1.2 Mục tiêu của đề tài Khảo sát biến động thành phần loài động vật phiêu sinh trong khu vực tôm lúa ở Tân Phú Đông – Tiền Giang nhằm tìm hiểu tác động của mô hình nuôi tôm lúa đến sự b
Trang 1TÂN PHÚ ĐÔNG - TIỀN GIANG
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP CHUYÊN NGÀNH NUÔI TRỒNG THỦY SẢN
2013
Trang 2TÂN PHÚ ĐÔNG - TIỀN GIANG
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP CHUYÊN NGÀNH NUÔI TRỒNG THỦY SẢN
Cán bộ hướng dẫn:
PGs, Ts VŨ NGỌC ÚT
Trang 3
LỜI CẢM ƠN
Qua quá trình học tập tại trường Đại học Cần Thơ, tôi đã học được rất nhiều kiến thức quý báu không chỉ trong chuyên ngành của mình mà còn từ những lĩnh vực khác
Bài luận văn được hoàn thành là một quá trình làm việc cố gắng của tôi với sự giúp đỡ nhiệt tình của quý thầy cô và các bạn
Trước tiên tôi xin chân thành cảm ơn tới thầy Vũ Ngọc Út đã trực tiếp hướng dẫn và giúp đỡ tận tình suốt quá trình nghiên cứu và thực hiện đề tài
Xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến toàn thể quý thầy cô Khoa Thủy Sản – Đại Học Cần Thơ, đã truyền đạt những kiến thức quý báu, tạo điều kiện giúp
đỡ tôi trong thời gian học tập nghiên cứu cũng như trong quá trình làm đề tài
Cuối cùng, tôi xin chân thành cảm ơn tới thầy cô bộ môn Thủy sinh học ứng dụng, các hộ nuôi tại các địa điểm thu mẫu cùng toàn thể các bạn lớp nuôi trồng thủy sản khóa 36 đã giúp đỡ tôi trong suốt thời gian nghiên cứu cũng như hoàn thành bài luận văn này, một lần nữa tôi xin chân thành cảm ơn
Cần thơ ngày tháng năm 2013 Sinh viên thực hiện
Nguyễn Thanh Trọng
Trang 4
TÓM TẮT
Khảo sát biến động thành phần loài động vật phiêu sinh trong khu vực tôm lúa
ở Tân Phú Đông – Tiền Giang được thực hiện nhằm làm cơ sở cho việc đánh giá tác động của mô hình tôm-lúa lên môi trường xung quanh Đề tài được tiến hành qua việc thu mẫu động vật phiêu sinh và một số chỉ tiêu thủy lý hóa như nhiệt độ, pH, NO2
, NO3 -, DO, COD, TN, TP, trên hệ thống kênh cấp thoát nước của khu vực tôm-lúa và trên ruộng nuôi Mẫu được thu hàng tháng tại 3 điểm đầu, giữa, cuối của hệ thống kênh và điểm tương ứng trên ruộng nuôi Mẫu động vật phiêu sinh sau khi cố định với 4% formalin được đưa về phân tích tại Phòng Thủy sinh vật, Khoa Thủy sản, Đại học Cần Thơ Tương tự,
-mẫu thủy lý hóa được phân tích tại Phòng phân tích chất lượng nước Kết quả
phân tích đã xác định được tổng cộng 83 loài động vật phiêu sinh thuộc 4 nhóm chính là Protozoa, Rotifera, Cladocera và Copepoda Trong hệ thống ruộng nuôi ghi nhận được 64 loài và hệ thống kênh dẫn có 67 loài Một số loài
thường xuyên xuất hiện trong thủy vực thu mẫu gồm Tintinnopsis sp.,
Brachionus plicatilis, Calanus sp., Balanus amphitrite (ấu trùng chân tơ)
Ngoài ra ấu trùng nauplius (copepoda) và ấu trùng chữ D (hai mảnh vỏ) cũng thường xuyên xuất hiện với số lượng lớn Mật độ động vật phiêu sinh trung bình qua các đợt thu mẫu là 69.565 cá thể/m3 trong đó ở hệ thống kênh dẫn mật độ động vật phiêu sinh trung bình là 67.264 cá thể/m3 và trong ruộng nuôi
là 71.865 cá thể/m3 Copepoda là nhóm chiếm tỉ lệ cao nhất trong thành phần
và mật độ loài ở tất cả các đợt thu mẫu, tiếp đến là Rotifera và Protozoa thấp nhất là Cladocera
Trang 5
MỤC LỤC Trang LỜI CẢM ƠN i
TÓM TẮT ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC BẢNG vii
DANH MỤC HÌNH vii
PHẦN I GIỚI THIỆU 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục tiêu của đề tài 2
1.3 Nội dung của đề tài 2
PHẦN II: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
2.1 Điều kiện tự nhiên khu vực nghiên cứu 3
2.2 Vai trò của động vật Phiêu sinh 4
2.3 Sự phân bố và biến động quần thể động vật phiêu sinh 4
2.4 Một số nghiên cứu khác về biến động thành phần loài động vật phiêu sinh và quan trắc sinh học 5
PHẦN III: VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 8
3.1 Vật liệu nghiên cứu 8
3.1.1 Vật liệu thu mẫu và hóa chất cố định mẫu 8
3.1.2 Vật liệu phân tích mẫu 8
3.2 Phương pháp nghiên cứu 8
3.2.1 Thời gian 8
3.2.2 Chu kì thu mẫu 8
3.2.3 Địa điểm thu mẫu 8
3.3 Phương pháp thu và xử lý mẫu động vật phiêu sinh 9
3.3.1 Phương pháp thu 9
3.3.2 Phương pháp phân tích và xử lý mẫu 11
PHẦN IV: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 13
4.1 Môi trường 13
4.1.1 Biến động nhiệt độ khu vực thu mẫu 13
4.1.2 Biến động pH tại khu vực thu mẫu 13
4.1.3 Biến động độ mặn khu vực thu mẫu 14
Trang 6
4.1.4 Biến động COD khu vực thu mẫu 15
4.1.5 Biến động DO khu vực thu mẫu 15
4.2 Thành phần loài và sự biến động của thành phần loài động vật phiêu sinh ở hệ thống kênh dẫn 16
4.2.1 Thành phần loài động vật phêu sinh ở hệ thống kênh dẫn 16
4.2.2 Biến động thành phần loài động vật phiêu sinh ở kênh dẫn trong các đợt thu mẫu 17
4.2.3 Biến động thành phần loài động vật phiêu sinh ở kênh theo từng điểm thu trong các đợt thu 19
4.3 Mật độ động vật phiêu sinh và sự biến động Mật độ động vật phiêu sinh ở hệ thống kênh dẫn 21
4.3.1 Mật độ động vật phiêu sinh ở hệ thống kênh dẫn 21
4.3.2 Biến động mật độ động vật phiêu sinh ở hệ thống kênh dẫn 23
4.3.3 So sánh mật độ động vật phiêu sinh ở từng điểm thu mẫu trong hệ thống kênh dẫn 24
4.4 Thành phần loài và sự biến động của thành phần loài động vật phiêu sinh ở hệ thống ruộng nuôi 25
