1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

nghiên cứu pheromone giới tính tổng hợp của loài homona tabescens meyrick và khảo sát diễn biến mật số quần thể của bướm sâu cuốn lá họ tortricidae gây hại trên cây có múi tại tỉnh hậu giang vàthành phố cần thơ

61 484 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 61
Dung lượng 3,97 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG NGUYỄN THIÊN LỘC NGHIÊN CỨU PHEROMONE GIỚI TÍNH TỔNG HỢP CỦA LOÀI Homona tabescens Meyrick VÀ KHẢO SÁT DIỄN BIẾN MẬT SỐ Q

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ

KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG

NGUYỄN THIÊN LỘC

NGHIÊN CỨU PHEROMONE GIỚI TÍNH TỔNG HỢP

CỦA LOÀI Homona tabescens Meyrick VÀ KHẢO SÁT

DIỄN BIẾN MẬT SỐ QUẦN THỂ CỦA BƯỚM SÂU CUỐN LÁ HỌ TORTRICIDAE GÂY HẠI TRÊN CÂY CÓ MÚI TẠI TỈNH HẬU GIANG VÀ

THÀNH PHỐ CẦN THƠ

Luận văn tốt nghiệp Đại học Ngành: BẢO VỆ THỰC VẬT

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ

KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG

Luận văn tốt nghiệp Ngành: BẢO VỆ THỰC VẬT

Tên đề tài:

NGHIÊN CỨU PHEROMONE GIỚI TÍNH TỔNG HỢP

CỦA LOÀI Homona tabescens Meyrick VÀ KHẢO SÁT

DIỄN BIẾN MẬT SỐ QUẦN THỂ CỦA BƯỚM SÂU

CUỐN LÁ HỌ TORTRICIDAE GÂY HẠI TRÊN

CÂY CÓ MÚI TẠI TỈNH HẬU GIANG VÀ

THÀNH PHỐ CẦN THƠ

Ks Châu Nguyễn Quốc Khánh MSSV: 3103630

Lớp: TT1073A1

Cần Thơ, 2013

Trang 3

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ -

KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG

Chứng nhận luận văn tốt nghiệp với đề tài:

“NGHIÊN CỨU PHEROMONE GIỚI TÍNH TỔNG HỢP CỦA LOÀI

Homona tabescens Meyrick VÀ KHẢO SÁT DIỄN BIẾN MẬT SỐ

QUẦN THỂ CỦA BƯỚM SÂU CUỐN LÁ HỌ TORTRICIDAE GÂY HẠI TRÊN CÂY CÓ MÚI TẠI TỈNH HẬU GIANG VÀ

THÀNH PHỐ CẦN THƠ”

Do sinh viên NGUYỄN THIÊN LỘC thực hiện và đề nạp

Kính trình Hội đồng chấm luận văn tốt nghiệp xem xét

Cần Thơ, ngày tháng năm 2013 Cán bộ hướng dẫn

TS Lê Văn Vàng

KS Châu Nguyễn Quốc Khánh

Trang 4

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG -

Hội đồng chấm luận văn tốt nghiệp đã chấp nhận luận văn tốt nghiệp Kỹ sư Bảo vệ thực vật với đề tài:

“NGHIÊN CỨU PHEROMONE GIỚI TÍNH TỔNG HỢP CỦA LOÀI

Homona tabescens Meyrick VÀ KHẢO SÁT DIỄN BIẾN MẬT SỐ

QUẦN THỂ CỦA BƯỚM SÂU CUỐN LÁ HỌ TORTRICIDAE GÂY HẠI TRÊN CÂY CÓ MÚI TẠI TỈNH HẬU GIANG VÀ

Trang 5

TIỂU SỬ CÁ NHÂN

Họ và tên: NGUYỄN THIÊN LỘC Giới tính: Nam

Họ tên cha: Nguyễn Văn Cung

Họ tên mẹ: Nguyễn Thị Giâng

Địa chỉ: TT Thạnh An, H Vĩnh Thạnh, Tp Cần Thơ

Điện thoại: 090 7147 370 Email: loc103630@student.ctu.edu.vn Quá trình học tập:

Năm 1998 – 2003: Trường tiểu học Thị Trấn Thạnh An I

Năm 2003 – 2007: Trường THCS Thạnh An

Năm 2007 – 2010: Trường THPT Thạnh An

Năm 2010 – 2014: Trường Đại học Cần Thơ

Tốt nghiệp tú tài năm 2010 tại trường THPT Thạnh An Trúng tuyển ngành Bảo vệ thực vật Khóa 36 – Khoa Nông Nghiệp & Sinh Học Ứng Dụng, Trường Đại học Cần Thơ năm 2010

Tốt nghiệp kỹ sư ngành Bảo vệ thực vật năm 2013

Trang 6

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của bản thân Các số liệu, kết quả trình bày trong luận văn tốt nghiệp là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình luận văn nào trước đây

Tác giả luận văn

Nguyễn Thiên Lộc

Trang 7

LỜI CẢM TẠ

Kính dâng lên Ba mẹ, người đã yêu thương, nuôi dưỡng và chăm lo cho con

học tập đến ngày hôm nay

Chân thành biết ơn:

Thầy Lê Văn Vàng đã tận tình hướng dẫn và giúp đỡ trong suốt quá trình làm Luận văn tốt nghiệp

Kính gởi đến thầy Tetsu Ando, thầy Lê Văn Vàng, giáo viên hướng dẫn lòng biết ơn sâu sắc Thầy đã tận tình hướng dẫn, hết lòng chỉ bảo, dìu dắt và động viên trong quá trình thực hiện luận văn tốt nghiệp

Chân thành cảm ơn gia đình bác Trương Quang Đức, bác Lâm Văn Nghiêm, bác Trần Văn Ba, đã nhiệt tình cộng tác trong quá trình làm thí nghiệm

Quý thầy cô và toàn thể Cán bộ Bộ môn Bảo vệ thực vật, Khoa Nông nghiệp

& sinh học ứng dụng đã tạo điều kiện thuận lợi cho em hoàn thành tốt luận văn tốt nghiệp

Quý thầy cô Khoa Nông nghiệp & Sinh học Ứng dụng, Trường Đại học Cần Thơ đã truyền đạt kiến thức cho em trong suốt khóa học

Thành thật cảm ơn anh Châu Nguyễn Quốc Khánh đã nhiệt tình đóng góp ý kiến và giúp đỡ Các anh, chị học viên Cao học BVTV K18 đã giúp đỡ rất nhiệt tình trong quá trình làm luận văn tốt nghiệp

Thân ái gởi về:

Tất cả các bạn trong lớp Bảo vệ thực vật K36 và toàn thể sinh viên Khoa Nông nghiệp & sinh học ứng dụng, Trường Đại học Cần Thơ những lời chúc tốt đẹp

và thành đạt nhất

NGUYỄN THIÊN LỘC

Trang 8

NGUYỄN THIÊN LỘC, 2013 Đề tài “Nghiên cứu pheromone giới tính tổng

hợp của loài Homona tabescens Meyrick và khảo sát diễn biến mật số quần thể

của bướm sâu cuốn lá họ Tortricidae gây hại trên cây có múi tại tỉnh Hậu Giang và thành phố Cần Thơ” Luận văn tốt nghiệp ngành Bảo vệ thực vật, Khoa

Nông Nghiệp & Sinh Học Ứng Dụng Trường Đại Học Cần Thơ Cán bộ hướng dẫn

Ts Lê Văn Vàng

TÓM LƯỢC

Nhóm sâu cuốn lá là dịch hại thứ cấp và đang bùng phát trong thời gian gần đây trên cây cam quýt ở thành phố Cần Thơ và tỉnh Hậu Giang Nhằm tạo cơ sở cho việc xây dựng các chương trình quản lý sâu cuốn lá gây hại cam quýt với đề tài:

