Hoàn thiện cơ cấu tổ chức và phân quyền của Công ty Cổ phần Intimex trên địa bàn Hà Nội
Trang 1CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI 1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Ngày nay, cùng với sự phát triển chung của thế giới, nền kinh tế Việt Nam cũngđang từng bước đi lên Trong điều kiện kinh tế nhiều thành phần vận hành theo kinh tếthị trường có sự quản lý của nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, nhà nước tachủ trương giao cho các doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế quyền được tự hạch toán đểphát huy tính tự chủ của mình Bên cạnh đó, Việt Nam đã chính thức là thành viên của
tổ chức thương mại quốc tế WTO Điều đó có nghĩa là xu thế hội nhập và toàn cầu hóakinh tế Việt Nam nói chung và các doanh nghiệp Việt Nam nói riêng
Một yêu cầu đặt ra là các doanh nghiệp muốn khẳng định vị trí của mình trênthương trường thì luôn phải hoàn thiện cơ cấu tổ chức sao cho phù hợp với điều kiệnthị trường Như vậy mới có thể góp phần không ngừng tăng năng suất lao động, nângcao hiệu quả sản xuất kinh doanh Nhưng thực tế cho thấy, nhiều doanh nghiệp, tổ chứclàm ăn thua lỗ, phá sản, phát triển chậm lại là do cơ cấu tổ chức và phân quyền chưakhoa học, chưa phù hợp với thực tiễn Vì vậy vấn đề đặt ra cho các doanh nghiệp làlàm sao xây dựng cho mình cơ cấu tổ chức và phân quyền hợp lý Bởi lẽ khi có một cơcấu tổ chức quản lý hợp lý, phân quyền đúng đắn thì mới cho phép sử dụng tốt cácnguồn lực, giúp cho việc ra các quyết định chính xác và tổ chức thực hiện có hiệu quảcác quyết định đó, điều hoà phối hợp các hoạt động nhằm đạt được mục đích chung đề
ra
Với một doanh nghiệp tầm cỡ quốc gia, 30 năm chưa phải là một quãng thời gianquá đỗi tự hào Nhưng với riêng Công ty Cổ phần Intimex Việt Nam thì đây là dấu ấnđầy ắp những sự kiện đáng phải ghi nhận Sau hơn 30 năm xây dựng và trưởng thành,Công ty đã từng bước vượt qua khó khăn, vươn lên khẳng định vị trí là một trongnhững doanh nghiệp kinh doanh thương mại chủ lực, góp phần quan trọng vào việcthực hiện thành công nhiệm vụ phát triển sản xuất, kinh doanh của toàn ngành Khôngchỉ có thành tích nổi bật trong hoạt động xuất khẩu, đặc biệt là xuất khẩu nông sản màcông ty còn khẳng định được vai trò của mình trên thị trường nội địa thông qua hoạtđộng kinh doanh siêu thị và phân phối bán buôn cũng như những đầu tư đúng hướngvào sản xuất chế biến hàng nông sản phục vụ cho việc xuất khẩu, tiêu thu nông sảncho nông dân
Và cũng sau 3 thập kỷ là một doanh nghiệp 100% vốn Nhà nước, năm 2009 Công tychính thức chuyển sang mô hình công ty cổ phần có 49% vốn của Nhà nước, với một
cơ chế quản lý mới, một định hướng phát triển mới Đáng nói hơn, lần CPH này là lầnthứ hai được tiến hành tại công ty sau thất bại ở lần đầu năm 2007 nên đây càng là một
Trang 2bước ngoặt lớn trong quá trình phát triển của công ty Cùng với việc chuyển đổi môhình tổ chức của Công ty sang hoạt động theo mô hình Công ty Cổ phần, công tác cán
bộ cũng được bố trí, sắp xếp, điều động cho phù hợp với chức năng, nhiệm vụ và tổchức bộ máy mới của các đơn vị và các phòng ban Công ty Tuy nhiên việc tái cơ cấu
tổ chức của Công ty vẫn còn nhiều bất cập, nhiều điểm bất hợp lý Trong thời gianthực tập taị trụ sở chính của Công ty, em nhận thấy Công ty mặc dù đã có các phòngban khá đầy đủ song sự phối hợp giữa các phòng ban còn lỏng lẻo, phân công nhiệm
vụ, cơ chế quản lý chưa rõ ràng, hệ thống kiểm soát và đánh giá công việc chưa hoànthiện, phần mềm quản lý lạc hậu, việc đào tạo, nâng cao trình độ chuyên môn của nhânviên chưa tốt…
Để đáp ứng được chiến lược kinh doanh, mục tiêu, nhiệm vụ hoạt động trong thờigian tới và khắc phục được những tồn tại hiện có, việc hoàn thiện cơ cấu tổ chức vàphân quyền ở Công ty Cổ phần Intimex Việt Nam nói chung và trên địa bàn Hà Nộinói riêng là tất yếu khách quan, là nhu cầu cấp bách Hình thành một cơ cấu bộ máyvừa đầy đủ lại vừa gọn nhẹ, linh hoạt, phối hợp nhịp nhàng giữa các phòng ban, phâncông nhiệm vụ rõ ràng, cơ chế quản lý khoa học và tăng cường ứng dụng công nghệthông tin cũng như đào tạo, khích lệ động viên nhân viên Công ty Qua đó giúp Công
ty nâng cao hiệu quả, sức cạnh tranh để phát triển mạnh hơn trong nền kinh tế thịtrường, đồng thời hoàn thiện được quá trình sản xuất kinh doanh, tiết kiệm tối đa thờigian lao động và chi phí, sử dụng hiệu quả những nguồn lực
1.2 Xác lập và tuyên bố vấn đề trong đề tài
Nhận thức được tầm quan trọng của cơ cấu tổ chức và phân quyền, qua thời gianthực tập, tìm hiểu cơ cấu tổ chức và phân quyền tại Công ty Cổ phần Intimex ViệtNam, xuất phát từ nhu cầu thực tế hiện nay của công ty, em quyết định lựa chọn
nghiên cứu đề tài: “Hoàn thiện cơ cấu tổ chức và phân quyền của Công ty Cổ phần Intimex trên địa bàn Hà Nội” để làm luận văn tốt nghiệp của mình
Với đề tài này, cần tập trung nghiên cứu hai vấn đề cơ bản Một mặt nghiên cứu cơcấu tổ chức và phân quyền trên cơ sở nghiên cứu một số lý luận và các nhân tố ảnhhưởng tới khách thể nghiên cứu Mặt khác, nghiên cứu thực trạng cơ cấu tổ chức vàzphân quyền ở Công ty Cổ phần Intimex trên địa bàn Hà Nội Từ đó, đề xuất môt sốgiải pháp nhằm hoàn thiện cơ cấu tổ chức và phân quyền ở Công ty
1.3 Các mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu chung khi nghiên cứu đề tài “Hoàn thiện cơ cấu tổ chức và phân quyền tạiCông ty Cổ phần Intimex trên địa bàn Hà Nội” là nhằm đưa ra một số giải pháp nhằm
Trang 3hoàn thiện cơ cấu tổ chức và phân quyền tại Công ty trong thời gian tới Để hoàn thànhmục tiêu chung này cần giải quyết các mục tiêu cụ thể sau:
Thứ nhất, hệ thống hóa những cơ sở lý luận cơ bản về cơ cấu tổ chức và phân quyền
trong doanh nghiệp
Thứ hai, nghiên cứu, phân tích được thực trạng cơ cấu tổ chức và phân quyền tại
Công ty Cổ phần Intimex trên địa bàn Hà Nội
Thức ba, đưa ra các giải pháp nhằm hoàn thiện cơ cấu tổ chức và phân quyền tại
Công ty Cổ phần Intimex trên địa bàn Hà Nội
1.4 Phạm vi nghiên cứu
Về thời gian: Đề tài nghiên cứu thực trạng cơ cấu tổ chức và phân quyền ở Công ty
Cổ phần Intimex trên địa bàn Hà Nội tập trung vào ba năm 2008, 2009, 2010, nhất làsau khi chuyển đổi mô hình hoạt động từ Doanh nghiệp Nhà nước sang công ty cổphần Trên cơ sở đó, định hướng giải pháp nhằm hoàn thiện cơ cấu tổ chức và phânquyền ở Công ty đến năm 2015
Về không gian: Cơ cấu tổ chức của Công ty Cổ phần Intimex Việt Nam có thể chia
ra thành bốn khối là: khối các Ban quản lý, khối các Ban kinh doanh, khối các đơn vịtrực thuộc và khối các công ty con và công ty liên kết Hay cụ thể hơn tổ chức bộ máycủa Công ty hiện nay bao gồm 15 phòng ban trực thuộc Văn phòng công ty, 12 đơn vịtrực thuộc và 3 công ty con và công ty liên kết
Với giới hạn đề tài này chỉ nghiên cứu cơ cấu tổ chức và phân quyền của Công ty
Cổ phần Intimex Việt Nam trên địa bàn thành phố Hà Nội, em xin tập trung vàonghiên cứu vào 15 phòng ban trực thuộc Văn phòng Công ty bao gồm: khối ban quảnlý(6 tiểu ban), khối các Ban kinh doanh(4 tiểu ban) và hệ thống siêu thị Intimex ở HàNội (5 siêu thị)
Về nội dung: Nghiên cứu đề tài tập trung chủ yếu vào hai vấn đề chính, đó là cơ cấu
tổ chức và phân quyền của Công ty Cổ phần Intimex trên địa bàn Hà Nội Nội dungnghiên cứu hai vấn đề này được thể hiện qua các nội dung sau:
Thứ nhất là nội dung về hệ thống lý luận cơ bản liên quan đến cơ cấu tổ chức vàphân quyền
Thứ hai là thực trạng cơ cấu tổ chức và phân quyền của Công ty Cổ phần Intimextrên địa bàn Hà Nội
Thứ ba là các giải pháp nhằm hoàn hiện cơ cấu tổ chức và phân quyền của Công ty
Cổ phần Intimex trên địa bàn Hà Nội
Trang 41.5 Kết cấu luận văn
Ngoài phần tóm lược, lời cảm ơn, mục lục, danh mục bảng biểu, danh mục sơ đồ,hình vẽ, danh mục từ viết tắt, danh mục tài liệu tham khảo và các phụ lục, nội dungcủa luận văn tốt nghiệp đề tài “Hoàn thiện cơ cấu tổ chức và phân quyền của Công ty
Cổ phần Intimex trên địa bàn Hà Nội” gồm bốn chương như sau:
Chương 1: Tổng quan nghiên cứu đề tài.
Chương 2: Một số vấn đề lý luận cơ bản về cơ cấu tổ chức và phân quyền trong doanh nghiệp
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu và các kết quả phân tích thực trạng cơ cấu tổ chức và phân quyền của Công ty Cổ phần Intimex trên địa bàn Hà Nội.
Chương 4: Các kết luận và đề xuất giải pháp nhằm hoàn thiện cơ cấu tổ chức và phân quyền của Công ty Cổ phần Intimex trên địa bàn Hà Nội.
Trang 5CHƯƠNG 2: TÓM LƯỢC MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ CƠ CẤU
TỔ CHỨC VÀ PHÂN QUYỀN TRONG DOANH NGHIỆP.
