TÓM TẮT Vĩnh Long là một trong 13 tỉnh thành thuộc ĐBSCL có ví trí đặc biệt so với các tỉnh khác nằm ở hạ nguồn lưu vực sông MeKong, giữa hai dòng Tiền Giang và Hậu Giang, nối liền hai d
Trang 1KHOA MÔI TRƯỜNG & TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN
BỘ MÔN QUẢN LÝ MÔI TRƯỜNG & TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC NGÀNH QUẢN LÝ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG
KHẢO SÁT ĐA DẠNG CÁ THEO HIỆN TRẠNG
Cần Thơ, 1 /2 13
Trang 2KHOA MÔI TRƯỜNG & TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN
BỘ MÔN QUẢN LÝ MÔI TRƯỜNG & TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC NGÀNH QUẢN LÝ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG
KHẢO SÁT ĐA DẠNG CÁ THEO HIỆN TRẠNG
Cần Thơ, 1 /2 13 3
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trong suốt thời gian học tại trường Đại học Cần Thơ, tôi xin trân trọng bày tỏ lòng cảm ơn đến quý thầy, cô trường Đại học Cần Thơ đã tận tình giảng dạy và truyền đạt nhiều kiến thức, kinh nghiệm quý báu cho chúng tôi trong suốt thời gian chúng tôi học tập và nghiên cứu dưới mái trường đại học này
Xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến thầy Lê Văn Dũ, đã tận tình chỉ dạy, động viên với những lời khuyên quý giá trong suốt quá trình thực hiện và hoàn thành luận văn
Xin chân thành cảm ơn đến quý thầy, cô, anh, chị ở Bộ môn Quản lý môi trường & TNTN, Khoa Môi trường & TNTN trường Đại học Cần Thơ đã nhiệt tình giúp đỡ và tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn này
Cuối cùng tôi xin bày tỏ lòng biết ơn đến gia đình, những người thân và tất cả các bạn bè đã động viên, chia sẻ, hỗ trợ và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập trên giảng đường đại học và hoàn thành luận văn tốt nghiệp
Trong bài còn nhiều sai sót tôi rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến của thầy, cô để bài luận văn hoàn chỉnh hơn
Xin chân thành cảm ơn!
Cần Thơ, ngày…tháng…năm 2013
Nguyễn Trung Xuyên
Trang 4TÓM TẮT
Vĩnh Long là một trong 13 tỉnh thành thuộc ĐBSCL có ví trí đặc biệt so với các tỉnh khác nằm ở hạ nguồn lưu vực sông MeKong, giữa hai dòng Tiền Giang và Hậu Giang, nối liền hai dòng sông lớn theo hướng Bắc Nam là sông Mang Thít, cùng với mạng lưới sông ngòi dày đặc làm cho thành phần loài cá tự nhiên nơi đây rất phong phú và đa dạng Song song với đó là nhu cầu sử dụng thực phẩm ngày càng cao, cùng với cách khai thác quá mức và không thân thiện với môi trường nên cá tự nhiên đã và đang suy giảm nghiêm trọng về mặt số lượng, thậm chí một số loài đã không còn xuất hiện
Để tìm hiểu nguyên nhân và ngăn chặn sự suy giảm của các loài cá tự nhiên, đề tài: “khảo sát đa dạng cá theo hiện trạng sử dụng đất và các dạng thủy vực chính tại tỉnh Vĩnh Long” được thực hiện nhằm cung cấp thông tin, đánh giá hiện trạng loài cá
tự nhiên trên địa bàn, từ đó có những biện pháp quản lý hiệu quả hơn
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN
TÓM TẮT
MỤC LỤC
DANH MỤC HÌNH v
DANH MỤC BIỂU BẢNG vi
DANH MỤC MỤC TỪ VIẾT TẮT vii
Chương 1 GIỚI THIỆU 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2
1.2.1 Mục tiêu tổng quát 2
1.2.2 Mục tiêu cụ thể 2
1.3 Nội dung nghiên cứu 2
Chương 2 LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU 3
2.1 Tổng quan về thủy sản 3
2.1.1 Các loại hình thủy sản 3
2.1.2 Vai trò ngành thủy sản 3
2.1.3 Đặc trưng ngành thủy sản 4
2.1.4 Các điều kiện tự nhiên, khí hậu, thời tiết cho phát triển TS Việt Nam 4
2.2 Nguồn lợi thủy sản thế giới 12
2.3 Nguồn lợi thủy sản nước ngọt Việt Nam 12
2.4 Nguồn lợi thủy sản ĐBSCL 13
2.5 Nguồn lợi thủy sản tỉnh Vĩnh Long 14
2.6 Tổng quan về tỉnh Vĩnh Long 15
2.6.1 Điều kiện tự nhiên 15
2.6.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 20
Chương 3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 22
3.1 Trình tự nghiên cứu 22
3.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu 22
3.3 Đối tượng nghiên cứu 22
3.4 Phương tiện 22
3.5 Phương pháp nghiên cứu 23
3.5.1 Phương pháp chọn đơn vị điều tra 23
3.5.2 Phương pháp thu thập số liệu 23
Trang 63.5.3 Phương pháp phân tích và xử lý số liệu 24
Chương 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 25
4.1 Thông tin cơ bản về kết quả phỏng vấn 25
4.1.1 Độ tuổi và giới tính của các người dân được phỏng vấn 25
4.1.2 Trình độ văn hóa 27
4.1.3 Thông tin điểm khảo sát 28
4.1.4 Thu nhập chính 29
4.1.5 Thời gian canh tác 30
4.1.6 Tỉ lệ kiểu sử dụng đất trong ô khảo sát 30
4.1.7 Tỷ lệ sử dụng ngư cụ và nơi đánh bắt của những hộ dân được phỏng vấn 31 4.2 Tìm hiểu về nguồn lợi thủy sản Vĩnh Long 33
4.2.1 Thành phần loài cá phân bố trên địa bàn Vĩnh Long 33
4.2.2 Thành phần loài cá phân bố theo kiểu sử dụng đất và cấp độ ĐDSH 35
4.2.3 Thành phần loài cá phân bố theo sinh cảnh 36
4.2.4 Xu hướng đa dạng thành phần loài cá qua từng giai đoạn 38
4.3 Kết quả khảo sát một số nguyên nhân làm suy giảm nguồn lợi thủy sản 40
Chương 5 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 41
5.1 Kết luận 41
5.2 Kiến nghị 42
TÀI LIỆU THAM KHẢO 43 PHỤ LỤC
Trang 7DANH MỤC HÌNH
Hình 2.1: Vị trí địa lý tỉnh Vĩnh Long 16
Hình 3.1: Các điểm khảo sát trên địa bàn tỉnh Vĩnh Long 22
Hình 4.1: Biểu đồ thể hiện tỷ lệ (%) thu nhập chính của các hộ dân 29
Hình 4.2: Các loại ngư cụ 31
Hình 4.3: Biểu đồ thể hiện tỷ lệ (%) số loài cá giữa các bộ 33
Hình 4.4: Biểu đồ thể hiện tỷ lệ (%) số loài giữa các họ 34
Hình 4.5: Biểu đồ thể hiện số loài cá giữa các kiểu sử dụng đất và cấp độ ĐDSH 35
Hình 4.6: Biểu đồ thể hiện số loài cá giữa các dạng sinh cảnh 36
Hình 4.7: Biểu đồ thể hiện xu hướng đa dạng thành phần loài cá qua từng giai đoạn 38 Hình 4.8: Biểu đồ thể hiện tỷ lệ (%) nguyên nhân suy giảm nguồn lợi thủy sản 40
Trang 8DANH MỤC BIỂU BẢNG
Bảng 2.1: Những thuận lợi và hạn chế trong phát triển TS Việt Nam 10
Bảng 2.2: Sản lượng thủy sản đồng bằng sông cửu long qua các năm 13
Bảng 2.3: Sản lượng thủy sản của Vĩnh Long so với ĐBSCL và cả nước (tấn) 14
Bảng 4.1: Thông tin về độ tuổi và giới tính của người dân được phỏng vấn 26
Bảng 4.2: Trình độ văn hóa của người dân được phỏng vấn 27
Bảng 4.3: Thông tin điểm khảo sát 28
Bảng 4.4: Thời gian canh tác của các hộ dân tham gia phỏng vấn 30
Bảng 4.5: Tỷ lệ kiểu sử dụng đất của các hộ dân được phỏng vấn 30
Bảng 4.6: Các loại thủy vực 32
Bảng 4.7: So sánh số lượng loài cá phỏng vấn theo kiểu sử dụng đất và cấp độ ĐDSH 35
Bảng 4.8: So sánh số lượng loài cá phỏng vấn theo sinh cảnh 37
Bảng 4.9: So sánh số lượng loài cá phỏng vấn theo giai đoạn 38
Trang 9DANH MỤC MỤC TỪ VIẾT TẮT
TK&BVNLTS Thống kê và bảo vệ nguồn lợi thủy sản