“Nghiên cứu pheromone giới tính tổng hợp của loài Homona tabescens

Meyrick và khảo sát diễn biến mật số quần thể của bướm sâu cuốn lá họ Tortricidae gây hại trên cây có múi tại tỉnh Hậu Giang và thành phố Cần Thơ”

được thực hiện từ tháng 8/2012 đến tháng 9/2013 đạt được kết quả đạt được như sau:

Pheromone giới tính tổng hợp của bướm H tabescens gồm hai thành phần là

Z11-14:OAc và Z9-12:OAc với tỉ lệ phối trộn là 9:1 cho hiệu quả hấp dẫn quần thể

bướm sâu cuốn lá H tabescens cao nhất ở các nồng độ 0,7 mg/tuýp là 6,60 TT/

bẫy/tuần hoặc 1 mg/tuýp là 5,93 TT/ bẫy/tuần

Pheromone giới tính tổng hợp đã thành công ở nồng độ hấp dẫn nhất và khảo

sát diễn biến mật số quần thể của A atrolusens, A privatana và H tabescens tại thành phố Cần Thơ và tỉnh Hậu Giang, thành trùng của A atrolucens, A privatana,

H tabescens hiện diện quanh năm với mật số quần thể cao xuất hiện từ cuối tháng

11 đến đầu tháng 05 Hơn nữa, số lượng bướm vào bẫy pheromone giới tính và tỉ lệ đọt, lá bị hại là có sự tương quan khá chặt, với hệ số tương quan (r) từ 0,74 – 0,84

Từ khóa: Adoxophyes privatana, Archips atrolucens, Homona tabescens

Trang 9

MỤC LỤC

TÓM LƯỢC i

MỤC LỤC vii

DANH SÁCH BẢNG x

DANH SÁCH HÌNH xi

DANH SÁCH KÝ HIỆU CHỮ VIẾT TẮT xiii

GIỚI THIỆU 1

CHƯƠNG 1: LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU 3

1.1 SƠ LƯỢC VỀ CÂY CAM QUÝT 3

1.2 THÀNH PHẦN VÀ MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM CỦA NHÓM SÂU CUỐN

LÁ GÂY HẠI TRÊN ĐỌT VÀ LÁ CÂY CÓ MÚI 4

1.2.1 Thành phần nhóm sâu cuốn lá gây hại trên cây cam quýt 4

1.2.2 Adoxophyes privatana Walker 4

1.2.2.1 Đặc điểm hình thái 4

1.2.2.2 Triệu chứng gây hại 5

1.2.3 Archips atrolucens Diakonoff 6

1.2.3.1 Đặc điểm hình thái 6

1.2.3.2 Triệu chứng gây hại 6

1.2.4 Sâu cuốn lá Homona tabescens Meyrick 7

1.2.4.1 Đặc điểm hình thái 7

Trang 10

1.2.6 Psorosticha melanocrepida Clarke 10

1.2.6.1 Đặc điểm hình thái 10

1.2.6.2 Triệu chứng gây hại 11

1.3 PHEROMONE CỦA CÔN TRÙNG THUỘC BỘ CÁNH VẢY 11

1.3.1 Pheromone 11

1.3.1.1 Khái niệm 11

1.3.1.2 Tính chất của hợp chất pheromone 12

1.3.2 Pheromone giới tính 12

1.3.2.1 Khái niệm 12

1.3.2.2 Khả năng ứng dụng của pheromone giới tính 12

1.3.3 Tình hình nghiên cứu và ứng dụng của pheromone giới tính 14

1.3.3.1 Một số nghiên cứu nước ngoài 14

1.3.3.2 Một số nghiên cứu trong nước 14

1.3.3.3 Một số nghiên cứu pheromone giới tính họ ngài sâu cuốn lá gây hại trên cây có múi 15

CHƯƠNG 2: PHƯƠNG TIỆN VÀ PHƯƠNG PHÁP 17

2.1 PHƯƠNG TIỆN 17

2.1.1 Thời gian và địa điểm 17

2.1.2 Phương tiện 17

2.1.2.1 Vật liệu thí nghiệm 17

2.1.2.2 Hóa chất 17

2.1.2.3 Mồi pheromone 18

2.1.2.4 Bẫy pheromone và cách dặt bẫy 18

2.2 PHƯƠNG PHÁP 19

2.2.1 Thí nghiệm 1: Đánh giá hiệu quả hấp dẫn của pheromone giới tính tổng hợp đối với sâu cuốn lá Homona tabescens ở điều kiện ngoài đồng 19

2.2.2 Thí nghiệm 2: Khảo sát hiệu quả của pheromone giới tính tổng hợp theo dãy nồng độ đối với bướm Homona tabescens ở điều kiện ngoài đồng 19

Trang 11

2.2.3 Thí nghiệm 3: Khảo sát diễn biến mật số quần thể và tỉ lệ gây hại

của bướm sâu cuốn lá trên các vườn cam quýt 29

2.3 XỬ LÝ SỐ LIỆU 20

CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 23

3.1 HIỆU QUẢ HẤP DẪN CỦA PHEROMONE GIỚI TÍNH ĐỐI VỚI BƯỚM SÂU CUỐN LÁ Homona tabescens 22

3.2 KHẢ NĂNG HẤP DẪN THÀNH TRÙNG Homona tabescens HỖN HỢP Z11-14:OAC, Z9-12:OAC TỈ LỆ 9:1 THEO DÃY NỒNG ĐỘ 23

3.3 DIỄN BIẾN MẬT SỐ QUẦN THỂ VÀ TỈ LỆ GÂY HẠI CỦA NHÓM SÂU CUỐN LÁ TRÊN CÁC VƯỜN CAM SÀNH TẠI TP CẦN THƠ 24

3.3.1 Archips atrolucens Diakonoff 24

3.3.2 Adoxophyes privatana Walker 25

3.3.3 Homona tabescens Meyrick 27

3.3.4 Tổng hợp 3 loài A atrolucens, A privatana, H tabescens 29

3.3.5 Trung bình số lượng thành trùng của 3 loài (A atrolucens, A privatana, H tabescens) vào bẫy tại vườn số 4 32

CHƯƠNG 4: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT 34

4.1 KẾT LUẬN 34

4.2 ĐỀ XUẤT 35

TÀI LIỆU THAM KHẢO 36

PHỤ CHƯƠNG 39

Trang 12

DANH SÁCH BẢNG

2.1 Thành phần pheromone giới tính tổng hợp của nhóm sâu cuốn lá họ

Tortricidae (Theo Hồ Như Thủy, 2012)

3.1 Hiệu quả hấp dẫn của pheromone giới tính đối với bướm đực

Homona tabescens tại Quận Cái Răng, Tp Cần Thơ

22

3.2 Hiệu quả hấp dẫn bướm Homona tabescens của dãy nồng độ

hỗn hợp Z11-14:OAc, Z9-12:OAc (tỉ lệ 9:1) tại Q Cái Răng,

Tp Cần Thơ

23

Trang 13

DANH SÁCH HÌNH

Hình 1.1 Thành trùng sâu cuốn lá A privatana 5

Hình 1.2 Triệu chứng gây hại lá của sâu A privatana 5

Hình 1.3 Thành trùng của A atrolucens, thành trùng đực (A); thành

trùng cái (B)