2.1 Một số định nghĩa, khái niệm cơ bản
2.1.1 Quản trị doanh nghiệp và chức năng tổ chức trong quản trị doanh nghiệp
Quản trị là hoạt động nhằm đạt được mục tiêu một cách có hiệu quả, bằng sự phốihợp các hoạt động của những người khác thông qua hoạch định, tổ chức, lãnh đạo vàkiểm soát các nguồn lực trong tổ chức (Management Angelo Kinicki, Williams, McGraw Hill Irwin- New York 2006)
Tổ chức là quá trình xác định các công việc cần phải làm và những người làm cáccông việc đó, định rõ chức trách nhiệm vụ, quyền hạn của mỗi bộ phận và cá nhâncũng như mối liên hệ giữa các bộ phận và cá nhân này trong khi tiến hành công việc,nhằm thiết lập một môi trường thuận lợi cho hoạt động và đạt đến mục tiêu chung của
tổ chức
2.1.2 Khái niệm cơ cấu tổ chức
Cơ cấu tổ chức là tập hợp bao gồm các bộ phận (đơn vị và cá nhân) khác nhau, cómối liên hệ và quan hệ phụ thuộc nhau, chuyên môn hóa theo những mục tiêu, chứctrách, nhiệm vụ và quyền hạn nhất định nhằm đảm bảo thực hiện được các mục tiêuchung đã được xác định
- Cơ cấu tổ chức cho phép sử dụng hợp lý các nguồn lực
- Cơ cấu tổ chức cho phép xác định rõ vị trí, vai trò của các đơn vị, cá nhân cũngnhư mối liên hệ giữa các đơn vị và cá nhân này, hình thành các nhóm chính thức trong
tổ chức
- Cơ cấu tổ chức phân định rõ ràng các dòng thông tin, góp phần quan trọng trongviệc ra các quyết định quản trị
2.1.3 Khái niệm phân quyền
Phân quyền là quá trình chuyển giao nhiệm vụ và quyền hạn cho bộ phận hay cánhân trong tổ chức có trách nhiệm hoàn thành nhiệm vụ đó
- Nhiệm vụ được hiểu là những công việc hay những phần công việc mà các thànhviên trong tổ chức phải thực hiện để đạt mục tiêu
- Quyền hạn được hiểu là quyền được sử dụng các nguồn lực của tổ chức để thựchiện các nhiệm vụ
- Trách nhiệm được hiểu là nghĩa vụ phải hoàn thành nhiệm vụ và hoàn thành đúngvới yêu cầu của người giao
Trang 62.2 Một số lý thuyết của vấn đề nghiên cứu
Theo PGS.TS Lê Văn Tâm, PGS.TS Ngô Kim Thanh (2006) - Giáo trình Quản trị doanh nghiệp- NXB Đại học Kinh tế quốc dân
Cơ cấu tổ chức là hệ thống các bộ phận khác nhau có mối liên hệ và phụ thuộc lẫnnhau, được chuyên môn hóa, được giao trách nhiệm, quyền hạn và bố trí theo từng cấpnhằm thực hiện các chức năng quản trị doanh nghiệp
Phân quyền là xu hướng phân tán quyền ra quyết định trong cơ cấu tổ chức củadoanh nghiệp Nó là một khía cạnh cơ sở của giao phó quyền hạn trong quản trị
Theo PGS.TS Nguyễn Thị Liên Diệp (2006) - Quản trị học- NXB Thống kê
Cơ cấu tổ chức là sự sắp xếp các bộ phận, các đơn vị trong tổ chức thành một thểthống nhất, với quan hệ về nhiệm vụ và quyền hành rõ ràng nhằm tạo nên một môitrường nội bộ thuận lợi cho sự làm việc của mỗi cá nhân, mỗi bộ phận hướng tới hoànthành mục tiêu chung của tổ chức
Phân quyền là quá trình chuyển giao nhiệm vụ và quyền hạn cho những người (bộphận hay cá nhân) có trách nhiệm hoàn thành nhiệm vụ đó
Theo TS Chu Hoàng Hà (2007) Bài giảng Quản trị học- Học viện Hàng không Việt Nam
Cơ cấu tổ chức quản trị là một chỉnh thể các khâu, các bộ phận khác nhau, đượcchuyên môn hóa và có những trách nhiệm, quyền hạn nhất định, có mối quan hệ phụthuộc lẫn nhau và được bố trí theo các cấp quản trị nhằm thực hiện mục tiêu chung của
tổ chức
Phân quyền là xu hướng phân tán quyền ra quyết định, cơ sở của việc ủy quyền
Theo TS Đoàn Thị Hoàng Hà và TS Nguyễn Thị Ngọc Huyền (2006) Giáo trình Quản trị học, NXB Tài Chính- Hà Nội
Cơ cấu tổ chức là tổng hợp các bộ phận (đơn vị và cá nhân) có mối liên hệ và quan
hệ phụ thuộc lẫn nhau được chuyên môn hóa, có những nhiệm vụ, quyền hạn và tráchnhiệm nhất định, được bố trí theo những cấp, những khâu khác nhau nhằm thực hiệncác hoạt động của tổ chức và tiến tới những mục tiêu đã xác định
Phân quyền là xu hướng phân tán quyền ra quyết định cho những cấp quản trị thấphơn trong hệ thống thứ bậc Phân quyền là hiện tượng tất yếu khi tổ chức đạt tới quy
mô va trình độ phát triển nhất định cho một người (hay một cấp quản trị) không thểđảm đương được mọi công việc quản trị
Theo Jame H.Donnelly Jr, Jame L.Gibson và John M.Iranclevich (2001) Quản trị học căn bản- NXB Thống kê
Cơ cấu tổ chức, tương tự như các bộ phận của một cơ thể sống, tạo ra một khuônkhổ trong đó sẽ diễn ra các hành động sôi nổi và các quá trình làm việc của con người
Trang 72.3 Tổng quan tình hình khách thể nghiên cứu của những công trình năm trước
Đề tài hoàn thiện cơ cấu tổ chức và phân quyền tại các công ty được rất nhiều sinhviên lựa chọn làm đề tài để thực hiện Luận văn tốt nghiệp Sau đây em xin đưa ra một
số luận văn như vậy:
Sinh viên Lê Đức Sơn- Lớp 41A1- Trường Đại học Thương Mại với đề tài luận văn
“Hoàn thiện cơ cấu tổ chức và phân quyền tại công ty TNHH Thương mại và Sản xuất
da Đại Lợi”, năm 2009.
Luận văn đã hệ thống hóa vấn đề lý luận, giới thiệu được một số quan điểm và cáchtiếp cận của một số tác giả nước ngoài như Chester I.Barnard, Lorsch hay HaroldLeonniz Và mặc dù trên cơ sớ lý luận đó, luận văn đã đưa ra khá đầy đủ các nhân tốảnh hưởng tới cơ cấu tổ chức và phân quyền với Công ty song lại không phân tíchđược để thấy rõ sự ảnh hưởng của các nhân tố đó tới khách thể nghiên cứu Thêm vào
đó, có những số liệu được người thực hiện đưa ra nhưng lại không có sự gắn kết vớivấn đề mà chỉ mang tính liệt kê
Sinh viên Tạ Thị Chinh- Lớp 41A1- Trường Đại học Thương Mại với đề tài luận
văn “Hoàn thiện cơ cấu tổ chức và phân quyền tại công ty TNHH Đầu tư Xây dựng và Thương Mại Cường Giang”, năm 2009.
Luận văn đã đưa ra được hệ thống lý luận khá đầy đủ Tuy nhiên khi đi vào thựctrạng công ty có hai vấn đề cần chú ý Thứ nhất, khi phân tích ảnh hưởng của các nhân
tố tới cơ cấu tổ chức và phân quyền còn mang nặng lý thuyết hơn là thực tế Thứ haicác tiêu chuẩn để đánh giá về cơ cấu tổ chức và phân quyền được đưa vào trong bảnghỏi và sau đó được tổng hợp lại để làm dẫn chứng lại thiếu cụ thể, các mức độ đưađánh giá còn chưa phù hợp
Sinh viên Phạm Ngọc Phương- Lớp 42A2- Trường Đại học Thương Mại với đề tài
luận văn “Hoàn thiện cơ cấu tổ chức và phân quyền tại công ty TNHH một thành viên
In Quảng Ninh”, năm 2010.
Trên cơ sở lý luận liên quan đến cơ cấu tổ chức và phân quyền và phân tích thựctrạng tại Công ty, tác giả đã nêu ra được vấn đề tồn tại của Công ty và đưa ra đượcnhững giải pháp như: xác định rõ ràng chức năng và nhiệm vụ của các phòng ban, bốtrí và sử dụng hợp lý lao động theo đúng chuyên môn, tăng cường phối hợp hoạt độnggiữa ban lãnh đạo và các phòng ban trong công ty…Tuy nhiên, lại chỉ tập trung vào cơcấu tổ chức mà thiếu đi các đề xuất cho phân quyền trong khi có nhiều vấn đề liênquan tới công tác phân quyền được nêu ra trong phần thực trạng trước đó
Ngoài ra còn rất nhiều các đề tài khác nghiên cứu về cơ cấu tổ chức và phân quyềnsong chưa có đề tài nào đi sâu nghiên cứu thực trạng vấn đề tại Công ty Cổ phầnIntimex Luận văn về Công ty Intimex của các sinh viên các khóa trước hầu như đều
Trang 8tập trung vào giải quyết vấn đề liên quan đến hoạt động XNK của Công ty, đặc biệt làmặt hàng chủ lực nông sản với các đề tài như:
- Phát triển chiến lược cạnh tranh xuất khẩu cà phê sang Thị trường EU của Công tyXNK Intimex (Sinh viên Nguyễn Hoàng Nam –Lớp QTKD48B- Đại học Kinh tế quốcdân, năm 2010)
- Nâng cao hiệu quả tổ chức thực hiện hợp đồng Xuất khẩu cà phê tại Công ty XNKIntimex (Sinh viên Trần Tuấn Anh- Lớp 41E2- Đại học Thương Mại, năm 2009)
- Hoàn thiện quyết định Marketing sản phẩm nông sản xuất khẩu của Công ty XNKIntimex sang Thị trường các nước Asean ( Sinh viên Đỗ Cẩm Tú- Lớp MAR47A- Đạihọc kinh tế quốc dân, năm 2009)…
Với luận văn này, ngoài việc kế thừa những thành công trong việc hệ thống hóavấn đề lý luận và điều tra, phân tích thực trạng khách thể nghiên cứu của các côngtrình nghiên cứu về cơ cấu tổ chức và phân quyền em sẽ đưa vào một số điểm mới:
- Với phần lý luận: bổ sung ảnh hưởng của các nhân tố môi trường chung và đặcthù tới cơ cấu tổ chức và phân quyền
- Với phần thực tế: cụ thể hóa các tiêu chuẩn đánh giá thông qua các câu hỏi trongphiếu điều tra, gắn kết số liệu với các vấn đề, sử dụng phần mềm thống kê SPSS để hỗtrợ cho việc xử lý thông tin thu thập được từ các phiếu điều tra trắc nghiệm có sốlượng tương đối lớn Trên cơ sở đó, em sẽ đi sâu phân tích nhằm thấy rõ ảnh hưởngcủa các nhân tố môi trường tới cơ cấu tổ chức và phân quyền của Công ty Từ đó đưa
ra những đề xuất, giải pháp thực sự hữu hiệu và khả thi nhằm hoàn thiện cơ cấu tổchức và phân quyền của Công ty
2.4 Phân định nội dung nghiên cứu
2.4.1 Cơ cấu tổ chức
2.4.1.1 Một số mô hình cơ cấu tổ chức
a Mô hình tổ chức đơn giản (Mô hình trực tuyến)
Sơ đồ 2.1: Mô hình tổ chức đơn giản
- Ưu điểm: Bộ máy gọn nhẹ, chi phí quản lý thấp, kiểm soát và điều chỉnh dễ dàng.