Trang 10Theo các nghiên cứu khoa học, nguồn lợi hải sản Việt Nam có: 75 loài tôm, 25 loài mực, 7 loài bạch tuột, 653 loài rong biển, trong đó rong kinh tế chiếm 14% (90 loài), san hô (loài san hô cứng) tạo rạng có 298 loài, thuộc 76 giống, 16 họ và trên 10 loài san hô sừng Cá có trên 2.100 loài, trong đó hơn 100 loài có giá trị kinh tế
Nước ta có những thuỷ vực tự nhiên rất rộng lớn thuộc hệ thống sông ngòi và các kênh rạch chằng chịt, hệ thống hồ chứa tự nhiên và hồ chứa nhân tạo, hệ thống ao đầm nhỏ và ruộng trũng Khí hậu nhiệt đới mưa nhiều luôn bổ sung nguồn nước cho các thuỷ vực Khí hậu ấm áp làm cho các giống loài sinh vật có thể phát triển quanh năm Tuy nhiên, cho tới nay mới chỉ có 80% diện tích các ao, hồ nhỏ đã phát triển nuôi theo mô hình VAC, còn các mặt nước lớn như các dòng sông, các hồ chứa nước tự nhiên và nhân tạo, các vùng đất ngập nước, ruộng trũng chưa được sử dụng nhiều Một
số nơi đã bắt đầu khai thác những mặt nước này rất hiệu quả như hồ Trị An, vùng sông Tiền và sông Hậu của An Giang để nuôi những loài cá có giá trị cao cho xuất khẩu và tiêu dùng nội địa như cá basa, bống tượng Điều đó cho thấy, tiềm năng phát triển nuôi trồng thuỷ sản trong các thuỷ vực nước ngọt còn rất lớn
Nằm trong vùng nhiệt đới, Việt Nam có nhiều loài thủy sản quý hiếm, nhiều loài có giá trị kinh tế cao Mặt khác, lợi thế địa lý gần những thị trường tiêu thụ thủy sản lớn, có khả năng giao lưu hàng hóa bằng đường bộ, đường thủy, đường không rất thuận lợi đã tạo cho ngành thủy sản Việt Nam có nhiều điều kiện để phát triển
Tuy nhiên, đặc điểm nhiều gió bão (hằng năm có tới 4 - 5 cơn bão), lũ, lụt, gió mùa, thời tiết thay đổi thất thường đã gây ra những khó khăn, thiệt hại không nhỏ cho phát triển nuôi trồng thủy sản vùng cửa sông, ven biển và khai thác hải sản Nguồn lợi thủy sản tuy đa dạng, nhưng trữ lượng mỗi loài không nhiều, không tập trung thành những quần đàn lớn Đây cũng là một yếu tố không thuận lợi cho hoạt động khai thác
và chế biến thủy sản Vấn đề bồi, lắng, xói lở vùng cửa sông, ven biển xảy ra thất thường cũng gây ra những khó khăn cho công tác xây dựng các cơ sở hạ tầng nghề cá
Vĩnh Long là một trong 13 tỉnh thành thuộc ĐBSCL có ví trí đặc biệt so với các tỉnh khác nằm ở hạ nguồn lưu vực sông MeKong, giữa hai dòng Tiền Giang và Hậu
Trang 11Giang, nối liền hai dòng sông lớn theo hướng Bắc Nam là sông Mang Thít, cùng với mạng lưới sông ngòi dày đặc, phân bố tương đối đồng đều đã làm cho Vĩnh Long trở thành đầu mối giao thông nối liền giữa các vùng trong khu vực và lưu thông quốc tế thông qua các cửa biển Tiểu, Đại, Hàm Luông, Cổ Chiên, Định An, không những thế nguồn lợi thủy sản, đặc biệt là cá tự nhiên rất phong phú và đa dạng Song song với đó
là nhu cầu sử dụng thực phẩm ngày càng cao, cùng với cách khai thác quá mức và không thân thiện với môi trường nên cá tự nhiên đã và đang suy giảm nghiêm trọng về mặt số lượng, thậm chí một số loài đã không còn xuất hiện
Để tìm hiểu nguyên nhân và ngăn chặn sự suy giảm của các loài cá tự nhiên, đề tài: “khảo sát đa dạng cá theo hiện trạng sử dụng đất và các dạng thủy vực chính tại tỉnh Vĩnh Long” được thực hiện nhằm cung cấp thông tin, đánh giá hiện trạng loài cá
tự nhiên trên địa bàn, từ đó có những biện pháp quản lý hiệu quả hơn
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
Xác định sự phân bố các loài cá trên tất cả các sinh cảnh
Khảo sát nhận thức của người dân địa phương về suy giảm loài cá theo kiểu sử dụng đất
1.3 Nội dung nghiên cứu
Điều tra, khảo sát hiện trạng các loài cá tự nhiên trên địa bàn tỉnh Vĩnh Long
Phân tích, tổng hợp và đánh giá hiện trạng các loài cá tự nhiên theo kiểu sử dụng đất và các dạng thủy vực chính trên địa bàn tỉnh Vĩnh Long
Tìm hiểu nguyên nhân suy giảm cá tự nhiên
Trang 12tự nhiên Sản phẩm của KTTS bao gồm:
- Cá thực phẩm cho tiêu thụ trực tiếp của con người;
- Con giống (cá bố mẹ, cá giống) cho nuôi trồng thủy sản (NTTS) và cho đánh bắt được tăng cường trên cơ sở NTTS;
- Thức ăn cho gia súc và NTTS
2.1.1.2 Nuôi trồng thủy sản
Nuôi trồng TS là hoạt động đem con giống tự nhiên hay nhân tạo thả vào thiết
bị nuôi và đối tượng nuôi được sở hữu trong suốt quá trình nuôi Sản phẩm của NTTS bao gồm:
- Sản xuất con giống nhân tạo cho NTTS và Ðánh bắt được tăng cường trên cơ sở nuôi trồng;
- Cá thực phẩm cho tiêu thụ trực tiếp của con người;
- NTTS cũng bao gồm sản xuất cá mồi cho KTTS hay vỗ béo cá tự nhiên
2.1.1.3 Đánh bắt được tăng cường trên cơ sở NTTS
Là hoạt động đem con giống nhân tạo thả vào các thủy vực tự nhiên (hồ chứa, sông ngòi và biển) để tăng sản lượng đánh bắt
2.1.2 Vai trò ngành thủy sản
Cung cấp thực phẩm cho nhu cầu của con người, góp phần cải thiện tình trạng suy dinh dưỡng do thiếu đạm, đóng góp cho sự an toàn thực phẩm;
- Mức tiêu thụ tthủy sản ở Việt Nam năm 1999 là 19,4 kg, năm 2007 là 22 kg
và năm 2010 ước đạt 26,4 kg (Lê Xuân Sinh, 2010) Như vậy, Việt Nam luôn có mức tiêu thụ thủy sản cao hơn mức trung bình của thế giới, trong đó mức tiêu thụ ở ĐBSCL thường cao hơn gấp đôi so với cả nước ;
Trang 13- Theo báo cáo kết quả nghiên cứu khoa học về tình trạng dinh dưỡng của trẻ
em Viêt Nam của Viện Dinh dưỡng (Bộ Y tế), dựa trên điều tra dinh dưỡng toàn quốc 2009-2010 tại 63 tỉnh/ thành phố với hơn 50.000 trẻ từ 2-5 tuổi, cho thấy tỷ lệ suy dinh dưỡng thể nhẹ cân còn ở mức 19,62%, tỷ lệ suy dinh dưỡng thể thấp còi là 29,05%
Cung cấp công ăn việc làm, góp phần cải thiện thu nhập cho nông dân ở vùng nông thôn;
- Cung cấp công ăn việc làm cho 3,8 triệu lao động kể cả lao động thời vụ (năm 2001);
- Cung cấp 1,8 triệu lao động trong các hoạt động dịch vụ TS;
- Tổng số dân phụ thuộc vào thủy sản ước tính 8,4 triệu (11% dân số);
- Ngành TS cung cấp lao động bán thời gian, cải thiện thu nhập, cải thiện dinh dưỡng cho 20 triệu dân
Góp phần tiết kiệm ngoại tệ cho sự đầu tư phát triển công nghiệp;
- Giá trị tổng sản phẩm thủy sản trong nước năm 2011 (theo giá thực tế) ước đạt 99.432 tỷ đồng, chiếm 3,92% GDP cả nước (Tạp chí Thương Mại Thủy Sản số 145/2012)
Gia tăng tích lũy ngoại tệ từ xuất khẩu sản phẩm thủy sản cho sự đầu tư phát triển công nghiệp;
- Năm 2010, xuất khẩu thủy sản đạt tổng giá trị 4,97 tỉ USD, năm 2011 đạt trên 6,1 tỉ USD (tăng 21% so với năm 2010)
Tạo ra thị trường cho các sản phẩm công nghiệp;
- Phát triển TS đã tạo thị trường cho các công nghiệp đóng tàu, dệt lưới, động
2.1.4 Các điều kiện tự nhiên, khí hậu, thời tiết cho phát triển TS Việt Nam
2.1.4.1 Các điều kiện tự nhiên
a Giới thiệu chung
- Việt Nam có tổng diện tích 330.000 km2 với bờ biển dài 3.260 km
- Ðịa hình không đều, 75% diện tích là đồi núi
Trang 14- Việt Nam có vùng đặc quyền kinh tế (excluvive economic zone, EEZ) lớn, trên 1,0 triệu km2