6

Hình 1.4 Triệu chứng gây hại lá cây cam sành của loài A atrolucens 7

Hình 1.5 Thành trùng cái (A) và đực (B) của loài Homona tabescens 7

Hình 1.6 Triệu chứng gây hại lá của sâu Homona tabescens 8

Hình 1.7 (A) Thành trùng đực và cái, (B) Đốt cuối bụng của thành

trùng cái của loài sâu xếp lá Agonopterix sp

9

Hình 1.8 Thành trùng đực và cái của loài sâu xếp lá Agonopterix sp 9

Hình 1.9 Hình triệu chứng gây hại trên lá của sâu cuốn Agonopterix

Hình 1.11 Triệu trứng gây hại của loài P melanocrepida 11

Hình 2.1 Tuýp cao su non (A) và lọ thủy tinh có nắp đậy (B) 17

Hình 2.2 Bẫy pheromone và tấm dính 18

Trang 14

atrolucens vào bẫy và trung bình đọt, lá bị hại

Hình 3.3 Diễn biến mật số quần thể của Adoxophyes privatana

Walker tại xã Đông Thành, huyện Châu Thành, tỉnh Hậu Giang

26

Hình 3.4 Biểu đồ mối tương quan giữa số lượng bướm A privatana

vào bẫy và trung bình đọt, lá bị hại

27

Hình 3.5 Diễn biến mật số quần thể của H tabescens tại phường Tân

Phú, quận Cái Răng, Tp Cần Thơ

27

Hình 3.6 Biểu đồ mối tương quan giữa trung bình số lượng bướm H

tabescens vào bẫy và trung bình đọt, lá bị hại

28

Hình 3.7 Diễn biến mật số quần thể vườn tổng hợp 3 loài (A

privatana, A atrolucens, H tabescens) vườn cam sành tại

xã Đông Thành, huyện Châu Thành, tỉnh Hậu Giang

29

Hình 3.8 Biểu đồ mối tương quan giữa số lượng bướm A atrolucens

vào bẫy và trung bình đọt, lá bị hại

30

Hình 3.9 Biểu đồ mối quan giữa số lượng bướm A privatana vào bẫy

và trung bình đọt, lá bị hại

31

Hình 3.10 Biểu đồ mối tương quan giữa trung bình số lượng bướm H

tabescens vào bẫy và trung bình đọt, lá bị hại

31

Hình 3.11 Diễn biến mật số quần thể tổng hợp trung bình của 3 loài

(A atrolucens, A privatana, H tabescens) tại xã Đông

Thành, huyện Châu Thành, tỉnh Hậu Giang

32

Hình 3.12 Biểu đồ mối tương quan giữa trung bình số lượng bướm của

3 loài (A atrolucens, A privatana, H tabescens) vào bẫy và

đọt, lá bị hại

33

Trang 15

DANH SÁCH KÝ HIỆU CHỮ VIẾT TẮT

14:OAc: tetradecyl acetale

E11-14:OAc: (E)-11-tetradecenyl acetate

Z11-14:OAc: (Z)-11-tetradecenyl acetate

Z9-12:OAc: (Z)-9-dodecenyl acetate

Z9-14:OAc: (Z)-9-tetradecenyl acetate

Tp: Thành phố

ĐBSCL: đồng bằng sông Cửu Long

Trang 16

GIỚI THIỆU

Việt Nam là một nước có nền nông nghiệp phát triển rất mạnh vì đất đai, khí hậu rất phù hợp cho việc canh tác nhiều loại cây trồng như cây lúa, cây rau, cây ăn trái, cây công nghiệp Trong đó, vùng đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) có diện tích trồng cây ăn trái chiếm tỉ lệ rất lớn và cam quýt là một trong những loại cây ăn trái đem lại nguồn thu nhập cao cho nông dân ở vùng ĐBSCL Tuy nhiên hiện nay sâu bệnh trên cam quýt vẫn còn rất nhiều Nhóm côn trùng gây hại chính trên cam, quýt gồm: sâu vẽ bùa, rầy chổng cánh, rầy mềm, rệp sáp, bọ xít, nhện, sâu đục vỏ trái, bù lạch, (Nguyễn Văn Huỳnh và Lê Thị Sen, 2011)

Bên cạnh những loài gây hại chính thì một số loài gây hại thứ cấp đang gia tăng đáng kể vì hầu hết các vườn cam quýt đều được canh tác liên tục và sử dụng các biện pháp hóa học phòng trừ dịch hại quá nhiều và không hợp lí Trong số các dịch hại thứ cấp đang bùng phát có nhóm sâu cuốn lá cam quýt

Theo Nguyễn Thị Thu Cúc (2000) nhóm sâu cuốn lá là loài gây hại thứ cấp

trên cây cam quýt ở ĐBSCL là Adoxophyes privatana Walker thuộc họ Tortricidae,

bộ Cánh vảy (Lepidoptera) và Agonopterix sp thuộc họ Oecophoridae, bộ Cánh vảy

(Lepidoptera) Nhưng đến năm 2012 theo Hồ Như Thủy nhóm sâu cuốn lá gây hại trên cây cam quýt ở ĐBSCL gồm 5 loài thuộc bộ Cánh vảy (Lepidoptera) trong đó 3

loài thuộc họ Tortricidae: loài Archips atrolucens, loài Adoxophyes privatana, loài

Homona tabescens và 2 loài thuộc họ Oecophoridae: loài Psorosticha melanocrepida, loài Agonopterix sp

Sâu cuốn lá là loài gây hại thứ cấp đang phổ biến xuất hiện nhiều ở các vườn cam quýt ở ĐBSCL, theo Huỳnh Đức Hưng (2013) các loài thuộc họ Tortricidae có mức độ phong phú (chiếm tỉ lệ vũ hóa 85,56%) cao hơn các loài thuộc họ

Oecophoridae (chiếm tỉ lệ vũ hóa 14,44%) trong đó loài H tabescens đạt 12,92%

Ấu trùng H tabescens có thể cuốn 2 – 3 lá lại với nhau và ăn trụi chỉ để lại phần

gân lá Thế nên chúng ta cần có những biện pháp phòng trị kịp thời và hiệu quả nhất đối với loại sâu này nói riêng và nhóm sâu cuốn lá nói chung Tuy nhiên nếu tiếp tục sử dụng thuốc hóa học sẽ dẫn đến tình trạng kháng thuốc và gây hậu quả nặng

nề cho hệ sinh thái nông nghiệp Do đó cần phải có những biện pháp theo dõi và phòng trị khác nhưng không sử dụng thuốc hóa học

Trên cơ sở đó, đề tài: “Nghiên cứu pheromone giới tính tổng hợp Homona

tabescens Meyrick và khảo sát diễn biến mật số quần thể của bướm sâu cuốn lá

họ Tortricidae gây hại trên cây có múi tại tỉnh Hậu Giang và thành phố Cần Thơ” được thực hiện nhằm cung cấp những thông tin về diễn biến mật số của nhóm

Trang 17

sâu cuốn lá và đề ra được biện pháp quản lí sâu cuốn lá H tabescens bằng bẫy

pheromone giới tính tổng hợp từ đó có hướng đề ra biện pháp phòng trị một cách hiệu quả loài sâu này trong điều kiện ngoài đồng trên các vườn cam quýt ở vùng

ĐBSCL với những mục tiêu sau:

* Nghiên cứu pheromone giới tính tổng hợp của bướm sâu cuốn lá H

tabescens gây hại trên cây có múi tại tỉnh Hậu Giang và Tp Cần Thơ.