4.4.1 Thành phần loàiđộng vật phiêu sinh ở hệ thống ruộng nuôi 25
4.4.2 Biến động thành phần loài động vật phiêu sinh ở ruộng nuôi 26
4.4.3 Biến động thành phần loài động vật phiêu sinh ở từng địa điểm trong ruộng nuôi 27
4.5 Mật độ động vật phiêu sinh và sự biến động Mật độ động vật phiêu sinh ở ruộng nuôi 29
4.5.1 Mật độ động vật phiêu sinh ở ruộng nuôi 29
4.5.2 Biến động mật độ động vật phiêu sinh trong ruộng nuôi qua các đợt thu mẫu 30
4.5.3 So sánh mật độ động vật phiêu sinh ở từng điểm thu mẫu trong hệ thống ruộng nuôi 31
4.6 So sánh thành phần loài động vật phiêu sinh ở kênh dẫn và ruộng nuôi32 4.7 So sánh mật độ động vật phiêu sinh ở kênh dẫn và ruộng nuôi 33
PHẦN V: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT 34
5.1 Kết luận 34
5.2 Đề xuất 34
TÀI LIỆU THAM KHẢO 35
PHẦN VI: PHỤ LỤC 37
Trang 7
Phụ lục 1: Kết quả phân tích các yếu tố thủy lý hóa qua các đợt thu mẫu từ tháng 2 đến tháng 9 năm 2013 37
Phụ lục 2: Kết quả định tính tháng 2 38
Phụ lục 3: Kết quả định tính tháng 3 39
Phụ lục 4: Kết quả định tính tháng 4 41
Phụ lục 5: Kết quả định tính tháng 5 41
Phụ lục 6: Kết quả định tính tháng 6 42
Phụ lục 7: Kết quả định tính tháng 7 42
Phụ lục 8: Kết quả định tính tháng 8 43
Phụ lục 9: Kết quả định tính tháng 9 44
Phụ lục 10: Thành phần loài động vật phiêu sinh qua các dợt thu mẫu ở hệ thống kênh dẫn 45
Phụ lục 11: Biến động thành phần loài động vật phiêu sinh ở hệ thống kênh dẫn qua các đợt khảo sát 45
Phụ lục 12: Biến động thành phần loài động vật phiêu sinh ở kênh 1 45
Phụ lục 13: Biến động thành phần loài động vật phiêu sinh ở kênh 2 46
Phụ lục 14: Biến động thành phần loài động vật phiêu sinh ở kênh 3 46
Phụ lục 15: Thành phần loài động vật phiêu sinh trong ruộng nuôi 46
Phụ lục 16: Biến động thành phần loài động vật phiêu sinh trong ruộng nuôi .47
Phụ lục 17: Biến động thành phần loài động vật phiêu sinh ở điểm ruộng 1 .47
Phụ lục 18: Biến động thành phần loài động vật phiêu sinh ở điểm ruộng 2 .47
Phụ lục 19: Biến động thành phần loài động vật phiêu sinh ở điểm ruộng 3 .48
Phụ lục 20: Kết quả định lượng tháng 2 49
Phụ lục 21: Kết quả định lượng tháng 3 49
Phụ lục 22: Kết quả định lượng tháng 4 50
Phụ lục 23: Kết quả định lượng tháng 5 50
Phụ lục 24: Kết quả định lượng tháng 6 51
Phụ lục 25: Kết quả định lượng tháng 7 51
Phụ lục 26: Kết quả định lượng tháng 8 52
Phụ lục 27: Kết quả định lượng tháng 9 52
Phụ lục 28: Thành phần loài động vật phiêu qua các đợt thu mẫu 53
Trang 8
Phụ lục 29: Mật độ động vật phiêu sinh ở từng kênh dẫn qua từng đợt thu mẫu 53 Phụ lục 30: Mật độ động vật phiêu sinh ở từng ruộng nuôi qua từng đợt thu mẫu 54 Phụ lục 31: Kết quả định lượng động vật phiêu sinh qua các đợt thu mẫu ở
hệ thống kênh 55 Phụ lục 32: Kết quả định lượng động vật phiêu sinh qua các đợt thu mẫu ở ruộng nuôi 55 Phụ lục 33: Biến động mật độ động vật phiêu sinh qua các đợt thu mẫu ở hệ thống kênh dẫn 55 Phụ lục 34: Biến động mật độ động vật phiêu sinh qua các đợt thu mẫu ở ruộng nuôi 56 Phụ lục 35: So sánh thành phần loài động vật phiêu sinh kênh dẫn và ruộng nuôi 56 Phụ lục 36: So sánh về mật độ động vật phiêu sinh kênh dẫn và ruộng nuôi 56
Trang 9
DANH MỤC BẢNG Bảng 4.1: Mật độ động vật phiêu sinh trung bình ở hệ thống kênh dẫn 22
Bảng 4.2: Mật độ động vật phiêu sinh trung bình ở hệ thống ruộng nuôi 29
DANH MỤC HÌNH Hình 3.1: Sơ đồ địa điểm thu mẫu tại xã Phú Tân huyện Tân Phú Đông tỉnh Tiền Giang 9
Hình 3.2: Phương pháp thu định tính động vật phiêu sinh 10
Hình 3.3: Phương pháp thu định lượng động vật phiêu sinh 10
Hình 4.1 Biến động nhiệt độ khu vực nuôi tôm – lúa 13
Hình 4.2 Biến động pH khu vực nuôi tôm – lúa 14
Hình 4.3 Biến động độ mặn khu vực nuôi tôm – lúa 14
Hình 4.4 Biến động COD khu vực nuôi tôm – lúa 15
Hình 4.5 Biến động DO khu vực nuôi tôm – lúa 16
Hình 4.6: Biểu đồ thành phần loài động vật phiêu sinh ở hệ thống kênh dẫn qua thời gian thu mẫu 16
Hình 4.7: Biến động thành phần loài động vật phiêu sinh của kênh dẫn qua thời gian thu mẫu 18
Hình 4.8: Biến động thành phần loài động vật phiêu sinh ở kênh 1 qua các đợt thu mẫu 19
Hình 4.9: Biến động thành phần loài động vật phiêu sinh ở kênh 2 qua các đợt thu mẫu 20
Hình 4.10: Biến động thành phần loài động vật phiêu sinh ở kênh 2 qua các đợt thu mẫu 21
Hình 4.11: Biến động mật độ động vật phiêu sinh trung bình ở hệ thống kênh dẫn qua các đợt thu mẫu 23
Hình 4.12: Mật độ động vật phiêu sinh trung bình của 3 điểm thu mẫu trong hệ thống kênh dẫn 24
Hình 4.13: Thành phần loài động vật phiêu sinh ở hệ thống ruộng nuôi 25
Hình 4.14: Biến động thành phần loài động vật phiêu sinh ở ruộng nuôi 26
Hình 4.15: Biến động thành phần loài động vật phiêu sinh ở điểm ruộng 1 27
Hình 4.16: Biến động thành phần loài động vật phiêu sinh ở điểm ruộng 2 28
Hình 4.17: Biến động thành phần loài động vật phiêu sinh ở điểm ruộng 3 28
Hình 4.18: Biến động mật độ động vật phiêu sinh trung bình ở hệ thống ruộng nuôi qua các đợt thu mẫu 30
Trang 10
Hình 4.19: Mật độ động vật phiêu sinh trung bình của 3 điểm thu mẫu trong hệ thống ruộng nuôi 31 Hình 4.20: So sánh thành phần loài động vật phiêu sinh ở hệ thống kênh dẫn