- Trên 4.000 đảo, nhiều đảo có vị trí tốt (Cát Bà, Bạch Long Vĩ) để xây dựng các cơ sở dịch vụ hậu cần nghề cá, tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển nghề khai thác xa bờ
- Nhiều môi trường sống khác nhau: vùng đồng bằng lớn (đồng bằng sông Hồng
và đồng bằng sông Cửu Long), vịnh, đầm phá, biển hở
- Khoảng 20.000 km2 đất ven biển thấp và nhiễm mặn, bị ảnh hưởng lũ do triều
và bão
b Sông, kênh rạch, ruộng, ao, vườn, hồ, hồ chứa
Sông là dòng nước tự nhiên chảy theo những nơi trũng của địa hình có lòng dẫn tương đối ổn định, có nguồn cung cấp nước là nước mặt và nước ngầm
Kênh rạch là dòng dẫn nước trên mặt đất do con người tạo ra, mục đích đưa nước đến nơi có nhu cầu tưới tiêu, sử dụng
Ruộng là loài hình thủy vực do con người tạo ra nhằm mục đích canh tác, xung quanh có thể có đê bao để ngăn cách chúng lại
Ao là loại hình thủy vực được con người tạo ra nhằm mục đích nuôi trồng thủy sản
Vườn (mương vườn) là loại thủy vực do con người tạo ra nhằm mục đích kinh
tế (nuôi cá), 1 phần để tưới tiêu, mương thường có chiều rộng hẹp, chiều dài khá dài
- Việt Nam có khoảng 2.360 sông, trong đó có 106 sông lớn
(i) Hệ thống các sông lớn ở miền Bắc: sông Hồng, sông Thái Bình và sông Kỳ Cùng;
(ii) Nhiều sông ngắn ở miền Trung;
(iii) Các sông lớn ở miền Nam: sông Sài-gòn, sông Ðồng Nai và hệ thống sông Cửu Long
- Việt Nam có nhiều hồ tự nhiên rải rác khắp cả nước (ví dụ: hồ Ba Bể, đầm Cầu Hai) với tổng diện tích 34.602 ha
- Trong 40 năm qua, nhiều hồ chứa nhân tạo (hồ thủy lợi như Núi Cốc, Dầu Tiếng, hồ thủy điện như Thác Bà, Hoà Bình, Trị An, Thác Mơ) đã được xây dựng với tổng diện tích trên 400.000 ha
c Bãi biển, đầm phá
- Bãi biển và đầm phá dọc bờ biển từ Thanh Hóa tới Bình Ðịnh chiếm 50% bờ biển VN, trong đó đầm phá chiếm 5% bờ biển cả nước (từ Quảng Trị đến Phan Rang)
Trang 15- Nhiều đầm phá có diện tích lớn (ví dụ: phá Tam Giang ở Thừa Thiên-Huế, 22.000 ha)
- Nguồn lợi thủy sản các đầm phá đang đối diện với những vấn đề môi trường
do lạm thác, cải tạo cho sản xuất nông nghiệp và NTTS (trồng rong biển, nuôi tôm cá)
d Rừng ngập mặn
- Rừng ngập mặn (RNM) có vai trò quan trọng: bảo vệ bờ biển và cải tạo đất; dọc bờ biển RNM có vai trò đệm đối với tác động của sóng, giảm quá trình xói mòn,
và cung cấp đê phòng hộ tự nhiên
- Các đầm lầy ngập mặn có vai trò quan trọng: là nơi ương dưỡng các loài hải sản, rừng cung cấp nơi sinh sống cho sinh vật TS bao gồm các loài có giá trị kinh tế cao
- Trước giải phóng (1962-75), diện tích rừng ngập mặn VN khoảng 400.000 ha; trong đó ở miền Nam là 250.000 ha (bán đảo Cà Mau 210.000 ha và Bà Rịa-Vũng Tàu
ÐB Nam bộ (ước khoảng 200.000 ha, 80% tổng diện tích RNM), kế đến là vùng I VBÐB (Quảng Ninh, 39,000 ha) và vùng II, III khoảng 21.000 ha
- Nhiều vùng rừng ngập mặn bị giảm do khai thác gỗ, làm than, cải tạo thành đất nông nghiệp Ðặc biệt từ năm 1983, diện tích rừng giảm nhanh chóng khi hoạt động nuôi tôm phát triển
e Vùng sinh thái thủy sản
- Các tỉnh ven biển và nội địa được chia thành 7 vùng địa lý, chủ yếu theo các đặc trưng địa hình Ðây cũng được xem là các vùng sinh thái nông nghiệp và thủy sản
(1) Trung du và miền núi phía Bắc
- Phần lớn diện tích là núi (độ cao 1.300-3.150 m);
- Có các thung lũng sâu giữa các rặng núi và bình nguyên nhỏ ven sông;
- Ðộ cao trung bình của vùng cao nguyên là 600-1.000 m;
- Sông chính là sông Mã, sông Chảy, sông Lô và sông Gấm
(2) Ðồng bằng sông Hồng
Trang 16- Ðồng bằng có diện tích 16.000 km2;
- Ðịa hình khá bằng phẳng và có độ cao trung bình 25 m;
- Sông chính là sông Ðáy, sông Hồng và sông Thái Bình;
- Ðất liền lấn ra biển khoảng 80-100 m/năm
(3) Ven biển Bắc Trung bộ
- Có rặng núi chạy dọc theo phía tây;
- Vùng trung du và ven biển khá hẹp;
- Phần lớn các sông ngắn và có cửa sông ngắn và hẹp;
- Có nhiều núi gần bờ biển và đầm phá;
- Có nhiều đầm phá dọc theo bờ biển phía nam
(4) Ven biển Nam Trung bộ
- Các rặng núi chạy dọc theo phía tây;
- Vùng đất thấp ven biển chiếm diện tích gần 4.400 km2;
- Bờ biển dài khá quanh co và có nhiều đầm phá
(5) Cao nguyên Trung bộ
- Tổng diện tích khoảng 45.000 km2;
- Ðộ cao của cao nguyên 400-1.500 m;
- Có nhiều sông suối nhỏ đổ vào sông Cửu Long
(6) Ðông Nam bộ
- Khá bằng phẳng với độ dốc 60o;
- Có một số sông với các thung lũng thường hẹp và sâu
(7) Ðồng bằng sông Cửu Long
- Phần lớn là phù sa trẻ;
- Vùng đồng bằng có diện tích 40.000 km2;
- Có hai vùng (Ðồng Tháp Mười 530.000 ha và Tứ giác Long Xuyên 300.000 ha) bị ngập theo mùa vào mùa mưa, loại đất chủ yếu là đất phèn (acid);
- Ðất lấn ra biển khoảng 60-80 m dọc theo bán đảo Cà Mau;
- Một diện tích lớn của ÐBSCL bị nhiễm nước mặn vào mùa khô
Trang 17f Đồng bằng sông Cửu Long
- Sông Cửu Long là 1 trong 10 con sông lớn nhất trên thế giới Vùng ÐBSCL bao gồm vùng ngập ở hạ lưu (từ Kratie, Campuchia) với tổng diện tích 49.500 km2, trong đó 79% diện tích (39.000 km2) nằm trên lãnh thổ VN
- ÐBSCL được tạo thành bởi phù sa trẻ với tổng diện tích chiếm 12% tổng diện tích nước ta
- Vùng ÐBSCL ở VN bằng phẳng với cao trình 0,8 m so với mực nước biển, với nhiều vùng trũng tạo thành túi chứa nước vào mùa lũ (sâu nhất tới 4,5 m)
- Lượng mưa và lượng nước sông chảy ra biển thay đổi theo mùa tạo ra những thời kỳ thừa nước và thiếu nước
- Mùa mưa từ tháng 5-11, lượng mưa giảm từ 2.400 mm ở phía tây, xuống 1.600 mm ở trung tâm và 1.300 mm ở phía đông
- Mùa lũ từ tháng 7-11
* Tình hình lũ bị nghiêm trọng bởi lượng mưa cao và triều cường;
* Ảnh hưởng có lợi của lũ là cung cấp phù sa, kích thích cá tự nhiên sinh sản, đẩy mặn và rửa phèn
- Chế độ nước ở ÐBSCL còn bị ảnh hưởng bởi chế độ triều của biển Ðông (bán nhật triều với biên độ 2,5-3,0 m) và biển Tây (nhật triều với biên độ 0,4-1,2 m) tạo ra khả năng tưới tiêu bằng trọng lực (10% diện tích của ÐBSCL)
- Trong tổng diện tích 3,89 triệu ha (không kể các đảo xa bờ) có 2,46 triệu ha đất nông nghiệp và NTTS, 0,38 triệu ha đất rừng (chỉ 0,2 triệu ha có rừng), 0,2 triệu ha đất thổ cư, 0,65 triệu ha đất không canh tác và không phân loại, 0,2 triệu ha sông, kênh
- VN nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa của Ðông Nam Á
- Lượng mưa phong phú, trung bình 1.800-2.500 mm/năm
- Sự kết hợp bão, mùa mưa, địa hình phức tạp và sự phá rừng khiến lũ trở thành mối đe dọa thường xuyên cho đời sống và sản xuất nông nghiệp
- Lũ thường được theo sau bởi hạn nên có tác động tàn phá đối với môi trường
Trang 18(i) Trung du và miền núi phía Bắc và đồng bằng sông Hồng bị ảnh hưởng bởi
hệ thống gió mùa Ðông-bắc (tháng 10-3, lạnh và khô) và hệ thống gió mùa Tây-nam (tháng 4-9, nóng và ẩm);
(ii) Vùng biển Bắc Trung bộ là vùng chuyển tiếp khí hậu: mùa mưa và mùa khô trùng với gió Ðông bắc và Tây nam;