Tổng giám đốc
Giám đốc tuyến 1 Giám đốc tuyến 2 Giám đốc tuyến 3
Trang 9- Nhược điểm: Với mô hình tổ chức này, mỗi nhà quản trị phải làm nhiều công việc
khác nhau cùng một lúc, có thể làm cho bộ máy quản trị rơi vào tình trạng quá tải Do
đó, mô hình này chỉ áp dụng đối với các doanh nghiệp có quy mô nhỏ và việc quản lýkhông quá phức tạp
b Mô hình tổ chức chức năng
Sơ đồ 2.2: Mô hình tổ chức chức năng
- Đặc điểm: Chia tổ chức thành các “tuyến” chức năng, mỗi tuyến là một bộ phận
(đơn vị) đảm nhận thực hiện một hay một số chức năng, nhiệm vụ nào đó của tổ chức.Các chức năng giống hoặc gần giống nhau được tập trung lại trong một tuyến chứcnăng như hoạt động sản xuất, nhân sự, tài chính…
- Ưu điểm: Mô hình này thúc đẩy chuyên môn hóa kỹ năng, tạo điều kiện cho mỗi
cá nhân phát huy đầy đủ năng lực, sở trường của mình, đồng thời có điều kiện để tíchlũy kiến thức và kinh nghiệm cho bản thân
Giảm bớt gánh nặng quản lý cho người lãnh đạo chung, những công việc quản lýđược chuyên môn hóa một cách sâu sắc và thành thạo hơn Thu hút được chuyên giavào công tác lãnh đạo Mô hình này cũng sẽ giúp giảm đi sự trùng lặp về nguồn lực vàvấn đề phối hợp trong nội bộ lĩnh vực chuyên môn Thúc đẩy việc đưa ra các giải phápmang tính chuyên môn và có chất lượng cao
- Nhược điểm: Chỉ có nhà quản trị cao nhất mới có trách nhiệm về lợi nhuận còn
các nhà quản trị cấp thấp hơn chỉ có trách nhiệm với bộ phận, chức năng do mình phụtrách Điều này dẫn đến sự hạn chế về tầm nhìn của họ, làm giảm tính phối hợp giữacác bộ phận chức năng và tính linh hoạt của tổ chức kém
Trang 10- Đặc điểm: Chia tổ chức thành các “nhánh”, mỗi nhánh đảm nhận toàn bộ hoạt
động kinh doanh theo các loại hoặc nhóm sản phẩm nhất định Mỗi nhánh vẫn có thể
sử dụng các bộ phận chức năng hoặc các chuyên gia chuyên môn tập hợp xung quanhcác giám đốc bộ phận để hỗ trợ hay giúp việc
- Ưu điểm: Khác với mô hình chức năng, với mô hình tổ chức này trách nhiệm lợi
nhuận thuộc về các nhà quản trị cấp dưới, rèn luyện kỹ năng tổng hợp cho họ Mô hìnhnày vừa giúp phối hợp tốt hơn giữa các bộ phận vừa linh hoạt trong việc đa dạng hóa
- Nhược điểm: Cần nhiều hơn nhà quản trị tổng hợp, công việc có thể bị trung lắp ở
các bộ phận khác nhau Thêm nữa mô hình này cũng có thể dẫn đến tình trạng khókiểm soát, cạnh tranh nội bộ về nguồn lực
d Mô hình tổ chức theo khu vực địa lý
Sơ đồ 2.4: Mô hình tổ chức theo khu vực địa lý
- Đặc điểm: Mô hình này chia tổ chức thành các nhánh, mỗi nhánh đảm nhận thực
hiện hoạt động của tổ chức theo từng khu vực địa lý.Mỗi nhà quản trị sẽ đại điện ở khuvực chịu trách nhiệm phân phối sản phẩm và dịch vụ theo một vùng địa lý cụ thể
- Ưu điểm: Cơ cấu tổ chức theo khu vực địa lý giúp các nhà quản trị cấp thấp thấy
rõ trách nhiệm của mình Thêm nữa, nó được thiết kế với sự chú ý tới những đặc điểmcủa thị trường địa phương, giúp tận dụng tốt các lợi thế theo vùng, quan hệ tốt với cácđại diện địa phương và còn tiết kiệm thời gian đi lại cho nhân viên
- Nhược điểm: Do mỗi khu vực có một giám đốc nên sẽ cần nhiều nhà quản trị tổng
hợp Công việc cũng có thể bị trùng lặp ở các khu vực khác nhau, phân tán nguồn lực
và khó khăc ho việc kiểm soát hơn
Trang 11- Đặc điểm: Cơ cấu tổ chức theo khách hàng chia tổ chức thành các nhánh, mỗi
nhánh đảm nhận toàn bộ hoạt động kinh doanh nhằm phục vụ một đối tượng kháchhàng nào đó Mỗi đơn vị khách hàng tập trung vào việc thỏa mãn nhu cầu của từngnhóm khách hàng chuyên biệt
- Ưu điểm: Tạo sự hiểu biết khách hàng tốt hơn, phục vụ các dạng khách hàng khác
nhau Toàn bộ hoạt động của tổ chức hướng vào hoạt động bán hàng để đạt được kếtquả cuối cùng Và rèn luyện kỹ năng tổn hợp cho các nhà quản trị
- Nhược điểm: Cơ cấu này tạo ra nhiều sự trùng lắp ở các bộ phận khách hàng khác
nhau, khó kiểm soát và cạnh tranh nội bộ về nguồn lực
f Mô hình tổ chức ma trận
Sơ đồ 2.6: Mô hình tổ chức ma trận
- Đặc điểm: Cấu trúc ma trận là sự kết hợp các cấu trúc tổ chức trên để tận dụng các
ưu điểm của mỗi loại và hạn chế tối đa những nhược điểm của chúng
Cấu trúc mà trận có hai hệ thống chỉ huy cặp đôi (theo chức năng và theo sản phẩmhoặc theo khu vực địa lý, theo khách hàng) vì vậy tồn tại cùng lúc hai tuyến chỉ đạotrực tuyến
- Ưu điểm: Cho phép tổ chức đạt được đồng thời nhiều mục đích, trách nhiệm của
từng bộ phận được phân định rõ, sự phối hợp các bộ phận cũng tốt hơn
Ngoài ra cấu trúc ma trận còn giúp rèn luyện kỹ năng tổng hợp cho các nhà quản trị
- Nhược điểm: Do tồn tại song song hai tuyến chỉ đạo trực tuyến nên dễ nảy sinh
mâu thuẫn trong việc thực hiện mệnh lệnh và có sự tranh chấp quyền lực giữa các bộphận
Giám đốc marketing
Giám đốc tài chính
Giám đốc nhân sự
Trang 12g Mô hình tổ chức hỗn hợp
Sơ đồ 2.7: Mô hình tổ chức hỗn hợp
- Đặc điểm: Cấu trúc tổ chức hỗn hợp cho phép kết hợp các loại cấu trúc để khai
thác hiệu quả mọi nguồn lực trong tổ chức, tận dụng các ưu điểm và khắc phục nhữnghạn chế của các cấu trúc được kết hợp
- Ưu điểm: Cho phép chuyên môn hóa một số cấu trúc tổ chức và rèn luyện cho các
nhà quản trị kỹ năng tổng hợp
- Nhược điểm: Cấu trúc tổ chức trở nên phức tạp hơn, quyền lực và trách nhiệm của
các nhà quản trị có thể bị trùng lặp nhau, tạo ra sự xung đột và khó kiểm soát
2.4.1.2 Đặc điểm và các nguyên tắc cấu trúc tổ chức trong doanh nghiệp
a Đặc điểm của cấu trúc tổ chức
- Tính tập trung: Đặc trưng này phản ánh mức độ tập trung (hay phân tán) quyền
lực của tổ chức hay bộ phận
- Tính phức tạp: Phản ánh số lượng các cấp, các khâu trong tổ chức Nếu có nhiều
cấp, nhiều khâu với nhiều mối liên hệ chức tạp, ta nói cơ cấu tổ chức có tính phức tạpcao, và ngược lại
- Tính tiêu chuẩn hóa: Đặc trưng này phản ánh mức độ ràng buộc các hoạt động,
các hành vi của mỗi bộ phận và cá nhân thông qua các chính sách và thủ tục, quy tắc,hay các nội dung, quy chế Nếu mức độ ràng buộc cao và chặt chẽ ta nói tính tiêuchuẩn hóa cao sẽ tạo ra sức mạnh cho tổ chức
Trang 13b Nguyên tắc cấu trúc tổ chức trong doanh nghiệp
Vai trò và ảnh hưởng của người quản lý với cơ cấu tổ chức doanh nghiệp là rất quantrọng, việc áp dụng một mô hình tổ chức nào đó để tiến hành hoạt động sản xuất kinhdoanh là tùy thuộc vào nhà quản trị Để xây dựng một cơ cấu hợp lý đáp ứng đầy đủmọi yêu cầu của hoạt động sản xuất kinh doanh cần phải tuân thủ một số nguyên tắc:
- Đáp ứng được yêu cầu của chiến lược sản xuất kinh doanh: Cơ cấu tổ chức xác
định công việc phải làm và làm như thế nào với một chiến lược hay các chiến lượcnhất định.Như vậy, cơ cấu tổ chức liên quan đến các quá trình thực hiện các nhiệm vụcủa doanh nghiệp
Cơ cấu tổ chức đáp ứng đáp ứng được chiến lược của công ty khi nó gắn kết được
con người với chức năng nhiệm vụ và kết nối các hoạt động của những con người vàocác bộ phận khác nhau Mỗi một chức năng trong tổ chức cần phải phát triển một nănglực gây khác biệt thông qua một hoạt động tạo giá trị theo hướng tăng hiệu quả, chấtlượng, cải tiến, và đáp ứng khách hàng Như vậy, mỗi chức năng cần có trong cơ cấu
tổ chức phải được thiết kế rõ ràng, qua đó có thể chuyên môn hóa, phát triển các kỹnăng và đạt năng suất cao hơn Và khi các chức năng trở nên chuyên môn hóa cao hơn,mỗi bộ phận lại thường theo đuổi các mục tiêu của riêng mình do vậy cần rất chú ý tớiyêu cầu truyền thông và phối hợp với các chức năng khác
- Tính tối ưu: Cơ cấu tổ chức là phương tiện để các nhà quản trị có thể phối hợp các
hoạt động giữa những chức năng hay các bộ phận khác nhau nhằm khai thác đầy đủcác kỹ năng và năng lực của họ Để có lợi ích từ sự cộng hưởng giữa các bộ phận, nhàquản trị phải thiết kế các cơ chế cho phép mỗi bộ phận có thể truyền thông và chia sẻcác kỹ năng và hiểu biết của mình
- Tính linh hoạt: Cơ cấu tổ chức hữu hiệu tạo ra tính ổn định cho công ty để nó thực
hiện thành công các chiến lược và duy trì lợi thế cạnh tranh hiện tại, đồng thời cũngcung cấp tính linh hoạt cần thiết để phát triển các lợi thế cạnh tranh cho chiến lượctương lai Nói cách khác, tính ổn định của cơ cấu cung cấp cho công ty khả năng quảntrị các công việc hằng ngày một cách kiên định và có thể dự báo trước, trong khi đótính linh hoạt của cơ cấu cung cấp các cơ hội khai thác các khả năng cạnh tranh, phân
bổ nguồn lực cho các hoạt động nhằm định dạng lợi thế cạnh tranh của công ty để nóthành công trong tương lai
- Tính tin cậy: Khi cơ cấu trực tuyến và quyền lực kéo dài, vấn đề thông tin bị bóp
méo phát sinh Đi dọc xuống phía dưới hay chuyển dịch lên phía trên của cơ cấu tổchức, các nhà quản trị ở các cấp khác nhau có thể hiểu sai thông tin, hoặc là cắt xénmột cách tình cờ các thông điệp hoặc là chủ ý phục vụ lợi ích cá nhân Trong cả haitrường hợp đó thông tin không thể không bị ảnh hưởng khi đi đến được địa chỉ của nó
Trang 14Do vậy cơ cấu tổ chức phải đảm bảo tính chính xác của thông tin trong hệ thống,nhờ đó đảm bảo được sự phối hợp nhịp nhàng giữa các hoạt động và nhiệm vụ của tất
cả bộ phận, đơn vị trong doanh nghiệp
- Tính kinh tế: Cấu trúc tổ chức phải xây dựng trên nguyên tắc giảm chi phí và nâng
cao hiệu quả kinh tế Cơ cấu càng phức tạp chí phí quản lý càng cao Khi công tychuyên môn hóa cao, các nhà quản trị càng đóng vai trò đặc biệt và càng cần cácnguồn lực để mỗi nhà quản trị thực hiện vai trò một cách hiệu lực Lúc đó càng cầnnhững nhà quản trị có trình độ cao, trả lương cao và càng cần nhiều nhân viên, cuốicùng chi phí quản lý cao
Sơ đồ 2.8: Quan hệ giữa thiết kế tổ chức và lợi nhuận 2.4.1.3 Quan điểm về hình thành cơ cấu tổ chức trong doanh nghiệp
Có nhiều quan điểm về việc hình thành nên cơ cấu tổ chức của doanh nghiệp:
Quan điểm thứ nhất: Là việc hình thành tổ chức bao giờ cũng bắt đầu từ việc xác
định mục tiêu, phương hướng phát triển Trên cơ sở này, tiến hành tập hợp cụ thể cácyếu tố của cơ cấu tổ chức và xác lập mối quan hệ qua lại giữa các yếu tố đó Đây làquan điểm theo phương pháp điễn giải đi từ tổng hợp đến chi tiết được ưng dụng đốivới những cơ cấu tổ chức quản trị đang hoạt động
Quan điểm thứ hai: Về việc hình thành cơ cấu tổ chức phải được bắt đầu từ việc mô