và ruộng nuôi 32 Hình 4.21: So sánh mật độ động vật phiêu sinh trung bình ở kênh dẫn và ruộng nuôi 33
Trang 11Nghề nuôi tôm ở khu vực ĐBSCL rất đa dạng với nhiều hình thức và mức độ phát triển khác nhau tùy theo điều kiện sinh thái và điều kiện xã hội của từng vùng như nuôi tôm quảng canh, quảng canh cải tiến, thâm canh, Trong đó
mô hình tôm-lúa kết hợp đang đem lại lợi nhuận khá cao cho người dân và được xem là một trong những mô hình bền vững ở ĐBSCL
Tại Tiền Giang, diện tích phát triển mô hình tôm-lúa tập trung ở dự án nuôi ở huyện Tân Phú Đông Năm 2006, mô hình nuôi tôm - lúa được bắt đầu với diện tích trên 8 ha với sản lượng tôm trung bình khoảng 300-500kg/ha Hiện nay, diện tích nuôi kết hợp tôm-lúa phát triển lên khoảng hơn 40 ha, sản lượng tôm cũng được nâng lên 700-1000kg/ha Trung bình mỗi hecta sản xuất theo
mô hình kết hợp lúa tôm, người dân nơi đây thu được lợi nhuận trung bình từ 20-25 triệu đồng (http://www.tiengiang.gov.vn,2006)
Kết quả nuôi tôm phụ thuộc vào nhiều yếu tố, trong đó yếu tố môi trường có ảnh hưởng rất lớn, quyết định sự phát triển bền vững Trong mô hình tôm-lúa, sau vụ tôm các chất thải hữu cơ có thể được hấp thụ, xử lý bởi cây lúa giúp cho môi trường sạch hơn, tôm nuôi trong hệ thống này có thể khỏe và phát triển tốt hơn
Hiện nay, việc đánh giá các yếu tố môi trường ngoài việc dựa trên các yếu tố thủy lý hóa còn dựa vào các nhóm thủy sinh vật Phương pháp dựa vào các nhóm sinh vật chỉ thị này gọi là phương pháp quan trắc sinh học, trong đó các sinh vật chỉ thị đóng vai trò như giám sát viên liên tục, có thể trả lời những câu hỏi mang tính gián đoạn mà nhiều khi những phân tích lý học, hóa học không phát hiện được (Nguyễn Dương Thạo và ctv, 2007) Sinh vật chỉ thị trong môi trường nước bao gồm nhiều loại khác nhau, tuy nhiên, động vật phiêu sinh (zooplankton) là nhóm chịu sự tác động trực tiếp, điển hình từ những biến đổi của các yếu tố môi trường Vì vậy biến động của thành phần loài động vật nổi trong môi trường nuôi trồng thủy sản là cơ sở khách quan để
Trang 12
đánh giá chất lượng môi trường nước đồng thời nhằm tìm hiểu tác động của
mô hình nuôi tôm lúa đến sự biến động của nhóm động vật nổi
1.2 Mục tiêu của đề tài
Khảo sát biến động thành phần loài động vật phiêu sinh trong khu vực tôm lúa
ở Tân Phú Đông – Tiền Giang nhằm tìm hiểu tác động của mô hình nuôi tôm lúa đến sự biến động của nhóm động vật phiêu sinh làm cơ sở cho việc xây dựng các chương trình quan trắc sinh học trong tương lai ở ĐBSCL
1.3 Nội dung của đề tài
- Xác dịnh thành phần và số lượng giống loài động vật phiêu sinh (zooplankton) ở khu vực tôm lúa Tân Phú Đông – Tiền Giang
- Khảo sát một số chỉ tiêu môi trường ảnh hưởng đến sự biến động của các nhóm động vật phiêu sinh như nhiệt độ, pH, NO2
, NO3-, DO, COD, TN,
-TP, TSS,…
Trang 13
PHẦN II: TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 Điều kiện tự nhiên khu vực nghiên cứu
Tiền Giang là tỉnh ở cuối nguồn sông Cửu Long, có khoảng 32km bờ biển, có
hệ thống sông rạch phủ rộng khắp địa bàn và khoảng 120km chiều dài thuộc sông Tiền đổ ra biển Đông Do đó tỉnh Tiền Giang có nguồn lợi thủy sản phong phú, đa dạng về thành phần giống loài, gồm cả loài nước ngọt, nước lợ, mặn… có nhiều điều kiện thuận lợi cho việc khai thác, nuôi trồng và chế biến thủy sản Diện tích nuôi thủy sản tỉnh Tiền Giang là: 10.765 ha, sản lượng 46.570 tấn/năm (theo sở NN&PTNT Tiền Giang, 2011)
Tân Phú Đông là huyện mới thành lập, còn non trẻ và nằm trên địa bàn khó khăn nhất của tỉnh Tiền Giang Huyện bao gồm cù lao Lợi Quan, cồn Bà và hệ thống các cù lao; cồn bãi khác nằm kẹp giữa hai vàm Cửa Tiểu và Cửa Đại tiếp giáp với biển Đông Điều kiện thiên nhiên, khí hậu, thủy văn khắc nghiệt, trở ngại cho sản xuất và đời sống, bởi phần lớn thời gian trong năm vùng đất này bị nhiễm mặn, thiếu nước ngọt dùng cho sinh hoạt, sản xuất cũng như phải đối phó với bão tố, thiên tai Tuy nhiên, Tân Phú Đông cũng có nhiều lợi thế
về phát triển đa dạng sinh học mà trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản là những thế mạnh quan trọng tạo động lực thúc đẩy kinh tế - xã hội phát triển Toàn huyện có trên 2,000 ha đất trồng lúa, trên 2,900 ha đất trồng cây lâu năm, trong đó có trên 800 ha đất trồng cây ăn trái Bên cạnh, Tân Phú Đông còn có trên 3,800 ha mặt nước nuôi trồng thủy sản, gồm những đối tượng nuôi có giá trị kinh tế cao: tôm sú, tôm thẻ, cua biển, các loại cá nước ngọt và lợ, sò huyết, nghêu Đặc biệt vùng bãi bồi nằm giữa hai vàm Cửa Tiểu và Cửa Đại tiếp giáp với biển Đông vốn là mỏ nghêu giống và vùng nuôi trồng thủy sản tập trung lớn nhất huyện (http://www.tiengiang.gov.vn)
Hiện nay, mô hình nuôi luân canh tôm - lúa ở huyện Tân Phú Đông đang tăng nhanh về diện tích và sản lượng Đây là mô hình nuôi trồng thủy sản bền vững, bước đầu đem lại hiệu quả khả quan do hạn chế việc sử dụng hoá chất, hạn chế dịch bệnh trên tôm, giảm chi phí sản xuất lúa (do sử dụng chất hữu cơ
từ vụ nuôi tôm trước), ổn định môi trường sinh thái Năng suất lúa bình quân của mô hình này đạt khoảng 5,1 tấn/ha và tôm đạt khoảng 200 - 300 kg/ha, tính ra nông dân có lợi nhuận trung bình từ 20 - 25 triệu đồng/ha (Cổng thông tin điện tử Tiền Giang, 2011)