(iii) Vùng biển Nam Trung bộ và Cao nguyên trung bộ là vùng chuyển tiếp
và bị ảnh hưởng bởi khí hậu Bắc và Nam bộ;
(iv) Ðông Nam bộ và đồng bằng sông Cửu Long gồm mùa mưa (tháng 5-10)
- Miền Đông Nam Bộ và ÐBSCL có nhiệt độ ổn định quanh năm, nhiệt độ trung
bình 28-290C, biến động từ thấp nhất 230C (tháng 12-1) đến cao nhất 340C (tháng 3-5)
Bão
- VN thuộc một trong 5 trung tâm bão của thế giới
- Việt Nam hàng năm chịu một số cơn bão mà sức mạnh thay đổi, tần số bão cao nhất ở phía bắc (từ Quảng Nam-Ðà Nẵng và Thừa Thiên Huế trở ra), thường xảy
Trang 19* Vịnh Bắc bộ: nhật triều với biên độ tối đa là 3,2-3,6 m, biên độ giảm dần
về phía nam khoảng 1,2-2,5 m ở Nghệ An và 0,4-1,1 m ở Quảng Bình và Thừa Thiên Huế;
* Dọc bờ biển Trung bộ: chế độ triều hỗn hợp với nhật triều thịnh hành hơn (thay đổi giữa 1 và 2 triều cao và thấp mỗi ngày);
* ÐBSCL: chế độ triều hỗn hợp ở biển Ðông (ưu thế là bán nhật triều) với biên độ 2,5-3,0 m và chế độ bán nhật triều không đều ở biển Tây (vịnh Thái Lan) với biên độ 0,4-1,2 m;
* Chế độ thủy văn phức tạp ở ÐBSCL mang các chất lơ lửng từ bờ phía đông
về phía tây làm bồi lắng ở phía tây mũi Cà Mau (60-80 m mỗi năm)
- Ở miền Bắc và Nam, do biên độ triều cao làm nước biển xâm nhập sâu vào các sông, nước lợ (2-5‰) đã tìm thấy ở khoảng 40 km thượng nguồn sông Hồng và 60
km ở sông Cửu Long
2.1.4.3 Những thuận lợi và hạn chế trong phát triển TS
Bảng 2.1: Những thuận lợi và hạn chế trong phát triển TS Việt Nam
- Nhiều hồ chứa lớn cho ÐBTS nội địa
- Ít bị ảnh hưởng bão
Nuôi trồng TS
- Nhiều hồ chứa, sông thích hợp cho nuôi cá bè
- Nhiều thủy vực tương đối lớn
- Ít bão và lũ xảy ra
- Cửa sông và vùng ven biển thích hợp cho hoạt động NTTS nước lợ
- Thiếu nguồn nước ở những vùng đồi núi vào mùa khô
- Ðộ đục của nước cao vào mùa mưa
- Rò rĩ nước do đất cát
Trang 20- Biên độ triều cao
- Ðiều kiện khí hậu ôn hòa
- Vịnh Thái Lan và vùng biển Ðông
ở ÐBSCL có nhiều ngư trường tốt cho ÐBTS biển
- Lũ sông Cửu Long hàng năm cung cấp nguồn lợi cá tự nhiên nước ngọt lớn cho ÐBSCL
- Các vùng trũng Ðồng Tháp Mười
và U Minh cung cấp nơi trú ẩn, bãi
đẻ và nơi sinh truởng cho nguồn lợi
cá đen
- Hệ thống sông Cửu Long với các sông lớn, mạng lưới kênh đào dày đặc và diện tích ngập lũ lớn thuận lợi cho ÐBTS nội địa
- Chế độ lũ hàng năm xác định các đặc trưng mùa vụ của ÐBTS nội địa
Nuôi trồng TS
- Diện tích lớn bị ảnh hưởng của ngập lũ
- Khí hậu ôn hòa và không bão
- Biên độ triều lớn của biển Ðông thuận lợi cho việc thay nước bằng trọng lực
- Nước biển có độ mặn thấp vào mùa mưa không thích hợp cho trại
giống tôm
Trang 212.2 Nguồn lợi thủy sản thế giới
Nguồn lợi thủy sản thế giới được nghiên cứu có 590 loài kinh tế, trong đó có
131 loài cá, 42 loài nhuyễn thể, 27 loài giáp xác, 8 loài thực vật thủy sinh, 2 loài động vật lưỡng cư và rùa biển (Theo thống kê của FAO 2006) Gần 90% của ngành thủy sản của thế giới được khai thác từ biển và đại dương, so với sản lượng thu được từ các vùng nước nội địa Khi các ngư trường được mở rộng ra khắp đại dương thế giới và mọi đối tượng đã biết đều được khai thác triệt để, thì sản lượng khai thác không những không tăng, mà ngược lại có xu hướng giảm xúc
Nhiều loài cá kinh tế là đối tượng khai thác truyền thống, là nguồn thực phẩm quan trọng và quý giá đều bị tổn thương nghiêm trọng, khả năng tự tái tạo lại quần đàn đang là dấu hỏi lớn Nhiều ngư trường, nhiều vùng biển trước đây được xếp vào loại giàu có thì nay đã trở nên nghèo nàn do khai thác quá mức Cùng lúc đó, dân số thế giới tiếp tục tăng nhanh, nhu cầu về thủy sản ngày càng cao hơn là sức ép đề nặng lên nguồn lợi thủy sản vốn đang bị cạn kiệt nhanh chóng Theo số liệu của tổ chức Nông lương Liên Hiệp Quốc (FAO), thủy sản hiện đang là mặt hàng thực phẩm được tiêu thụ mạnh nhất với khoảng 102 tỉ đô la (2008) Cũng theo số liệu của FAO thì từ nay cho đến năm 2015, tiêu thụ thủy sản tính theo đầu người trên toàn cầu sẽ tăng trưởng khoảng 0,8%/năm, tổng nhu cầu thủy sản và các sản phẩm thủy sản sẽ tăng khoảng 2,1%/năm Như vậy, có thể thấy rỏ nhu cầu thủy sản ngày càng tăng, đây cũng là một động lực để phát triển ngành nuôi trồng thủy sản, đặc biệt là: tôm, cá tra, cá ngừ…
Thương mại quốc tế về thủy sản tăng trưởng nhanh cũng gây sức ép lên nguồn lợi thủy sản Kim ngạch xuất khẩu toàn cầu tăng 9,5% vào năm 2006, 7% năm 2007, lên đến con số kỉ luật 92 tỉ USD Trung Quốc là nước xuất khẩu thủy sản lớn nhất thế giới, với kim ngạch xuất khẩu đạt 9,7 tỉ USD Theo dự báo của FAO, tổng sản lượng thủy sản của thể giới sẽ tăng từ 129 triệu tấn (2005), lên 159 triệu tấn (2010), và 172 triệu tấn (2015)
2.3 Nguồn lợi thủy sản nước ngọt Việt Nam
Việt Nam được đánh giá là một quốc gia có nguồn lợi thủy sản nước ngọt phong phú và đa dạng, có điều kiện tự nhiên thuận lợi để phát triển nuôi trồng thủy sản
so với các nước trong khu vực Theo Bộ Thủy Sản (1996), ở Việt Nam đã thống kê được cá nước ngọt Việt Nam gồm 544 loài cá, thuộc 228 giống, 57 họ và 18 bộ Riêng
họ cá chép có 276 loài và phân loài thuộc 100 giống và 4 họ, 1 phân họ được coi là đặc hữu Việt Nam Số lượng loài cá ở các cửa song dao động từ 70 đến hơn 230 loài, với tổng cộng hơn 580 loài thuộc 109 họ và 27 bộ Có thể thấy tiềm năng nguồn lợi thủy sinh nội địa rất phong phú và đa dạng Mỗi năm, sản lượng khai thác thủy sản nội địa đạt trung bình từ 150 – 200 tấn, góp phần quan trọng vào việc đáp ứng nhu cầu tiêu thụ lương thực, thực phẩm của người dân, đặc biệt từ các địa phương không có biển Hiện nay, sản lượng khai thác thủy sản nước ngọt có phần giảm đi so với các năm
Trang 22trước, trên các song, hồ lớn sản lượng khai thác giảm mạnh, một số đối tượng cá truyền thống như cá Bơn, Lẹp, Chài, Chép và các loài cá đồng khác như cá Trê, cá Chạch…dang có chiều hướng suy giảm mạnh Sản lượng khai thác nội địa giai đoạn
2001 – 2009 giảm 20%, từ 243 nghìn tấn (2001) xuống còn 191 nghìn tấn (2009) Có
sự thay đổi sản lượng do nguồn lợi suy giảm và môi trường thủy sinh thay đổi
2.4 Nguồn lợi thủy sản ĐBSCL
Bảng 2.2: Sản lượng thủy sản đồng bằng sông Cửu Long qua các năm
Năm Tổng sản lượng
thủy Sản
Sản lượng nuôi trồng thủy sản
Sản lượng khai thác thủy sản
Nguồn lợi thủy sản ĐBSCL mang tính chất nhiệt đới rõ rệt, thể hiện ở chổ rất
đa dạng về thành phần loài và phong phú về sản lượng Theo nghiên cứu mới đây giũa Khoa Thủy Sản, Đại Học Cần Thơ và tổ chức bảo vệ tài nguyên môi trường của Nhật (Nagao) cho thấy có hơn 183 loài loài cá đã được tìm thấy, trong đó họ cá Bống
(Gobidae) 54 loài chiếm 19%, họ cá Chép (Cyprinidae) 46 loài chiếm 16% Chúng