tả chi tiết hoạt động của các đối tượng quản trị và xác lập tất cả các mối liên hệ thôngtin, sau đó mới hình thành nên cơ cấu tổ chức Quan điểm này đi theo phương phápquy nạp từ chi tiết tới tổng hợp và được ứng dụng trong trường hợp hình thành cơ cấu
tổ chức mới
Thiết kế tổ chức
Tiết kiệm chi phí quản lý xuất
hiện do cơ cấu tổ chức Nâng cao các kỹ năng tạo giá trị của công ty
Dẫn tới lợi thế chi phí thấp Dẫn tới lợi thế khác biệt và khả
năng đòi hỏi giá cao hơn
Tăng lợi nhuận
Trang 15Quan điểm thứ ba: Là hình thành theo phương pháp hỗn hợp, nghĩa là có sự kết hợp
một cách hợp lý cả quan điểm 1 và 2 Trước hết phải đưa ra những kết luận có tínhnguyên tắc nhằm hoàn thiện hoặc hình thành cơ cấu tổ chức, sau đó mới tổ chức côngviệc nghiên cứu các bộ phận của cơ cấu, soạn thảo các điều lệ, quy chế, nội quy chotoàn bộ các bộ phận của cơ cấu đấy, đồng thời xác lập các kênh thông tin cần thiết.Như vậy, toàn bộ nhưng công việc nghiên cứu chi tiết là tiếp tục làm sáng tỏ ,cụ thểhóa những cơ cấu quản trị đã có sự quan tâm thường xuyên, có sự tổng kết, đánh giánghiêm túc và đúng đắn của chủ doanh nghiệp
2.4.2 Phân quyền trong doanh nghiệp
2.4.2.1 Các hình thức phân quyền trong doanh nghiệp
a Phân quyền theo chức năng: Là hình thức phân quyền theo các chức năng, nhiệm
vụ của tổ chức, chẳng hạn như sản xuất, cung ứng, marketing, nhân sự, tài chính…
b Phân quyền theo chiến lược: Là hình thức phân quyền cho các bậc trung gian
phía dưới để thực hiện các chiến lược, chẳng hạn như xác định giá cả, chọn lựa đầu tư,
đa dạng hóa sản phẩm…
2.4.2.2 Các yêu cầu và nguyên tắc khi phân quyền
* Nguyên tắc
- Chức trách và quyền hạn rõ ràng: nhà quản trị khi giao chức trách quyền hạn cho
người dưới quyền mình, phải có quy định rõ ràng và được công bố công khai
- Không giao quyền vượt cấp: nhà quản trị khi trao quyền, chỉ có thể trao cho từng
cấp, không thể vượt cấp
- Đảm bảo khống chế có kết quả: nhà quản trị thông qua việc định ra các tiêu
chuẩn công tác, chế độ sát hạch, chế độ báo cáo và biện pháp giám sát, đôn đốc rõ ràng
để nắm được kết quả công việc của người dưới quyền
- Ứng biến quyền hành: nhà quản trị khi giao quyền cho cấp dưới cần phải phù hợp
với tính chất, quy mô, phương pháp kiểm soát của tổ chức cũng như khả năng của họ
* Yêu cầu
- Rộng rãi với cấp dưới, sẵn sàng cho họ cơ hội để tự khẳng định mình Tuy nhiên
sự rộng rãi này không được làm mất sự uy nghiêm của nhà quản trị
- Sẵn sàng giao cho nhà quản trị cấp dưới những quyền hạn nhất định, kể cả
Trang 16- Tin tưởng vào cấp dưới Cốt lõi của vấn đề phân quyền là "Cần phải tin vào nhân
viên của mình" Người lãnh đạo doanh nghiệp cần phải trao quyền quyết định cho cáccấp càng thấp càng tốt để phát huy tính tự chủ của họ tránh trường hợp trao quyền rồi,vẫn không yên tâm, luôn nghi ngờ cấp dưới, thường xuyên can thiệp, ngăn cản việcthực thi, tự chủ của cấp dưới được trao quyền
- Chấp nhận thất bại của cấp dưới Để khai thác được tối đa nguồn lực chất xám
trong doanh nghiệp, người lãnh đạo cần phải giao quyền tự quyết định giải quyết cácvấn đề cho các cấp Họ phải học cách tự mình gỡ rối và nếm trải cả thành công lẫn thấtbại Và khi đó, nhà quản trị cần biết chấp nhận thất bại của người dưới quyền
- Biết cách kiểm tra, theo dõi tình hình thực hiện nhiệm vụ của cấp dưới Cơ cấu tổ
chức gắn con người với nhiệm vụ, vai trò và chỉ rõ cách thức những con người này kếthợp với nhau Tuy nhiên cơ cấu tổ chức không tự nó hàm chứa cơ chế động viên conngười Vì thế cần có kiểm soát, mục đích là để cung cấp cho nhà quản trị một công cụ
để hướng nhân viên làm việc hướng đến mục tiêu của tổ chức, nhận rõ các phản hồigiúp tổ chức và các thành viên của nó thực hiện tốt
2.4.2.3 Quá trình phân quyền trong doanh nghiệp
Bước 1: Xác định mục tiêu phân quyền
Các mục tiêu chính của phân quyền trong doanh nghiệp:
- Cho phép nhà quản trị cấp cao dành nhiều thời gian hơn cho các quyết định mangtính chiến lược Các nhà quản trị cấp cao giao quyền hạn cho nhà quản trị trung gian,
và các nhà quản trị cơ sở, họ giảm được sự quá tải của thông tin, tập trung vào cácquyết định chiến lược, do đó nâng cao hơn hiệu quả các quyết định của họ
- Tăng tính linh hoạt và thích ứng với các điều kiện địa phương của cơ cấu tổ chức.Phân quyền sẽ nâng cao trách nhiệm của nhà quản trị cấp thấp hơn, nhà quản trị khuvực, cho họ được quyền quyết định một cách tức thời, nhanh chóng
- Giảm chi phí quản lý Khi các nhà quản trị cấp thấp hơn được giao quyền ra cácquyết định quan trọng sẽ có ít nhà quản trị giám sát họ và nói với họ phải làm gì Ít nhàquản trị hơn kéo theo giảm chi phí quản lý
Như vậy phân quyền giúp nhà quản trị giảm nhẹ được công việc phải làm để tậptrung vào những khâu then chốt, vừa kích thích tính tự chủ, sáng tạo và tinh thần tráchnhiệm cấp dưới qua đó hoàn thành công việc trong phạm vi chức trách tốt hơn
Bước 2: Tiến hành giao nhiệm vụ
Nhà quản trị tiến hành phân quyền chính là trao quyền cho người khác để họ thaymình thực hiện (giải quyết) các nhiệm vụ Do vậy khi giao quyền phải gắn với tráchnhiệm và nghĩa vụ tương ứng
Trang 17Bước 3: Tiến hành giao quyền hạn cho người được giao nhiệm vụ
Mỗi nhà quản trị trong hệ thống tổ chức đều có quyền, trách nhiệm theo quy định vàchỉ được sử dụng quyền hạn trong phạm vi chức trách của mình Sử dụng quyền lựcphải tránh xu hướng lạm dụng hay né tránh quyền lực đều có thể hậu quả xấu
Bước 4: Tiến hành kiểm tra theo dõi việc thưc hiện nhiệm vụ
Khi phân quyền cần tránh hai xu hướng: thứ nhất là tập trung quá nhiều vào cấptrên, dẫn đến mệt mỏi, công việc không chạy, hiệu quả thấp, và thứ hai là thiếu sựkiểm soát Nhà quản trị sẽ phải giám sát việc thực hiện nhiệm vụ của người được giaoquyền để đánh giá các hoạt động xem nó có được thực hiện một cách hiệu lực và hiệuquả hay không Nhờ đó thực hiện hành động sửa chữa để cải tiến sự thực hiện nếu nókhông thực sự hữu hiệu
2.4.3 Các nhân tố ảnh hưởng tới cơ cấu tổ chức và phân quyền trong doanh nghiệp
2.4.3.1 Nhân tố chủ quan thuộc doanh nghiệp
a Chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp
Chiến lược của doanh nghiệp có thực hiện thành công hay không phụ thuộc rất lớnvào tính hữu hiệu của cơ cấu tổ doanh nghiệp Và khi chiến lược cơ bản của doanhnghiệp thay đổi theo thời gian hoạt động, cơ cấu tổ chức cũng phải thay đổi theo chophù hợp với chiến lược Trong một cuộc nghiên cứu giáo sư Alfred Chandler ở đại họcHavard, đã đưa ra kết luận: “các thay đổi trong chiến lược của doanh nghiệp dẫn đếncác thay đổi cần thiết trong cơ cấu tổ chức”, tức là “cơ cấu tổ chức phải đi theo chiếnlược hay phải phù hợp với chiến lược mới”
Sơ đồ 2.9: Mối quan hệ Cấu trúc-Chiến lược của A Chandler
Mối quan hệ này là một vòng tròn khép kín, diễn biến không ngừng Khi môitrường thay đổi, doanh nghiệp buộc phải thay đổi chiến lược của mình để thích nghi.Chiến lược chỉ có thể thực hiện thông qua cơ cấu tổ chức, mỗi loại chiến lược lại cần
có một cơ cấu tổ chức tương ứng Do đó, khi doanh nghiệp áp dụng một chiến lượcmới, các vấn đề mới về quản trị xuất hiện và cơ cẩu tổ chức cũ trở nên không còn thíchhợp nữa Lúc này buộc lòng doanh nghiệp phải thay đổi cơ cấu tổ chức nếu không sẽlàm cho hiệu quả hoạt động giảm sút Cơ cấu tổ chức mới hình thành sẽ là phương tiệnhữu hiệu để các nhà quản trị có thể phối hợp các hoạt động giữa những chức năng hay
Chiến lược mới được
hình thành
Các vấn đề mới về quản trị xuất hiện
Thành tích của doanh nghiệp bị giảm sútThành tích của doanh
nghiệp được cải thiện Tái cơ cấu tổ chức
Trang 18các bộ phận khác nhau nhằm khai thác đầy đủ các kỹ năng và năng lực của họ Và kéotheo đó phạm vi quyền hạn của các thành viên trong tổ chức cũng sẽ thay đổi để tươngthích với nhiệm vụ được giao phó.
b Chức năng và nhiệm vụ sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
Đây là cơ sở pháp lý, là căn cứ quan trọng để từng tổ chức thiết kế cấu trúc tổ chức
để đảm bảo thực hiện tốt nhất chức năng, nhiệm vụ của mình
Các hoạt động sản xuất kinh doanh trong doanh nghiệp được thể hiện bằng nhữngcông việc, chức năng cụ thể Những công việc này đòi hỏi những kỹ năng chuyênmôn, những phương tiện kỹ thuật, cách thức khác nhau trong việc sử dụng các nguồnlực cũng như phạm vi quyền hạn tương ứng để hoàn thành nhiệm vụ Cơ cấu tổ chức
và phân quyền phải thể hiện được những sự khác nhau đó Một điều rõ ràng là mộtdoanh nghiệp thương mại không thể giống một doanh nghiệp sản xuất hay doanhnghiệp dịch vụ về cơ cấu tổ chức và phân quyền
c Công nghệ của doanh nghiệp
Công nghệ của doanh nghiệp đòi hỏi hình thành tương ứng một phương thức phâncông nhiệm vụ, một phương thức kết hợp giữa các đơn vị thực hiện các nhiệm vụ.Trong doanh nghiệp, công nghệ được sử dụng càng hiện đại bao nhiêu, thiết bị càng có
xu hướng tự động hóa cao sẽ dẫn đến cấu trúc tổ chức càng giản đơn, tầm hạn của nhàquản trị cũng sẽ rộng hơn
d Quy mô của doanh nghiệp
Quy mô doanh nghiệp càng lớn, cấu trúc tổ chức càng phức tạp, bởi vì quy mô lớnđòi hỏi tổ chức phải có nhiều cấp, nhiều bộ phận, đơn vị nên tạo ra nhiều mối quan hệphức tạp trong tổ chức Và để có thể tập trung vào công tác chiến lược của công ty đòihỏi nhà quản trị cấp cao lúc này phải tăng cường ủy nhiệm, ủy quyền cho nhà quản trịcấp dưới Việc làm này vừa có thể giảm áp lực cho nhà quản trị cấp cao lại vừa pháthuy được tinh thần trách nhiệm của nhà quản trị cấp thấp hơn
e Con người và trang thiết bị
Với đội ngũ quản trị viên có trình độ, kinh nghiệm và kiến thức thì trong cơ cấu tổchức có thể giảm bớt đầu mối, giảm bớt các mối liên hệ, các bộ phận quản trị với nhau.Với lực lượng lao động, nhân viên thừa hành có năng lực, có trình độ chuyên môn,
ý thức kỷ luật cao…làm tăng khả năng làm việc độc lập, giảm việc hướng dẫn và kiểmsoát Từ đó làm tăng tầm hạn quản trị của nhà quản trị, làm cho tổ chức ít có tầng nấctrung gian
Với trang thiết bị quản trị hiện đại, đầy đủ sẽ đáp ứng tốt hơn các yêu cầu công việc,
vì thế mà cấu trúc tổ chức quản lý sẽ đơn giản hơn Tuy nhiên việc đầu tư vào trangthiết bị, đổi mới và nâng cấp hệ thống cơ sở vật chất lại phụ thuộc vào khả năng tài
Trang 19chính của doanh nghiệp Do dó, khi đưa ra các quyết định này nhà quản trị phải tínhđến việc cân đối giữa chi phí quản lý bỏ ra và hiệu quả thu được.
