bằng sông hồng với sự đóng góp tích cực vào trong các chương trình chung
Trong nhiều năm liền, Thư viện Phú Thọ luôn là đơn vị được đánh giá cao về các hoạt động trong khối các tổ chức Đảng, công đoàn, thanh niên… các sở ban ngành của tỉnh 59 năm xây dựng và phát triển, đặc biệt là
từ khi tái lập đến nay Thư viện tỉnh Phú Thọ đã tự vươn lên khẳng định vai trò vị trí của mình trong việc thực hiện nhiện vụ xã hội hoá, công tác phục vụ NDT làm theo sách báo trên địa bàn toàn tỉnh, nâng cao dân trí, bồi dưỡng nhân tài, giáo dục thẩm mỹ cho các tầng lớp nhân dân, góp phần tích cực vào
sự nghiệp công nghiệp hoá hiện dại hoá đất nước Kết quả những đóng góp đã được các cấp lãnh đạo ghi nhận và biểu dương: Thư viện được xếp hạng hai nhiều năm liền được nhận cờ thi đua xuất sắc của trung ương Đặc biệt năm
1999 đơn vị đã vinh dự đón nhận phần thưởng cao quý của nhà nước Huân chương lao động hạng nhì và kỉ niệm chương lao động hạng nhì, đồng chí giám đốc được tặng thưởng huân chương hạng ba các phòng chuyên môn và cán bộ đều được khen thưởng Hướng phấn đấu trong những năm tới của thư
Trang 19viện tỉnh Phú Thọ là trở thành một trung tâm thông tin mạnh của tỉnh và khu vực với nhiều phương thức phục vụ hiện đại và hiệu quả
Thư viện tỉnh Phú Thọ luôn luôn phấn đấu đạt và vượt các chỉ tiêu đề
ra trong những năm tới, xứng đáng với sự quan tâm niềm tin yêu của đảng, nhà nước và nhân dân
1.2.2 Chức năng và nhiệm vụ
1.2.2.1 Chức năng
Thư viện Tỉnh Phú Thọ là cơ quan văn hoá, giáo dục, thông tin, giải trí cho mọi tầng lớp nhân dân trên địa bàn tỉnh do đó thư viện tỉnh có chức năng thu thập, giữ gìn, bảo quản, tổ chức và khai thác sử dụng chung các tài liệu được xuất bản tại đại phương, cung cấp đầy đủ các tài liệu cho người dùng tin, nhằm truyền bá tri thức tới mọi đối tượng cho người dùng tin, cung cấp các tài liệu cho người dùng tin trong và ngoài nước phù hợp với các đặc điểm yêu cầu xây dựng, phát triển của tỉnh về kinh tế, chính trị, xã hội, văn hoá an ninh - quốc phòng phục vụ cho mục tiêu công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước
1.2.2.2 Nhiệm vụ
Thư viện tỉnh Phú Thọ có những nhiệm vụ sau:
- Tổ chức phục vụ và tạo điều kiện thuận lợi cho người dùng tin được
sử dụng vốn tài liệu thông qua các hình thức đọc tại chỗ, cho mượn về nhà hoặc phục vụ tại thư viện phù hợp với các yêu cầu nội quy trong thư viện
- Tổ chức thông tin, tuyên truyền giới thiệu vốn tài liệu của thư viện tới người dùng tin, tham gia xây dựng thói quen đọc sách trong tất cả mọi lứa tuổi
- Biên soạn , xuất bản các ấn phẩm thông tin thư mục, thông tin chọn lọc phù hợp với chức năng và nhiệm vụ đối tượng của thư viện
Trang 20- Thu thập bổ sung và xử lí vốn tài liệu, bảo quản vốn tài liệu, thanh lọc những tài liệu hư hỏng, lạc hậu, thu thập tàng trữ bảo quản lâu dài các tài liệu được xuất bản tại tỉnh hoặc viết về các địa phương trong tỉnh
- Thực hiện ứng dụng công nghệ thông tin vào hoạt động thư viện ở địa phương, tham gia xây dựng phát triển mạng TT - TV của hệ thống thư viện công cộng
- Xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức viên chức trong thư viện, tổ chức bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ cho người làm công tác thư viện, tổ chức luân chuyển sách báo, chủ trì phối hợp hoạt động về chuyên môn, nghiệp vụ tới các thư viện trên địa bàn tỉnh
1.2.3 Cơ cấu tổ chức và đội ngũ cán bộ của thư viện Tỉnh Phú Thọ
1.2.3.1 Cơ cấu tổ chức:
Thư viện Tỉnh Phú Thọ có cơ cấu rất chặt chẽ và khoa học nhằm điều hành và quản lí các hoạt động của thư viện, xây dựng phát triển mạng lưới thư viện trong toàn tỉnh
Trên cơ sở chức năng và nhiệm vụ, ngoài ban lãnh đạo, thư viện Tỉnh Phú Thọ chia ra thành các phòng ban khác nhau và được tổ chức theo sơ đồ sau:
Trang 21Sơ đồ cơ cấu tổ chức đội ngũ cán bộ Thư viện Tỉnh Phú Thọ
Qua sơ đồ trên, ta có thể thấy Thư viện Phú Thọ (TVPT) được xây dựng với quy mô tương đối hoàn chỉnh, linh hoạt với sự điều hành của ban giám đốc Thư viện Mỗi phòng ban có chức năng và nhiệm vụ riêng nhưng đều nhằm xử lí các khâu kĩ thuật nghiệp vụ từ khâu bổ sung phân loại… đến khâu cuối cùng phục vụ NDT tại thư viện Hệ thống các phòng ban trong thư viện đã thực sự trở thành một khối thống nhất vừa mang tính chuyên môn hóa cao vừacó tính đồng bộ giữa các phòng ban luôn có sự hỗ trợ, giúp đỡ lẫn nhau tạo thuận lợi cho công tác thông tin được dễ dàng và thuận tiện