Trang 14
2.2 Vai trò của động vật Phiêu sinh
Động vật phiêu sinh là một mắt xích trong chuỗi thức ăn tự nhiên, là nguồn thức ăn có giá trị dinh dưỡng cao và không thể thiếu cho ấu trùng tôm cá
Trong đó ngành Rotifera có Brachionus plicatilis, Brachionus angulanis,…
Bộ Cladocera có Moina micrura, Moina macrocopa và Daphnia rosea,
Daphnia plex, Daphnia magna… đang được nuôi sinh khối làm thức ăn cho
ấu trùng cá tôm Bên cạnh đó trong lớp phụ Copepoda, các giai đoạn ấu niên
và trưởng thành của bộ Cyclopoida được sử dụng làm thức ăn cho cá chép và
ấu trùng tôm cá khác Đặc biệt ấu trùng Nauplius là thức ăn rất quan trọng cho giai đoạn ấu trùng cá biển Ngoài ra, động vật nổi còn có khả năng lọc sạch môi trường nước, giảm chất hữu cơ do đặc tính ăn lọc của nó và khả năng loại
bỏ chất độc Mặt khác, chúng còn là sinh vật chỉ thị giúp chúng ta có thể đánh giá sự biến động chất lượng nước trong thuỷ vực
Kariya (1957) cho rằng khả năng phát triển của tôm, cá con bằng thức ăn tự nhiên tốt hơn thức ăn nhân tạo và toàn bộ trọng lượng của tôm cá sẽ cao hơn
10 lần, so với khi chúng sử dụng thức ăn nhân tạo
Theo Anderson và ctv, (1987) trong ao nuôi tôm thẻ chân trắng (Penaeus
vannamei) với mật độ thả 20 con/m3 xác định rằng thức ăn nhân tạo chỉ cung
cấp 23% – 47% lượng tăng trưởng của tôm, lượng cacbon còn lại được cung cấp từ các loại thức ăn tự nhiên trong ao
2.3 Sự phân bố và biến động quần thể động vật phiêu sinh
Do sự phong phú về số lượng cũng như thành phần loài nên sự phân bố của động vật nổi cũng rất đa dạng, chúng có thể sinh trưởng và phát triển ở nhiều loại hình thủy vực khác nhau Theo kết quả của hồ Thanh Hải, (1995) thì có
390 loài động vật không xương sống nước ngọt ở phía Nam Việt Nam gồm: Protozoa 160 loài; Rotifera 37 loài; Polychaeta 25 loài; Cladocera 42 loài; Copepoda 33 loài; Isopoda 5 loài; Decapoda- Brachiura 14 loài; Mollusca-Gastropoda 5 loài; Mollusca-Bivalvia 35 loài; Ephemeroptera 34 loài
Những nghiên cứu về thủy vực tự nhiên như: khảo sát vào năm 2006 của Phạm Thị Anh Đào và ctv, về “Hiện trạng thủy sinh vật ở một số nhánh sông trong lưu vực Sông cầu” có kết quả như sau:
Về thành phần động vật phiêu sinh có 56 loài thuộc các nhóm Protozoa, Rotifera, Copepoda, cladocera, Ostracoda, ấu trùng côn trùng và một số nhóm khác Với tỉ lệ tương ứng là: Copepoda 24%, cladocera 50%, Rotifera 16%, Ostracoda 10% (kết quả khảo sát vào tháng 11/2006) Trong khi đó kết quả khảo sát trong tháng 09/2006 của nhóm nghiên cứu thì xác định được: Nhóm
Trang 15Nghiên cứu của Đặng Ngọc Thanh và ctv (2002) đã tổng kết được 170 loài động vật thủy sinh, trong đó Copepoda 62 loài, Cladocera 50 loài, tôm cua nước ngọt 57 loài Các dẫn liệu còn cho thấy đặc tính nhiệt đới của thành phần loài thể hiện ở sự kém phong phú về thành phần loài giáp xác Conchostraca, Isopoda, Amphipoda nước ngọt
Ngoài ra sự phân bố của quần thể động vật phiêu sinh còn phụ thuộc vào độ mặn của môi trường nước cũng như theo nghiên cứu của Nguyễn Hữu Lộc (2003), “Khảo sát sự biến động của phiêu sinh vật trong ao nuôi tôm sú thăm canh thông qua ảnh hưởng của cải tạo môi trường” với kết quả: thành phần dao động từ 75-91 loài thuộc 5 nhóm Copepoda, Cladocera, Rotifera, Protozoa
và ấu trùng nauplius Về số lượng biến động khoảng 169,312-518,567 ct/m3 trong đó 2 nhóm Rotifera và Protozoa chiếm ưu thế đạt từ 43,8%-69,24% Và
sự biến động này cũng được giải thích trên sự biến động của cải tạo môi trường ao nuôi
2.4 Một số nghiên cứu khác về biến động thành phần loài động vật phiêu sinh và quan trắc sinh học
Nguyễn Bá Quốc, (2010) nghiên cứu về biến động thành phần loài động vật
nổi và động vật đáy khu vực nuôi tôm sú (Penaeus monodon) huyện Cầu
Ngang tỉnh Trà Vinh
Nguyễn Hữu Lộc, (1998-2003) nghiên cứu sự biến động của phiêu sinh vật trong ao nuôi tôm sú thăm canh thông qua ảnh hưởng của cải tạo môi trường nuôi
Bogrov-Zenkevits, (1971) Nghiên cứu về vùng phân bố động vật phù du và động vật đáy cho thấy rằng các vùng khác nhau thì sinh khối khác nhau và năng xuất khác nhau
Nguyễn Hữu Dũng (1947), Trần Đình An (1966), Nguyễn Trọng Nho 1980) đã chỉ rằng đặc tính sinh học của động vật phù du là phát triển quanh năm và có tốc độ sinh trưởng rất nhanh, sức sinh trưởng lớn nên mặc dù sinh khối không cao nhưng năng xuất sinh học của chúng tại các thủy vực tương đối cao
Trang 16
Đặng Ngọc Thanh, (1980) đã công bố các dẫn liệu về sinh khối động vật nổi
và động vật đáy ở khu vực Bắc Việt Nam Qua đó nhận xét sinh khối động vật nổi không cao mặc dù thành phần loài cao
Shuskina, (1977) đã tính được tốc độ và cường độ năng suất sinh học động vật, mỗi khu vực xích đạo Tây Thái Bình Dương
A.Shirota, (1966) đã công bố danh sách kèm theo hình vẽ 701 loài sinh vật phù du nước ngọt và 982 loài nước mặn ở bờ Huế trở vào
M.Rose, (1962) lần đầu tiên công bố động vật nổi ở Việt Nam Tổng cộng có
56 loài động vật và 42 loài thực vật phù du, trong đó có 46 loài thuộc Copepoda ở vùng biển ven bờ Việt Nam và Vịnh Thái Lan
Shirota và Trương, (1966) công bố các giống loài Plankton ở Miền Nam Việt Nam với 151 loài Protozoa, 72 loài Rotifera, 49 loài Cladocera, 30 loài Copepoda và nhiều loài sinh vật nỏi ở biển