* Khảo sát diễn biến mật số quần thể thành trùng của sâu cuốn lá A

atrolucens, A privatana và H tabescens bằng bẫy pheromone giới tính tổng hợp ở

vùng trồng cây cam quýt thuộc tỉnh Hậu Giang và Tp Cần Thơ

Trang 18

CHƯƠNG 1 LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU

1.1 SƠ LƯỢC VỀ CÂY CAM QUÝT

Cam quýt là cây ăn trái quan trọng, chiếm sản lượng 107 triệu tấn trên toàn thế giới, trồng được ở vùng nhiệt đới hay bán nhiệt đới Đây là loại cây ăn trái quý, cho nên diện tích trồng cây có múi ngày càng tăng, riêng ở ĐBSCL, có 37.937 ha được trồng ở các tỉnh Tiền Giang, Bến Tre, Cần Thơ, Đồng Tháp, Vĩnh Long, An Giang, Trà Vinh, Sóc Trăng (Nguyễn Minh Châu, 1998), và dự kiến đến năm 2010, tổng diện tích của cây có múi ở Việt Nam là 200.000 ha, đạt năng suất 10 tấn/ha với tổng sản lượng 2.000.000 tấn Tuy nhiên việc canh tác cây có múi hiện nay đã gặp không ít khó khăn, các nhà vườn đang điêu đứng vì đại dịch vàng lá gân xanh và bệnh Tristeza Trong thời gian sắp tới muốn phát triển giống cây ăn trái quý này cần phải hiểu rõ đặc tính cũng như kỹ thuật canh tác và cách khống chế nguồn bệnh, mang lại nguồn lợi rất lớn cho các nhà vườn chuyên canh cây có múi (Nguyễn Bảo Vệ, 2011)

Cam quýt thuộc họ Rutaceae, họ phụ Aurantioideae (có khoảng 250 loài),

có hai tộc Citreae và clauseneae, tộc Citreae có tộc phụ Citrineae Tộc phụ

Citrineae có khoảng 13 giống, trong đó có 6 giống quan trọng đó là Citrus, Poncirus, Fortunella, Eremocitrus, Microcitrus và Clymenia Đặc điểm chung

của 6 giống này là cho trái có con tép (phần ăn được trong múi) với cuống thon nhỏ, mọng nước Số nhị đực nhiều bằng hay hơn 4 lần số cánh hoa, đây cũng là một trong những đặc điểm xác định giống cây trồng, các giống hoang dại thường

có số nhị đực ít hơn hay chỉ bằng gấp đôi số cánh hoa và con tép không phát triển (Nguyễn Bảo Vệ, 2011)

Lá gồm phiến lá và cánh lá Đối với các loại trồng thì bưởi có cánh lá to nhất, kế đến là cam, chanh, cam Sành, quýt Trên lá khí khổng tập trung nhiều nhất ở mặt lưng, số lượng thay đổi tùy theo giống, trung bình 400 - 500 khí khổng/mm2, lá còn chứa các túi tinh dầu hiện diện ở lớp mô giậu (Nguyễn Bảo

Vệ, 2011)

Rễ thuộc loại rễ nấm (micorhiza) Sự phát triển của rễ thường xen kẽ với

sự phát triển của thân cành trên mặt đất Mỗi năm rễ có khoảng 3 lần sinh trưởng phát triển Nhìn chung, rễ phân bố ở tầng đất sâu 10 – 30 cm, rễ nhánh tập trung

ở tầng sâu 10-25 cm, rễ hoạt động mạnh ở thời kỳ 1 - 8 năm tuổi sau trồng, sau

đó suy giảm nhiều và tái sinh kém (Trần Thế Tục và ctv., 1998)

Trang 19

Hoa thuộc loại hoa đơn hay chùm, mọc từ nách lá Ở ĐBSCL, hoa cam quýt mọc ở cành phát triển vào đầu và cuối mùa mưa nên có thể cho nhiều vụ trái trong năm Hoa cam quýt có dạng hình thuần tròn, đường kính từ 2,5 - 4 cm, thường là hoa lưỡng tính Hoa có 4 - 8 cánh (thường là 5), màu trắng, dính liền vào nhau ở đáy (Nguyễn Bảo Vệ, 2011)

1.2 THÀNH PHẦN VÀ MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM CỦA NHÓM SÂU CUỐN LÁ GÂY HẠI TRÊN CÂY CAM QUÝT

1.2.1 Thành phần nhóm sâu cuốn lá gây hại trên cây cam quýt

Theo Nguyễn Thị Thu Cúc (2000) nhóm sâu cuốn lá là loài gây hại thứ

cấp hại trên cây cam quýt ở ĐBSCL là Adoxophyes privatana Walker thuộc họ Tortricidae, bộ Cánh vảy (Lepidoptera) và Agonopterix sp thuộc họ

Oecophoridae, bộ Cánh vảy (Lepidoptera) Nhưng đến năm 2012 theo Hồ Như Thủy nhóm sâu cuốn lá gây hại trên cây cam quýt ở ĐBSCL gồm 5 loài thuộc bộ

Cánh vảy (Lepidoptera) trong đó 3 loài thuộc họ Tortricidae: loài Archips

atrolucens, loài Adoxophyes privatana, loài Homona tabescens và 2 loài thuộc họ

Oecophoridae: loài Psorosticha melanocrepida, loài Agonopterix sp

1.2.2 Adoxophyes privatana Walker

1.2.2.1 Phân bố và ký chủ

A privatana được ghi nhận phân bố phổ biến tại các nước thuộc châu Á

như Ấn Độ, Malaysia, Singapore, Indonesia, Việt Nam (Nguyễn Thị Thu Cúc 2000)

Theo Hiroshi Kuroko và Angoon Lewvanich (1993), tại Thái Lan

Adoxophyes privatana được ghi nhận hiện diện trên chôm chôm, sầu riêng, bưởi,

măng cụt, gây hại bằng cách cuốn lá non

Tại ĐBSCL, A privatana được ghi nhận gây hại trên nhiều loại cây trồng

như chôm chôm, sầu riêng, măng cụt, cây có múi (cam, quýt bưởi, chanh) và đậu phộng (Nguyễn Thị Thu Cúc, 2000) Sâu gây hại bằng cách nhíu các lá đọt lại với nhau rồi ăn phá bên trong Sâu hiện diện quanh năm và mật số thường cao vào các đợt ra chồi non (Nguyễn Thị Thu Cúc, 2000)

1.2.2.2 Đặc điểm hình thái

Trang 20

Khi đậu hai cánh trên xếp lại, tạo thành một đốm đen ngay phía dưới đầu

và ngực Con cái có màu tối hơn con đực, các băng cong trên cánh trước cũng có màu nhạt hơn Thành trùng có kích thước nhỏ, con đực có sải cánh rộng 16,5

mm, con cái có sải cánh rộng 18 mm Ấu trùng khi phát triển đầy đủ dài khoảng

14 mm, đầu màu vàng, mặt lưng cơ thể có màu xanh đen, mặt bụng có màu xanh nhạt hơn Sâu trưởng thành nhả tơ, kết lá và hóa nhộng ngay trên lá Nhộng màu nâu nhạt dài khoảng 10 - 11 mm (Nguyễn Thị Thu Cúc, 2000)

Hình 1.1 Thành trùng sâu cuốn lá A privatana (Nguồn:Nguyễn Thị Thu Cúc, 2000)

1.2.2.3 Triệu chứng gây hại

Ấu trùng của A privatana gây hại chủ yếu trên lá non và lá gần trưởng

thành của cây có múi bằng cách nhả tơ kết dính các lá lại với nhau để làm chỗ ở

và ăn phá phần lá non bên trong dần ra ngoài (Hình 1.2) (Nguyễn Thị Thu Cúc, 2000)

Hình 1.2 Triệu chứng gây hại lá của sâu A privatana

(Nguồn: Nguyễn Thị Thu Cúc, 2000)