phân bố ở nhiều loài hình thủy vực khác nhau như kênh rạch, ao, đầm, ruộng lúa, vùng ngập lũ…Do đó, ngư cụ khai thác cá nước ngọt ở đây cũng rất đa dạng Theo ủy ban song Mekong, khu vực hạ lưu song Mekong có khoảng 120 loài cá kinh tế, trong đó chỉ có khoảng 10 – 20 loài ảnh hưởng quyết định đến sản lượng khai thác
Ở Tràm chim - Đồng Tháp có 55 loài cá thuộc 15 họ (Trần Thanh Xuân và ctv (1994) (trích dẫn từ Hà Phước Hùng, 2004)) Theo Nguyễn Xuân Hảo và ctv (1976)
có khoảng 236 loài cá đã được tìm thấy, trong đó họ cá chép 74 loài, họ cá trơn 51 loài (21,6%) (được trích dẫn bởi Võ Thành Toàn, 2006) Mai Đình Yên (1992), có 255 loài trong 139 giống thuộc 4 họ và 14 bộ Kết quả thảo luận của Viện sinh học nhiệt đới (2005) ở khu vực thuộc hệ thống kênh Ô Môn – Xà No cho thấy 175 loài cá nước ngọt
và 9 loài giáp xác Nguồn lợi cá ở Lâm ngư trường Sông Trẹm có 34 loài thuộc 7 bộ
(bộ Perciformes cũng chiếm ưu thế với hơn 14 loài) (Phạm Minh Thành và Bùi Lai,
2005)
Theo Trương Thủ Khoa và Trần Thị Thu Hương (1993), nguồn lợi thủy sản ở ĐBSCL có 13 bộ và 39 họ và 173 loài cá Nghiên cứu đã xác định được 12 loài cá
Trang 23thuộc bộ cá Trích (Clupeiformes), 2 loài thuộc bộ cá Thát Lát (Osteoglossiformes), 50 loài thuộc họ cá Chép (Cypriniformes), 41 loài thuộc họ cá Trơn (Siluriformes), 2 loài thuộc bộ cá Sóc (Cyprinodontiformes), 6 loài thuộc bộ cá Lìm Kìm (Benoliformes), 1 loài thuộc bộ cá Ngựa (Gasterosteifromes), 3 loài thuộc bộ cá Đối (Muligiformes), 2 loài thuộc bộ Lươn (Sunbranchiformes), 43 loài thuộc bộ cá Vực (Perciformes), 4 loài thuộc bộ cá Lưởi Mèo (Pleuronectiformes), 6 loài thuộc bộ cá Nóc
(Tetraodontiformes) và 1 loài thuộc bộ cá hàm Ếch
Nguồn lợi thủy sản ở ĐBSCL có nhiều loài đặc hữu, có giá trị kinh tế cao gần
như tuyệt chủng hoặc khó phát hiện như cá Tra Dầu (Pangasionodon gigas), cá Hô (Catlocarpio siamensis), cá Chài Sóc (Probarbus jullieni)…Ngược lại, cũng xuất hiện
một số loài cá khác mới di nhập, khá phong phú ngoài tự nhiên và có thể ảnh hưởng đến các loài bản địa như cá Chim Trắng, cá Lau Kiếng…(Trần Đắc Định, 2010)
2.5 Nguồn lợi thủy sản tỉnh Vĩnh Long
Vĩnh Long không phải là một vựa cá lớn như Đồng Tháp, Cà Mau, Bạc Liêu, Kiên Giang…nhưng có đặc điểm địa hình quanh năm nược ngọt, nên nguồn lợi cá nước ngọt cũng không phải là nhỏ, bao gồm các loài cá đen (cá Lóc, cá Trê, cá Rô…) thường sống trên đồng ruộng và cá trắng (cá Bông Lau, cá Ngát, cá Lăng…) thường sống dưới song Theo sách Đại Nam nhất thống chí, thời nhà Nguyễn ghi nhận, Vĩnh Long có tới 36 loài cá tôm
Ước tính sản lượng thủy sản năm 2011 của tỉnh Vĩnh Long đạt hơn 143.500 tấn, tăng 2,17% so với năm trước, trong đó sản lượng thủy sản nuôi trồng đạt gần 136.000 tấn, tăng 2,32% Riêng sản lượng cá tra nuôi thâm canh đạt 113.373 tấn, giảm 1,31% so với năm 2010
Bảng 2.3: Sản lượng thủy sản của Vĩnh Long so với ĐBSCL và cả nước (tấn)
Cả
nước 3.466.804 3.720.459 4.199.082 4.602.026 4.870.317 5.127.576 ĐBSCL 1.846.271 2.021.745 2.386.169 2.701.927 2.819.990 2.934.416 Vĩnh
long 37.198 53.505 99.224 108.378 121.628 142.856
(Nguồn: Chi cục thủy sản Vĩnh Long)
Mặc dù không phải vựa cá lớn của ĐBSCL nhưng sản lượng thủy sản của tỉnh Vĩnh Long cũng đóng góp không nhỏ vào tổng sản lượng của vùng và không ngừng tăng mạnh trong những năm gần đây
Trang 242.6 Tổng quan về tỉnh Vĩnh Long
Vĩnh Long là một tỉnh nằm ở khu vực đồng bằng sông Cửu Long, thuộc miền Nam Việt Nam Vĩnh Long cách thành phố Hồ Chí Minh 135 km về hướng bắc theo quốc lộ 1, cách thành phố Cần Thơ 33 km về hướng nam theo đường quốc lộ 1 Tỉnh nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, dạng địa hình khá bằng phẳng với độ dốc nhỏ hơn 2 độ, không có núi đồi, địa hình lòng chảo, trũng ở trung tâm và cao dần
về phía Bắc, Đông Bắc và Nam Đông Nam, bị chia cắt bởi nhiều con sông và kênh rạch
Năm 1732, Vùng đất Vĩnh Long thời ấy được Nguyễn Phúc Trú thành lập, với tên gọi đầu tiên của tỉnh là Châu Định Viễn, thuộc dinh Long Hồ Năm 1779, đổi tên thành Hoằng Trấn dinh Giai đoạn từ năm 1780 đến năm 1805, đổi thành Vĩnh Trấn, từ năm 1806 đến năm 1832, Vĩnh Trấn được đổi thành Trấn Vĩnh Thanh Từ năm 1832 đến năm 1950, tên gọi Vĩnh Long được hình thành với vai trò là một tỉnh Giai đoạn từ năm1951 đến năm 1954, Vĩnh Long được đổi thành tỉnh Vĩnh Trà Từ năm 1954 đến 1975, tỉnh Vĩnh Long được tái lập lần thừ 2 Từ năm năm1976 đến tháng 5 năm 1992, mang tên là tỉnh Cửu Long, Cuối cùng là từ ngày 5 tháng 5 năm 1992 tỉnh Vĩnh Long được sử dụng đến ngày hôm nay
2.6.1 Điều kiện tự nhiên
2.6.1.1 Vị trí địa lý
Tỉnh Vĩnh Long nằm giữa hai nhánh sông chính của sông Cửu Long là sông Tiền và sông Hậu Tỉnh lỵ Vĩnh Long cách thành phố Hồ Chí Minh 135 km theo hướng bắc theo quốc lộ 1, cách thành phố Cần Thơ 33 km về phía nam theo quốc lộ 1 Nằm trong tọa độ từ 9052’40’’ đến 10019’48’’ độ vĩ Bắc và 105041’18’’ đến 106017’03’’ độ kinh Đông Nhìn bao quát, tỉnh Vĩnh Long như một hình thoi nằm ở vị trí trung tâm của đồng bằng châu thổ hạ lưu sông Cửu Long
Trang 25Hình 2.1: Vị trí địa lý tỉnh Vĩnh Long
- Phía Bắc và Đông Bắc giáp Tỉnh Tiền Giang và Bến Tre
- Phía Tây và Tây Nam giáp Tỉnh Cần Thơ và Sóc Trăng
- Phía Đông và Đông Nam giáp Tỉnh Trà Vinh
- Phía Tây Bắc giáp Tỉnh Đồng Tháp
Trên quan hệ đối ngoại, Vĩnh Long nằm trong vùng ảnh hưởng của địa bàn trọng điểm phíaNam; nằm giữa trung tâm kinh tế quan trọng là Thành phố Cần Thơ và Thành phố Hồ Chí Minh Chính nơi đây vừa là trung tâm kinh tế - khoa học kỹ thuật - văn hóa - quốc phòng, vừa là thị trường lớn sẽ có tác động mạnh mẽ đến sự phát triển kinh tế xã hội của tỉnh, trong đó có liên quan chặt chẽ đến việc quản lý, phân bố sử dụng đất đai Đặc biệt là khả năng chi phối của Trung tâm ứng dụng khoa học công nghệ của Thành phố Cần Thơ (Trường Đại học Cần Thơ, Viện lúa ĐBSCL, khu Công nghiệp Trà Nóc ) và Trung tâm cây ăn trái miền Nam (Tiền Giang) là một trong những lợi thế đặc biệt của Vĩnh Long trong sự phát triển kinh tế ở hiện tại và tương lai
Với vị trí địa lý như trên trong tương lai Vĩnh Long là nơi hội tụ và giao lưu giữa giao thông thủy bộ (đường cao tốc, các quốc lộ 1A, 53, 54, 57, 80 được nâng cấp
mở rộng, có trục đường thủy nội địa sông Mang Thít nối liền sông Tiền và sông Hậu trong trục đường thủy quan trọng từ Thành phố Hồ Chí Minh xuống các vùng tây nam sông Hậu), cửa ngõ trong việc tiếp nhận những thành tựu về phát triển kinh tế của TPHCM và các khu công nghiệp miền đông và là trung tâm trung chuyển hàng nông sản từ các tỉnh phía Nam sông Tiền lên TPHCM và hàng công nghiệp tiêu dùng từ TPHCM về các tỉnh miền tây Mặt khác đây là vùng có tiềm năng về phát triển du lịch xanh với sinh cảnh sông nước, nhà vườn Đồng thời với hệ thống giao thông thủy bộ