2.4.3.2 Nhân tố khách quan bên ngoài doanh nghiệp
a Môi trường chung
- Môi trường kinh tế: Tính không chắc chắn ẩn chứa trong các mối quan hệ nhân
quả trên trị trường, môi trường cạnh tranh năng động và nền kinh tế toàn cầu thay đổinhanh chóng là nguyên nhân chủ yếu gây ra các khó khăn cho sự tương thích của cơcấu tổ chức với mục tiêu, chiến lược của doanh nghiệp Điều này buộc doanh nghiệpkhông ngừng hoàn thiện cơ cấu tổ chức của mình đồng thời tạo cho nó tính linh hoạt
để thích nghi với hoàn cảnh
- Môi trường pháp luật: Sự hoàn thiện hệ thống văn bản pháp luật sẽ tạo ra môi
trường pháp lý bình đẳng cho các doanh nghiệp hoạt động, đảm bảo cho sự bình đẳngtrước pháp luật cho mọi loại hình doanh nghiệp, giúp doanh nghiệp phát triển, ổn định
cơ cấu tổ chức Ngược lại, nếu hệ thống pháp luật thiếu hoàn thiện, thường xuyên thayđổi buộc doanh nghiệp phải có sự điều chỉnh theo để phù hợp với pháp quy
- Môi trường chính trị- xã hội: chính trị xã hội ổn định, khuyến khích hợp tác phát
triển, chính sách kinh tế, đầu tư thông thoáng …tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh
nghiệp có thể đẩy mạnh sản xuất kinh doanh, mở rộng quy mô, hình thành cơ cấu tổchức phù hợp để thúc đẩy sự phát triển.Và ngược lại khi môi trường chính trị xã hộibất ổn, chứa đựng nhiều rủi ro hoạt động của doanh nghiệp bị giới hạn, quy mô bị cocụm lại
- Môi trường văn hóa: văn hóa, lối sống, phong tục tập quán…sẽ tác động hình
thành nên văn hóa tiêu dùng của từng vùng, quốc gia và hình thành văn hóa từngdoanh nghiệp Văn hóa tiêu dùng ảnh hưởng tới khách hàng của doanh nghiệp buộc họphải thích ứng, bao gồm cả việc lựa chọn mô hình tổ chức phù hợp với các đặc trưngriêng của các nhóm khách hàng tương ứng Và văn hóa doanh nghiệp tác động đếncách doanh nghiệp hoạt động, đến quan hệ, cách ứng xử với đối tượng bên ngoài, ảnhhưởng tới môi trường nội bộ Từ đó tác động tới cơ cấu tổ chức và phân quyền củadoanh nghiệp
b Môi trường đặc thù
- Khách hàng: là người quyết định đầu ra, nuôi sống doanh nghiệp Các yếu tố
thuộc về khách hàng như sức mua, nhu cầu, thị hiếu hay sự tín nhiệm của khách hàng
là cơ sở thông tin để ra quyết định trong hoạch định chiến lược, mục tiêu và tổ chứcphục vụ…từ đó ảnh hưởng tới việc lựa chọn mô hình cơ cấu tổ chức thích hợp Ví dụnhư với khách hàng của doanh nghiệp rất đa dạng thì nên chọn cơ cấu theo sản phẩm,nếu ổn định thì có thể chọn mô hình chức năng…
Trang 20Do vậy, cơ cấu tổ chức của cũng phải được thiết kế sao có thể hỗ trợ hữu hiệu choviệc đáp ứng ngày càng cao như cầu của khách hàng.
- Người cung ứng: là nguồn cung cấp tài chính, lao động, hàng hóa, nguyên vật liệu,
thông tin…cho doanh nghiệp Các yếu tố như số lượng nhà cung ứng, chất lượng, giá
cả của họ sẽ quyết định tính thường xuyên, đều đặn của quá trình kinh doanh, chấtlượng, giá cả, khả năng cạnh tranh của sản phẩm Do vậy, đó là cơ sở để ra các quyếtđịnh quản trị bao gồm cả về cơ cấu tổ chức và phân quyền
- Đối thủ cạnh tranh: là những doanh nghiệp thỏa mãn cùng một loại nhu cầu của
khách hàng, đó có thể là đối thủ trực tiếp hay gián tiếp, thực tế hay tiềm năng
Áp lực cạnh tranh ngày càng gia tăng, đòi hỏi các doanh nghiệp phải tập trung mọi
cô gắng để đáp ứng một cách ngày càng đầy đủ và chính xác đòi hỏi của khách hàng.Điều này dẫn đến các doanh nghiệp phải hình thành cho mình một cơ cấu tổ chức chophép khai thác lợi thế cạnh tranh hiện tại trong khi lại cho phép nó phát triển các lợithế mới
- Chính sách quản lý của Nhà nước về ngành, lĩnh vực kinh doanh của doanh nghiệp: Tùy theo mục tiêu phát triển từng thời kỳ, Nhà nước sẽ có những chính sách
tương ứng cho từng ngành nghề để vừa phát triển nền kinh tế một cách mạnh mẽ, bềnvững lại vừa hình thành cơ cấu kinh tế hợp lý, hài hòa Các chính quản lý của Nhànước có thể tác động tới doanh nghiệp như một sự hỗ trợ tích cực, tạo ra động lực cho
sự phát triển sản xuất kinh doanh từ đó ảnh hưởng tới chiến lược hay nhu cầu mở rộngquy mô hoạt động làm thay đổi cơ cấu tổ chức của doanh nghiệp Và ngược lại
Vậy, tóm lại các doanh nghiệp khi xây dựng cơ cấu tổ chức cho mình bên cạnh việcchịu ảnh hưởng của môi trường chính trị chung, thì còn phải quan tâm đến các chínhsách quản lý riêng của Nhà nước về ngành nghề kinh doanh và lĩnh vực mình đang, sẽtham gia hoạt động
Trang 21CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ CÁC KẾT QUẢ PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG CƠ CẤU TỔ CHỨC VÀ PHÂN QUYỀN TẠI CÔNG TY
CỔ PHẦN INTIMEX TRÊN ĐỊA BÀN HÀ NỘI.
3.1 Phương pháp nghiên cứu
Dữ liệu sơ cấp và thứ cấp có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với quá trình nghiêncứu các hiện tượng kinh tế xã hội Với luận văn này, để nghiên cứu thực trạng cơ cấu
tổ chức và phân quyền của Công ty Cổ phần Intimex trên địa bàn Hà Nội em đã sửdụng một số phương pháp sau đây để thu thập và phân tích dữ liệu
3.1.1 Phương pháp thu thập dữ liệu
3.1.1.1 Phương pháp thu thập dữ liệu sơ cấp
Dữ liệu sơ cấp là dữ liệu không có sẵn, người nghiên cứu phải tự mình thu thập nósao cho phù hợp với vấn đề nghiên cứu đặt ra Có nhiều phương pháp thu thập dữ liệu
sơ cấp Để đạt được hiệu quả mong muốn, trong quá trình thu thập dữ liệu sơ cấp, em
đã sử dụng phối hợp nhiều phương pháp với nhau Bao gồm:
- Phương pháp quan sát: Ghi lại có kiểm soát các sự kiện hoặc các hành vi ứng xử
của các nhà quản trị, các nhân viên làm việc trong đơn vị thực tập
- Phương pháp điều tra bằng bảng câu hỏi: Em đã xây dựng hai loại phiếu điều tra
trắc nghiệm: một cho đối tượng là nhà quản trị và một là cho nhân viên, trong đó baogồm các câu hỏi về cơ cấu tổ chức và phân quyền được sắp xếp theo logic nhất định.Sau đó gửi phiếu điều tra tới các đối tượng này trong Công ty để thu thập được nhữngthông tin cần thiết
- Phương pháp phỏng vấn: Có những vấn đề về cơ cấu tổ chức và phân quyền của
Công ty mà phiếu điều ta chưa thể làm rõ được, do vậy em đã tiến hành phỏng vấnchuyên sâu với các nhà quản trị của công ty Để thực hiện công việc này em đã xâydựng những câu hỏi dài và phức tạp hơn nhằm để người được phỏng vấn có được đầy
đủ hơn các dữ liệu về khách thể nghiên cứu
3.1.1.2 Phương pháp thu thập dữ liệu thứ cấp
- Từ phía Công ty: báo cáo kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh, báo cáo tàichính, tình hình cơ cấu lao động, kỷ yếu 30 năm thành lập
- Từ các công trình nghiên cứu trước: luận văn tốt nghiệp khóa 41 và 42 Khoa Quảntrị doanh nghiệp- Đại học Thương mại
- Từ các sách, báo, tạp chí, các Website…
3.1.2 Phương pháp phân tích dữ liệu
Đối với dữ liệu sơ cấp: trên cơ sở phiếu điều tra và kết quả phỏng vấn chuyên sâu,
dữ liệu sơ cấp được phân loại, tổng hợp và đánh giá để thu được các thông tin nhằmthấy rõ thực trạng cơ cấu tổ chức và phân quyền tại Công ty trên địa bàn Hà Nội
Trang 22Đặc biệt với bảng câu hỏi trắc nghiệm, các dữ liệu sẽ được xử lý với sự hỗ trợ củaphần mềm thống kê SPSS để thu được các kết quả chính xác hơn.
Đối với dữ liệu thứ cấp: trên cơ sở các dữ liệu thu thập được, sử dụng phương pháp
thống kê và phương pháp so sánh để phân tích Các bảng thống kê số liệu và so sánhcác chỉ tiêu về số tương đối và tương đối giữa các năm sẽ được lập để thấy được sựkhác biệt, sự thay đổi qua các năm
Từ các bảng biểu được lập, phương pháp phân tích kinh tế sẽ được sử dụng để đánhgiá sự thay đổi cũng như nguyên nhân của sự tăng giảm đó và ảnh hưởng của nó tớikhách thể nghiên cứu
3.2 Đánh giá tổng quan tình hình và ảnh hưởng của các nhân tố môi trường tới cơ cấu tổ chức và phân quyền tại Công ty Cổ phần Intimex trên địa bàn Hà Nội
3.2.1 Đánh giá tổng quan tình hình
3.2.1.1 Giới thiệu về công ty
a Giới thiệu về công ty
Tên Công ty: CÔNG TY CỔ PHẦN INTIMEX VIỆT NAM
Tên Tiếng Anh: VIETNAM INTIMEX JOINT STOCK CORPORATION
Tên Công ty viết tắt: INTIMEX
Trụ sở chính: 96 Trần Hưng Đạo - Hoàn Kiếm - Hà Nội
Điện thoại: 043.9424247/ 39424565 Fax: 043.9424250
Số đăng ký kinh doanh 0103038680 do Sở KH&ĐT Thành phố Hà Nội cấp
Công ty Cổ phần Intimex Việt Nam được Bộ Nội thương thành lập ngày 10/08/1979với tên gọi ban đầu là Công ty XNK nội thương
Trong những năm 1979 -1989: Công ty CP Intimex VN đã góp phần to lớn vàonhiệm vụ chính trị của Nhà nước giao phó và trở thành doanh nghiệp nổi tiếng và cungcấp hàng tiêu dùng nhập khẩu của các nước XHCN và thu mua hàng thủ công mỹ nghệxuất khẩu
Thời kỳ 1989 -1990: Intimex đã trở nên nổi tiếng với mọi người đi lao động, côngtác, học tập nước ngoài trở về Việt Nam thời kỳ này và hoàn thành nhiệm vụ đượcgiao phó, thu về cho Nhà nước hàng chục triệu USD mỗi năm
Thời kỳ sau năm 1998: Sau 10 năm Intimex đã trở thành nhà xuất khẩu cà phê, hạttiêu hàng đầu cả nước mỗi năm xuất khẩu từ 150.000-200.000 tấn cà phê, từ 10.000-15.000 tấn tiêu, chiếm 20% xuất khẩu cà phê ở Việt Nam và 15% tiêu của cả nước trởthành doanh nghiệp xuất khẩu nổi tiếng trong ngành thương mại cũng như trong vàngoài nước
Năm 2006 có 3 đơn vị của Intimex cổ phần hoá thành công và phát triển mạnh trởthành doanh nghiệp có doanh thu lớn thứ 5 trong 500 doanh nghiệp tư nhân lớn nhất
Trang 23Việt năm 2008 Tháng 7/2009, Công ty Intimex đã cổ phần hóa thành công và pháttriển mạnh trở thành doanh nghiệp có doanh thu lớn.