Trang 21

1.2.3 Archips atrolucens Diakonoff

1.2.3.1 Đặc điểm hình thái

Ấu trùng phát triển đầy đủ có cơ thể có màu xanh, trong suốt, đầu màu

đen, cơ thể có nhiều lông mịn bao phủ Nhộng khi sắp vũ hóa có màu nâu ngả

vàng, dài khoảng 14,5 – 15 mm và 13 – 14 mm Thành trùng có dạng hình chuông điển hình của nhóm sâu cuốn lá họ Tortricidae, có sự khác biệt về hình thái bên ngoài rất rõ nét giữa thành trùng đực và thành trùng cái Thành trùng cái luôn có kích thước lớn hơn thành trùng đực trong khi thành trùng đực lại có màu sắc rực rỡ, những vân đậm trên cánh trước nhiều hơn thành trùng cái, khi đậu hai cách xếp lại hình mái nhà (Hình 1.3) (Hồ Như Thủy, 2012)

Hình 1.3 Thành trùng của A atrolucens, thành trùng đực (A); thành trùng cái (B)

(Nguồn: Hồ Như Thủy, 2012)

Cơ thể thành trùng cái có màu vàng nâu dài thân 9,6 ± 1,38 mm với sải cánh rộng 20,35 ± 2,28 mm Cánh trước có màu vàng nâu, ở phần rìa cánh trước gần đoạn giữa cánh có một đốm nâu đậm, dẹp giần (giống chữ D), dài khoảng 2

mm, trên cánh trước có nhiều vân màu nâu đậm nhạt sen kẽ Cánh sau màu vàng nâu nhạt màu hơn cách trước, ở rìa của cánh sau, gần về gốc cánh có một vết màu nâu đậm, khi xếp hai cánh trước và sau lại thì nó trùng lên nhau (Hồ Như

Thủy, 2012)

Thành trùng đực có chiều dài thân 6,93 ± 0,77 mm với sải cánh rộng 15,65 ± 1,50 mm Cánh trước có pha nhiều vết vàng, nâu, đen sen kẽ, tạo nên hoa văn riêng, rất rực rỡ Rìa của cánh có màu sáng hơn phía trong cánh Cánh

sau màu vàng nâu, có phần hơi nhạt hơn cách trước (Hồ Như Thủy, 2012)

1.2.3.2 Triệu chứng gây hại

B

A

Trang 22

Vì cách gây hại mang tính đặc trưng trên cây có múi, nên loài này được gọi là sâu xếp lá (Nguyễn Thị Thu Cúc, 2000)

1.2.4 Homona tabescens Meyrick

1.2.4.1 Đặc điểm hình thái

Theo quan sát ghi nhận Hồ Như Thủy (2012), thành trùng có dạng hình chuông điển hình của họ ngài cuốn lá Tortricidae, có khác biệt rất rõ về màu sắc

và kích thước giữa bướm đực và cái Bướm đực có chiều dài thân 6,93 ± 0,77

mm với sải cánh rộng 15,65 ± 1,50 mm Cánh có màu vàng nâu, trên cánh có vệt màu đen dài khoảng 1 mm ở giữa cánh Bướm cái có chiều dài thân 9,60 ± 1,39

mm với sải cánh rộng 20,35 ± 2,28 mm Cánh màu nâu đậm, trên cánh có vệt lớn màu vàng nâu sáng, chia cánh ra hai phần có màu khác nhau rõ rệt, phía ngoài có màu nâu đen bên trong màu vàng nâu kéo dài về phần rìa cánh

B

A

Hình 1.5 Thành trùng cái (A) và đực (B) của loài Homona tabescens

(Nguồn : Hồ Như Thủy, 2012) Hình 1.4 Triệu chứng gây hại lá cây cam sành của loài A atrolucens

(Nguồn: Hồ Như Thủy, 2012)

Trang 23

1.2.4.3 Triệu chứng gây hại

Ấu trùng của loài Homona tabescens ăn phá lá rất nhanh chủ yếu là trên lá

non và lá trưởng thành Khi ăn hết phần lá non sâu ăn cả phần đọt non Một sâu tuổi 4 – 5 có thể ăn hết 2 – 3 lá non trong một ngày Khi mật số cao sâu ăn trụi cả phần đọt và sau đó hóa nhộng Sâu thường làm nhộng bên trong lớp tơ (Hồ Như Thủy, 2012)

Hình 1.6 Triệu chứng gây hại lá của sâu Homona tabescens

(Nguồn : Hồ Như Thủy, 2012)

1.2.5 Agonopterix sp

1.2.5.1 Đặc điểm hình thái

Có thể phân biệt được bướm đực và bướm cái dễ dàng thông qua kích thước cơ thể và màu sắc trên cánh của thành trùng đực Thành trùng đực có chiều dài thân là 6,95 ± 0,50 mm với sải cánh rộng 15,65 ± 1,50 mm Ở cuối bụng có túm lông bao phủ (Hồ Như Thủy, 2012)

Bướm cái có chiều dài thân là 9,74 ± 1,08 mm với sải cánh rộng 22,2 ± 2,38 mm Ngực và bụng phủ lớp vảy màu trắng đục, bướm cái có bụng to, tròn

và dài hơn bướm đực Phần ở cuối bụng của bướm cái có ống dẫn trứng nhô ra

ngoài, dài khoảng 2 mm (Hồ Như Thủy, 2012)

Trang 24

Trứng có dạng hình bầu dục, màu vàng hơi đục, sau đó chuyển dần sang màu vàng đậm, có chấm đen ở giữa trứng Khi xắp nở trứng hoàn toàn chuyển sang màu vàng nâu, chấm đen to và rõ hơn Trong điều kiện phòng thí nghiệm, trứng có thể được đẻ rời rạc hay theo từng ổ, mỗi ổ từ 8 – 120 trứng Mỗi thành trùng cái có thể đẻ được trung bình 158,8 ± 108,2 trứng Sau khi đẻ khoảng 3 - 5 ngày trên trứng xuất hiện chấm đen và khoảng 8 - 10 ngày thì trứng nở (Hồ Như Thủy, 2012)

Ấu trùng mới nở có kích thước khoảng 1 mm, đầu màu nâu đen, thân màu trắng đục hơi ngã vàng Ấu trùng tuổi cuối có chiều dài khoảng 18 - 20 mm, ngang 1,8 - 2,2 mm Vỏ đầu có màu đen, toàn thân có màu xanh lục, trên thân mọc nhiều lông mịn dài màu trắng Khi xắp hóa nhộng sâu co ngắn lại, thân có màu vàng chanh (Hồ Như Thủy, 2012)

Nhộng có chiều dài 9,55 ± 1,77 mm và chiều ngang khoảng 2,53 ± 0,60

mm Lúc mới hình thành nhộng có màu vàng nhạt sau đó chuyển dần sang màu

đỏ nâu khi gần vũ hóa Nhộng được hình thành trong những lá mà ấu trùng ăn phá, có một lớp tơ bao phủ bên ngoài (Hồ Như Thủy, 2012)

Hình 1.8 Thành trùng đực và cái của loài sâu xếp lá Agonopterix sp

(Nguồn: Hồ Như Thủy, 2012)

Hình 1.7 (A) Thành trùng đực và cái, (B) Đốt cuối bụng của thành trùng cái của

loài sâu xếp lá Agonopterix sp (Nguồn: Hồ Như Thủy, 2012)

(Nguồn: Hồ Như Thủy, 2012)