Việc tổ chức các phòng ban theo nguyên tắc thống nhất đã tạo nên những thuận lợi cho công tác quản lí, điều hành các hoạt động nghiệp vụ, đảm bảo đường đi của thông tin ngắn nhất và nhanh nhất Với cơ cấu tổ chức tại TVPT có nhiều điều kiện thuận lợi trong các hoạt động của mình với việc ứng dụng CNTT nhằm hoàn thiện mình hơn ở các khâu nghiệp vụ tại thư viện
Ban chấp hành công đoàn
Đoàn thanh niên cộng sản
Hồ Chí Minh
Trang 221.2.3.2 Đội ngũ cán bộ thư viện
Thư viện Tỉnh Phú Thọ bao gồm 28 cán bộ, hầu hết các cán bộ đều tốt nghiệp đại học thuộc chuyên ngành TT-TV, Công nghệ thông tin và một số ngành thuộc lĩnh vực khác
Thạc sĩ: 2
Đại học: 20
Cao đẳng: 4
Trung cấp: 2
1.2.4 Cơ sở vật chất và trang thiết bị
Nhìn chung các phòng của thư viện đều được trang thiết bị tốt về cơ
sở vật chất, với diện tích rộng tạo điều kiện cho thư viện bố trí các phòng chức năng nghiệp vụ một cách khoa học và thuận tiện
TVPT với tòa nhà 2 tầng không gian thoáng đãng, yên tĩnh cảnh đẹp tất cả các phòng ban đều được trang bị các trang thiết bị hiện đại, tiện nghi hỗ trợ cho công việc của nhân viên làm việc tại thư viện Hiện nay thư viện đã trang bị được máy tính có nối mạng, máy in, máy fax, cùng hệ thống giá để sách, đèn điện, quạt điện, quạt thông gió trong các phòng đặc biệt là kho bảo quản tài liệu
Trung bình các phòng ban của thư viện có 02 máy tính có nối mạng cho cán bộ phục vụ cho việc mượn trả tài liệu tại thư viện và 2 - 3 máy tính phục vụ cho NDT tra cứu tại chỗ Phòng đọc trung bình có 100 chỗ ngồi đọc tài liệu, phòng báo tạp chí có 80 chỗ ngồi đọc
Trong tương lai không xa trụ sở của thư viện sẽ được mở rộng đáp ứng được sự phát triển không ngừng của thư viện về mọi mặt trên các phương diện và một điều đặc biệt TVPT có khuôn viên rộng, thoáng mát tạo ra một cảnh quan gần gũi, thân thuộc với mọi người khi đến với thư viện
Trang 231.2.5 Nguồn lực thông tin
Trong hoạt động TT-TV nguồn lực thông tin có vai trò rất quan trọng,
là cơ sở tạo ra các sản phẩm thông tin, hợp tác và chia sẻ nguồn lực thông tin giữa các cơ quan thông tin với nhau Trong quá trình chia sẻ nguồn lực thông tin là phương tiện hữu hiệu để tiến hành các hoạt động TT-TV Ngày nay với
sự phát triển nhanh chóng của tri thức nhân loại, công nghệ thông tin được ứng dụng vào thực tiễn với tốc độ nhanh hơn Mọi lĩnh vực hoạt động của con người đặc biệt là các lĩnh vực quản lí, nghiên cứu khoa học sẽ không thực hiện được, hoặc thực hiện nhưng cũng kém hiệu quả khi thiếu thông tin Vì vậy việc tạo lập một nguồn lực thông tin sẽ giúp cho các nhà khoa học rất nhiều trong công việc tìm kiếm thông tin
Hoạt động TT-TV của Tỉnh Phú Thọ là công tác phục vụ cho việc nghiên cứu, học tập, giải trí của mọi người dân Các nguồn thông tin khác sẽ giúp bổ sung kiến thức cho các nhà nhiên cứu khoa học, học sinh, sinh viên…đồng thời bên cạnh đó nó còn phục vụ cho mục đích tuyên truyền chính sách của đảng, nhà nước tới mọi người dân, nếu như thiếu đi thông tin hoặc nguồn lực thông tin thì các hoạt động về đời sống tinh thần cũng như học tập, nghiên cứu của người dân trong tỉnh sẽ không được đầy đủ chính xác, phong phú
Nguồn lực thông tin tại Thư viện tỉnh Phú Thọ đã lưu trữ, thu thập ở nhiều dạng khác nhau được chọn lọc trong nước và nước ngoài có liên quan đến các đề mục phù hợp với chức năng và nhiệm vụ của thư viện tỉnh
Nguồn lực thông tin là tập hợp các hệ thống xuất bản phẩm và những vật mang tin khác nhau tồn tại dưới mọi dạng thức như: Tư liệu, điện tử, sách… phù hợp với chức năng, nhiệm vụ của thư viện Nguồn lực thông tin càng lớn phong phú thì khả năng đáp ứng NCT cho NDT càng đạt được hiệu quả nhanh chóng và đầy đủ nhất Trong đó có rất nhiều tài liệu về nhiều
Trang 24ngành nhiều lĩnh vực khác nhau, có rất nhiều tài liệu quý hiếm đã được lưu giữ nhiều năm, tài liệu của thư viện đã trở thành một kho tài liệu có giá trị là địa chỉ hấp dẫn đối với NDT
Nguồn lực thông tin của thư viện Tỉnh Phú Thọ có thể chia như sau:
+ Nguồn thông tin văn bản (Sách, báo, tạp chí )
Trong 59 năm xây dựng và phát triển (1956- 2015), thư viện Tỉnh Phú Thọ đã kế thừa và chọn lọc được rất nhiều tài liệu Vốn tài liệu của thư viện ngày càng phát triển về số lượng cũng như chất lượng
Hiện nay, thư viện tỉnh Phú Thọ có khoảng 200.000 bản sách, 150 loại báo, tạp chí có nhiều sách quý hiếm, đắt tiền thường là ở kho địa chí và ngoại văn (do quỹ Châu Á tài trợ )
Trung bình mỗi năm thư viện bổ sung khoảng 500 - 600 bản sách ở tất
cả các lĩnh vực và các ngành khác nhau Ngoài ra, mỗi năm thư viện bổ sung một số lượng lớn các báo, tạp chí về mọi lĩnh vực nhằm phục vụ cho công tác chuyên môn và giải trí của người dân trong tỉnh
Quá trình hoạt động và phát triển nguồn lực thông tin của thư viện không ngừng lớn mạnh cả về số lượng và chất lượng, đem đến cho người dân trong và ngoài Tỉnh nhiều loại hình tài liệu phong phú và đa dạng
+ Nguồn thông tin điện tử (băng, đĩa từ, cơ sở dữ liệu)
Công nghệ thông tin đã thâm nhập vào hầu hết các cơ quan, nó làm cho phương thức làm việc của cán bộ thư viện, người dùng tin ngày càng thay đổi, việc ứng dụng công nghệ thông tin vào việc tra cứu tài liệu, xử lí thông tin, lưu trữ tư liệu giúp cho các quá trình xử lí thông tin nhanh gọn nhẹ, không mất nhiều diện tích giá, tính phổ cập lớn các loại sách báo, tạp chí các loại tài liệu quan trọng của thư viện đều được tổ chức trên mạng máy tính Bên cạnh việc sử dụng nguồn tin truyền thống, hiện nay Thư viện Tỉnh Phú Thọ đang
nỗ lực ứng dụng công nghệ thông tin (CNTT) vào trong quá trình xử lí của
Trang 25thư viện mình, bước đầu thì thư viện đã xây dựng được những cơ sở dữ liệu
về vốn tài liệu nhằm phục vụ tốt công tác quản lí, tra cứu tìm tin giúp cho việc truy cập và xử lí dữ liệu được dễ dàng nhanh chóng
Ngày nay với sự phát triển và trưởng thành của mình, nguồn lực thông tin của thư viện ngày càng đa dạng và phong phú, các nguồn tài liệu cả truyền thống và hiện đại được bổ sung vào thư viện ngày càng nhiều Hiện nay, thư viện đang sử dụng phần mềm ILIB do công ty phần mềm CMC cung cấp và được triển khai bởi Thư Viện Quốc Gia Việt Nam Đến thời gian này, thư viện đã xây dựng được 60.000 biểu ghi với các cơ sở dữ liệu chính, cơ sở
dữ liệu sách, báo, tạp chí, cơ sở dữ liệu thư mục toàn văn, cơ sở dữ liệu thư mục địa chí…
+ Nguồn tin dạng CD-Rom
Nguồn tin này của thư viện có gần 4000 đĩa, chủ yếu là đĩa tiếng Anh, trong đó có khoảng 2000 đĩa nói phục vụ cho trẻ em khiếm thị ở trung tâm bảo trợ xã hội của tỉnh
Nguồn lực thông tin của Thư viện Phú Thọ nhìn chung rất phong phú
và đa dạng đã đáp ứng được nhu cầu của độc giả trong và ngoài tỉnh khi sử dụng thư viện
Trang 26CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC PHỤC VỤ
NGƯỜI DÙNG TIN TẠI THƯ VIỆN TỈNH PHÚ THỌ
2.1 Nghiên cứu người dùng tin và nhu cầu tin
2.1.1 Đặc điểm người dùng tin
Người dùng tin là một thành phần không thể thiếu được trong bất kì cơ quan thư viện nào Nó là cơ sở định hướng cho các hoạt động thông tin của một
cơ quan TT-TV Thư viện Tỉnh Phú Thọ là thư viện công cộng lớn nhất trong toàn tỉnh, bao gồm các đối tượng là những NDT đang học tập và sinh sống làm việc tại tỉnh Vì vậy NDT đến thư viện rất phong phú, đa dạng thể hiện trong sự khác biệt về nhu cầu, khả năng trình độ của mỗi con người và lứa tuổi
Qua điều tra và khảo sát thực tế của thư viện tỉnh có thể thấy rằng TVPT rất quan tâm và chú trọng đến NDT từ đó nhằm điều chỉnh các hoạt động và phục vụ nhu cầu sử dụng của NDT đến với thư viện ngày càng đạt hiệu quả cao
NDT ở Thư viện Tỉnh là toàn bộ các cán bộ quản lí, nhà nghiên cứu khoa học, học sinh - sinh viên, nhân dân lao động người về hưu và một số lượng các NDT bên ngoài tỉnh Mỗi nhóm NDT đều có sở thích và NCT khác nhau song đều có điểm chung họ vừa là người khai thác sử dụng vừa là người cung cấp thông tin Để thỏa mãn NCT ngày càng cao thư viên tỉnh cần nâng cao và phát triển các dịch vụ thông tin nhằm đem lại hiệu quả cho NDT
Đặc điểm của nhóm NDT có thể phân tích qua các nhóm sau:
Nhóm 1: Nhóm NDT là cán bộ lãnh đạo - quản lí, nhà nghiên cứu Nhóm 2: Nhóm NDT là học sinh - sinh viên
Nhóm 3: Nhóm NDT là nhân dân lao động, người về hưu