Hiền, (1987) nghiên cứu ảnh hưởng của phân bón tới sự phát triển của phiêu sinh vật trong ao nuôi cá Tác giả đã xác định bón phân cho ao là một biện pháp tích cực nhất có tác dụng lớn để cải tạo môi trường, tăng hàm lượng muối dinh dưỡng thúc đẩy sự phát triển của phiêu sinh vật làm thức ăn cho cá Đỉnh cao số lượng động vật bao giờ cũng cao hơn dĩnh cao của số lượng thực vật, điều này nói lên tính chất liên hoàn của môi trường nước
Theo Nguyễn Văn Thường và ctv, (1994) vùng ven biển kiên giang được xá định là có 59 loài động vật nổi., số lượng trung bình cả năm là 6.694 cá thể/m3, số lượng động vật nổi trung bình vào mùa khô là 11.595 cá thể/m3, ở mùa mưa là 1.794,33 cá thể/m3 Chiếm phong phú là giáp xác chân chèo có nguồn gốc từ biển
Theo nghiên cứu của Nguyễn Xuân Quýnh và ctv (2003) cho thấy khu vực cho thấy khu vực đất ngập nước vùng đồng bằng, nhóm Rotifera và Crustacea
là những nhóm ngành chiếm ưu thế về thành phần giống loài phiêu sinh động vật
Nguyễn Dương Thạo và ctv, (2007) đã cung cấp danh mục sinh vật chỉ thị cho các đặc trưng môi trường nuôi thủy sản nước lợ - mặn gồm 26 loài thực vật phù du ,10 loài phiêu sinh động vật và 4 nhóm ấu trùng của phiêu sinh động vật và động vật đáy
Theo nguồn lợi thủy sản Việt Nam, (1966) ở ĐBSCL thành phần động vật nổi vùng cửa sông chủ yếu là Copepoda đạt khoảng 145 – 9,650 cá thể/m3
Trang 17
Tạ Văn Phương, (1994-1999) khảo sát chất lượng nước nước trong đầm nuôi tôm ở lâm ngư trường Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre cho thấy sự phân bố thành phần loài phiêu sinh động vật phân bố trong thủy vực tự nhiên lệ thuộc vào dòng chảy, thủy triều và nguồn thức ăn tự nhiên Cladocera là loài chiếm ưu thế trong thủy vực, môi trường khu vực này là thích hợp cho nghề nuôi trồng thủy sản
Theo kết quả nghiên cứu của Đinh Văn Thanh, (2000) cho thấy thành phần động vật nổi ở tuyến sông Ô Môn 29 loài, mật độ động vật nổi là 27000 cá thể/m3
Theo Nguyễn Lang Phương (1994) khảo sát “ Sự biến động về thành phần loài
và động vật thủy sinh trong hệ thống ao ương cá tại Cần Thơ”, cho thấy thành phần loài cũng thuộc 4 nhóm là: Protozoa, Rotifera, Cladocera, Copepoda trong đó thì thành phần loài thuộc nhóm Rotifera luôn luôn chiếm ưu thế nhất với tỷ lệ khoảng (60.7-705), kế đến là Cladocera (13-18.5%) và sau cùng là
Copepoda Các giống loài thương xuất hiện là: Brachionus angularis, B
calycyflorus, B forficula, B ureus, B caudatus, …
Trang 18
PHẦN III: VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Vật liệu nghiên cứu
3.1.1 Vật liệu thu mẫu và hóa chất cố định mẫu
- Lưới phiêu sinh động vật (mắt lưới 60µm)
- Chai nhựa 110ml
- Xô 20 lít, ca nhựa
- Viết lông dầu
- Sổ ghi chép
- Túi nilon, dây thun
- Hoá chất cố định mẫu: Dung dịch Formol thương mại 38-40%
3.2.2 Chu kì thu mẫu
Mẫu được thu qua 9 đợt, bắt đầu từ khi thả vụ tôm đầu tiên cho đến khi bắt
đầu vụ lúa đông-xuân
3.2.3 Địa điểm thu mẫu
Nghiên cứu được thực hiện trên địa bàn xã Phú Tân huyện Tân Phú Đông tỉnh
Tiền Giang
Trang 19
Mẫu được thu hàng tháng (Từ tháng 03 – tháng 10 năm 2103), tương ứng với từng đợt (8 đợt) Ở mỗi đợt, mẫu được thu tại 6 điểm chính gồm 3 điểm trên kênh dẫn (đầu, giữa và cuối kênh) và 3 điểm trong ruộng nuôi kế cận (Hình 3.1) Tổng cộng 12 mẫu được thu, trong đó 6 mẫu định tính và 6 mẫu định lượng cho mỗi đợt
Hình 3.1: Sơ đồ địa điểm thu mẫu tại xã Phú Tân huyện Tân Phú Đông
tỉnh Tiền Giang 3.3 Phương pháp thu và xử lý mẫu động vật phiêu sinh
3.3.1 Phương pháp thu
Thu định tính: Mẫu được thu bằng lưới phiêu sinh động vật có kích thước mắt lưới 60µm Lưới được kéo dọc theo bờ thủy vực phía trên tầng mặt và thu theo hình zizac hoặc thu theo hình số 8 (hình 3.2) Mẫu thu được cho vào chai nhựa 110ml và cố định ngay bằng formaline 4-5% với liều lượng thích hợp
1
2
3
TÂN PHÚ ĐÔNG
Trang 20
Hình 3.2: Phương pháp thu định tính động vật phiêu sinh
Thu định lượng: Thu bằng xô nhựa 20 lít, thu khoảng 10 xô tại nhiều điểm
khác nhau trên kênh hoặc ruộng lọc qua lưới lọc phiêu sinh động vật kích thước mắt lưới 60µm (Hình 3.3) Mẫu thu được cố định ngay bằng formaline 4
- 5%
Trang 21
Lượng formaline sử dụng cố định mẫu được tính bằng công thức như sau:
N 1 V 1 = N 2 V 2
Trong đó:
N1: Nồng độ formaline thương mại
V1: Thể tích formaline thương mại
Mẫu định lượng
Phân tích định lượng được thực hiện qua các bước:
Bước 1: Cô đặc mẫu bằng ống nhựa có bọc lưới phiêu sinh, ghi nhận thể tích
cô đặc (ml)
Bước 2: Dùng ống nhỏ giọt khuấy đều mẫu, hút mẫu cho vào buồng đếm đặt lên kính hiển vi xem ở vật kính 10 và đếm cá thể theo nhóm ngành, Đếm theo chiều ngang, mỗi lần đếm 20 ô, mỗi buồng đếm 3 lần (3*20 = 60 ô), lặp lại nhiều lần Ghi lại tổng số ô đếm đã đếm được
Trang 22
Việc phân tích số liệu và sử lý số liệu được tiến hành tại Phòng thí nghiệm Thủy sinh – Bộ môn Thủy Sinh Học Ứng Dụng – Khoa Thủy Sản - Trường Đại học Cần Thơ
Các số liệu được xử lý tính toán bằng phần mềm Miccrosoft Excel
Trang 23
PHẦN IV: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
4.1 Môi trường
4.1.1 Biến động nhiệt độ khu vực thu mẫu