Ngành nghề kinh doanh của Intimex rất đa dạng bao gồm:
+ Kinh doanh dịch vụ siêu thị
+ Kinh doanh, chế biến hàng nông, thủy, hải sản, thực phẩm, thủ công mỹ nghệ.+ Nuôi trồng giống thủy, hải sản
+ Kinh doanh nguyên liệu, vật liệu xây dựng, sắt thép, trang thiết bị y tế
+ Mua bán đá quý, thuốc lá nội, thức ăn chăn nuôi, giống thủy, hải sản, phân bón.+ Kinh doanh phương tiện vận tải, sản xuất, gia công, lắp ráp xe máy
+ Kinh doanh dịch vụ viễn thông (không bao gồm thiết lập mạng)
+ Lữ hành nội địa, lữ hành quốc tế và các dịch vụ phục vụ khách du lịch (khôngbao gồm kinh doanh quán bar, phòng karaoke, vũ trường)
+ Kinh doanh khách sạn, nhà ở, cho thuê văn phòng, cửa hàng, kho bãi
+ Dịch vụ chuyển khẩu, chuyển tải hàng hóa
+ Xây dựng các công trình dân dụng, công nghiệp, giao thông, thủy lợi, hạ tầng đôthị, khu công nghiệp, công trình cấp thoát nước
+ Sản xuất, gia công hàng may mặc
+ Xuất nhập khẩu các sản phẩm, hàng hóa Công ty kinh doanh
Sau hơn 30 năm xây dựng và trưởng thành, Công ty đã từng bước vượt qua khókhăn, với thành tích nổi bật trong hoạt động xuất khẩu, động kinh doanh siêu thị vàphân phối bán buôn cũng như những đầu tư đúng hướng vào sản xuất chế biến hàngnông sản Intimex đã vươn lên khẳng định vị trí là một trong những doanh nghiệp kinhdoanh thương mại chủ lực của toàn ngành
b Kết quả kinh doanh của Công ty trong 3 năm 2008-2010
Đây là giai đoạn có khá nhiều sự biến động của Intimex, năm 2008 trong khi đangphải giải quyết hậu quả của CPH lần đầu thất bại năm 2007 do có những vi phạm Luậtchứng khoán, để lại những ảnh hưởng xấu cho Công ty không chỉ về tài chính và cả vềtinh thần của người lao động, công ty lại phải đối mặt với tác động của suy thoái kinh
tế toàn cầu
Sang năm 2009, nên kinh tế Việt Nam cũng trải qua nhiều khó khăn khi mà các nềnkinh tế lớn rơi vào tình trạng suy thoái đã thu hẹp thị trường XNK và thị trường vốncủa Việt Nam Khi vẫn còn nhiều khó khăn trong tình hình chung như vậy nhưngCông ty vẫn quyết đinh tiến hành CPH lần 2 và đã thành công Song qua hai lần cổphần hóa làm cho chi phí tăng lên rất cao, ảnh hưởng lớn tới lợi nhuận của công ty Đến 2010 khi mà kinh tế cả nước có nhiều khởi sắc, Intimex cũng đã đạt được sựtăng trưởng đáng chú ý
Trang 25Kết quả kinh doanh của Công ty năm 2009 là lỗ và đến 2010 lãi thuần có tăng lạinhưng vẫn còn rất thấp Nhìn vào bảng kết quả kinh doanh ta nhận thấy nguyên nhâncủa việc này chính là trong khi các khoản mục doanh thu đều giảm vào năm 2009 rồităng lại vào năm 2010 thì các đầu mục chi phí đều tăng qua ba năm Cụ thể:
Chi phí tài chính: từ năm 2008 sang năm 2009 tăng hơn 80 %, và đến năm 2010 vẫn
duy trì ở mức cao Xuất phát điểm của sự tăng vọt khoản mục chi phí này là việc Công
ty mẹ tiến hành CPH Mặt khác, trong khi Công ty do thiếu vốn nên đang phải sử dụngmột lượng lớn vốn vay ngân hàng để phục vụ hoạt động sản xuất kinh doanh, thì Cơquan thuế lại tiến hành thủ tục bàn giao vốn rất chậm nên chưa hoàn thành việc bàngiao vốn Nhà nước sang Công ty cổ phần Điều này càng làm gia tăng áp lực lãi vaycho Công ty, làm giảm hiệu quả hoạt động kinh doanh
Chi phí bán hàng: bán hàng và cung cấp dịch vụ là hoạt động mang lại doanh thu
chính cho Công ty và đồng thời cũng đòi hỏi nhiều chi phí nhất Nhưng ta có thể nhậnthấy khi so sánh tương quan giữa sự tăng trưởng doanh thu của hoạt động này với sựgia tăng chi phí có sự không tương xứng, có nghĩa là mặc dù Công ty đầu tư khá nhiềunguồn lực cho hoạt động này nhưng hiệu quả của nó lại không cao
Chi phí quản lý doanh nghiệp: năm 2009 so với 2008 có sự tăng nhỏ 0,45% nhưng
năm 2010 so với 2009 lại tăng tới 24,33% Bên cạnh việc do tiền điện, nước phụ trội
do bị cắt điện luân phiên và phải sử dụng năng lượng thay thế, thì sau khi CPH tháng7/2009 Công ty phải tiến hành tổ chức lại bộ máy của mình, tiến hành bổ nhiệm, điềuchuyển cán bộ giữa các đơn vị, tuyển dụng và đào tạo để bổ sung nhân lực vào vị trícòn khuyết…Điều này làm gia tăng đáng kể các chi phí quản lý doanh nghiệp
3.2.1.2 Tổng quan tình hình cơ cấu tổ chức và phân quyền của Công ty Cổ phần Intimex trên địa bàn Hà Nội
Như đã giới thiệu ở phần đầu của luận văn, cơ cấu tổ chức của Công ty Cổ phầnIntimex Việt Nam chia thành khối các Ban quản lý, khối các Ban kinh doanh, khối cácđơn vị trực thuộc và khối các công ty con và công ty liên kết Với giới hạn đề tài nàychỉ nghiên cứu cơ cấu tổ chức và phân quyền của Công ty Cổ phần Intimex Việt Namtrên địa bàn thành phố Hà Nội bao gồm 15 ban trực thuộc Văn phòng Công ty baogồm: khối các Ban quản lý (6 tiểu ban), khối các Ban kinh doanh (4 tiểu ban) và hệthống siêu thị Intimex ở Hà Nội (5 siêu thị)
Trong năm 2009, cùng với việc CPH thì công tác cán bộ cũng được bố trí, sắp xếp,điều động cho phù hợp Trên cơ sở kế thừa từ khối văn phòng đến các đơn vị trựcthuộc, mặc dù đã có nhiều thay đổi theo hướng hợp lý hóa song cơ cấu tổ chức và phânquyền tại Công ty Cổ phần Intimex nói chung và trên địa bàn Hà Nội nói riêng vẫn còntồn tại nhiều bất cập và hạn chế cần phải giải quyết
Trang 26Về cơ cấu tổ chức, mô hình tổ chức của Công ty Cổ phần Intimex trên địa bàn HàNội là mô hình hỗn hợp, là sự kết hợp của mô hình tổ chức trực tuyến và chức năng.Tuy nhiên với cơ cấu tổ chức này lãnh đạo công ty lại phải giải quyết thường xuyênmối quan hệ giữa các phòng ban và khối lượng công việc của ban lãnh đạo là khá lớn.Các phòng ban được xây dựng khá đầy đủ, chuyên môn hóa các chức năng song sựphối hợp giữa các phòng ban trong Công ty chưa chặt chẽ, mỗi phòng ban lại quá tậptrung vào mục tiêu riêng của mình tạo ra khó khăn trong việc hợp tác và truyền thông.Thêm nữa, Công ty lại chưa có cơ chế quản lý phù hợp, chưa xây dựng được một hệthống các quy chế hoàn chỉnh để định hướng hoạt động cho toàn thể Công ty.
Về phân quyền, Công ty tiến hành phân quyền theo chức năng, mỗi Ban trong Công
ty sẽ có phạm vi quyền hạn tương ứng để thực hiện công việc, nhiệm vụ của mình.Song trên thực tế, hiện tại quyền lực lại đang tập trung quá lớn vào ban lãnh đạo, vàoTổng giám đốc của Công ty Việc này làm gia tăng áp lực công việc cho nhà quản trịcấp cao, vừa không thể tập trung cao cho công tác chiến lược lại vừa phải đưa ra quánhiều quyết định làm ách tắc công việc Trong khi đó, các nhà quản trị cấp thấp hơn lạithiếu đi điều kiện để phát huy tính chủ động, sang tạo cũng như thể hiện tinh thần tráchnhiệm trong công việc
3.2.2 Ảnh hưởng của nhân tố môi trường tới cơ cấu tổ chức và phân quyền tại Công ty Cổ phần Intimex trên địa bàn Hà Nội
3.2.2.1 Nhân tố bên trong
* Chiến lược và mục tiêu của Công ty: Đẩy mạnh xuất khẩu là một trong những
nhiệm vụ trọng tâm của Công ty nhằm kịp thời thích ứng với chính sách chung củaNhà nước, mặt khác tạo ra nguồn ngoại tệ nhập khẩu cho Công ty Lấy xuất khẩu,trong đó xuất khẩu nông sản là mũi nhọn để đột phá tăng trưởng và mở rộng quy môkimh doanh, Công ty đã rất quan tâm tới việc đầu tư phát triển Ban kinh doanh Đểtăng sự quản lý tập trung nhằm làm bộ phận kinh doanh XNK hoạt động thực sự cóhiểu quả, Công ty đã tiến hành sát nhập các phòng kinh doanh Từ 9 phòng kinh doanh
trước đây, hiện nay chỉ còn 3 Ban kinh doanh Không chỉ dừng lại ở kinh doanh xuất
nhập khẩu, Công ty đã xác định thị trường nội địa là một tiềm năng vô cùng to lớn và
sẽ quyết định sự thành bại trong các hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty tronggiai đoạn hội nhập kinh tế quốc tế Do vậy song song với các hoạt động xuất nhậpkhẩu, Công ty thực hiện chiến lược phát triển hệ thống bán buôn, bán lẻ và chuỗi siêuthị nhằm chiếm lĩnh thị trường nội đia Công ty đã thành lập Trung tâm Thương mạiIntimex trên cơ sở sáp nhập ba đơn vị: Trung tâm thương mại dịch vụ tổng hợp, xínghiệp thương mại dịch vụ tổng hợp và phòng kinh Xuất nhập khẩu số 9 của công tyMặc dù đã thu được những thành công nhất định song đến cuối năm 2009, với mụcđích tập trung nguồn lực cho công tác quản lý mạng lưới siêu thị Công ty đã có bước
Trang 27chuyển trong việc xóa bỏ khâu quản lý trung gian Trung tâm thương mại bị giải tán,thay vào đó hình thành hai ban mới là: Ban quản lý siêu thị, Ban kho vận và bán buôn,
và các siêu thị trở thành đơn vị chịu sự quản lý trực tiếp của Ban Tổng giám đốc
* Chức năng và nhiệm vụ sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp: Công ty Cổ phần
Intimex Việt Nam hiện nay, tiền thân là Công ty Xuất nhập khẩu Nội thương và Hợptác xã, trực thuộc Bộ Nội thương (Bộ Công Thương), được tổ chức theo quyết định
217 TTg ngày 23/6/1979 của Thủ tướng Chính phủ và quyết định 58 NT/QĐ ngày10/08/1797 của Bộ Nội thương Với nhiệm vụ kinh doanh XNK dưới hình thức traođổi hàng hóa nội thương và hợp tác xã với các nước XHCN và một số nước khác
Là một DNNN, chịu sự quản lý trực tiếp của Bộ Công Thương trên tất cả các mặtcủa hoạt động sản xuất kinh doanh, bao gồm cả các vấn đề về xây dựng cơ cấu tổ chứccũng như bổ nhiệm nhân sự vào các vị trí chủ chốt
Tháng 7/2009, sau lần thất bại năm 2007 thì lần này công ty đã cổ phần hóa thànhcông Đây là một bước chuyển biến mới, từ doanh nghiệp 100% vốn Nhà nước chuyểnsang Công ty Cổ phần với vốn Nhà nước chỉ còn 49%, làm cho chủ sở hữu trongdoanh nghiệp trở nên đa dạng hơn Ngay sau đó Công ty đã tiến hành tổ chức lại côngtác cán bộ, sắp xếp, điều chuyển, bổ nhiệm nhân sự vào các vị trí trong Công ty Vàhiện tai đề án tái cấu trúc của Công ty đang được xây dựng để sớm đưa vào thực hiện
* Công nghệ của doanh nghiệp: Với việc hoạt động trên nhiều lĩnh vực là kinh