Nhóm 1: Người dùng tin là cán bộ lãnh đạo - quản lí, các nhà nghiên cứu
Nhóm NDT này với số lượng chiếm 6,0% trong tổng số lượt NDT đến với thư viện hàng năm có vai trò hết sức quan trọng Cán bộ lãnh đạo quản lí
Trang 27và các nhà nghiên cứu là những người có kiến thức sâu rộng, có khả năng điều hành, tư duy tổ chức công việc tốt và là những người có trách nghiệm đưa ra những quyết định về chính sách phát triển kinh tế - văn hóa - giáo dục -
xã hội họ cũng là những người nắm rõ chủ trương chính sách của Đảng và nhà nước là những người đứng ra chịu trách nhiệm với các quy định quan trọng Do vậy mà NCT của nhóm cán bộ lãnh đạo - quản lí và nhà nghiên cứu cần phải được đảm bảo, có độ chính xác cao, đòi hỏi thông tin phải kịp thời, chính xác, mang tính thời sự cập nhật thường xuyên
Nhóm NDT là cán bộ lãnh đạo - quản lí, các nhà nghiên cứu họ thường
là những người có trình độ cao do đặc thù công việc nên họ không thường xuyên đến thư viện để đọc, tra tìm tài liệu được nên phương pháp phục vụ cho nhóm NDT này là đưa ra những thông tin phù hợp với yêu cầu mà họ cần, những thông tin chọn lọc như các thông tin phục vụ cho quản lí - lãnh đạo, thông tin chuyên đề
Nhóm 2: Nhóm người dùng tin là học sinh - sinh viên
Đây là nhóm học sinh - sinh viên của các trường đại học, cao đẳng và các trường trong toàn tỉnh và một số NDT là sinh viên ngoài tỉnh có nhu cầu
sử dụng thư viện để phục vụ cho các công việc nghiên cứu khoa học, làm khóa luận, luận văn hoặc làm các bài tập nhóm
Đây là nhóm NDT chiếm tỉ lệ đông nhất của thư viện, chiếm khoảng 73,5% và có nhu cầu thông tin rất phong phú, đa dạng, do nhóm đối tượng này là học sinh, sinh viên nên các tài liệu mà thư viện phục vụ chủ yếu là các sách giáo khoa, sách giáo trình, các sách tham khảo thuộc nhiều bộ môn, nhiều lĩnh vực khoa học khác nhau Ngoài ra nhóm NDT là học sinh - sinh viên còn quan tâm đến những dạng tài liệu có tính chất giải trí, thể thao, khám phá, truyện tranh…
để phục vụ cho NDT thuộc nhóm này tốt thì cán bộ thư viện phải có phương pháp sử dụng thư viện, tra cứu tài liệu một cách nhanh chóng, hiệu quả
Trang 28Thư viện Tỉnh Phú Thọ là thư viện công cộng lớn nhất trong toàn tỉnh nên công tác phục vụ NDT là các em học sinh, thiếu nhi là một trong những nhiệm vụ quan trọng, góp phần thực hiện chức năng giáo dục đào tạo thế hệ trẻ của đất nước, phòng phục vụ thiếu nhi của thư viện được thiết kế khá rộng rãi và thoáng mát các loại sách, báo, truyện tranh… được trưng bày theo chủ
đề phù hợp với từng lứa tuổi nhằm đáp ứng được NCT của các em khi đến sử dụng thư viện Thư viện là nơi có kho tài liệu vô cùng đặc sắc có đầy đủ các môn, ngành tri thức khác nhau như các sách khoa học tự nhiên, khoa học xã hội, sách giáo khoa, sách tham khảo, sách bổ trợ kiến thức cho các em học sinh từ lớp 1 - lớp 12
Nhu cầu thông tin của nhóm NDT này có thể nói là khá phức tạp NDT thuộc sinh viên của nhiều trường khác nhau với những chuyên ngành riêng từ năm thứ nhất đến năm thứ tư, họ đến với thư viện với các mục đích khác nhau: học tập, nghiên cứu, giải trí… với môi trường đại học, cao đẳng có những đặc thù riêng, đào tạo những chuyên ngành khác nhau và trong một số trường lại có sự phân chia về môn, ngành nhỏ hơn nữa Chính vì vậy, lĩnh vực tri thức mà đối tượng NDT quan tâm rất rộng lớn, ngày nay đứng trước những đòi hỏi, yêu cầu của công việc trong tương lai, bên cạnh sự trau rồi kiến thức chuyên ngành, các bạn học sinh - sinh viên cũng nên quan tâm học thêm về ngoại ngữ và tin học… Còn đối với các bạn là sinh viên năm đầu và năm cuối thì lên thư viện với các mục đích, yêu cầu thông tin rất khác nhau
Trước những NCT như vậy đòi hỏi cán bộ thư viện (CBTV) luôn phải cập nhật thông tin, thay đổi phương thức phục vụ sao cho phù hợp với thông tin đó, đồng thời phải có lớp hướng dẫn cho NDT sử dụng các thiết
bị tìm tin của Thư viện để chất lượng phục vụ được tốt hơn, đáp ứng tối đa NCT của NDT
Trang 29Nhóm 3: Nhóm người dùng tin là nhân dân lao động, người về hưu
Nhóm NDT này cũng có thành phần tương đối phong phú là những người
có tuổi tác, nghề nghiệp, trình độ khác nhau Nhóm thông tin này không sâu, có tính phổ cập dễ tiếp nhận, phương tiện thông tin thuận lợi dễ sử dụng