Trang 25

1.2.5.2 Triệu chứng gây hại

Ấu trùng ăn cả lá trưởng thành và lá non, nhưng chủ yếu trên lá trưởng thành Sâu gây hại bằng cách nhả tơ cuốn hai mép lá dính lại và ăn phá bên trong (Hình 1.9) Thông thường sâu ăn từ ngoài chóp vào, nhưng cũng có thể ăn phần thịt lá bên trong Sâu có thể cuốn hai phiến lá dính lại với nhau và trú ẩn ở gân chính của lá hay chỉ một bên của phiến lá Một ấu trùng có thể gây hại trên nhiều

lá cùng một lúc Ấu trùng mới nở chỉ ăn phần biểu bì và để lại phần gân lá Ở các tuổi lớn hơn ấu trùng ăn thủng lá Ấu trùng tuổi cuối hóa nhộng bên trong hai phiến lá xếp lại (Hồ Như Thủy, 2012)

Hình 1.9 Hình triệu chứng gây hại trên lá của sâu cuốn Agonopterix sp

(Nguồn: Hồ Như Thủy, 2012) 1.2.6 Psorosticha melanocrepida Clarke

1.2.6.1 Đặc điểm hình thái

Bướm đực và bướm cái có hình dạng và màu sắc tương đối giống nhau, cơ thể phủ đầy vảy có màu nâu đen, trên mỗi đốt bụng có vệt màu đen Tuy nhiên, bướm cái thường có kích thước lớn hơn bướm đực và có thể phân biệt được bướm đực và cái dễ dàng bằng cách quan sát tuyến đốt bụng cuối của chúng Thành trùng cái có phần cuối bụng phình to, lỗ sinh dục rộng và tròn, phần cuối bụng của bướm đực thì nhỏ hơn và thon dài, có túm lông bao phủ (Hồ Như Thủy, 2012)

B

A

Trang 26

1.2.6.2 Triệu chứng gây hại

Ấu trùng P melanocrepida ăn cả lá trưởng thành và lá non, nhưng chủ

yếu trên lá non, giai đoạn lá hình mũi mác và hai phiến lá chưa mở ra (Hình 1.11) Ấu trùng ẩn mình ở gân chính của lá và nhả tơ ổn định chỗ ở Một ấu trùng thường ăn phá chỉ trong một lá, thường ấu trùng tấn công từ chóp lá vào, làm cho chóp lá có màu vàng (Hồ Như Thủy, 2012)

Hình 1.11 Triệu trứng gây hại của loài P melanocrepida

(Nguồn: Hồ Như Thủy, 2012)

1.3 PHEROMONE CỦA CÔN TRÙNG THUỘC BỘ CÁNH VẢY

1.3.1 Pheromone

1.3.1.1 Khái niệm

Pheromone là chất được sử dụng như những tín hiệu hóa học giữa các cá thể cùng loài, những chất này được tiết ra ngoài cơ thể côn trùng và có thể gây ra những phản ứng chuyên biệt cho những cá thể khác cùng loài Đôi khi chất này

A

B

Hình 1.10 Thành trùng đực (A); Thành trùng đực và cái (B) của loài P

melanocrepida (Nguồn: Hồ Như Thủy, 2012)

(Nguồn: Hồ Như Thủy, 2012)

Trang 27

còn được gọi là pheromone xã hội hay được xem như một hệ thống thông tin hóa học (Nguyễn Thị Thu Cúc, 2010)

1.3.1.2 Tính chất của hợp chất pheromone

Pheromone là một chất lỏng, dễ bay hơi trong điều kiện tự nhiên, tốc độ bay hơi và khuyếch tán phụ thuộc vào tốc độ gió, sự vận động của dòng khí hay dòng nước, nhiệt độ và ẩm độ Trong môi trường tự nhiên, pheromone chỉ tồn tại

ở một giới hạn nhiệt độ nhất định Nhìn chung nhiệt độ càng cao thì tốc độ khuyếch tán và phân hủy của pheromone càng nhanh (Bùi Công Hiển, 2002)

Phân loại pheromone

- Pheromone giới tính (sex pheromone)

- Pheromone tập hợp (aggregation pheromone)

- Pheromone nhận biết không gian (spacing pheromone)

- Pheromone dẫn đường (trail marking pheromone)

- Pheromone báo động (alarming pheromone)

1.3.2 Pheromone giới tính

1.3.2.1 Khái niệm

Pheromone giới tính (sex pheromone) là một chất hóa học hay hỗn hợp của những chất hóa học được cá thể tiết ra môi trường để hấp dẫn sự bắt cặp của những cá thể khác giới trong cùng một loài Do hoạt động như những hóa chất sinh học với tính chọn lọc cao và nồng độ rất thấp, pheromone giới tính không gây ảnh hưởng đến môi trường sinh thái Bên cạnh việc làm đối tượng nghiên cứu cho các lĩnh vực như hoá học hữu cơ, hóa chất sinh thái học và côn trùng học

ứng dụng (Ando et al., 2004), pheromone giới tính còn là một sự thay thế hiệu quả cho nông dược trong công tác quản lý sâu hại (Gibb et al., 2005)

1.3.3.2 Khả năng ứng dụng của pheromone giới tính

* Sử dụng làm công cụ phòng trị bằng biện pháp quấy rối sự bắt cặp

Hoạt động tìm bắt cặp ở côn trùng bộ cánh vảy chủ yếu dựa vào tín hiệu (mùi) của pheromone giới tính do con cái tiết ra Khi tín hiệu mùi của pheromone

bị quấy rối thì các cá thể đực sẽ không tìm được các cá thể cái và ngược lại, như

Trang 28

với việc sử dụng thuốc trừ sâu, phương pháp quấy rối bắt cặp có tính chọn lọc cao và bảo đảm cho sự tồn tại của thiên địch Mặt khác, pheromone giới tính đã được chỉ rõ là không gây độc đối với động vật hữu nhũ và không ảnh hưởng đến môi trường sinh thái Đây là biện pháp đang được áp dụng rất rộng rãi ở những nước phát triển

* Sử dụng làm công cụ khảo sát sự biến động quần thể

Pheromone giới tính là một công cụ hữu hiệu để thay thế cho bẫy đèn và bẫy màu vàng trong khảo sát sự biến động mật số quần thể của côn trùng gây hại

(Wakamura et al., 2004) Ứng dụng này đã được phát triển trong chiến lược

phòng trừ dịch hại tổng hợp (IPM) Thông thường, một lượng từ 0,1 - 1 mg pheromone giới tính tổng hợp được nhồi vào một tuýp cao su (8 mm OD) cho hiệu quả hấp dẫn thành trùng đực ít nhất là một tháng và có thể kéo dài đến 2

tháng (Ando et al., 2004)

Để khảo sát sự biến động quần thể, bẫy pheromone giới tính được đặt trên một khu vực cụ thể rồi đếm mật số thành trùng vào bẫy định kỳ (thường là 2 tuần/lần) trong suốt chu kỳ một năm Thông tin về số mật số côn trùng gây hại cây trồng trong vùng canh tác và trên một đơn vị thời gian cho phép ta dự tính dự báo sớm sự gây hại của côn trùng đó để có thể áp dụng những biện pháp quản lý

thích hợp Diễn biến mật số quần thể của 3 loài thành trùng, Chrysodeixis

eriosoma Doubleday, Ctenoplusia agnata Staudinger và Ctenoplusia albostriata

Bremer và Grey gây hại trên rau màu tại Tp Cần Thơ (Châu Nguyễn Quốc

Khánh và ctv., 2009) và theo Hai et al., (2002) loài thành trùng sâu vẽ bùa

Phyllocnistis citrella Stainton gây hại cây có múi ở Tp Cần Thơ và huyện Châu

Thành tỉnh Hậu Giang đã được khảo sát bằng biện pháp đặt bẫy pheromone giới

tính (Hai et al., 2002)