doanh XNK, kinh doanh siêu thị và nhất là kinh doanh khai thác cơ sở vật chất và sảnxuất, Công ty Intimex đã trang bị các loại thiết bị văn phòng, các phần mềm quản lý,các thiết bị thi công…tuy nhiên các loại thiết bị này đã lạc hậu Điều này ảnh hưởng
không nhỏ tới cơ cấu tổ chức của công ty Đơn cử là phần mền quản lý siêu thị hiện
nay đã lạc hậu, không đáp ứng được yêu cầu quản lý về số liệu như: trưng bày hànghóa, quản lý nhập hàng, quản lý hàng tồn kho…theo xu hướng của bán lẻ hiện đại làmgia tăng công việc cho nhà quản lý và số nhân viên cần để thực hiện các nghiệp vụ nàycũng tăng lên đáng kể
* Quy mô của doanh nghiệp: Khi mới thành lập, tổ chức của Công ty bao gồm một
giám đốc và 20 cán bộ, nhân viên căng ra với công việc, vừa làm, vừa học, tự bổ túckiến thức ngoại thương để tự hoàn thiện nhằm đảm trách được hoạt động của Công ty Đến nay, sau hơn 30 năm hoạt động Intimex đã mở rộng quy mô ra gấp nhiều lần.Năm 2008 được xếp là doanh nghiệp thứ 49 trong Top 500 doanh nghiệp lớn nhất ViệtNam( Theo bảng VNR500 do báo Vietnamnet và Công ty Viêt Nam Report lập).Intimex đã không chỉ hoạt động trong lĩnh vực XNK mà đã mở rộng sang kinh doanhnội địa với hệ thống siêu thị, phân phối bán buôn, không chỉ hoạt động trong ngànhthương mại mà còn chuyển hướng đầu tư sang cả hoạt động sản xuất nông sản
Trang 28Cùng với việc mở rộng quy mô hoạt động như vậy, cơ cấu tổ chức của công ty đã
có rất nhiều thay đổi qua các thời kỳ Chỉ nói riêng trên địa bàn Hà Nội, từ chưa đến
30 người đảm đương tất cả các công việc thì đến nay với hàng trăm nhân viên, cácphòng ban được thành lập, được chuyên môn hóa chức năng, cơ cấu tổ chức và phânquyền được thay đổi theo hướng thích nghi với thực tiễn sản xuất kinh doanh
* Con người và trang thiết bị
Bảng 3.2: Cơ cấu lao động trong Công ty theo trình độ
giảm tính phối hợp giữa các bộ phận và tính linh hoạt của tổ chức kém
Về nhân viên công ty trên địa bàn Hà Nội, bao gồm 125 nhân viên ở khối phòngban và hơn 600 ở hệ thống siêu thị Nhìn chung nhân viên của công ty có ý thức kỷluật cao, hiểu về công việc của mình song năng lực và trình độ chuyên môn khôngđồng đều, khả năng làm việc độc lập không cao Điều này dẫn đến việc cần nhiều hơnnhà quản trị trung gian để hướng dẫn và quyền hành giao cho nhân viên cũng sẽ hạnchế hơn
Trang thiết bị của Công ty chưa ứng dụng công nghệ hiện đại vào hoạt động quản
lý, hệ thống máy tính chưa được tích hợp với các phần mềm quản lý hiện đại…để đápứng yêu cầu ngày càng cao của việc quản lý Công ty Do đó, tạo ra không ít khó khăncho nhà quản trị, làm gia tăng số lao động cần thiết cho cùng một đầu công việc
3.2.2.2 Nhân tố bên ngoài
a Môi trường chung
* Môi trường kinh tế: Trong nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần vận hành theo
cơ chế thị trường, thêm nữa Việt Nam đã chính thức là thành viên của tổ chức thươngmại quốc tế WTO, điều đó có nghĩa hội nhập và toàn cầu hóa là xu thế của kinh tế Việt
Nam nói chung và các doanh nghiệp Việt Nam nói riêng Đặc biệt với một doanh
Trang 29nghiệp lấy XNK làm mũi nhọn phát triển như Công ty Intimex thì một yêu cầu đặt ra
là luôn phải hoàn thiện cơ cấu tổ chức bộ máy quản trị sao cho phù hợp với điều kiệnthị trường để duy trì và khẳng định vị trí của mình trên thương trường
Năm 2010, mặc dù kinh tế thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng đã có nhiềukhởi sắc sau khủng hoảng song vẫn còn tềm ẩn nhiểu rủi ro, đặt ra những thách thứckhông nhỏ cho Công ty Điều này càng đòi hỏi Intimex càng phải nhanh chóng hoànthành đề án tái cấu trúc đang còn dang dở nhằm hình thành một cơ cấu tổ chức và phânquyền thực sự hợp lý và hữu hiệu
* Môi trường pháp luật: Hệ thống pháp luật Việt Nam ngày càng hoàn thiện và
phù hợp hơn, đảm bảo sự công bằng cho mọi loại hình doanh nghiệp, tạo ra môitrường pháp lý giúp doanh nghiệp phát triển, ổn định về cơ cấu tổ chức
Cùng với quá trình Cổ phần hóa DNNN, hệ thống các văn bản pháp lý về CPH cũng
đã liên tiếp được sửa đổi, bổ sung để ngày càng hoàn thiện hơn, phù hợp hơn: xác định
rõ hơn mục tiêu CPH, mở rộng đối tượng có quyền mua CPH lần đầu, cho phép sửdụng phương pháp khác nhau để xác định giá trị doanh nghiệp, xoá bỏ cách CPH
“khép kín” trong nội bộ doanh nghiệp, khuyến khích việc bán cổ phần ra bên ngoàinhằm thu hút vốn từ bên ngoài xã hội, thu hút nhà đầu tư có tiềm lực, thực hiện việcbán cổ phần ra bên ngoài bằng hình thức đấu giá, sửa đổi, bổ sung một số giải phápkhắc phục những khó khăn bất cập để giải quyết triệt để hơn vấn đề xử lý tài chính, laođộng dôi dư, vấn đề cổ đông sáng lập, chính sách ưu đãi về thuế cho doanh nghiệp sauCPH Và chính đây là một trong những nhân tố quan trọng giúp Công ty CPH thànhcông sau lần thất bại năm 2007, tạo ra những biến chuyển lớn trong cơ cấu tổ chức vàphân quyền của Công ty
* Môi trường chính trị xã hội: Việt Nam là nước có nền chính trị xã hội ổn định,
nhà nước chủ trương giao cho các doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế quyền được tựhạch toán để phát huy tính tự chủ của mình, luôn khuyến khích sự hợp tác phát triển,
các chính sách kinh tế, đầu tư thông thoáng …tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh
nghiệp có thể đẩy mạnh sản xuất kinh doanh, mở rộng quy mô
Bất kì chính sách kinh tế nào cũng tác động đến các vấn đề xã hội Thực tế nàyđúng với quá trình chuyển các DNNN thuần tuý thay vào đó là các doanh nghiệp đa sởhữu với sự hội tụ của các thành phần kinh tế khác nhau CPH tác động đến các vấn đề
xã hội ở nhiều phương diện, ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi của nhiều đối tượng xãhội, làm phát sinh những mối quan hệ mới Một trong những mục tiêu của chính sáchCPH là thay đổi cơ cấu quản lí của doanh nghiệp cho hợp lí và hiệu quả hơn, trong đó
có việc sắp xếp lại quy trình sản xuất kinh doanh Những thay đổi này đã và chắn chắn
sẽ kéo theo sự thay đổi lớn trong cơ cấu tổ chức cũng như phân quyền của Công ty Từkhi CPH thành công 7/2009 đến nay đã có hàng loạt những thay đổi trong cơ cấu,
Trang 30trong công tác cán bộ của Công ty Và trong thời gian tới, Intimex đang cố gắng xâydựng để sớm đưa vào thực hiện đề án tái cấu trúc Công ty.
* Môi trường văn hóa: Việt Nam có hàng ngàn cái chợ, chợ mọc lên khắp nơi, từ
những chợ tạm, chợ tự phát tới những chợ rất nổi tiếng như Đồng Xuân, Đông Ba hayBến Thành…Nhưng dù quy mô khác nhau thì cung cách mua bán vẫn như thế Điềunày hình thành nên văn hóa tiêu dùng đặc trưng của người Việt Để tham gia vào thịtrường bán lẻ thông qua hệ thống siêu thị Intimex buộc phải tính đến tác động khôngnhỏ của nhân tố văn hóa tiêu dùng này
Intimex là một trong những doanh nghiệp đi đầu với việc kinh doanh siêu thị, nhắc
đến Intimex người ta nghĩ ngay tới siêu thị Nơi đây cung cấp từ những hàng hóathông dụng, phổ thông tới chuyên dụng bởi sự tiện lợi của khách hàng là phương châmphục vụ của Siêu thị Intimex Ban đầu, để tạo ra sự thuận lợi cho việc phát triển lĩnhvực kinh doanh mới, Công ty đã hình thành Trung tâm Thương mại, là đơn vị chuyêntrách, quản lý hệ thống siêu thị Trung tâm thương mại có quyền độc lập xây dựngchiến lược phát triển, tùy theo sự thay đổi của của các nhân tố môi trường, kháchhàng…để đưa ra các quyết định nhanh chóng, kịp thời.Trong thời gian hoạt động 8năm từ 2001, mặc dù đã có nhiều đóng góp cho việc kinh doanh siêu thị, song khi màngười tiêu dùng Việt Nam đã quen với việc tiêu dùng sản phẩm trong hệ thống bán lẻhiện đại, khi mà thị trường bán lẻ Việt Nam mở cửa làm gia tăng đáng kể những đốithủ cạnh tranh nước ngoài thì trung gian quản lý này lại chưa thể tạo ra được lợi thếcạnh tranh cho người vốn dĩ đi tiên phong như Intimex Và đến 2009 Công ty quyếtđịnh xóa bỏ Trung tâm thương mại để tập trung nguồn lực cho việc phát triển, gia tăngkiểm soát tới hiệu quả kinh doanh siêu thị
b Môi trường đặc thù
* Khách hàng: Công ty Intimex với nhiệm vụ khởi điểm là trao đổi hàng hóa với
các nước XHCN theo Nghị định thư của Chính phủ, khi nền kinh tế chuyển sang cơchế thị trường, Công ty buộc phải tự tìm kiếm cho mình những khách hàng, đối tácmới Hiện nay khách hàng của Intimex vô cùng đa dạng bởi các lĩnh vực kinh doanhcủa Công ty, bao gồm cả khách hàng nội địa và nước ngoài, khách hàng cá nhân và tổchức Mỗi loại khách hàng sẽ có nhu cầu khác nhau, đặt ra cho Công ty bài toán phảithỏa mãn tối đa các yêu cầu khác nhau của khách hàng đó, hình thành nhiều đầu côngviệc mang tính đặc thù Kéo theo đó, cơ cấu tổ chức và phân quyền của công ty cũngphải được xây dựng sao cho có thể hỗ trợ hiệu quả cho việc đáp ứng ngày càng caonhu cầu của khách hàng
Với lĩnh vực kinh doanh chủ lực là xuất nhập khẩu, để đáp ứng được tốt nhất yêucầu của các đối tác công ty đã hình thành nên nhiều phòng kinh doanh Tính đến thờiđiểm trước năm 2001 công ty có 9 phòng Khi Công ty có thêm lĩnh vực kinh doanh
Trang 31mới là kinh doanh siêu thị, phòng kinh doanh số 9 đã được chuyển sang Trung tâmthương mại Intimex Đến năm 2009, sau khi cổ phần hóa, Công ty lại tiếp tục cónhững thay đổi lớn, thay vì có quá nhiều phòng kinh doanh tạo ra sự cồng kềnh cho bộmáy, có quá nhiều trung gian trong quản lý, vừa không mang lại hiệu quả cao cho hoạtđộng kinh doanh lại vừa tăng chi phí, Công ty đã quyết đinh sáp nhập các phòng kinhdoanh lại thành 3 ban chuyên về các hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu, hình thànhban kho vận và bán buôn chuyên về kinh doanh nội địa , xóa bỏ Trung tâm Thươngmại đồng thời thành lập Ban quản lý siêu thị để hỗ trợ TGĐ quản lý chuỗi siêu thị củaCông ty.