Nhóm NDT là nhân dân lao động: Họ chủ yếu là những người trực tiếp tham gia vào quá trình sản xuất, lao động, tài liệu mà nhóm đối tượng này cần
là các tài liệu liên quan đến quá trình sản xuất nâng cao tay nghề, nâng cao chất lượng sản phẩm và phát triển khả năng của bản thân về lĩnh vực hoạt động của mình Bên cạnh đó họ còn sử dụng những tài liệu mang tính chất giải trí các tài liệu lịch sử
Nhóm NDT là những người về hưu: Họ đều là những cán bộ về hưu, tuổi tác cũng khá cao và có nhiều thời gian rảnh rỗi, họ đến thư viện thường nắm bắt những vấn đề thời sự, chính trị, xã hội, tìm hiểu các kiến thức về sức khỏe, phòng tránh những bệnh thường gặp ở người cao tuổi… Nhóm NDT này là những người bạn thân thiết của thư viện, họ thường xuyên sử dụng thư viện và tham gia vào các hoạt động của thư viện như các buổi nói chuyện chuyên đề, các hội nghị hội thảo, các triển lãm giới thiệu sách… Tuy nhiên bên cạnh đó, họ thường gặp phải những khó khăn khi tiếp cận với các loại hình dịch vụ hiện đại của thư viện như trong các công tác tra cứu tìm tài liệu qua hệ thống thư viện Vì vậy, cán bộ thư viện phải nắm bắt được NCT của nhóm đối tượng này để hướng dẫn họ tra cứu tìm kiếm, sử dụng được tài liệu
mà mình cần
2.1.2 Đặc điểm nhu cầu tin
2.1.2.1 Nhu cầu tin của cán bộ quản lí, các nhà nghiên cứu
NCT của nhóm đối tượng này chiếm tỉ lệ 16 % trong công tác phục vụ tại thư viên, họ là những nhà quản lí, lãnhđạo có kiến thức chuyên môn sâu rộng, NCT của họ cần phải được cập nhật thường xuyên và liên tục Vì vậy, các dạng tài liệu mà họ sử dụng cho NCT của mình là sách, báo - tạp chí, các tài liệu hội
Trang 30nghị, hội thảo, tài liệu điện tử, tài liệu về phương pháp nghiên cứu các văn bản, công văn, chỉ thị… giúp cho NCT của họ ngày càng được nâng cao
2.1.2.2 Nhu cầu tin của học sinh, sinh viên
Đối tượng là các em học sinh, sinh viên họ thường đến thư viện sử dụng NCT cho lĩnh vực học tập hay giải trí sau những giờ học căng thẳng Vì vậy nhóm đối tượng này NCT mà họ sử dụng chủ yếu là các sách như: sách giáo khoa, sách giáo trình, tài liệu tham khảo, sách khoa học thường thức, sách giới thiệu về thế giới tự nhiên, sách bổ trợ kiến thức các môn học… Bên cạnh đó, tài liệu mà các em quan tâm là các loại báo, tạp chí… giúp các em giảm bớt mệt mỏi, áp lực sau những giờ học Nhóm này chiếm 60,8% trong thư viện NCT họ sử dụng nhiều nhất là sách, báo- tạp chí
2.1.2.3 Nhu cầu tin của nhân dân lao động, người nghỉ hưu
Nhóm NDT này chiếm 23,2% tại thư viện NCT mà họ sủ dụng là các tài liệu phục vụ cho quá trình lao động sản xuất của họ như các tài liệu về lịch
sử (15%), tài liệu địa chí bên cạnh đó còn một số các tài liệu khác
NCT đối với những người nghỉ hưu họ thường đến thư việnđể giải trí vì vậy NCT mà họ cần mang tính phổ cập như báo - tạp chí ra hàng ngày hoặc các loại sách về sức khoẻ, nấu ăn, văn hoá nghệ thuật là những tài liệu được
họ sử dụng nhiều
Ngày nay cùng với sự bùng nổ của công nghệ thông tin, lượng thông tin được truyền tải một cách nhanh chóng trên hầu hết các phương tiện thông tin đại chúng Vì thế nhu cầu sử dụng các loại hình thông tin rất đa dạng và phong phú, ngày nay họ không chỉ sử dụng tài liệu truyền thống như: sách, báo, tạp chí mà họ còn có nhu cầu sử dụng các loại tài liệu điện tử như: CD - ROM, băng đĩa từ, VCD… Vì vậy mà việc xác định loại hình tài liệu của NDT là vô cùng quan trọng giúp cho NDT tiếp cận với thông tin của thư viện ngày càng tăng và kéo theo đó là chất lượng các hoạt động trong thư viện ngày càng đạt hiệu quả cao
Trang 31 Nhu cầu tin về các lĩnh vực khoa học
Nhu cầu về loại hình tài liệu
Trang 32Cùng với những tiến bộ vượt bậc của khoa học kĩ thuật, ngày nay các loại hình tài liệu ngày càng đa dạng, phong phú và gọn nhẹ, sử dụng thuận tiện hơn
Qua bảng số liệu trên cho thấy tài liệu là báo - tạp chí chiếm số lượng NDT sử dụng nhiều nhất khi đến thư viện (56.5%%), tiếp theo là tài liệu sách chiếm (33%) đây là loại hình truyền thống chiếm đa số trong thư viện của tỉnh Phú Thọ NDT thường đến thư viện để đọc sách nhằm phục vụ cho việc học tâp, nghiên cứu nâng cao trình độ và giải trí Bên cạnh đó, ngoài ra sách giáo khoa thư viện còn có nhiều sách tham khảo thuộc các lĩnh vực khoa học khác được NDT quan tâm đến