Trang 26phát triển ngày càng hoàn thiện, Vĩnh Long với vị trí địa lý có nhiều mặt lợi thế như đã nêu trên sẽ tạo động lực cho sự phát triển KTXH theo các hướng trục giao thông thủy
bộ đã được quy hoạch của tỉnh
2.6.1.2 Khí hậu
Vĩnh Long nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa, quanh năm nóng ẩm, có chế độ nhiệt tương đối cao và bức xạ dồi dào
* Nhiệt độ: Nhiệt độ trung bình cả năm từ 27 - 280C, so với thời kỳ trước năm
1996 nhiệt độ trung bình cả năm có cao hơn khoảng 0,5-10C Nhiệt độ tối cao 36,90C; nhiệt độ tối thấp 17,70C Biên độ nhiệt giữa ngày và đêm bình quân 7-80C
* Bức xạ: Bức xạ tương đối cao, bình quân số giờ nắng/ngày là 7,5 giờ Bức
xạ quang hợp/năm 795.600 kcal/m2 Thời gian chiếu sáng bình quân năm đạt 2.181 - 2.676 giờ/năm Điều kiện dồi dào về nhiệt và nắng là tiền đề cho sự phát triển nông nghiệp trên cơ sở thâm canh, tăng vụ
* Ẩm độ: ẩm độ không khí bình quân 74 - 83%, trong đó năm 1998 có ẩm độ bình quân thấp nhất 74,7%; ẩm độ không khí cao nhất tập trung vào tháng 9 và tháng
10 giá trị đạt trung bình 86 - 87% và những tháng thấp nhất là tháng 3 ẩm độ trung bình 75-79%
* Lượng bốc hơi: Lượng bốc hơi bình quân hàng năm của tỉnh khá lớn, khoảng 1.400-1.500mm/năm, trong đó lượng bốc hơi/ tháng vào mùa khô là 116-179 mm/tháng
* Lượng mưa và sự phân bố mưa: Lượng mưa bình quân qua các năm từ 1995 đến 2001 có sự chênh lệch khá lớn Tổng lượng mưa bình quân cao nhất trong năm là 1.893,1 mm/năm (năm 2000) và thấp nhất 1.237,6 mm/năm điều này cho thấy có sự thay đổi thất thường về thời tiết Do đó ảnh hưởng lớn đến sự thay đổi các đặc trưng của đất đai cũng như điều kiện phát triển sản xuất nông nghiệp Mặt khác, lượng mưa năm của tỉnh phân bố tập trung vào tháng 5-11 dl, chủ yếu vào tháng 8-10 dl
Ở Vĩnh Long so với các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long, yếu tố khí hậu cơ bản qua các năm khá thuận lợi cho nông nghiệp theo hướng đa canh, thâm canh tăng vụ Tuy nhiên, do lượng mưa tập trung vào mùa mưa cùng với lũ tạo nên những khu vực
bị ngập úng ở phía bắc Quốc lộ 1A và những nơi có địa hình thấp trũng làm hạn chế và gây thiệt hại đối với sản xuất nông nghiệp ảnh hưởng đến đời sống cộng đồng và môi trường khu vực
Trang 272.6.1.3 Tài nguyên thiên nhiên
a Đất đai
Đất đai của tỉnh Vĩnh Long được hình thành do kết quả trầm tích biển lùi Holocene (cách nay khoảng 5.000-11.200 năm) dưới tác động của sông Mekong Theo kết quả điều tra khảo sát thổ nhưỡng của Chương trình Đất tỉnh Vĩnh Long năm 1990-
1994, Vĩnh Long có 4 nhóm đất chính: đất phèn, đất phù sa, đất cát giồng và đất xáng thổi
b Tài nguyên Nước
Nước mặt
Với 91 sông, kênh, rạch trên địa bàn nguồn nước mặt của tỉnh Vĩnh Long được phân bổ đều khắp trong tỉnh Ba con sông lớn cung cấp nước cho hệ thống kênh rạch này là:
Sông Cổ Chiên nằm ở phía Đông Bắc của tỉnh, có chiều rộng từ 2500m, sâu từ 20-40m với khả năng tải nước cực đại lên tới 12.000-19.000m³/s
800-Sông Hậu chảy theo hướng Đông Bắc Tây Nam, song song với sông Cổ Chiên, chạy dọc theo phía Tây Nam của Tỉnh, sông có chiều rộng từ 1500-3000m, sâu
từ 15-30m, khả năng tải nước cực đại lên tới 20.000-32.000m³/s
Sông Măng Thít: gồm 1 phần kênh thiên nhiên, 1 phần kênh đào nối từ sông
Cổ Chiên tại Quới An sang sông Hậu tại Trà Ôn, sông dài 47km, có bề rộng trung bình
từ 110-150m, lưu lượng cực đại chảy ra và vào tại 2 cửa sông như sau:
- Phía sông Cổ Chiên: 1500-1600m³/s; Phía sông Hậu: 525-650m³/s
- Chất lượng nước tại 3 con sông lớn này hoàn toàn ngọt, chế độ thuỷ văn điều hoà, lưu lượng dòng chảy thay đổi theo mùa, ít chịu chi phối của thuỷ triều, tuy bị
ô nhiễm nhẹ nhưng hoàn toàn dùng cho sinh hoạt được khi đã qua công trình xử lý nước, như vậy với tất cả các đô thị, khu dân cư có 3 con sông này chảy qua đều có thể lấy nước mặt (xử lý đạt tiêu chuẩn) để phục vụ cho nhu cầu nước ăn uống, sinh hoạt, phục vụ cho sản xuất công nghiệp, du lịch, đây là những thuận lợi lớn mà ít tỉnh nào
có được
Nước Ngầm
Theo kết quả nghiên cứu của một số công trình thăm dò thì nguồn nước ngầm
ở Vĩnh Long rất hạn chế và chỉ phân bố ở một số khu vực nhất định Các tầng nước ngầm của Vĩnh Long như sau:
- Tầng nước ngầm ở độ sâu trung bình 86,4 m, nước nhạt phân bổ chủ yếu ở vùng ven sông Hậu và sông Tiền, bề dày tầng chứa nước không lớn Trữ lượng khai thác tiềm năng khoảng 46.169 m3/ngày
Trang 28- Tầng chứa nước phân bổ ở độ sâu trung bình 150 m, nước nhạt phân bổ khu vực ven sông Hậu và một số xã phía Nam tỉnh Vĩnh Long Bề dầy tầng chứa nước khá lớn Trữ lượng khai thác tiềm năng khoảng 86.299 m3/ngày
- Tầng chứa nước phân bổ ở độ sâu trung bình 333,2 m, chất nước kém không thể khai thác
- Tầng chứa nước phân bổ ở độ sâu trung bình 425 m Bề dầy tầng chứa nước khá lớn Đây là tầng chứa nước đang được khai thác nhiều bằng các giếng khoan công nghiệp Trữ lượng khai thác tiềm năng khoảng 31.669 m3/ngày
- Tầng chứa nước phân bổ ở độ sâu trung bình từ 439 m trở xuống Nước nhạt chỉ phân bổ ở khu vực thành phố Vĩnh Long (ven sông Tiền) Bề dầy tầng chứa nước khá lớn Đây là tầng chứa nước đang được khai thác nhiều bằng các giếng khoan công nghiệp Đặc biệt đây là tầng chứa nước khoáng Trữ lượng khai thác tiềm năng khoảng 19.520 m3/ngày…
c Khoáng sản
Vĩnh Long có lượng cát sông và sét làm vật liệu xây dựng khá dồi dào Cát sông chủ yếu phân bổ trên các sông Cổ Chiên, sông Tiền, sông Pang Tra, sông Hậu và sông Hậu nhánh Trà Ôn với tổng trữ lượng 129,8 triệu m3 (không kể những vùng cấm, tạm cấm và dự trữ sau năm 2010)
Đất sét là nguyên liệu sản xuất gạch, ngói, gốm sứ có tổng trữ lượng khoảng
200 triệu m3, chất lượng khá tốt Sét thường nằm dưới lớp đất canh tác nông nghiệp với chiều dầy 0,4-1,2 m và phân bổ ở hầu hết các huyện, thành phố
d Sinh vật
Nằm trong vùng đất phù sa ngọt ở trung tâm vùng Đồng bằng Sông Cửu Long, Vĩnh Long là tỉnh duy nhất trong vùng không có diện tích rừng tập trung, chỉ có khoảng 140.000 ha đất trồng cây phân tán Giới sinh vật trên địa bàn tỉnh hiện nay hầu hết đều đã được thay thế bằng hệ sinh thái nông nghiệp và các loại cây trồng Vĩnh Long nổi tiếng với những vườn cây trái tươi tốt trên các cù lao với nhiều trái cây đặc sản, vừa có giá trị kinh tế nông nghiệp, vừa là tiềm năng để phát triển du lịch sinh thái
Hệ động vật trong tỉnh hiện nay chủ yếu là các vật nuôi và sinh vật dưới nước Nguồn thủy sản nước ngọt trên sông Tiền, sông Hậu và các ao hồ, kênh rạch trên địa bàn tỉnh
là tiềm năng rất lớn để phát triển ngành đánh bắt và nuôi trồng thủy sản Tỉnh cũng có một số loại động vật quý hiếm như: chồn, rắn hổ, sóc, bìm bịp, cá sấu và một số loại động vật nhập: đà điểu, gà sao, khỉ