* Sử dụng làm công cụ phòng trị bằng biện pháp bẫy tập hợp

Bẫy tập hợp (mass trapping) là biện pháp sử dụng một số lượng lớn bẫy pheromone để thu hút và giết hết bướm đực trên một vùng không gian cụ thể để ngăn chặn sự bắt cặp giữa bướm đực và bướm cái, dẫn đến giảm mức độ thiệt hại

do sâu gây ra xuống dưới ngưỡng kinh tế Biện pháp này, đặc biệt hiệu quả đối với việc quản lý côn trùng trong kho vựa (thuộc Bộ Coleoptera) Tuy nhiên, bẫy tập hợp thường không thành công trong việc làm giảm mật số của các loài thành

trùng có tính di động cao và mức độ quần thể lớn (Wakamura et al., 2004) Theo

Bakke A và Lie R (1989) thì Trematerra và Battaini (1987) đã áp dụng thành công bẫy pheromone tập hợp với mật độ 260 – 270 m3/bẫy để phòng trừ loài sâu

bột mì Địa Trung Hải Ephestia kuehniella (Zeller) Kết quả đánh giá của Sternlicht et al., (1990) tại Israel cho thấy ở mật độ 120 bẫy/ha (0,4–0,6 mg/bẫy,

Trang 29

thay mồi 4 tháng/lần), bẫy pheromone tập hợp đã cho hiệu phòng trị loài thành

trùng gây hại hoa chanh Prays citri Millière cao và rẻ tiền hơn so với phun

Azinphos-methyl (gốc lân hữu cơ) 3 – 6 lần/năm

1.3.3 Tình hình nghiên cứu và ứng dụng của pheromone giới tính

1.3.3.1 Một số nghiên cứu nước ngoài

Theo Konno et al (1982) kiểu mồi phối trộn (E)-10-hexadecenal và 10-hexadecenal ở tỉ lệ 9:1 bắt được nhiều hơn 4 lần so với chỉ sử dụng (E)-10- hexadecanal Vì thế, (Z)-10-hexadecanal được đề nghị là hợp chất thứ yếu của pheromone giới tính của sâu đục trái Dichocrocis punctiferalis

(Z)-Kenji Mori (1990) đã tổng hợp (E)-8-tetradecenal format giả pheromone giới tính của sâu đục trái C punctiferalis từ 3-nonyl-1-ol và thử nghiệm thành công với tỉ lệ đồng phân hình học dẫn dụ côn trùng giữa (E) và (Z) là 10:1

Theo Wakamura et al (1992), pheromone giới tính được xem như là một

công cụ hữu hiệu của của IPM và là sự thay thế hiệu quả cho thuốc trừ sâu hóa

học trong quản lý các loại sâu hại (Gibb et al., 2005)

Theo Ando et al (2004), pheromone giới tính của hơn 20 loài thành trùng

đã được thương mại hóa dưới hình thức chất quấy rối bắt cặp với diện tích áp dụng lên đến 415.300 ha cây trồng, bao gồm bông vải, cây ăn trái, trà và cây rừng ở Mỹ, Nhật và Châu Âu vào năm 2002

Nghiên cứu và ứng dụng pheromone giới tính dưới hình thức bẫy tập hợp

đã được tiến hành trên 98 loài côn trùng gây hại, trong đó có 45 loài thuộc Bộ cánh vảy, 39 loài thuộc Bộ cánh cứng và 4 loài thuộc các Bộ côn trùng khác (El Sayed, 2008)

1.3.3.2 Một số nghiên cứu trong nước

Theo kết quả thử nghiệm ngoài đồng của Hai et al (2002), tại ĐBSCL, đã

xác định được chất hấp dẫn giới tính của 19 loài bướm Trong đó, 4 loài thuộc họ Noctuidae, họ phụ Plusiinae, là những loài bướm của sâu hại rau màu và cũng đã ghi nhận được diễn biến mật số của 3 trong 4 loài này

Tại Hải Dương, thí nghiệm đặt 400 bẫy pheromone/ha cho khả năng

khống chế sâu tơ (Plutella xylostella Linnaeus, Lepidoptera: Plutellidae) và sâu

Trang 30

trừ sâu tơ đã giảm được 3 lần dùng thuốc, thay 2 lần thuốc hóa học bằng thuốc sinh học, và tiết kiệm được 118.000 đồng/ha/vụ (Lê Văn Trịnh và ctv., 2005)

Đỗ Đức Cương (2006) đã thực hiện thí nghiệm khảo sát sự biến động mật

số quần thể - xác định pheromone giới tính của bướm sâu đục vỏ trái bưởi Prays

sp tại tỉnh Vĩnh Long Kết quả thí nghiệm cho thấy bẫy pheromone giới tính của sâu đục vỏ trái bưởi đã có hiệu quả Trong suốt thời gian thí nghiệm (từ tháng

8/2005 đến tháng 2/2006) Prays sp hiện diện liên tục, mật số biến động cao hay

thấp phụ thuộc vào mùa và tương ứng với các giai đoạn sinh lý của cây

Lê Kỳ Ân (2009) qua phân tích và đánh giá hiệu quả ngoài đồng đã chứng

tỏ pheromone giới tính của sâu đục vỏ trái bưởi gây hại trên các vườn bưởi Năm

Roi ở vùng ĐBSCL chỉ gồm một thành phần duy nhất là hợp chất tetradecenal Hợp chất (Z)-7-tetradecenal đã được tổng hợp và điều chế thành

(Z)-7-mồi pheromone và chất quấy rối bắt cặp để ứng dụng vào khảo sát diễn biến mật

số quần thể và phòng trị đối với Prays sp Kết quả phòng trị bằng phương pháp

quấy rối bắt cặp từ 15/08/2008 đến 30/09/2008 ghi nhận được ở hai nghiệm thức treo 200 tuýp/ha và nghiệm thức treo 400 tuýp/ha cho hiệu quả ngăn chặn bắt cặp 100% trong suốt quá trình thí nghiệm

Theo Phạm Minh Tân (2011) khi đặt 12 bẫy pheromone/ 1.000 m2 (1 mg Z7-14:Ald/bẫy, thay mồi 6 tuần/lần) cho hiệu quả cao tương tự như nghiệm thức

đối chứng với tỉ lệ gây hại của Prays sp đối với trái bưởi Năm Roi là 27,55%

Trong khi đó biện pháp xử lý bằng phun 3 lần thuốc trừ sâu Fortox 50EC (hoạt chất Alpha-Cypermethin) cho hiệu quả trung bình với tỉ lệ gây hại là 31,39%

1.3.3.3 Một số nghiên cứu pheromone giới tính của nhóm họ Tortricidea sâu cuốn lá gây hại trên cây có múi

Kết quả phân tích GC-EAD và GC-MS của mẫu pheromone ly trích từ bướm cái thô và với dẫn suất DMDS và kết quả đánh giá ngoài đồng đã xác định

được pheromone giới tính của loài bướm A atrolucens là hỗn hợp của các thành

phần gồm 14:OAc, E11-14:OAc và Z11-14:OAc ở tỷ lệ 4:32:64, pheromone giới

tính của loài bướm Homona sp là hỗn hợp của các thành phần Z11-14:OAc và Z9-12:OAc ở tỷ lệ 96:4; pheromone giới tính của loài bướm A privatana là hỗn

hợp của các thành phần Z11-14:OAc và Z9-14:OAc ở tỷ lệ 92:8 Hàm lượng của thành phần Z11-14:OAc trong pheromone giới tính của bướm A atrolucens,

Homona sp và A privatana có hàm lượng tương ứng là 47,96 ng/tuyến

pheromone, 0,65 ng/tuyến pheromone và 13,5 ng/tuyến pheromone (Hồ Như Thủy, 2012)