Báo tạp chí đươc NDT sử dụng nhiều nhất sau mỗi giờ thư giãn, bên cạnh đó tài liệu được NDT ít quan tâm đến khi đến với thư viện như tài liệu điện tử (2%), do loại hình tài liệu này còn khá mới mẻ trong các thư viện công cộng và phần lớn các thư viện công cộng sử dụng dịch vụ truyền thống và do thói quen hoặc trình độ của NDT, ưu điểm của loại hình tài liệu này mang lại
là tính nhanh, gọn, nhẹ, dễ vận chuyển, trực quan, tốc độ truy cập nhanh vì vậy ta cần khuyến khích NDT sử dụng tài liệu này ngày một nhiều hơn nữa
Có thể nhận thấy rằng, NDT vẫn ưa thích sử dụng loại hình lưu giữ truyền thống hơn, mặc dù đã bắt đầu gia tăng sử dụng các tài liệu điện tử vì vậy ta cần đặc biệt nâng cao chất lượng cũng như số lượng vốn tài liệu điện tử
để có thể đáp ứng được các yêu cầu của NDT khi đến thư viện
2.2 Các dịch vụ thông tin - thƣ viện
2.2.1 Dịch vụ phục vụ người dùng tin bên trong thư viện
Công tác phục vụ NDT là khâu quan trọng nhất và được coi là nhiệm
vụ trung tâm, là cái đích cuối cuối của mọi hoạt động trong thư viện, nó là cầu nối giữa nguồn tài liệu nguồn thông tin trong thư viện với NDT thông qua cán
bộ thư viện NDT có đến thư viện nhiều hay ít, sử dụng tài liệu như thế nào tất
cả đều phụ thuộc vào công tác phục NDT, đây là thước đo đánh giá chất
Trang 33lượng hoạt động TT -TV của thư viện tỉnh Phú Thọ NCT của nhóm NDT này là những thông tin chuyên đề, những số liệu, dữ kiện cụ thể
Tổ chức phục vụ NDT là việc mà thư viện tạo ra cho NDT khả năng sử dụng các ấn phẩm, các nguồn thông tin, tra cứu tại tất cả các phòng phục vụ thư viện và bên ngoài thư viện Mục đích cuối cùng của công tác phục vụ NDT là nhằm đáp ứng, thỏa mãn NCT của NDT
Phục vụ NDT là hoạt động quan trọng trong toàn bộ các hoạt động của một thư viện kết quả phục vụ bạn đọc, là khâu để đánh giá các tiêu chí và hiệu quả hoạt động của thư viện đó, thư viện tỉnh Phú Thọ đã từng bước thực hiện mục tiêu “Tất cả vì NDT, tất cả hướng tới NDT” hoạt động phục vụ NDT của thư viện tỉnh Phú Thọ là hình mẫu cho các thư viện trong tỉnh học tập và vận dụng vào công tác phục vụ NDT tại thư viện của mình
Các hình thức mà thư viện tỉnh phục vụ NDT là phục vụ bên trong thư viện và phục bên ngoài thư viện
2.2.1.1 Phục vụ đọc tại chỗ
Là hình thức mà NDT tiếp nhận thông tin bằng cách đọc tài liệu tại thư viện Hiện nay thư viện tiến hành phục vụ tại các phòng của thư viện như: phòng đọc tổng hợp, phòng mượn, phòng báo tạp chí, phòng thiếu nhi… ở đây NDT có thể sử dụng tại chỗ tất cả các loại vật liệu mang tin và nguồn tin khác có trong thư viện
Phục vụ NDT tại thư viện là hoạt động chủ yếu của mỗi thư viện nói chung và TVPT nói riêng qua đó tổ chức phục vụ NDT của các phòng thông qua các dịch vụ của thư viện NDT đến thư viện thuộc mọi lứa tuổi, trình độ văn hóa, trình độ chuyên môn, nghề nghiệp, sở thích và nhu cầu khác nhau và nhằm thỏa mãn yêu cầu của NDT là trách nhiệm của mỗi thư viện
Phục vụ NDT tại phòng đọc tổng hợp
Là phòng có diện tích tương đối rộng, có 120 ghế, một bàn quầy dài to, một bàn tròn, gần với phòng thiếu nhi Đây là phòng có diện tích rộng nhất
Trang 34với nguồn tài liệu 65000 bản, bao gồm tất cả các môn, ngành tri thức như khoa học xã hội, khoa học tự nhiên, khoa học kĩ thuật, văn học nghệ thuật, đây là kho có đầy đủ nhất các loại tài liệu Kho tài liệu được sắp xếp theo môn loại tri thức kết hợp với số đăng kí cá biệt được tổ chức theo hình thức kho đóng NDT sẽ phải tiếp xúc trực tiếp với cán bộ thư viện trực tại quầy tầng 1 của thư viện Tại đây cán bộ thư viện sẽ yêu cầu NDT xuất trình thẻ để kiểm tra thông tin NDT cũng như tiến hành đăng kí mượn cho NDT thông qua hệ thống tìm tin, trả lời các câu hỏi của NDT, hướng dẫn NDT tìm tin, tra cứu thông tin các tài liệu khác khi trong kho của thư viện không có NDT có thể tra cứu bằng phần mềm tra cứu tại thư viện hay có thể tra cứu bằng cuốn danh mục sách, thư mục giới thiệu sách mới được đặt tại quầy trực của phòng đọc Với hình thức phục này NDT không phải mất công đi tìm tài liệu mà chỉ cần viết phiếu yêu cầu để cán bộ thư viện đi lấy nhanh chóng, không mất thời gian tìm kiếm đồng thời với hình thức này cán bộ sẽ đảm bảo được vị trí của tài liệu không bị xáo trộn vị trí