* Nguồn cung ứng: tương tự như khách hàng của Công ty, do đặc thù các lĩnh vực
hoạt động của nên nguồn cung ứng của Công ty cũng rất đa dạng Công ty chủ yếunhập khẩu từ nước ngoài về các trang thiết bị, máy móc…Với nguồn cung trong nước,ngoài phần hàng thu mua từ các doanh nghiệp khác, từ các hộ nông dân…thì một phầnquan trọng chính là những sản phẩm mà Công ty làm ra như các loại thủy, hải sản…Tuy nhiên, trong thời gian gần đây giá nguyên liệu đầu vào tăng cao, nguồn cung,một số mặt hàng không ổn định Để duy trì nguồn cung ứng thường xuyên, ổn định cácmặt hàng, nhất là nông sản Công ty đã liên tục đầu tư vào các dự án phát triển các khunuôi trồng thủy hản sản, các vùng nguyên liệu…làm đầu và khối lượng công việc tănglên khá nhiều Điều này buộc các nhà quản trị công ty phải quan tâm hơn tới việc đàotạo, phát triển nhân viên để họ có thể hoạt động độc lập hơn, hiệu quả hơn
Bên cạnh đó chi phí hoạt động tăng cao do phải liên tục đào tạo lao động, tiền điện,nước cũng bị phụ trội nhiều do bị cắt điện luân phiên và phải sử dụng năng lượng thaythế…ảnh hưởng tới các đơn hàng xuất khẩu, tới hoạt động của hệ thống siêu thị Điềunày buộc Công ty phải đưa ra những phương án thay đổi trong đó có cả về tổ chức vàphân quyền để duy trì sự thường xuyên, ổn định của quá trình kinh doanh và khả năngcạnh tranh của sản phẩm Cơ cấu tổ chức của Công ty phải được thay đổi theo hướngvừa gọn nhẹ vừa hiệu quả, thích hợp với thực tế
* Đối thủ cạnh tranh: Việc nuớc ta tích cực chủ động hội nhập kinh tế thế giới thể
hiện rõ hơn trong việc gia nhập các tổ chức kinh tế thế giới và khu vực Tất cả nhữngbước tiến sâu vào hội nhập kinh tế đều dẫn đến thị trường mở và chế độ tự do thươngmại Điều này đồng nghĩa với việc các doanh nghiệp phải cạnh tranh mới tồn tại, cạnhtranh ngay trên thị trường nội địa và thị trường quốc tế
Xét riêng trên địa bàn Hà Nội, điều chúng ta nghĩ đến đầu tiên khi nhắc đến Intimex
đó là hệ thống siêu thị, song ta nhận thấy rằng siêu thị Intimex đang mất đi lợi thế củangười đi tiên phong khi đối mặt với sự ra đời của hàng loạt hệ thống siêu thị của cácdoanh nghiệp trong và ngoài nước khác Để tạo thuận lợi, thời gian trước Công ty đãgiao quyền quản lý kinh doanh hệ thống siêu thị tại Hà Nội cho Trung tâm Thương
Trang 32mại Intimex Tuy nhiên bên cạnh những thành tích đạt được thì có nhiều vấn đề tồn tại
mà Trung tâm này không thể giải quyết được Đó là việc hiệu quả kinh doanh tuy cónhưng không tương xứng với tiềm năng và do không đồng đều về doanh thu và lợinhuận giữa các siêu thị Hơn nữa, trước sức ép cạnh tranh ngày càng mạnh, một sốsiêu thị đã không kịp thích ứng nên bị thua lỗ trong nhiều năm Đến 2009 mại để tậptrung nguồn lực cho công tác quản lý hệ thống siêu thị Công ty quyết định xóa bỏTrung tâm Thương mại, hình thành Ban quản lý siêu thị để hỗ trợ TGĐ
Thống kê cho thấy, hệ thống phân phối tổng hợp hàng tiêu dùng ở Việt Nam hiệnnay bao gồm gần 9.000 chợ trên toàn quốc, hệ thống bán lẻ hiện đại có khoảng 70trung tâm thương mại - trung tâm mua sắm, hơn 400 các loại siêu thị và hàng trăm cửahàng tiện lợi khác Không chỉ phải cạnh tranh với những doanh nghiệp trong nước vớinhững tên tuổi lớn như Hapro Mart, Saigon Co.op, Fivimart, Citimart,…mà Công tycòn cả những tên tuổi lớn trên thế giới Intimex phải vừa duy trì được lợi thế cạnhtranh hiện tại và vừa phát triển năng lực cạnh tranh mới Việc xóa bỏ đi khâu trunggian trong quản lý là Trung tâm Thương là chưa đủ để tạo ra bước ngoặt làm gia tăngsức cạnh tranh cho hệ thống siêu thị của Công ty
* Chính sách quản lý Nhà nước về ngành, lĩnh vực kinh doanh
Với khởi điểm là một DNNN chỉ tham gia hoạt động xuất nhập khẩu, khi chính sáchphát triển thương mại của Việt Nam có nhiều sự thay đổi nhằm hội nhập ngày càngsâu hơn vào nền kinh tế thế giới tạo nền tảng để kinh tế Việt Nam phát triển bền vữngtrong tương lai, chính sách quản lý ngành thương mại của Nhà nước trở nên thôngthoáng hơn, điều này vừa tạo thuận lợi cho Công ty hợp tác với các doanh nghiệp nướcngoài, cơ hội mở rộng thị trường ra quốc tế, song lại vừa làm gia tăng áp lực cạnhtranh từ các công ty nước ngoài…Thực hiện mục tiêu chủ động một phần hàng cungứng đồng thời tăng giá trị các mặt hàng xuất khẩu góp phần nâng cao hiệu quả hoạtđộng này, Công ty đã đầu tư vào các hoạt động sản xuất như nuôi trồng, chế biến thủyhải sản, gia công hàng may mặc… Theo sau đó, cùng với sự quan tâm đến phát triểnthị trường bán lẻ trong nước đã tạo thuận lợi cho Công ty đầu tư kinh doanh mảng siêuthị, và kết quả là hệ thống siêu thị Intimex đã được hình thành…Tuy nhiên việc thamgia quá nhiều lĩnh vực kinh doanh đã đặt ra nhiều vấn đề trong quản trị cho Công ty
Bộ phận quản lý siêu thị, đầu tư và xây dựng cơ bản, kho vận và bán buôn đã đượchình thành song đây không phải là các bộ phận chuyên trách quản lý từng mảng hoạtđộng kinh doanh của công ty, các phòng ban chỉ dừng lại ở mức tham mưu cho TGĐ
mà quyền hành còn rất hạn chế Hơn nữa sự hiểu biết cũng như khả năng quản lý củanhà quản trị, tác nghiệp của nhân viên ở những lĩnh vực kinh doanh mới còn khá hạnchế
Trang 333.3 Kết quả phân tích dữ liệu sơ cấp về cơ cấu tổ và phân quyền tại Công ty Cổ phần Intimex trên địa bàn Hà Nội
3.3.1 Kết quả điều tra thông qua bảng câu hỏi
Để tìm hiểu cụ thể các vấn đề còn tồn tại của công ty trong cơ cấu tổ chức và phânquyền, em đã gửi đi 40 phiếu và thu lại 36 phiếu trong đó có 11 phiếu dành cho nhàquản trị và 25 phiếu dành cho đối tượng là nhân viên Công ty Cổ phần Intimex đanglàm việc trên địa bàn Hà Nội Kết quả tổng hợp các phiếu điều tra này như sau:
3.3.1.1 Về cơ cấu tổ chức của Công ty Cổ phần Intimex trên địa bàn Hà Nội
a Đặc điểm của cơ cấu tổ chức
Bảng 3.3: Kết quả đánh giá về các đặc điểm cơ cấu tổ chức của Công ty
5.Hệ thống các tiêu chuẩn công
việc, chế độ sát hạch, báo cáo
Qua kết quả thống kê cho thấy đa số nhà quản trị và nhân viên đều cho rằng cơ cấu
tổ chức của Công ty hiện nay là chưa hợp lý, chưa mang tính hữu hiệu Trong khi tỷ lệđánh giá sự đầy đủ các phòng ban cũng chỉ là 63, 6% và 36, 4% còn lại cho rằng cònthiếu, thì ngay trong sự sắp xếp nhân lực trong các phòng ban cũng bất hợp lý Có 44%cho là đủ, 28% cho là thiếu và 28% còn lại lại cho là thừa
Có tới 75% đối tượng được điều tra cho rằng hệ thống tiêu chuẩn công việc, chế độsát hạch, báo cáo là thiếu đẩy đủ rõ ràng, gần 60% có mong muồn gia tăng quyền hạn.Điều này chứng tỏ tính tập trung của cơ cấu tổ chức Công ty khá cao trong khi đó tínhtiêu chuẩn hóa lại thấp
b Đánh giá về mức độ đáp ứng các nguyên tắc cấu trúc tổ chức
* Đáp ứng yêu cầu chiến lược
Trang 34Bảng 3.4: Kết quả đánh giá mức độ đáp ứng yêu cầu chiến lược
1.Thích ứng với chiến lược
4.Mức độ chuyên môn hóa
trong công việc
cá biệt của mình để góp phần thực hiện chiến lược của Công ty
* Tính tối ưu
Bảng 3.5: Kết quả đánh giá tính tối ưu của cơ cấu tổ chức
Từ kết quả ở Bảng 3.7 ta đã nhận thấy sự thiếu hợp lý trong cơ cấu tổ chức thể hiện
ở số lượng phòng ban và số lượng nhân viên trong các phòng ban đó Đến bảng 3.5 talại thấy, cơ cấu tổ chức của Công ty chưa hình thành được một cơ chế phối hợp tốt, sựphối hợp nhân viên trong nội bộ các phòng ban và với phòng ban khác chưa thật hàihòa, hiệu quả Do vậy cơ cấu tổ chức hiện tại này còn nhiều vấn đề bất cập
* Tính linh hoạt
Bảng 3.6: Kết quả đánh giá tính linh hoạt của cơ cấu tổ chức
1.Sự phối hợp nhân viên trong phòng Tốt 13/25 52
Trang 354.Sự phối hợp với nhân viên phòng khác (Bảng 3.5) -
-Sự phối hợp các nhân viên trong mỗi bộ phận của Công ty được đánh giá khá tốt,điều này tạo cho cơ cấu tổ chức có sự ổn định trong việc thực hiện công việc hằngngày Song, tuy là các chức năng của công ty được coi là phụ thuộc nhau nhưng lạichưa có sự kết hợp chặt chẽ Điều này sẽ gây khó khăn cho việc phối hợp nhất là khi
có những sự thay đổi trong chiếc lược, làm giảm tốc độ phản ứng thích nghi với sựbiến động của môi trường kinh doanh, đẫn đến giảm lợi thế cạnh tranh của công ty
* Tính tin cậy
Bảng 3.7: Kết quả đánh giá tính tin cậy của cơ cấu tổ chức
* Tính kinh tế
Từ các bảng kết quả trên ta nhận thấy: thứ nhất cơ cấu tổ chức Công ty chưa hợp lý,tính hiệu quả không cao, có vấn đề về phối hợp giữa các phòng ban, khó khăn trongviệc truyền thông…Và đây đều là nhân tố làm phát sinh chi phí quản lý, giảm tínhkinh tế của cơ cấu tổ chức Công ty Hơn nữa, cơ cấu này chưa góp phần trong phần tạo
ra lợi thế cạnh tranh cho công ty, làm ảnh hưởng tới kết quả kinh doanh, lợi nhuận
c Nhân tố ảnh hưởng
Bảng 3.8: Kết quả đánh giá sự ảnh hưởng các nhân tố tới cơ cấu tổ chức và
phân quyền của Công ty
Trang 36I Môi trường chung
3 Môi trường chính trị- xã hội 7/36 18/36 11/36
II Môi trường đặc thù
III Nhân tố thuộc doanh nghiệp
1 Chiến lược và mục tiêu của công ty 3/36 22/36 11/36
2 Chức năng và nhiệm vụ sản xuất
kinh doanh của cty
16/36 20/36
4 Công nghệ sản xuất kinh doanh 6/36 18/36 12/36
- Môi trường chung: môi trường pháp luật được các đối tượng đánh giá cao hơn môitrường kinh chính trị- xã hội và văn hóa
- Môi trường đặc thù: Nhân tố khách hàng là nhân tố quan trọng hơn trong nhómnày song cũng chỉ dừng lại ở mức độ 4
- Nhân tố thuộc doanh nghiệp: Thay vì chiến lược thì chức năng nhiệm vụ và quy
mô công ty mới là nhân tố được đánh giá là có ảnh hưởng lớn tới cơ cấu tổ chức vàphân quyền của Công ty Nhân tố con người và trang thiết bị cũng được đánh giá khácao
3.3.1.2 Về phân quyền của Công ty Cổ phần Intimex trên địa bàn Hà Nội
a Đánh giá về mức độ đáp ứng các nguyên tắc phân quyền
Bảng 3.9: Kết quả đánh giá mức độ đáp ứng các nguyên tắc phân quyền
Trang 37Chưa rõ ràng 19/36 52,78
-4.Tương ứng giữa nhiệm vụ
với quyền hạn và trách nhiệm
Thêm nữa, với hệ thống tiêu chuẩn công việc, chế độ sát hạch, báo cáo chưa đầy đủ,thiếu rõ ràng sẽ không đảm bảo việc khống chế có kết quả
b Đánh giá về mức độ thỏa mãn các yêu cầu trong phân quyền
Bảng 3.10: Kết quả đánh giá độ đáp ứng các yêu cầu phân quyền
Theo kết quả thì sự tín nhiệm có mức độ trong giao quyền ở Công ty được đánh giá
là đảm bảo cao nhất chiếm hơn 80% Trong khi đó việc sử dụng người một cách tincậy là 50%, sự tín nhiệm lẫn nhau chỉ có 38,88% và số đối tượng được hỏi có mongmuốn gia tăng quyền hạn lên tới 55,56% Điều này thể hiện mức độ tập trung quyềnlực ở công ty còn khá cao, nhà quản trị cấp cao chưa thực sự tin tưởng, sẵn sàng giaoquyền cho người cấp dưới
3.3.2 Kết quả phỏng vấn
Để thu thập được những thông tin một cách đầy đủ và chính xác hơn về cơ cấu tổchức và phân quyền của Công ty trên địa bàn Hà Nội, em đã tiến hành phỏng vấn trựctiếp Ông Thái Sơn- Giám đốc Ban Kinh tế tổng hợp Kết quả được tổng hợp như sau:Ông Sơn cho biết mô hình tổ chức của Công ty Cổ phần Intimex hiện nay là môhình công ty mẹ-con, xét riêng trên địa bàn Hà Nội thì có thể nói là hỗn hợp, kết hợp
mô hình trực tuyến và chức năng Tuy nhiên cơ cấu còn nhiều điểm chưa hợp lý, gây
ra các cản trở cho công tác quản lý, ảnh hưởng tới kết quả kinh doanh của Công ty.Trong khi loại hình doanh nghiệp của Công ty đã thay đổi, chuyển từ DNNN sangcông ty cổ phần thì cơ cấu tổ chức lại chưa thay đổi kịp để thích nghi Mặc dù đã có sự