Trang 292.6.2 Điều kiện kinh tế - xã hội
2.6.2.1 Kinh tế
Năm 2011, GDP tỉnh Vĩnh Long tăng trưởng hơn 10% và cao hơn bình quân cả nước, GDP bình quân đầu người của tỉnh đạt gần 24 triệu đồng Lần đầu tiên kim ngạch xuất khẩu của tỉnh đạt mức cao nhất từ trước đến nay với gần 390 triệu USD, tăng 50% so kế hoạch năm Các ngành hàng nông sản tiếp tục khẳng định là thế mạnh chủ lực của tỉnh như: nấm rơm, trứng vịt muối, thủy sản đông lạnh, v.v … Trong đó lúa gạo là mặt hàng chiếm tỷ trọng cao trong kim ngạch xuất khẩu Lần đầu tiên sau nhiều năm Vĩnh Long có sản lúa vượt trên 1 triệu tấn Năng suất lúa bình quân 5 tấn 6/
ha, theo định hướng của chính phủ và đưa Vĩnh Long trở thành một trong những tỉnh xuất khẩu gạo lớn của cả nước với sản lượng xuất khẩu đạt gần 438.000 tấn
Trong năm 2011, tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu tiêu dùng xã hội ước thực hiện đạt 21.000 tỷ đồng Vĩnh Long đã đón 750.000 lượt khách đến tham quan Giá trị sản xuất công nghiệp đạt gần 6.500 tỷ đồng Tổng dư nợ cho vay năm 2011 là 13.350 tỷ đồng, nguồn vốn huy động ước đạt 12.000 tỷ đồng, tổng vốn đầu tư xây dựng cơ bản trên địa bàn tỉnh đạt hơn 1.500 tỷ đồng Tổng thu ngân sách ước đạt hơn 2.200 tỷ đồng Tổng chi ngân sách ước thực hiện được trên 3.600 tỷ đồng
Năm 2012, mặc dù gặp nhiều khó khăn như lạm phát tăng cao, thời tiết diễn biến phức tạp, dịch bệnh xuất hiện nhiều, tuy nhiên tốc độ tăng trưởng kinh tế năm
2012 vẫn đạt khá, ước đạt 10,2% tỉnh Vĩnh Long thực hiện đạt và vượt 17/23 chỉ tiêu
đề ra Tổng sản phẩm trên địa bàn tỉnh ước đạt 9.255 tỷ đồng, tăng gần 8% so với năm
2011, GDP bình quân đầu người đạt gần 32 triệu đồng trên năm giá trị sản xuất công nghiệp của tỉnh vẫn khá lạc quan, với mức tăng trên 15% Tổng kim ngạch xuất khẩu ước thực hiện gần 400 triệu USD Trong lĩnh vực sản xuất nông nghiệp, cơ cấu nội bộ ngành tiếp tục chuyển dịch đúng hướng và hiệu quả Giá trị sản xuất nông, lâm, thuỷ sản ước đạt 6.552 tỷ đồng, tăng hơn 3% so với năm 2011 Diện tích vườn cây ăn trái của tỉnh hiện có trên 47.000 ha,trong đó hơn 40.000 ha đang cho sản phẩm Sản lượng thu hoạch cả năm đạt trên 493 ngàn tấn
2.6.2.2 Xã hội
a Dân cư
Tính đến năm 2011, dân số toàn tỉnh Vĩnh Long đạt gần 1.028.600 người, mật
độ dân số đạt 687 người/km² Trong đó dân số sống tại thành thị đạt gần 159.200 người, dân số sống tại nông thôn đạt 869.400 người Dân số nam đạt 833.700 người, trong khi đó nữ đạt 521.900 người Tỷ lệ tăng tự nhiên dân số phân theo địa phương tăng 5,3 ‰
Theo thống kê của tổng cục thống kê Việt Nam, tính đến ngày 1 tháng
4 năm 2009, toàn tỉnh Vĩnh Long có 20 dân tộc cùng người nước ngoài sinh sống
Trang 30Trong đó dân tộc kinh có 997.792 người, người khmer có 21.820 người, người hoa có 4.987 người, còn lại là những dân tộc khác như tày, thái, chăm, mường
Tính đến ngày 1 tháng 4 năm 2009, Toàn tỉnh Vĩnh Long có 11 Tôn giáo khác nhau, nhiều nhất là Phật giáo có 155.580 người, Phật Giáo Hòa Hảo có 34.921 người, Công giáo có 34.005 người, đạo Cao Đài có 22.872 người, các tôn giáo khác nhưTinh Lành có 6.641 người, Tịnh độ cư sĩ Phật hội Việt Nam có 1.842 người, Đạo
Tứ Ân Hiếu Nghĩa có 327 người, Hồi giáo 56 người, Minh Sư Đạo có 22 người, Bửu sơn kỳ hương có 16 người, còn lại là đạo Bà la môn có 1 người
b Văn hóa
Do địa thế và lịch sử hình thành, từ ba dân tộc Kinh, Khmer, Hoa cùng sinh sống lâu đời ở đây đã hòa quyện và tạo nên một nền văn hóa đặc trưng cho vùng đất này Vĩnh Long có khá nhiều loại hình văn học dân gian như: nói thơ Vân Tiên, nói tuồng, nói vè, hát Huê Tình, cải lương Vĩnh Long cũng là nơi có nhiều di tích lịch sử văn hóa như: thành Long Hồ, Công Thần Miếu Vĩnh Long, đình Tân Giai, đình Tân Hoa, Văn Thánh Miếu Vĩnh Long, Khu tưởng niệm cố Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Phạm Hùng, v.v
c Giao thông
Vĩnh Long có quốc lộ 1A đi ngang qua, cùng với các quốc lộ khác như quốc lộ
53, quốc lộ 54 và quốc lộ 80 Các tuyến giao thông đường thuỷ của tỉnh cũng khá thuận lợi, các tuyến giao thông này nối liền tỉnh Vĩnh Long với các tỉnh trong khu vực Đồng bằng sông Cửu Long và cả nước, tạo cho Vĩnh Long một vị thế rất quan trọng trong chiến lược phát triển và hợp tác kinh tế với cả vùng
e Giáo dục
Tính đến thời điểm ngày 30 tháng 9 năm 2011, trên địa bàn toàn tỉnh Vĩnh Long có 362 trường học ở cấp phổ trong đó có Trung học phổ thông có 22 trường, Trung học cơ sở có 92 trường, Tiểu học có 239 trường, trung học có 9 trường, bến cạnh đó còn có 124 trường mẫu giáo Với hệ thống trường học như thế, nền giáo dục trong địa bàn Tỉnh Vĩnh Long cũng tương đối hoàn chỉnh, góp phần giảm thiểu nạn mù chữ trong địa bàn tỉnh
Trang 31Chương 3
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Trình tự nghiên cứu
Lược khảo tài liệu;
Khảo sát thực tế, phân tích hiện trạng cá tự nhiên trên địa bàn tỉnh Vĩnh Long;
Tham khảo ý kiến chuyên gia;
3.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu
Địa điểm nghiên cứu: đề tài được thực hiện trên địa bàn tỉnh Vĩnh Long
Hình 3.1: Các điểm khảo sát trên địa bàn tỉnh Vĩnh Long
Thời gian nghiên cứu: từ tháng 8/2013 đến tháng 11/2013
3.3 Đối tượng nghiên cứu
Các loài cá tự nhiên (đối tượng chín); các loại ngư cụ (đối tượng nằm ngoài phạm vi nghiên cứu)
3.4 Phương tiện
Máy định vị GPS, máy chụp hình, máy tính
Phần mềm ArcGIS
Bảng phỏng vấn
Trang 323.5 Phương pháp nghiên cứu
3.5.1 Phương pháp chọn đơn vị điều tra
Dựa trên bản đồ tiềm năng đa dạng sinh học (ĐDSH) của Vĩnh Long
- Từ 35 kiểu sử dụng đất của bản đồ hiện trang sử dụng đất 2010, giả thiết tổng hợp thành 4 kiểu sử đất và 4 cấp độ đa dạng sinh học (cao, trung bình, thấp và rất thấp)
- Các cấp độ đa dạng sinh học từ cao đến rất thấp được đặt tên theo thứ tự A,
Trên mỗi cấp độ đa dạng sinh học, chọn ngẫu nhiên 3 ô vuông để tiến hành khảo sát Các ô vuông phải thõa điều kiện không nằm trong khu vực đô thị khu vực đô thị và phải đủ diện tích 1km2
Liệt kê ra tất cả kiểu sử dụng đất trên mõi ô vuông (kết hợp bản đồ Google)
Từ bản đồ tiềm năng đa dạng sinh học , xác định tọa độ 4 góc của các điểm/tuyến
Từ tọa độ này lên Google xác định vị trí, địa hình, sinh cảnh của đơn vị điều tra để có kế hoạch hướng đi phù hợp - đảm bảo quá trình điều tra phủ toàn bộ đơn vị
Điều tra về thành phần loài cá trên các kiểu sử dụng đất
Số liệu thứ cấp được thu từ niên giám thống kê, sở nông nghiệp và phát triển nông thôn(NN&PTNT) Vĩnh Long, chi cục TK&BVNLTS Vĩnh Long, các nghiên cứu
từ Khoa Thủy Sản, Khoa Nông Nghiệp & SHUD, Khoa Môi trường & TNTN, Đại học Cần Thơ, và các thông tin cấp nhật từ mạng internet, tạp chí, báo cáo khoa học
Trang 333.5.2.2 Thu thập số liệu sơ cấp