Khi khai thác thông tin tại phòng đọc tổng hợp của thư viện NDT cần tuân thủ một số quy định sau
+ Khi NDT mượn trả tài liệu cần xuất tình thẻ bạn đọc
+ Không gây ồn ào mất trật tự trong phòng đọc làm ảnh hưởng đến NDT khác
+ Sau khi tra tìm tài liệu trên tủ mục lục NDT phải ghi vào phiếu yêu cầu và đưa cho cán bộ thư viện để tìm tài liệu mình cần
+ Tài liệu phục vụ NDT ở phòng đọc chỉ được sử dụng tại phòng đọc không được mang ra khỏi phòng hay mang về nhà
+ Làm mất hoặc hư hỏng tài liệu phải bồi thường theo quy định của thư viện Phòng đọc tổng hợp của thư viện thành lập nhằm đáp ứng nhu cầu dùng tin cho đông đảo các đối tượng NDT Trước tiên, phòng đọc tập trung phục vụ mọi người dân sống, làm việc tại tỉnh Phú Thọ, đặc biệt là các em
Trang 35học sinh, sinhviên ở các trường trung học cơ sở, trung học phổ thông, cao đẳng, đại học… trong phạm vi của tỉnh Ngoài ra thư viện Phú Thọ chào đón tất cả NDT bên ngoài tỉnh có nhu cầu sử dụng tài liệu của thư viện
Phòng địa chí và tra cứu thông tin
Phòng địa chí của thư viện là một phòng đọc lập có đủ điều kiện phục
vụ một khối lượng NDT không nhỏ có nhu cầu tìm hiểu về các loại tài liệu địa chí Với chức năng, nhiệm vụ thu thập tổ chức khai thác phục vụ các loại tài liệu, tư liệu viết về địa phương trong, ngoài tỉnh nhằm thảo mãn nhu cầu tìm hiểu của NDT về các kiến thức thuộc các lĩnh vực khác nhau như lịch sử, kinh
tế xã hội, văn hóa của từng địa phương từng vùng miền khác nhau của tỉnh và trong cả nước
Hiện nay vốn tài liệu địa chí của TVPT có khoảng 5200 tài liệu gồm các dạng tài liệu như tài liệu in thành sách, báo, tạp chí, tài liệu tra cứu, bản
đồ, tái bản văn bản các tài liệu thông tin tuyên truyền phục vụ tất cả NDT có nhu cầu nghiên cứu tìm hiểu về miền quê Đất Tổ
Phòng địa chí của thư viện phục vụ NDT ở dạng kho đóng nên NDT muốn lấy hoặc mượn tài liệu phải thông qua cán bộ thư viện tại phòng hoặc gửi phiếu yêu cầu cho cán bộ thư viện để lấy tài liệu mà mình cần, với hình thức phục vụ tại chỗ giúp cho cán bộ thư viện nắm bắt được kho tài liệu của mình, đồng thời tìm hiểu về NCT mà NDT cần để bổ sung cho phù hợp Do tài liệu ở phòng địa chí có nhiều tài liệu cũng rất quý hiếm, ít nên phòng địa chí chỉ phục vụ cho NDT đọc, tham khảo tài liệu tại chỗ không cho mượn về nhà Hiện nay với số lượng 5200 tài liệu địa chí bao gồm các mảng viết về chính trị xã hội của các địa phương, văn hóa, kinh tế, tranh ảnh bản đồ
Đối tượng NDT của phòng địa chí là những người làm công tác nghiên cứu, giảng dạy, học sinh, sinh viên, cán bộ của các cơ quan, đoàn thể, các lãnh đạo, cán bộ hưu trí và toàn thể quần chúng nhân dân những người có nhu
Trang 36cầu tìm hiểu về lịch sử hình thành, phát triển của tỉnh Phú Thọ hay sự tích vua Hùng, các lĩnh vực kinh tế, chính trị văn hóa, xã hội, lịch sử của các địa phương, con người Phú Thọ
Việc phục vụ NDT cho mượn các tài liệu địa chí đã được tiến hành phù hợp với những quy định chung của TVPT, cán bộ thư viện phải phổ biến nội quy rõ ràng của phòng đối với NDT đến sử dụng tài liệu tại phòng địa chí, mỗi người chỉ được mượn đọc tại chỗ từ 1 - 2 tài liệu, không được mượn về nhà hoặc đem ra khỏi phòng Với việc phục vụ NDT theo hình thức kho đóng thì thư viện cũng gặp phải một số nhược điểm NDT không thể nhận biết được từng cuốn sách cũng như không thể nhận biết được toàn bộ thông tin về kho sách một cách dễ dàng Bên cạnh đó để khắc phục những khó khăn trên thư viện có dịch vụ sao chụp tài liệu gốc với hình thức phục vụ này sẽ tạo thuận lợi giúp cho NDT không có thời gian và điều kiện trực tiếp đến thư viện
Có thể thấy công tác phục vụ tài liệu địa chí của TVPT đã mang lại cho NDT những hiểu biết nhất định cho NDT và có những áp dụng trong thực tế
Phục vụ NDT tại phòng báo - tạp chí
Phòng báo tạp chí được ở tầng 2 của thư viện nằm đối diện với phòng phong trào cơ sở phòng được bố trí sắp xếp tài liệu rất gọn gàng, không gian vừa đủ, thoáng mát, với số lượng có kho khoảng 145 các loại báo ,tạp chí khác nhau cung cấp cho NDT những thông tin mới, ngắn gọn cập nhật đề cập đến nhiều lĩnh vực như giáo dục, y tế, khoa học giải trí, công an nhân dân… các số báo tạp chí ra hàng ngày, hàng tuần, hàng tháng và hàng quý