Theo Hai et al (2002), phân tích tuyến pheromone bướm cái Archips

altrolucens Diakonoff (Lepidoptera: Tortricidea) hỗn hợp gồm hai thành phần

Ngày đăng: 23/09/2015, 09:42

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng  Tựa bảng  Trang - nghiên cứu pheromone giới tính tổng hợp của loài homona tabescens meyrick và khảo sát diễn biến mật số quần thể của bướm sâu cuốn lá họ tortricidae gây hại trên cây có múi tại tỉnh hậu giang vàthành phố cần thơ
ng Tựa bảng Trang (Trang 12)
Hình 1.1 Thành trùng sâu cuốn lá A. privatana  (Nguồn:Nguyễn Thị Thu Cúc, 2000) - nghiên cứu pheromone giới tính tổng hợp của loài homona tabescens meyrick và khảo sát diễn biến mật số quần thể của bướm sâu cuốn lá họ tortricidae gây hại trên cây có múi tại tỉnh hậu giang vàthành phố cần thơ
Hình 1.1 Thành trùng sâu cuốn lá A. privatana (Nguồn:Nguyễn Thị Thu Cúc, 2000) (Trang 20)
Hình 1.5 Thành trùng cái (A) và đực (B) của loài Homona tabescens - nghiên cứu pheromone giới tính tổng hợp của loài homona tabescens meyrick và khảo sát diễn biến mật số quần thể của bướm sâu cuốn lá họ tortricidae gây hại trên cây có múi tại tỉnh hậu giang vàthành phố cần thơ
Hình 1.5 Thành trùng cái (A) và đực (B) của loài Homona tabescens (Trang 22)
Hình 1.8 Thành trùng đực và cái của loài sâu xếp lá Agonopterix sp. - nghiên cứu pheromone giới tính tổng hợp của loài homona tabescens meyrick và khảo sát diễn biến mật số quần thể của bướm sâu cuốn lá họ tortricidae gây hại trên cây có múi tại tỉnh hậu giang vàthành phố cần thơ
Hình 1.8 Thành trùng đực và cái của loài sâu xếp lá Agonopterix sp (Trang 24)
Hình 1.7 (A) Thành trùng đực và cái, (B) Đốt cuối bụng của thành trùng cái của - nghiên cứu pheromone giới tính tổng hợp của loài homona tabescens meyrick và khảo sát diễn biến mật số quần thể của bướm sâu cuốn lá họ tortricidae gây hại trên cây có múi tại tỉnh hậu giang vàthành phố cần thơ
Hình 1.7 (A) Thành trùng đực và cái, (B) Đốt cuối bụng của thành trùng cái của (Trang 24)
Hình 1.9 Hình triệu chứng gây hại trên lá của sâu cuốn Agonopterix sp. - nghiên cứu pheromone giới tính tổng hợp của loài homona tabescens meyrick và khảo sát diễn biến mật số quần thể của bướm sâu cuốn lá họ tortricidae gây hại trên cây có múi tại tỉnh hậu giang vàthành phố cần thơ
Hình 1.9 Hình triệu chứng gây hại trên lá của sâu cuốn Agonopterix sp (Trang 25)
Hình 1.10 Thành trùng đực (A); Thành trùng đực và cái (B) của loài P. - nghiên cứu pheromone giới tính tổng hợp của loài homona tabescens meyrick và khảo sát diễn biến mật số quần thể của bướm sâu cuốn lá họ tortricidae gây hại trên cây có múi tại tỉnh hậu giang vàthành phố cần thơ
Hình 1.10 Thành trùng đực (A); Thành trùng đực và cái (B) của loài P (Trang 26)
Hình 1.11 Triệu trứng gây hại của loài P. melanocrepida - nghiên cứu pheromone giới tính tổng hợp của loài homona tabescens meyrick và khảo sát diễn biến mật số quần thể của bướm sâu cuốn lá họ tortricidae gây hại trên cây có múi tại tỉnh hậu giang vàthành phố cần thơ
Hình 1.11 Triệu trứng gây hại của loài P. melanocrepida (Trang 26)
Hình 3.2 Mối tương quan giữa số lượng bướm A. atrolucens vào bẫy và trung bình đọt, lá - nghiên cứu pheromone giới tính tổng hợp của loài homona tabescens meyrick và khảo sát diễn biến mật số quần thể của bướm sâu cuốn lá họ tortricidae gây hại trên cây có múi tại tỉnh hậu giang vàthành phố cần thơ
Hình 3.2 Mối tương quan giữa số lượng bướm A. atrolucens vào bẫy và trung bình đọt, lá (Trang 40)
Hình 3.4 Mối tương quan giữa số lượng bướm A. privatana vào bẫy và trung bình đọt, lá bị  hại - nghiên cứu pheromone giới tính tổng hợp của loài homona tabescens meyrick và khảo sát diễn biến mật số quần thể của bướm sâu cuốn lá họ tortricidae gây hại trên cây có múi tại tỉnh hậu giang vàthành phố cần thơ
Hình 3.4 Mối tương quan giữa số lượng bướm A. privatana vào bẫy và trung bình đọt, lá bị hại (Trang 42)
Hình 3.5 Diễn biến mật số quần thể của H. tabescens tại phường Tân Phú, quận Cái Răng, - nghiên cứu pheromone giới tính tổng hợp của loài homona tabescens meyrick và khảo sát diễn biến mật số quần thể của bướm sâu cuốn lá họ tortricidae gây hại trên cây có múi tại tỉnh hậu giang vàthành phố cần thơ
Hình 3.5 Diễn biến mật số quần thể của H. tabescens tại phường Tân Phú, quận Cái Răng, (Trang 42)
Hình 3.8 Mối tương quan giữa số lượng bướm A. atrolucens vào bẫy và trung bình đọt, lá bị  hại - nghiên cứu pheromone giới tính tổng hợp của loài homona tabescens meyrick và khảo sát diễn biến mật số quần thể của bướm sâu cuốn lá họ tortricidae gây hại trên cây có múi tại tỉnh hậu giang vàthành phố cần thơ
Hình 3.8 Mối tương quan giữa số lượng bướm A. atrolucens vào bẫy và trung bình đọt, lá bị hại (Trang 45)
Hình 3.9 Mối quan giữa số lượng bướm A. privatana vào bẫy và trung bình đọt, lá bị hại - nghiên cứu pheromone giới tính tổng hợp của loài homona tabescens meyrick và khảo sát diễn biến mật số quần thể của bướm sâu cuốn lá họ tortricidae gây hại trên cây có múi tại tỉnh hậu giang vàthành phố cần thơ
Hình 3.9 Mối quan giữa số lượng bướm A. privatana vào bẫy và trung bình đọt, lá bị hại (Trang 46)
Hình  3.10  Mối  tương  quan  giữa  trung  bình  số  lượng  bướm  H.  tabescens  vào  bẫy  và  trung  bình đọt, lá bị hại - nghiên cứu pheromone giới tính tổng hợp của loài homona tabescens meyrick và khảo sát diễn biến mật số quần thể của bướm sâu cuốn lá họ tortricidae gây hại trên cây có múi tại tỉnh hậu giang vàthành phố cần thơ
nh 3.10 Mối tương quan giữa trung bình số lượng bướm H. tabescens vào bẫy và trung bình đọt, lá bị hại (Trang 46)
Hình 3.11 Diễn biến mật số quần thể vườn tổng hợp trung bình của 3 loài (A. atrolucens, A - nghiên cứu pheromone giới tính tổng hợp của loài homona tabescens meyrick và khảo sát diễn biến mật số quần thể của bướm sâu cuốn lá họ tortricidae gây hại trên cây có múi tại tỉnh hậu giang vàthành phố cần thơ
Hình 3.11 Diễn biến mật số quần thể vườn tổng hợp trung bình của 3 loài (A. atrolucens, A (Trang 47)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w