a Điều tra thông tin các hộ dân
Điều tra thông tin về họ tên, tuổi, trình độ văn hóa, giới tính, kiểu sử dụng đất, thời gian canh tác, các loại ngư cụ sử dụng trong đánh bắt thủy sản…
b Điều tra về cá
Tổ chức điều tra cộng đồng tại tất cả các điểm thu mẫu, trên tất cả các kiểu sử dụng đất và tất cả sinh cảnh (dựa vào phiếu điều tra: phiếu điều tra hướng tới việc phát hiện tối đa các loài cá); điều tra các đối tượng sau: người trực tiếp canh tác, người sống tại chỗ, người đánh bắt cá thường xuyên
c Điều tra kiểu sử dụng đất
Điều tra lịch sử chuyển đổi kiểu sử dụng đất (dựa vào phiếu điều tra: nhắm tới thời gian chuyển đổi, lý do chuyển đổi, nhu cầu sử dụng nước trước và sau khi chuyển đổi)
d Điều tra nhận thức người dân về suy giảm loài cá theo kiểu sử dụng đất
Điều tra nhận thức người dân về suy giảm loài cá theo kiểu sử dụng đất (dựa vào phiếu điều tra: thay đổi thành phần và số lượng và vùng phân bố loài cá theo kiểu
sử dụng đất, khoảng thời gian trước và sau bắt đầu thay đổi kiểu sử dụng đất
3.5.3 Phương pháp phân tích và xử lý số liệu
Số liệu được nhập và phân tích bằng phần mềm SPSS 16.0, Microsoft Excel
Trang 34Chương 4
KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
4.1 Thông tin cơ bản về kết quả phỏng vấn
Đề tài nghiên cứu được khảo sát tại địa bàn các huyện thuộc tỉnh Vĩnh Long, được tiến hành thông qua việc phỏng vấn một cách ngẫu nhiên các hộ gia đình trong ô khảo sát Kết quả điều tra được 60 hộ dân đang sinh sống trong phạm vi nghiên cứu Đặc điểm của các đối tượng dân cư tham gia trả lời phỏng vấn cụ thể như sau:
4.1.1 Độ tuổi và giới tính của các người dân được phỏng vấn
Tỷ lệ nam giới tham gia trả lời phỏng vấn là 96,5%, cao hơn rất nhiều so với tỷ
lệ phụ nữ trả lời phỏng vấn chỉ chiếm 3,5% Sự khác biệt quá lớn này là do quá trình điều tra phỏng vấn chỉ được tiến hành vào các buổi sáng (khoảng 8h-11h30) nên đa phần người phụ nữ trong các hộ gia đình đều phải đi chợ, làm cơm…nên họ thường từ chối khi tiếp xúc với người phỏng vấn Bên cạnh đó, đề tài được tiến hành khảo sát ở nông thôn, lao động nam thường là lao động chính, trụ cột gia đình, họ thường làm tất
cả các công việc đồng áng, đánh bắt…nuôi sống gia đình, khả năng tiếp xúc và kinh nghiệm phân loại các loài cá là rất lớn, nên họ rất năng động trong quá trình phỏng vấn
Trang 35Sau khi thu thập thông tin từ việc phỏng vấn, độ tuổi và giới tính của các người dân được tổng hợp lại ở bảng sau:
Bảng 4.1: Thông tin về độ tuổi và giới tính của người dân được phỏng vấn
và kinh nghiệm đánh bắt là rất lớn Do đó, chúng ta có thể thu thập được nhiều thông
tin đáng tin cậy trong quá trình phỏng vấn
Trang 364.1.2 Trình độ văn hóa
Trình độ văn hóa của người dân được phân chia theo từng bậc học, gồm có: cấp
1, cấp 2, cấp 3 và hệ cao đẳng, đại học Trong đó, cấp 2 chiếm tỷ lệ lớn nhất (53,3%),
kế tiếp là cấp 1 (35%), cấp 3 (10%) và hệ cao đẳng, đại học (1,7%) Nhìn chung, trình
độ văn hóa của người dân được phỏng vấn tương đối cao nên thuận lợi cho việc trao đổi thông tin trong quá trình phỏng vấn (bảng 4.2)
Bảng 4.2: Trình độ văn hóa của người dân được phỏng vấn
Trang 374.1.3 Thông tin điểm khảo sát
Sau khi kết thúc quá trình phỏng vấn, vị trí 12 điểm khảo sát phân bố trong 6/7
huyện của địa bàn tỉnh Vĩnh Long Do đó, kết quả của nghiên cứu này có thể chấp nhận ở mức độ tin cậy tương đối vì đa số các điểm nằm rải rác khá đồng đều ở các huyện Các điểm này có thể được coi là các điểm đại diện thu mẫu, phản ánh nguồn lợi thủy sản của tỉnh Vĩnh Long Thông tin các điểm được trình bày ở bảng 4.3
Bảng 4.3: Thông tin điểm khảo sát
1 Điểm 1 – ấp Bình Minh, xã Mỹ Tứ, huyện Tam Bình
2 Điểm 2 – ấp Hiếu Xuân Tây, xã Hiếu Thạnh, huyện Vũng Liêm
3 Điểm 3 – ấp Hiệp Lợi, xã Hòa Bình, huyện Trà Ôn
4 Điểm 4 – ấp 7, xã Hòa Lộc, huyện Tam Bình
5 Điểm 5 – ấp Tân Thuận, xã Tân Hạnh, huyện Long Hồ
6 Điểm 6 – ấp Đại Hòa, xã Trung Thành Đông, huyện Vũng Liêm
7 Điểm 7 – ấp Thạnh Trí, xã Hòa Thạnh, huyện Tam Bình
8 Điểm 8 – ấp Thành Giang, xã Thành Trung, huyện Bình Tân
9 Điểm 9 – ấp Tân Thạnh, xã Lục Sĩ Thành, huyện Trà Ôn
10 Điểm 10 – ấp An Thạnh, xã Tân An Thạnh, huyện Bình Tân
11 Điểm 11 – ấp Mỹ Phước 1, xã Mỹ Hòa, huyện Bình Minh
12 Điểm 12 – ấp Xẻo Tràm, xã Trà Côn, huyện Trà Ôn
Trang 384.1.4 Thu nhập chính
Qua kết quả khảo sát cho thấy, người được phỏng vấn tham gia nhiều ngành nghề khác nhau được nêu trong hình 4.1 Đa phần thu nhập chính của họ là từ làm ruộng, vườn, buôn bán và làm thuê, trong đó chủ yếu là từ làm ruộng (chiếm 70%), vườn (chiếm 26,6%), còn lại là từ buôn bán nhỏ và làm thuê
Hình 4.1: Biểu đồ thể hiện tỷ lệ (%) thu nhập chính của các hộ dân
Trang 39
4.1.5 Thời gian canh tác
Trong nghiên cứu này, đa số người dân được phỏng vấn cung cấp mốc thời gian
từ trước năm 1975 – 1981 là giai đoạn trồng lúa mùa, sau đó, chuyển sang làm lúa thuần nông 2 vụ là vào khoảng giai đoạn 1982 – 1994, giai đoạn 1995 – hiện tại: làm lúa 3 vụ, ngoài ra, còn có một bộ phận nhỏ trồng cây lâu năm, vườn tạp, rau màu…(bảng 4.4)
Bảng 4.4: Thời gian canh tác của các hộ dân tham gia phỏng vấn.
Giai đoạn Số lượng Phần trăm
(%) Trước 1975 - 1981 11 10,5%
4.1.6 Tỉ lệ kiểu sử dụng đất trong ô khảo sát
Kết quả khảo sát, đất chuyên trồng lúa nước chiếm tỷ lệ cao nhất (52,4%), kế tiếp là đất trồng cây lâu năm (29,5%), còn lại là đất trồng cây hàng năm (18,1%) Sự chênh lệch này có thể do tỷ lệ phân bố tự nhiên của đất vườn ít hơn nhiều so với đất ruộng
Bảng 4.5: Tỷ lệ kiểu sử dụng đất của các hộ dân được phỏng vấn
Kiểu sử dụng đất Số lượng Phần trăm
(%) Đất trồng cây lâu năm 31 29,5%
Đất chuyên trồng lúa nước 55 52,4%
Đất trồng cây hàng năm 19 18,1%
Trang 404.1.7 Tỷ lệ sử dụng ngư cụ và nơi đánh bắt của những hộ dân được phỏng vấn
4.1.7.1 Ngư cụ
Kết quả khảo sát gồm có 8 loại ngư cụ là lưới giăng (38,1%), chài (27,6%), câu (11,4%), giớn (7,6%), nôm (6,7%), xiệc (3,8%), lờ (2,9%), lộp (1,9%) có thể họ tham gia khai thác thủy sản với nhiều loại ngư cụ khác nhau là tùy theo điều kiện kinh tế gia đình và đặc điểm thủy vực nơi khai thác mà phối hợp sử dụng chúng với nhau Kết quả trên thể hiện các loại ngư cụ được sử dụng trong khai thác thủy sản khá đa dạng nhưng tập trung chủ yếu ở giăng lưới, chài (hình 4.2) Mỗi loại ngư cụ chỉ hoạt động hiệu quả trong một số điều kiện nhất định, có thể do địa hình thủy vực, kênh rạch nước chảy chậm thì họ sử dụng lưới giăng, mùa lũ thì loại ngư cụ này cũng được sử dụng phổ biến trên ruộng; chài là loại ngư cụ thích hợp sử dụng ở thủy vực nông, linh động Riêng các loại ngư cụ còn lại chỉ thích hợp sử dụng trong mùa lũ nên chiếm tỷ lệ không đáng kể so với hai loại ngư cụ trên
Hình 4.2: Các loại ngư cụ