Do đặc điểm khác biệt về hình thức báo, tạp chí chứa đựng những thông tin có tính thời sự cao vì vậy việc xử lí phục vụ NDT có những đặc điểm riêng Phòng báo tạp chí được tổ chức dưới hình thức là kho mở với 145 loại đầu báo tạp chí các loại báo và tạp chí luôn được cập nhật thường xuyên theo ngày, sắp xếp trên giá chuyên biệt theo tên báo, tạp chí kết hợp với thời
Trang 37gian xuất bản giúp cho NDT có thể dễ dàng tìm đọc và cập nhập các thông tin mới nhất, ngoài ra thì NDT có thể yêu cầu, tìm đọc những bài báo, tạp chí cũ được lưu giữ tại phòng
Qua điều tra và khảo sát cho thấy 56,5% NDT sử dụng loại hình tài liệu khi đến thư viện là các loại báo và tạp chí Đối tượng NDT đến nhiều nhất và thường xuyên gắn bó với phòng báo -tạp chí là các cán bộ nghỉ hưu bên cạnh đó thì là các em học sinh, sinh viên đến tìm tài liệu để viết bài và toàn thể những người dân có nhu cầu sử dụng báo tạp chí tại thư viện với mục đích giải trí, thư giãn sau những giờ làm việc căng thẳng và mệt mỏi
Phòng được bố trí 02 cán bộ thư viện phục vụ cho NDT khi cần và 01 máy tính có nối mạng để quản lí dữ liệu và phục vụ NDT đến thư viện và nhằm phục vụ tốt nhu cầu tin của độc giả, ngoài ra phòng báo tạp chí là nơi thường xuyên cập nhật những bài báo, bài trích… phản ánh những vấn đề nổi bật và thiết thực của đời sống văn hóa, kinh tế, xã hội, chính sách pháp luật của đảng và nhà nước… được đăng tải trên các bài báo với các số ra hàng ngày mà thư viện đặt mua nhằm đáp ứng kịp thời nhưng thông tin mang tính thời sự cao đến với NDT
Với phương thức phục vụ là kho mở, cơ sở vật chất kĩ thuật tương đối khang trang và hiện đại NDT đến thư viện có thể chọn những đầu báo, tạp chí mình cần được trưng bày trên giá tại phòng lấy ra bàn để đọc không cần đến
sự phục vụ của cán bộ thư viện với hình thức này đã thu hút được rất nhiều NDT đến với thư viện ngày càng đông hơn, trung bình một ngày có khoảng
50 lượt NDT đến với phòng báo - tạp chí của thư viện Hầu hết các báo và tạp chí được bổ sung vào thư viện đều đáp ứng, thỏa màn nhu cẩu của NDT
Phòng thiếu nhi
Là phòng có diện tích khá rộng khoảng 200m2 nằm ở trầng 2 của thư viện gần với phòng đọc tổng hợp với 7 giá sách xếp dài song song, 2 bàn tròn
Trang 38dài to và 20 ghế tựa phục vụ cho các em thiếu nhi đến sử dụng tài liệu tại thư viện phòng phục vụ chủ yếu là các em thiếu nhi nhỏ tuổi nên có số lượng sách truyện khá đặc sắc, đa dạng như: Truyện tranh, truyện cười, tiểu thuyết, hoa học trò, phục vụ các em đến thư viện vừa học tập và giải trí, các sách dành cho các em thường có hình vẽ và tranh ảnh ngộ nghĩnh bắt mắt dễ thu hút các em nhỏ với số lượng sách tại phòng có khoảng 23000 bản
Với hình thức phục vụ là kho mở, tài liệu ở phòng thiếu nhi được sắp xếp theo chủ đề các em được tự do lựa chọn tài liệu mà mình thích không phải tra cứu qua mục lục hoặc qua cán bộ thư viện, hình thức tổ chức và phục vụ NDT này dễ thỏa màn nhu cầu của NDT đặc biệt là các em thiếu nhi làm cho các em thích đến thư viện hơn Nhưng với hình thức phục vụ này thư viện cũng gặp phải một số hạn chế nhất định tài liệu được bảo quản khó hơn với kho đóng, dễ hư hỏng, mất mát, mất nhiều diện tích trên giá, hình thức sắp xếp tài liệu không được đẹp mắt NDT dùng tài liệu xong không trả lại đúng nơi quy định tài liệu bị xáo trộn không đúng với yêu cầu, nội quy của thư viện
Theo kết quả điều tra cho thấy số lượng NDT đến với phòng thiếu nhi tương đối đông, đặc biệt là trong những ngày hè thì số lượng NDT tăng cao
Vì vậy thư viện cần tăng cường thêm tài liệu và phải tổ chức các hoạt động vui chơi giải trí bổ ích cho các em hơn nữa để các em đến thư viện ngày càng nhiều hơn và coi thư viện như ngôi trường thứ hai của mình
2.2.1.2 Dịch vụ mượn tài liệu về nhà
Đây là dịch vụ NDT có thể mượn tài liệu về nhà để sử dụng trong một thời gian nhất định Dịch vụ mượn tài liệu về nhà nhằm mục đích giúp cho NDT có điều kiện nghiên cứu sâu về tài liệu phục vụ cho các công việc, hoạt động, học tập nghiên cứu của mình với một số vấn đề liên quan
Hiện nay TVPT phục vụ mượn về nhà tại 02 phòng là phòng mượn
và phòng thiếu nhi