Nhiệt độ ghi nhận qua các đợt thu mẫu tại hệ thống kênh dẫn thấp hơn so với nhiệt độ ở ruộng nuôi Nhiệt độ cao tập trung vào các tháng mùa khô và thấp vào mùa mưa, ở kênh dẫn nhiệt độ cao nhất tập trung vào tháng 4 và 5 (30.9 0
C), thấp nhất là tháng 7 (29.2 0C) các tháng còn lại nhiệt độ dao động trong khoảng 29.5 0C - 30.5 0C (Hình 4.1) Ở ruộng nuôi nhiệt độ cao nhất ở tháng 4
và 5 (31.3 0C), thấp nhất vào tháng 7 (30.0 0C)
Hình 4.1 Biến động nhiệt độ khu vực nuôi tôm – lúa
Nhiệt độ tác động lên quá trình hóa học và sinh học trong nước, tốc độ phản ứng hóa học và sinh học tăng gấp đôi khi nhiệt độ tăng lên 100C, điều này có nghĩa khi ở nhiệt độ cao tốc độ sinh trưởng và phát triển của sinh vật tăng lên rất nhiều Nhiệt độ cũng ảnh hưởng đến số lượng động vật phiêu sinh trong thủy vực, thông thường nhiệt độ cao ở mùa khô số lượng động vật phiêu sinh
cao hơn rất nhiều so với với mùa mưa (Nguyễn Văn Thường và ctv, (1994))
4.1.2 Biến động pH tại khu vực thu mẫu
Giá trị pH thể hiện tính a-xít và bazơ của nước, khi giá trị pH bằng 7 được cho không có tính a-xít và không có tính bazơ, gọi là trung tính Thông thường biến động pH trong ao nuôi không gây ảnh hưởng trực tiếp lên lên sinh trưởng, sinh sản hoặc sự sống của phiêu sinh động vật và động vật đáy
Tháng4
Tháng5
Tháng6
Tháng7
Tháng8
Tháng9
kênhruộng
0
C
Trang 24
Giá trị pH qua đợt thu mẫu ở kênh dẫn cao nhất vào tháng 5, thấp nhất vào tháng 10 (Hình 4.2) Giá trị pH ở ruộng nuôi cao hơn so với kênh dẫn do hàm lượng chất hữu cơ, quá trình quang hợp của phiêu sinh thực vật trong ruộng
Hình 4.2 Biến động pH khu vực nuôi tôm – lúa 4.1.3 Biến động độ mặn khu vực thu mẫu
Độ mặn ảnh hưởng trực tiếp lên sing trưởng, phát triển của động vật phiêu sinh, độ mặn cao là môi trường thuận lợi cho sự phát triển của Copepoda, ngược lại bất lợi cho sự phát triển của Cladocera Qua đợt khảo sát ở Tân Phú Đông – Tiền Giang, độ mặn giảm dần từ mùa khô cho đến mùa mưa, độ mặn lúc cao nhất là 21,7 0/00 và thấp nhất 0,3 0/00 (Hình 4.3)
Tháng4
Tháng5
Tháng6
Tháng7
Tháng8
Tháng9
pH
kênhruộng
Tháng 4
Tháng 5
Tháng 6
Tháng 7
Tháng 8
Tháng 9
0
/00
kênh ruộng
Trang 25
4.1.4 Biến động COD khu vực thu mẫu
Chỉ tiêu COD dùng để xác hàm lượng chất hữu cơ có trong nước thải sinh hoạt
và nước thải công nghiệp, COD là lượng oxy cần thiết để oxy háo chất hữu cơ thành CO2 và H2O dưới tác dụng của chất oxy hóa mạnh Thông thường COD trong khoảng 10 – 20 ppm không vược qua 30 ppm thích hợp cho nuôi trồng thủy sản
Giá trị COD qua các đợt khảo sát ở Tân Phú Đông – Tiền Giang khá cao, trung bình 19.3 mg/L, cao nhất là vào tháng 5 với COD trung bình là 29.2 mg/L (Hình 4.4) Tuy nhiên vào thời điểm tháng 2 COD trung bình chỉ 0.9 mg/L do công tác xử lý ao nuôi trước vụ nuôi của các hộ nuôi trong khu vực thu mẫu
Hình 4.4 Biến động COD khu vực nuôi tôm – lúa 4.1.5 Biến động DO khu vực thu mẫu
Hàm lượng oxy hòa tan trong nước là một trong những yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến sự sinh trưởng và phát triển của sinh vật, hàm lượng DO phù hợp trong nước từ 4 – 5 mg/L
Hàm lượng DO ở hệ thống kênh qua các đợt thu mẫu cao nhất vào tháng 4 với 5.8 mg/L, tuy nhiên không chênh lệch đáng kể so với các tháng khác dao động
từ 4.0 mg/L – 5.5 mg/l Ở ruộng nuôi DO cao nhất vào tháng 2 và thấp nhất vào tháng 6 (Hình 4.5)
Tháng4
Tháng5
Tháng6
Tháng7
Tháng8
Tháng9
mg/L
kênhruộng
Trang 26
Hình 4.5 Biến động DO khu vực nuôi tôm – lúa 4.2 Thành phần loài và sự biến động của thành phần loài động vật phiêu sinh ở hệ thống kênh dẫn
4.2.1 Thành phần loài động vật phêu sinh ở hệ thống kênh dẫn
Qua phân tích định tính các mẫu động vật phiêu sinh từ tháng 02 đến tháng 9 năm 2013 trong khu vực tôm lúa thuộc xã Phú Tân huyện Tân Phú Đông Tỉnh Tiền Giang (ở 3 điểm thu mẫu) đã tìm thấy hơn 67 loài động vật phiêu sinh thuộc Protozoa, Rotifera, Cladocera, Copepoda và một số nhóm ngành khác (Hình 4.6)
Hình 4.6: Biểu đồ thành phần loài động vật phiêu sinh ở hệ thống kênh
Tháng4
Tháng5
Tháng6
Tháng7
Tháng8
Tháng9
mg/L
kênhruộng
Trang 27
Kết quả từ Hình 4.6 cho thấy, Copepoda là lớp có số lượng loài phong phú nhất với khoảng 25 loài (38%), đây là nhóm xuất hiện thường xuyên qua các
đợt thu mẫu Một số loài thường gặp bao gồm Limnoithoda sinesis, Acartia
clausi, Laophonte brevirostris, Oithona sp., Calanus helgolandicus
Ngành Rotifera xuất hiện tương đối nhiều gồm 16 loài (24%) do Rotifera phân
bố khá rộng cùng với khí hậu nhiệt đới gió mùa ở Việt Nam là điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của Rotifera Mặc khác, theo nghiên cứu của Dương Trí Dũng (2000) thì Rotifera là nhóm rất đa dạng trên 2000 loài, Rotifera có khả năng chịu đựng cao với môi trường và sức sinh sản rất cao Một số giống loài
Rotifera thường gặp trong quá trình phân tích mẫu là: Brachionus plicatilis,
Lecane abonia, Keratella cochlearis, Keratella stipitata, Brachionus bidentata, Brachionus falcatus,…
Bộ Cladocera chiếm tỷ lệ thấp nhất so với các nhóm khác chỉ xuất hiện với 5 loài (7%) nguyên nhân Cladocera chủ yếu sống ở nước ngọt chỉ có 8 loài sống trong khu vực nước lợ mặn, mặt khác pH ở thủy vực khá cao do vậy chỉ tìm
thấy một số loài vào thời gian độ mặn thấp như: Alona birgei, Cypridina
noctiluca, Moina brachiata, Moina retirostris,…
Ngành Protozoa là nhóm xuất hiện khá cao trong hệ thống kênh dẫn bao gồm
12 loài (18%) chỉ sau Copepoda (38%) và Rotifera (24%) Đây là nhóm phân
bố khá rộng cùng với môi trường ô nhiễm thì thành phần loài và số lượng của Protozoa tăng dần
So với một số kết quả điều tra thành phần động vật phiêu sinh ở một số khu vực nước lợ mặn khác như kết quả điều tra của Lê Chí Cường (2008) về khảo sát biến động thành phần phiêu sinh vật ở vùng ven biển Sóc Trăng – Bạc Liêu với kết quả là 120 loài trong đó Copepoda 61 loài, Protozoa 45 loài thì kết quả của nghiên cứu này ở Tân Phú Đông - Tiền Giang thấp hơn nhiều, chỉ tìm thấy tổng cộng 67 loài Sự khác biệt này có thể do phạm vi thu mẫu trong nghiên cứu này nhỏ hơn và vùng nghiên cứu không thuận lợi cho sự phát triển của động vật phiêu sinh Tuy nhiên, so với nghiên cứu của Nguyễn Văn Thường
và ctv (1994) khảo sát thành phần loài động vật phiêu sinh ở vùng biển Kiên Giang thì số loài tìm được (59 loài) thấp hơn kết quả khảo sát của nghiên cứu này 8 loài Tuy nhiên sự khác biệt này là không đáng kể
4.2.2 Biến động thành phần loài động vật phiêu sinh ở kênh dẫn trong các đợt thu mẫu
Copepoda là nhóm xuất hiện thường xuyên với số lượng loài cao trong tất cả các đợt thu mẫu Hầu hết các loài Copepoda thu được thuộc bộ Calanoida là nhóm phổ biến ở môi trường nước lợ, mặn Điều này thể hiện tính đặc trưng
Trang 28
của vùng nước lợ trong khu vực tôm-lúa Số lượng loài có sự khác biệt rất lớn giữa 2 tháng đầu và các tháng còn lại Ở tháng 2 ghi nhận được 31 loài và tháng 3 là 28 loài, trong khi các tháng còn lại có số loài thấp hơn với khoảng
16 loài Số loài thuộc nhóm Copepoda cũng biến động lớn, cao nhất ở 2 tháng đầu với 14 loài và giảm thấp ở các tháng còn lại khoảng 3-7 loài (Hình 4.7) Nguyên nhân có sự giảm mạnh là do sự biến động của độ mặn Ở 2 tháng thu đầu tiên độ mặn khá cao (17 – 200/00) và giảm dần ở tháng thứ 5 (13-160/00), tháng thứ 7 (3-40/00) và chỉ còn 10/00 ở tháng 8 Sự giảm mạnh độ mặn có thể làm giảm số lượng loài Copepoda thuộc nhóm thích hợp độ mặn cao từng xuất
hiện ở các đợt đầu Một số loài Copepoda thường xuất hiện gồm Acartia
clausi, Laophonte brevirostris,… Ngoài ra, nhóm ấu trùng nauplius (ấu trùng
copepoda) cũng là nhóm xuất hiện thường xuyên trong mẫu thu
Hình 4.7: Biến động thành phần loài động vật phiêu sinh của kênh dẫn
qua thời gian thu mẫu
Protozoa là bộ xuất hiện tương đối nhiều tuy nhiên hầu hết chỉ xuất hiện vào tháng 2 và 3, cụ thể vào tháng 2 và 3 với khoảng 8 loài và thấp vào tháng 5 và
9 với 1 loài Nguyên nhân có sự thay đổi như vậy do vào tháng 2 và 3 người dân vừa bắt đầu nuôi tôm nên chưa sử dụng nhiều loại hóa chất, các đợt còn lại do trong vụ nuôi nên khi sử dụng hóa chất một số hộ nuôi thường sẽ được bơm ra ngoài dẫn đến làm giảm chất lượng nước cũng như thành phần phiêu sinh động vật trong hệ thống kênh dẫn
Ngành Rotifera là nhóm khá phổ biến trong tất cả các thủy vực do tính phân
bố rộng Qua hình 2 cho thấy, Rotifera hầu như xuất hiện trong tất cả các đợt thu mẫu và có hệ số biến động cao, giảm từ tháng 2 cho đến tháng 4 và tăng
Trang 29
tháng 8 là 8 loài, tháng 7 với 6 loài Rotifera thấp ở các đợt đầu do độ mặn khá cao không thích hợp cho sự phát triển của Rotifera (từ 15-200/00) vào tháng 7,8,9 thì độ mặn giảm rất nhiều (1-30/00), cũng như vào thời điểm kết thúc vụ nuôi nên hàm lượng chất dinh dưỡng cao trong nước thích hợp cho sự phát triển của Protifera Vào tháng 4 Rotifera thấp do nhiệt độ trong nước cao (30-
32oC) độ mặn khá cao (14-170/00) và thời điểm đang nuôi tôm nên các hộ dân thường sử dụng nhiều hóa chất, tất cả yếu tố trên làm giảm sự phát triển của Rotifera ở giai đoạn này
Bộ Cladocera xuất hiên thấp nhất trong tất cả các nhóm vì vậy ta không tìm thấy được sự biến động rõ ràng, Cladocera cao nhất chỉ khoảng 2 loài xuất hiện vào tháng 5, tháng 6 và tháng 7 Nguyên nhân là do Cladocera chủ yếu sống trong môi trường nước ngọt, ở tất cả điểm thu hầu như pH > 6 và thủy vực thu mẫu là nước chảy vì vậy điều kiện này rất khó cho sự phát triển và tồn tại của Cladocera, do đó thành phần loài Cladocera là thấp trong tất cả đợt thu mẫu
Ngoài ra ta còn tìm được một số loài động vật phiêu sinh khác như Ấu trùng
chữ D, Ấu trùng giun nhiều tơ, Mysisdae larva, Cypnidina mediterranea, Zandea sessilis,…cũng hiện diện nhiều trong thủy vực do đây là thủy vực
nước chảy, gần cửa biển nên tìm thấy nhiều loài phiêu sinh động vật có nguồn gốc từ biển
4.2.3 Biến động thành phần loài động vật phiêu sinh ở kênh theo từng điểm thu trong các đợt thu
Hình 4.8: Biến động thành phần loài động vật phiêu sinh ở kênh 1 qua các
Trang 30
Thành phần loài động vật phiêu sinh ở kênh 1 tập chung chủ yếu vào tháng 2
và tháng 3 với 21 loài, tháng 6 với 10 loài, thấp nhất vào tháng 4 chỉ xuất hiện
5 loài (Hình 4.8) Lớp Copepoda xuất hiện nhiều nhất chiếm 50% tổng loài, cao nhất là vào tháng 2 và tháng 3 với 11 loài Ngành Protozoa hầu như chỉ xuất hiện vào tháng 2 và tháng 3 với 6 loài, ở các tháng còn lại thì Protozoa ít xuất hiện, tương tự như Protozoa thì Cladocera có thành phần loài rất thấp nhưng vào tháng thứ 5 và thứ 7 thì có sự xuất hiện trở lại với 2 loài Một số
loài động vật phiêu sinh thường gặp ở điểm này là: Brachionus plicatilis, Ấu
trùng Nauplius, Ấu trùng chữ D, Laophonte brevirostris, Calanus helgolandicus, trong đó Brachionus plicatilis và Ấu trùng Nauplius là loài
xuất hiện phổ biến nhất đặc trưng cho thủy vực này
So với điểm thu đầu tiên thì điểm thu thứ 2 có thành phần loài động vật phiêu sinh thấp hơn cụ thể thể hiện ở Hình 4.9
thường gặp ở thủy vực này như: Brachionus plicatilis, Ấu trùng Nauplius,
Trang 31
Ở điểm thu thứ 3, thành phần loài cao nhất vào tháng 2 và 3 (Tháng 2 là 14 loài, tháng 3 là 15 loài), tháng 6 với 12 loài và thấp nhất vào tháng 7 với 7 loài (Hình 4.10)
Hình 4.10: Biến động thành phần loài động vật phiêu sinh ở kênh 2 qua
các đợt thu mẫu
Thành phần loài ở điểm kênh 3 không cao, Lớp Copepoda vẫn là nhóm ưu thế trong thủy vực, tuy nhiên vào thời điểm thu vào tháng 8 thì Ngành Rotifera lại xuất hiện nhiều nhất với 5 loài cao hơn Copepoda chỉ xuất hiện 2 loài, nguyên nhân có sự khác biệt này do độ mặn trong thủy vực thấp chỉ 1.2 0/00 (Phụ lục 1) không thích hợp cho Copepoda Một số loài thường gặp trong thủy vực này như: Brachionus plicatilis, Ấu trùng Nauplius của Coepoda, Calanus sp, Oithona sp…không xuất hiện thêm loài mới nào so với 2 điểm thu trước
4.3 Mật độ động vật phiêu sinh và sự biến động Mật độ động vật phiêu sinh ở hệ thống kênh dẫn
4.3.1 Mật độ động vật phiêu sinh ở hệ thống kênh dẫn
Nghiên cứu số lượng động vật phiêu sinh và biến động số lượng động vật phiêu sinh là một trong những chỉ tiêu đánh giá mức độ phì nhiêu của vùng nước, là sự phản ánh giá trị tổng quát của động vật phiêu sinh Nó có ý nghĩa rất quan trọng về dự báo tập chung và di chuyển đàn cá và những sinh vật khác ăn động vật nổi (Theo Nguyễn Dương Thạo và ctv,.2000)
Protozoa Rotifera Cladocera Copepoda Khác
c
Trang 32
Qua 8 đợt nghiên cứu về số lượng động vật phiêu sinh tại Tân Phú Đông – Tiền Giang được thể hiện qua bảng 4.1:
Bảng 4.1: Mật độ động vật phiêu sinh trung bình ở hệ thống kênh dẫn
Mật độ phiêu sinh động vật ở hệ thống kênh dẫn (Tân Phú Đông – Tiền Giang) khoảng 67,242 cá thể/m3 trong đó Copepoda chiếm tỷ lệ cao nhất với 41,074 cá thể/m3 (61%) đây là nhóm ưu thế trong hệ thống kênh dẫn, tiếp đến
là Rotifera với 18383 cá thể/m3 (27%), đứng thứ 3 chỉ sau Copepoda và Rotifera đó là Protozoa với 6,040 cá thể/m3 (9%), trong khi đó thấp nhất là Cladocera với chỉ 900 cá thể/m3 (1%)(Bảng 4.1) Ngoài ra ta còn tìm được một số giống loài khác
Mật độ Copepoda cao như vậy là do thủy vực thu mẫu là nước lợ mặn, nước chảy rất thuận lợi cho sự phát triển của loài này, ngược lại đó là điều kiện bất lợi cho Rotifera và Protozoa phát triển, tuy nhiên số lượng Rotifera ở đây vẫn khá cao do Rotifera là loài phân bố rộng, nhiệt độ phù hợp cho loài này phát triển Cladocera có mật độ thấp do Cladocera sống chủ yếu ở nước ngọt (chỉ
có 8 loài sống ở nước lợ mặn) do đó hạn chế sự phát triển của Cladocera Một
số loài có mật độ cao trong hệ thống kênh dẫn này như: Brachionus plicatilis,
Ấu trùng Nauplius, Acartia clausi, Balanus amphitrite, Oithona sp, Ấu trùng chữ D, Limnoithoda sinesis, chủ yếu là thành phần loài của Copepoda
Theo Lê Chí Cường (2008), mật độ động vật nổi ở vùng nước lợ mặn ven biển Sóc Trăng – Bạc Liêu có mật độ trung bình 2,521,40 cá thể/m3 thì kết quả nghiên cứu ở Tân Phú Đông – Tiền Giang thấp hơn rất nhiều chỉ có 67,264 cá thể/m3 sự khác biệt này có thể do ảnh hưởng của các yếu tố môi trường, thu mẫu trong 8 tháng và gần với hệ thống nuôi tôm nên có thể ảnh hưởng hóa
Trang 33
ctv, (1994) vùng ven biển kiên giang được xác định là có 59 loài động vật phiêu sinh, số lượng trung bình cả năm là 6,694 cá thể/m3, số lượng động vật phiêu sinh trung bình vào mùa khô là 11,595 cá thể/m3, ở mùa mưa là 1.794,33 cá thể/m3, phong phú là giáp xác chân chèo có nguồn gốc từ biển, kết quả này là Khá phù hợp với kết quả ở Tân Phú Đông – Tiền Giang
4.3.2 Biến động mật độ động vật phiêu sinh ở hệ thống kênh dẫn
Mật độ động vật phiêu sinh nhìn chung khá cao ở các đợt thu mẫu, cao nhất là tháng 4 với tổng số cá thể lên đến 82,823 cá thể/m3 tiếp theo là tháng 2 với 82,680 cá thể/m3, thấp nhất vào tháng 9 với 42,639 cá thể/m3 (Hình 4.11), Nguyên nhân có sự chênh lệch này do vào thời điểm tháng 4 đang vào giữa vụ nuôi tôm nên hàm lượng chất hữu cơ cao đã được thể hiện qua hàm lượng COD là 24.5 mg/L
Hình 4.11: Biến động mật độ động vật phiêu sinh trung bình ở hệ thống
kênh dẫn qua các đợt thu mẫu
Lớp Copepoda có mật độ biến động liên tục qua các đợt thu mẫu, điển hình là đợt thu vào tháng 7 đến tháng 9 thì số lượng nhóm này giảm nhanh chóng (giảm hơn 20,000 cá thể/m3) Nguyên nhân có thể giải thích do biến động độ mặn, từ tháng 2 đến tháng 9 độ mặn giảm liên tục từ 20 0/00 giảm còn 1 0/00 Rotifera có mật độ khá đông trong hệ thống kênh, cao nhất tập trung vào tháng
4, tháng 5 và tháng 7 với tổng số cá thể lần lượt là 28,935 cá thể/m3, 25,463 cá thể/m3 và 24,074 cá thể/m3 thấp nhất là tháng 6 với 11,216 cá thể/m3 Protozoa và Cladocera có mật độ rất thấp trong đó Cladocera là thấp nhất với tổng số cá thể lúc cao nhất chỉ 2,593 cá thể/m3, Protozoa lúc cao nhất cũng